1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm nhân thân, tính cách, hành vi phạm tội và gợi ý giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm

127 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm nhân thân, tính cách, hành vi phạm tội và gợi ý giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm
Tác giả Trần Văn Hà
Người hướng dẫn PGS.TS. Đoàn Thị Thu Hà, TS. Bùi Thị Hồng Việt
Trường học Học viện Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

điểm nhân thân hoàn cảnh gia đình; yếu tố môi trường, cộng đồng; điều kiện kinh tế, việc làm, thu nhập; trình độ văn hóa, học vấn, nghề nghiệp, kỹ năng; sở thích...; tính cách trên cơ sở

Trang 1

Hà Nội – 2023

Trang 2

- -

TRẦN VĂN HÀ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NHÂN THÂN, TÍNH CÁCH, HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ GỢI Ý GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM

Chuyên ngành: Khoa học quản lý

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm quy định liêm chính học thuật trong nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Hà Nội, ngày tháng năm 2023

Nghiên cứu sinh

Trần Văn Hà

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC SƠ ĐỒ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 15

1.1 Nghiên cứu về hành vi phạm tội 15

1.1.1 Trường phái cổ điển và tân cổ điển 15

1.1.2 Trường phái nhân chủng học và sinh học 16

1.1.3 Trường phái tội phạm học xã hội 17

1.1.4 Trường phái phân tích loại hình tội phạm 18

1.1.5 Trường phái kết hợp nhiều lý thuyết 18

1.1.6 Trường phái tội phạm học xã hội chủ nghĩa 19

1.2 Nghiên cứu về tính cách 19

1.2.1 Mô hình yếu tố tính cách 22

1.2.2 Áp dụng mô hình yếu tố tính cách trong nghiên cứu tội phạm 23

1.3 Nghiên cứu về đặc điểm nhân thân 19

1.4 Nghiên cứu quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam 24

1.5 Khoảng trống nghiên cứu 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN THÂN, TÍNH CÁCH, HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM 29

2.1 Hành vi phạm tội 29

2.1.1 Khái niệm 29

2.1.2 Nguyên nhân hành vi phạm tội 31

2.2 Đặc điểm nhân thân 31

2.2.1 Nhân thân nói chung 31

2.2.2 Nhân thân người phạm tội 33

2.3 Tính cách và mô hình các yếu tố tính cách OCEAN 34

2.3.1 Khái niệm tính cách cá nhân 34

2.3.2 Cấu trúc mô hình các yếu tố tính cách OCEAN 35

2.3.3 Sự tin cậy của mô hình các yếu tố tính cách OCEAN 37

Trang 5

2.3.4 Khả năng dự báo của mô hình OCEAN 38

2.3.5 Sự thay đổi tính cách trong vòng đời con người 39

2.4 Quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm 40

2.4.1 Khái niệm quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm 40

2.4.2 Nội dung quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm 42

2.4.3 Kinh nghiệm và bài học từ nước ngoài trong quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm 43

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 52

CHƯƠNG 3: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53

3.1 Bối cảnh tình hình tội phạm và quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam 54

3.1.1 Tình hình tội phạm tại Việt Nam 54

3.1.2 Quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam 62

3.1.3 Những hạn chế trong quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam 83

3.2 Phương pháp nghiên cứu 83

3.2.1 Quy trình nghiên cứu 83

3.2.2 Mô hình nghiên cứu 86

3.2.3 Cơ sở dữ liệu và phương pháp phân tích – đánh giá 90

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM NHÂN THÂN, TÍNH CÁCH VÀ HÀNH VI PHẠM TỘI TẠI VIỆT NAM 95

4.1 Phân tích thống kê cơ bản dữ liệu khảo sát 95

4.1.1 Thống kê dữ liệu khảo sát người dân 95

4.1.2 Thống kê dữ liệu khảo sát phạm nhân 100

4.2 Kết quả phân tích đặc điểm nhân thân, tích cách và hành vi phạm tội 109

4.2.1 Sự khác biệt tính cách giữa người dân bình thường và phạm nhân 109

4.2.2 Ảnh hưởng của đặc điểm nhân thân tới tính cách 113

4.2.3 Ảnh hưởng của tính cách tới mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội 116 4.2.4 Ảnh hưởng của đặc điểm nhân thân tới mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội 117

4.3 Tổng hợp kết quả phân tích 125

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 129

CHƯƠNG 5: GỢI Ý GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM Ở VIỆT NAM 130

5.1 Quan điểm, định hướng quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm 130

Trang 6

5.2 Một số gợi ý giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm tại Việt

Nam 131

5.2.1 Hoàn thiện một số chính sách, pháp luật về phòng ngừa tội phạm 133

5.2.2 Nghiên cứu đặc điểm dân cư và xây dựng các chương trình phòng ngừa tội phạm 135

5.2.3 Đổi mới các giải pháp trong thực hiện phòng ngừa tội phạm 137

5.2.4 Tăng cường theo dõi, đánh giá 139

TIỂU KẾT CHƯƠNG 5 141

KẾT LUẬN 142

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 140

TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

PHỤ LỤC 155

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Số lượng phạm nhân qua các năm theo giới tính và nghề nghiệp 54

Bảng 3.2: Số lượng phạm nhân qua các năm theo tuổi và địa bàn 55

Bảng 3.3: Số lượng phạm nhân qua các năm theo địa bàn 163

Bảng 3.4: Tình hình tội phạm ở Việt Nam qua các năm 57

Bảng 3.5: Thực trạng công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố 73

Bảng 3.6: Thực trạng công tác bắt, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và điều tra 75

Bảng 3.7: Các yếu tố tính cách và thành phần từng yếu tố trong mô hình OCEAN áp dụng cho Việt Nam 88

Bảng 4.1: Tỷ lệ khảo sát người dân theo địa phương 95

Bảng 4.2: Giới tính, tình trạng hôn nhân và số con của người dân được khảo sát 95

Bảng 4.3: Trình độ học vấn và độ tuổi người dân được khảo sát 96

Bảng 4.4: Nghề nghiệp người dân được khảo sát 96

Bảng 4.5: Các yếu tố tính cách của người dân 97

Bảng 4.6: Các yếu tố tính cách của người dân theo giới tính 98

Bảng 4.7: Các yếu tố tính cách của người dân trên thế giới 99

Bảng 4.8: Tỷ lệ khảo sát phạm nhân theo trại cải tạo 100

Bảng 4.9: Giới tính, tình trạng hôn nhân và số con của phạm nhân được khảo sát 100

Bảng 4.10: Độ tuổi phạm nhân được khảo sát 100

Bảng 4.11: Trình độ học vấn phạm nhân được khảo sát 100

Bảng 4.12: Số lần phạm tội bị kết án của phạm nhân được khảo sát 101

Bảng 4.13: Loại hình phạm tội của phạm nhân được khảo sát 101

Bảng 4.14: Số năm cải tạo giam giữ của phạm nhân được khảo sát 101

Bảng 4.15: Nghề nghiệp của phạm nhân được khảo sát 102

Bảng 4.16: Các yếu tố tính cách của phạm nhân 102

Bảng 4.17: Sự khác biệt về tính cách giữa phạm nhân nam và nữ 103

Bảng 4.18: Trình độ học vấn của phạm nhân được khảo sát 107

Bảng 4.19: Những lý do chính không học hết trung học phổ thông 107

Bảng 4.20: Sự khác biệt tính cách giữa người dân bình thường và phạm nhân (trước khi phạm tội) 109

Bảng 4.21: Quan hệ hồi quy về tác động của đặc điểm nhân thân tới mức độ nghiêm trọng của tội phạm 118

Bảng 4.22: Những yếu tố tính cách dễ có nguy cơ phạm tội 126

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1: Khái quát quy trình nghiên cứu 84

Sơ đồ 3.2: Mô hình dự kiến về đặc điểm nhân thân, tính cách và hành vi phạm tội 87

Sơ đồ 4.1: Tổng hợp kết quả phân tích ảnh hưởng của đặc điểm nhân thân và tính cách tới hành vi phạm tội 126

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của nghiên cứu

Tội phạm là hiện tượng xã hội tồn tại trong mọi giai đoạn phát triển của xã hội loài người Mặc dù không thể loại bỏ hoàn toàn tội phạm nhưng để xã hội, đất nước phát triển, đảm bảo cho các tầng lớp nhân dân có cuộc sống an toàn, trật tự thì việc đặt tình hình phạm tội dưới tầm kiểm soát, tiến tới giảm thiểu số lượng tội phạm đều là mục tiêu của mọi nhà nước, chính phủ Đồng thời, an ninh, trật tự tốt là yếu tố đảm bảo vị trí, vai trò của nhà nước, chính phủ đối với công dân

Ở Việt Nam cũng vậy, phòng chống tội phạm nói chung và phòng ngừa tội phạm nói riêng là một nội dung quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ khi chúng ta giành được độc lập và thống nhất đất nước Hiện nay, phòng chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, thường xuyên, liên tục và lâu dài nhằm thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Công tác phòng chống tội phạm được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, chỉ đạo, điều hành thống nhất của Nhà nước (Bộ Chính trị, 2010)

Theo báo cáo của Chính phủ (2017, 2018, 2019, 2020, 2021), tình hình tội phạm những năm qua trong tầm kiểm soát và có xu hướng giảm dần Tuy nhiên, tỷ lệ và số lượng tội phạm vẫn ở mức cao và diễn biến phức tạp, có xu hướng tăng mức độ nghiêm trọng và tinh vi Cụ thể, năm 2021, toàn quốc xảy ra hơn 41.700 vụ phạm pháp hình sự trật tự xã hội; hơn 3.700 vụ phạm tội và vi phạm pháp luật về kinh tế, quản lý nhà nước; hơn 650 vụ vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên và an toàn thực phẩm; hơn 12.500 vụ phạm tội về ma túy… Tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh quốc gia và công nghệ thông tin, viễn thông, không gian mạng… ngày càng đa dạng và tăng về quy mô, tính chất nguy hiểm, phức tạp, nhạy cảm… Áp lực gia tăng tội phạm ngày càng lớn đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho công tác phòng chống tội phạm

Vì vậy, quản lý nhà nước về phòng chống tội phạm nói chung và phòng ngừa tội phạm nói riêng vẫn hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới

Để theo kịp diễn biến nhanh chóng của tình hình trong, ngoài nước, quản lý nhà nước

về phòng ngừa tội phạm cũng cần thay đổi phương pháp, công cụ, cách tiếp cận và giải quyết công việc

Từ kinh nghiệm thành công của nhiều quốc gia trên thế giới (điển hình là các

Trang 10

nước Bắc Âu, Trung Âu), để kiểm soát tốt tình hình tội phạm thì cần xử lý mọi nguyên nhân, yếu tố sâu xa từ gốc có thể dẫn tới hành vi phạm tội Nói cách khác, nếu mọi cá nhân trong xã hội không còn động cơ và điều kiện để phạm tội thì tất yếu sẽ không còn tội phạm Đây chính là nguyên tắc coi trọng “phòng tội phạm” hơn “chống tội phạm”

do “chống” chỉ mang tính chất răn đe, ngăn chặn và không giải quyết được tận gốc nguyên nhân gây ra tội phạm

Nguyên tắc “phòng tội phạm” cần được coi trọng hơn “chống tội phạm” cũng được Việt Nam nêu ra nhưng chưa thực sự thể hiện trong thực tế Phòng tội phạm không tốt sẽ làm tăng tội phạm, từ đó tạo thêm sức ép và nguồn lực phân bổ cho công tác chống tội phạm

Vì vậy, đòi hỏi phải tìm hiểu, phân tích về nguyên nhân, nguồn gốc của tội phạm

ở Việt Nam một cách toàn diện, đúng bản chất với phương pháp nghiên cứu khoa học, hiện đại Kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao là căn cứ quan trọng để đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm

Nghiên cứu về tội phạm có một lịch sử lâu dài và có tính đa ngành Dưới góc độ của quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm, mục tiêu chính là đề ra các quy định, luật lệ, chính sách hiệu quả, sử dụng tiết kiệm nguồn lực nhằm giảm số lượng và mức

độ nghiêm trọng của tội phạm Trên thế giới, nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm đã có những bước tiến dài thời gian qua, cả về mặt lý luận lẫn thực nghiệm Nhờ được phân tích, tìm hiểu, đánh giá từ lăng kính của nhiều ngành, môn khoa học (sinh học, di truyền, tâm lý học, tội phạm học, kinh tế học, xã hội học, khoa học hình sự, luật học, kinh tế học, quản lý hành chính, v.v…), quản lý nhà nước

về phòng ngừa tội phạm đã có cách nhìn tổng thể, toàn diện, đầy đủ, nhiều chiều, đúng bản chất về nguyên nhân của tình hình tội phạm Đặc biệt, sự ra đời của các mô hình có

cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc về các yếu tố có nguy cơ dẫn tới hành vi phạm tội (về sinh học, về tâm lý học, về kinh tế, về xã hội…) đã giúp giới nghiên cứu và các cơ quan quản lý nhà nước hiện nay có phương tiện, công cụ hữu hiệu để tìm hiểu, phân tích vấn đề này

Nhìn chung, trong số các yếu tố dẫn tới hành vi tội phạm, nhân thân người phạm tội được thống nhất rộng rãi có tác động quan trọng, cần được đặc biệt lưu ý khi xây dựng, triển khai giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm Bên cạnh đó, tính cách cá nhân với ý nghĩa là kết quả quá trình tương tác, kết hợp giữa các yếu tố môi trường và yếu tố sinh học của cá nhân cũng bắt đầu được giới học giả quan tâm sử dụng

để phân tích, đánh giá tác động của các đặc điểm sinh học, tâm thần, xã hội, môi trường sống, hoàn cảnh gia đình… của một cá nhân Đây cũng là một hướng giải thích nguyên

Trang 11

nhân của hành vi phạm tội và hỗ trợ đưa ra các giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm

Tuy nhiên, những nghiên cứu sâu về quản lý nhà nước trong phòng ngừa tội phạm nói riêng tại các quốc gia chuyển đổi với đặc trưng riêng về lịch sử, nhân chủng, văn hóa, kinh tế - xã hội… như Việt Nam còn thiếu vắng

Khảo sát sơ bộ ở Việt Nam cho thấy nghiên cứu có liên quan đến phòng ngừa tội phạm khá phong phú về số lượng Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu chủ yếu thuộc lĩnh vực tội phạm học, hình sự, luật pháp, pháp y Nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm chỉ đơn giản hướng vào phân tích, mô tả tình hình thực tế

để đề ra biện pháp giải quyết mà chưa có nền tảng lý luận vững chắc hoặc có mối liên kết với những ngành nghiên cứu tội phạm học khác

Việt Nam, với đặc trưng là một nước chuyển đổi về văn hóa, kinh tế, xã hội, hệ thống luật pháp, tư pháp có khác biệt nhất định với các nước trên thế giới chưa được các nghiên cứu trên thế giới trong lĩnh vực quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm đề cập

và xem xét đầy đủ Các học giả trong nước trong khi đó chưa cập nhật những tiến bộ học thuật quốc tế cho hoàn cảnh riêng của Việt Nam Vì vậy, đây là khoảng trống về mặt lý luận mà giới nghiên cứu có trách nhiệm giải quyết

Để bổ sung vào sự thiếu hụt này cho các nghiên cứu học thuật của thế giới cũng như Việt Nam và đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm, việc nghiên cứu và xây dựng mô hình phân tích, tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội có một ý nghĩa quan trọng, cả về lý luận và thực tiễn Bên cạnh đó, trong khi hoàn cảnh riêng mỗi cá nhân được thống nhất rộng rãi

có tác động lớn đến hành vi phạm tội, tác động của hoàn cảnh riêng cùng nhiều yếu tố sinh học, môi trường tới việc hình thành tính cách và tác động của yếu tố tính cách tới hành vi phạm tội còn có nhiều ý kiến trái chiều

Với những lý do trên đây, tác giả đã quyết định lựa chọn thực hiện đề tài nghiên

cứu “Nghiên cứu đặc điểm nhân thân, tính cách, hành vi phạm tội và gợi ý giải pháp

quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm”

2 Mục tiêu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về đặc điểm nhân thân, tính cách, hành vi phạm tội và đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể

Trang 12

- Làm rõ khoảng trống nghiên cứu về đặc điểm nhân thân, tích cách và hành vi phạm tội

- Lựa chọn được mô hình nghiên cứu về tính cách, làm rõ các khía cạnh nội hàm của đặc điểm nhân thân và hành vi phạm tội

- Đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam

- Phân tích được đặc điểm nhân thân, tính cách và hành vi phạm tội tại Việt Nam

- Đề xuất được một số giải pháp quản lý nhà nước nhằm phòng ngừa từ gốc hành

vi phạm tội

3 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực nghiệm trong, ngoài nước và mục tiêu nghiên cứu trên đây, giả thuyết nghiên cứu về việc đặc điểm nhân thân có tác động tới tính cách và hành vi phạm tội; về việc tính cách có tác động tới hành vi phạm tội sẽ được xem xét, phân tích

Để kiểm định giả thuyết nghiên cứu này, những câu hỏi nghiên cứu sau đây được đặt ra để trả lời:

- Q1: Những đặc điểm nhân thân nào dễ trở thành tác nhân dẫn tới hành vi phạm tội?

- Q2: Những đặc điểm nhân thân nào làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội?

- Q3: Những đặc điểm nhân thân nào có ảnh hưởng tới việc hình thành các yếu

tố tính cách?

- Q4: Có sự khác biệt trong các yếu tố tính cách giữa người có hành vi phạm tội

và người bình thường hay không?

- Q5: Những đặc điểm tính cách nào làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Lý thuyết và thực tiễn về đặc điểm nhân thân, tính cách, hành vi phạm tội; mối quan hệ giữa đặc điểm nhân thân, tính cách và hành vi phạm tội; tình hình tội phạm và quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tập trung vào những người đã phạm tội, đặc

Trang 13

điểm nhân thân (hoàn cảnh gia đình; yếu tố môi trường, cộng đồng; điều kiện kinh tế, việc làm, thu nhập; trình độ văn hóa, học vấn, nghề nghiệp, kỹ năng; sở thích ); tính cách trên cơ sở mô hình tính cách 5 yếu tố (OCEAN); nghiên cứu các chức năng quản

lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm

+ Phạm vi không gian và thời gian: Hoàn cảnh thực tế của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2021 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2030

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Thiết kế nghiên cứu tổng quát

Khác với các nghiên cứu liên quan đã có tới nay, đánh giá về tác động của đặc điểm nhân thân và các yếu tố tính cách tới hành vi phạm tội sẽ được nghiên cứu bằng các phương pháp định lượng hiện đại, trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc

Để xây dựng mô hình đánh giá tác động của đặc điểm nhân thân và các yếu tố tính cách lên hành vi phạm tội tại Việt Nam, tác giả nghiên cứu, tham khảo, đánh giá các mô hình lý thuyết, thực nghiệm được thế giới và giới học thuật sử dụng, từ đó xây dựng một mô hình phù hợp để áp dụng trong trường hợp của Việt Nam Về cơ bản, mô hình tính cách 5 yếu tố (OCEAN) kết hợp với việc đánh giá tác động của đặc điểm nhân thân sẽ được xây dựng và áp dụng Thực tiễn Việt Nam cho thấy giống với các nước trên thế giới, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, trưởng thành… của mỗi cá nhân có tác động lớn tới việc hình thành tính cách, suy nghĩ, quan điểm… của con người Hành

vi phạm tội của người dân trong phần lớn các trường hợp có liên hệ với những đặc điểm nhân thân cụ thể của họ Vì thế, việc bỏ qua yếu tố đặc điểm nhân thân sẽ dẫn đến những đánh giá, nhận định phiến diện, kém tin cậy Các nhóm yếu tố đặc điểm nhân thân sẽ được xác định căn cứ vào phân tích thực tế, cơ bản sẽ bao gồm: yếu tố gia đình, yếu tố môi trường/cộng đồng, yếu tố việc làm/thu nhập… Bên cạnh đó, mô hình sẽ dựa vào lý thuyết và khuôn khổ mô hình tính cách 5 yếu tố OCEAN Các nhóm yếu tố tính cách sẽ được lấy từ mô hình OCEAN chuẩn, bao gồm: sự sẵn sàng trải nghiệm (O), sự tận tâm (C), sự hướng ngoại (E), sự dễ chịu (A) và tâm lý bất ổn (N) Mặc dù còn những điểm hạn chế, mô hình này đã được giới nghiên cứu chứng minh có tính phổ quát cao, phù hợp với nhiều quốc gia, nền văn hóa và nhóm dân cư Trên cơ sở đó, một mô hình thích hợp cho trường hợp của Việt Nam sẽ được xây dựng nhằm xem xét tác động của đặc điểm nhân thân và tính cách tới hành vi phạm tội Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân thân

và các yếu tố tính cách với hành vi phạm tội sẽ được phân tích Sự hình thành tính cách

từ đặc điểm nhân thân (nếu có) cũng sẽ được xem xét

Như vậy, nội dung cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng và áp dụng một mô hình

Trang 14

phân tích tác động của đặc điểm nhân thân và các yếu tố tính cách tới hành vi phạm tội cho Việt Nam Việc kết hợp cả đặc điểm nhân thân và các yếu tố tính cách trong cùng một mô hình phân tích sẽ là điểm nhấn và đóng góp về lý luận, thực tiễn của nghiên cứu

Để phân tích được thực trạng tội phạm và đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam, tác giả thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp

từ các cơ quan quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam và các nguồn dữ liệu chính thức, tin cậy khác

Để đánh giá được tác động của đặc điểm nhân thân và các yếu tố tính cách lên hành vi phạm tội tại Việt Nam, tác giả khảo sát và phân tích dữ liệu khảo sát từ hai nhóm

là đối tượng phạm nhân và khảo sát công dân Việc thu thập dữ liệu (ví dụ đánh giá đặc điểm tính cách, đặc điểm nhân thân) để áp dụng mô hình sẽ được tiến hành trên nhiều đối tượng

Để đề xuất được một số giải pháp chủ yếu về quản lý nhà nước nhằm phòng ngừa

từ gốc hành vi phạm tội, tác giả căn cứ vào các kết quả nghiên cứu về tác động của đặc điểm nhân thân và các yếu tố tính cách lên hành vi phạm tội tại Việt Nam, căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm, căn cứ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm và bài học từ một số quốc gia để xác định một số giải pháp cho

Việt Nam

5.2 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

- Phương pháp thu thập số liệu:

Để lượng hóa các tiêu chí sẽ được đưa vào trong mô hình trên đây, có rất nhiều nguồn số liệu trong đó chủ yếu từ 2 nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:

+ Dữ liệu thứ cấp: số liệu vĩ mô về tình hình kinh tế - xã hội, tội phạm, thông tin phạm nhân của quốc gia, vùng, địa phương từ các tài liệu báo cáo của các cơ quan quản

lý nhà nước, từ các công trình nghiên cứu về tội phạm, phòng ngừa tội phạm trên các tạp chí (như Tòa án, Kiểm sát, Luật học, Nhà nước và Pháp luật ); các công trình nghiên cứu, đề tài, luận án của cơ quan quản lý nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu ; các giáo trình, sách chuyên khảo về tội phạm học, quản lý nhà nước về trật tự, an toàn

xã hội…

+ Dữ liệu sơ cấp: dữ liệu phỏng vấn, khảo sát phạm nhân và công dân về yếu tố tính cách, hoàn cảnh cá nhân, đặc điểm nhân thân

- Phương pháp phân tích số liệu:

Để đánh giá tác động của các đặc điểm tính cách và đặc điểm nhân thân tới hành

Trang 15

vi phạm tội, nghiên cứu không chỉ dựa vào phân tích định tính (thông qua miêu tả) mà còn cung cấp những phân tích định lượng (thông qua phân tính thống kê và kinh tế lượng

số liệu) Cụ thể, những phương pháp sau sẽ được đưa vào sử dụng:

+ Sưu tầm, phân tích các nghiên cứu có liên quan

+ Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của chuyên gia trong lĩnh vực quản

lý nhà nước của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Hành chính Quốc gia và chuyên gia trong lĩnh vực tội phạm học của Học viện Cảnh sát nhân dân

+ Phương pháp phân tích định lượng:

Phân tích, so sánh, đánh giá và tổng hợp thông tin, số liệu có liên quan từ các cơ

sở dữ liệu, các cơ quan quản lý

Thiết kế bảng hỏi và điều tra phỏng vấn, sau đó phân tích định lượng kết quả bảng hỏi

Xử lý số liệu thông qua các mô hình, phương pháp kinh tế lượng, xác suất thống

6 Đóng góp mới của nghiên cứu

Đóng góp mới của nghiên cứu là dựa trên các mô hình phân tính định lượng hiện đại để nghiên cứu về đặc điểm nhân thân, tính cách và hành vi phạm tội Ngoài ra, nghiên cứu có sử dụng những thành tựu, kết quả học thuật và thực tiễn đã được kiểm định độ tin cậy và cập nhật mới nhất của thế giới và Việt Nam trong lĩnh vực quản lý nhà nước

về phòng ngừa tội phạm phục vụ phân tích hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Cụ thể, nghiên cứu đã có những đóng góp chủ yếu sau:

- Đánh giá tổng quan đến thời điểm hiện tại tình hình, tiến bộ của các nghiên cứu học thuật và ứng dụng thực tiễn trên thế giới và tại Việt Nam về tội phạm và quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm dựa trên phân tích tính cách và đặc điểm nhân thân,

từ đó chỉ ra những hạn chế, thiếu sót cần hoàn thiện, bổ sung, khắc phục của nghiên cứu trong, ngoài nước

- Đánh giá, tổng kết tình hình quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam cả về mặt chính sách, quy định và kết quả thực tế

- Xây dựng, áp dụng thử nghiệm một mô hình phân tích định lượng về đặc điểm nhân thân, tính cách và hành vi phạm tội cho Việt Nam Việc kết hợp cả đặc điểm nhân thân và tính cách trong cùng một mô hình phân tích sẽ là điểm nhấn và đóng góp về lý luận, thực tiễn của nghiên cứu

Trang 16

- Xây dựng, đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước nhằm phòng ngừa hành

vi phạm tội tại Việt Nam theo một hướng tư duy mới

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án được kết cấu thành 5 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về đặc điểm nhân thân, tính cách, hành vi phạm tội và quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm

Chương 3: Bối cảnh nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích đặc điểm nhân thân, tích cách và hành vi phạm tội tại Việt Nam

Chương 5: Gợi ý giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong phần này, tác giả đánh giá tổng quan các quan điểm, trường phái nghiên cứu về tội phạm cùng những nghiên cứu tác động của đặc điểm nhân thân và các yếu tố tính cách tới hành vi phạm tội Đặc điểm nhân thân có thể bao gồm cả yếu tố tự nhiên

và yếu tố xã hội Trong khi đó nguyên nhân tính cách được xác định là một bộ phận của đặc điểm nhân thân

1.1 Nghiên cứu về hành vi phạm tội

Phần này sẽ tổng hợp các lý thuyết, trường phái chính giải thích về nguồn gốc, nguyên nhân tội phạm từ trước tới nay trình bày trong các sách giáo khoa, nghiên cứu tổng quan, tổng kết lịch sử trong và ngoài nước như Đào Trí Úc (2000), Nguyễn Xuân Yêm (2001), Lý Văn Quyền và các tác giả (2008), Dương Tuyết Miên và các tác giả (2010), Lê Thị Sơn và Dương Tuyết Miên (2010); Conklin (2012), Williams (2012), Freiling&Harper (2015), Bhowmik (2017), Hass và cộng sự (2017), Siegel (2017), Walsh & Hemmens (2018) Về cơ bản, các lý thuyết, trường phái đều cố gắng tìm hiểu, phân tích nguồn gốc, bản chất sâu xa, cốt lõi của hành vi phạm tội chứ không chỉ dựa trên hiện tượng, nguyên nhân bề ngoài Trước thế kỷ 18, nguyên nhân phạm tội thường được xác định có nguồn gốc từ ma quỷ hoặc là bản chất tự nhiên của con người Từ thế

kỷ 18, do sự phát triển của nhiều môn khoa học, nhất là sinh học, nhân chủng học, xã hội học, tâm thần học, thống kê…, các giải thích tội phạm đã chuyển sang nguồn gốc, nguyên nhân do di truyền, thể trạng, tâm lý cũng như môi trường vật chất, môi trường

xã hội của của mỗi cá nhân có tính khoa học, khách quan hơn

Hiện nay, mặc dù có sự khác biệt giữa các lý thuyết, quan điểm về nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, vẫn có một điểm được chấp nhận chung là tồn tại những yếu tố nhất định dễ dẫn tới hành vi phạm tội hơn Những yếu tố này có thể kể tên là di truyền kém, khuyết điểm tâm thần, không cân bằng cảm xúc, môi trường, điều kiện sống, giáo dục kém, có đồng bọn phạm tội, nghèo đói, không nhà cửa, nghiện ngập, lạm dụng thuốc… Tất nhiên, cá nhân với những yếu tố này không chắc chắn có hành vi phạm tội trong mọi hoàn cảnh Luôn có những yếu tố ẩn mà không lý thuyết nào có thể giải thích trọn vẹn, đầy đủ hành vi phạm tội

1.1.1 Trường phái cổ điển và tân cổ điển

Được khởi đầu và đại diện bởi học giả Cesare Beccaria người Ý, trường phái cổ

Trang 18

điển đã đặt nền móng cho tội phạm học hiện đại với sự nhấn mạnh vào các hiện tượng tâm thần của cá nhân Hành vi phạm tội là “ý chí tự do” hay lựa chọn riêng của cá nhân

để đáp ứng, thỏa mãn những ý thích, nhu cầu riêng Để ngăn chặn tội phạm, lý thuyết này chủ trương đưa ra hình phạt đủ nặng (nhưng không cần quá nặng) vượt mức thỏa mãn nhờ phạm tội đem lại Tuy nhiên, lý thuyết này không tồn tại lâu do bỏ qua điều kiện thực tế và quá nhấn mạnh sự khác biệt cá nhân (ví dụ tội phạm lần đầu và tội phạm nhiều lần được cư xử như nhau nếu có chung đặc điểm cá nhân)

Trường phái tân cổ điển phản đối việc áp dụng chung hình phạt cho cùng một loại tội phạm của trường phái cổ điển Những người theo lý thuyết này khẳng định những nhóm tội phạm như trẻ vị thành niên, người thiểu năng trí tuệ, mất trí nên được đối xử khoan dung do họ không chín chắn về tâm thần và không có khả năng phân biệt tốt, xấu

1.1.2 Trường phái nhân chủng học và sinh học

Ban đầu, lý thuyết này dựa trên quan niệm có mối liên hệ giữa đặc điểm sinh học

cơ thể với các dạng hành vi tâm lý và xã hội Nó cho rằng nguồn gốc sinh học hay thân xác sinh học chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội Theo đó, một số cá nhân sinh ra đã mang đặc điểm sinh học trở thành tội phạm Lý thuyết này cho rằng có những bộ phận nhất định của não bộ điều khiển hoạt động, hành vi của con người Những bộ phận này nếu có sai lệch sẽ dẫn tới hành vi phạm tội và thể hiện ở kích thước, hình dạng của vỏ não vào hộp sọ Gambattista Della Porta, Franz Joseph Gall, Cesare Lambroso, Della Porta, Franz Joseph Gall, Earnest Hooton, William Sheldon là những đại diện tiêu biểu của trường phái lý thuyết này trong thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 20 Họ cho rằng tội phạm thường có những đặc điểm sinh học nhất định, ví dụ như có biểu hiện lại giống, thể hiện

ở những đặc điểm sinh học hoang dã như tai vểnh, tóc dày, râu thưa, xương hàm bạnh, cằm vuông và nhô, xương má lớn, hộp sọ nhỏ; có khiếm khuyết trong trí não biểu hiện qua hình dáng, kích thước khác thường của hộp sọ; có khổ người lớn với nhiều

cơ bắp, xương, thân hình và bàn tay to Theo lý thuyết này, những người có đặc điểm sinh học của tội phạm chắc chắn sẽ trở thành tội phạm nếu điều kiện sống của họ không thuận lợi

Sang thế kỷ 20, lý thuyết này thay vì giải thích hành vi phạm tội chỉ từ đặc điểm giải phẫu đã dựa trên một nền tảng rộng hơn về thể chất, di truyền và thiên hướng gia đình Những đại diện tiêu biểu là Charles Goring, Johannes Lange (về di truyền sinh học), Adolf Lanz, Franz Exner (về thiên hướng gia đình) Bằng cách nghiên cứu các trường hợp song sinh cùng trứng (hoàn toàn giống nhau về gen di truyền), song sinh khác trứng (không hoàn toàn giống nhau về gen di truyền) và anh em bình thường,

Trang 19

Charles Goring, Johannes Lange đã đi đến kết luận có xu hướng phạm tội nhất định do ảnh hưởng của gen di truyền Trong khi đó Adolf Lenz, Franz Exner cho rằng nền tảng, lịch sử gia đình (có bệnh lý tâm thần, động kinh, nổi loạn, nghiện rượu, tự tử) có nguy

cơ cao chuyển sang thế hệ sau và làm cho thế hệ sau gặp khó khăn khi kiểm soát hành

vi, thể hiện ở những hiện tượng như rối loạn tâm thần, phạm tội, mãi dâm, lêu lổng, gây

gổ, ngang bướng, không hòa nhập, đồng tính, hư hỏng, nghiện ngập Để tránh ảnh hưởng của thiên hướng gia đình, giải pháp được đưa ra là tạo một môi trường thuận lợi trong

đó không có va chạm giữa đặc điểm di truyền và thiên hướng gia đình với nhịp sống của

cá nhân Hơn nữa, những thiên hướng kế thừa khi kết hợp với môi trường sống không thuận lợi sẽ dễ dẫn tới hành vi phạm tội hơn Những thiên hướng kế thừa này là gánh nặng đè lên các cá nhân, làm họ dễ phạm tội, dễ lặp lại hành vi phạm tội và sớm có hành

là một bộ phận của trường phái này

1.1.3 Trường phái tội phạm học xã hội

Dựa trên các lý thuyết xã hội học khởi xướng bởi Emile Durkheim, trường phái

về tội phạm học xã hội được sáng lập bởi Enrico Ferri và sau đó có các đại diện tiêu biểu là Frank Tannenbaum (lý thuyết gán nhãn), Travis Hirshi (lý thuyết kiểm soát xã hội), William Thomas, Edwin Sutherland, Von Hentig (lý thuyết phân biệt cộng đồng), Robert K Merton (lý thuyết sức ép) Enrico Ferri cho rằng yếu tố tâm lý - xã hội là một trong ba yếu tố quan trọng (2 yếu tố còn lại là vật lý/địa lý và nhân chủng) dẫn đến phạm tội và thể hiện ở mật độ dân số; quan điểm, tính cách và tôn giáo của cộng đồng; điều kiện gia đình; hệ thống giáo dục; điều kiện kinh tế, chính trị, hành chính công, tư pháp…

Về cơ bản, trường phái lý thuyết này dựa trên quan điểm điều kiện môi trường không thuận lợi ảnh hưởng tới con người, buộc con người phải phạm tội Ví dụ UNODC (2010) đã thống kê đi đến kết luận điều kiện, nguyên nhân, đặc điểm, tính chất của tội phạm có sự khác biệt căn bản giữa các nước thu nhập cao, thu nhập trung bình và thu nhập thấp Cụ thể, môi trường kinh tế - xã hội, giao tiếp giữa các thành viên của xã hội…, nhất là trong giai đoạn trước khi trưởng thành góp phần hình thành đức tin, thái

độ, quan niệm, giá trị sống… của mỗi cá nhân, vì thế đóng một vai trò quan trọng quyết

Trang 20

định xu hướng phạm tội của con người Con người có xu hướng suy nghĩ, hành động theo chuẩn mực của thế giới, môi trường mà họ cho rằng họ thuộc về Hành vi phạm tội cũng được các cá nhân chứng kiến, tiếp thu, học và làm theo từ chính môi trường xung quanh họ, nhất là từ các thành viên trong gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng…

Vì thế, môi trường xã hội, cộng đồng, tập thể với các chuẩn mực, quan điểm, giá trị lệch lạc sẽ tạo nên các cá nhân dễ có nguy cơ phạm tội hoặc vi phạm các chuẩn mực, quan điểm, giá trị được chấp nhận rộng rãi chung Đồng thời, các cá nhân thiếu sự gắn

bó, cam kết, liên quan và niềm tin vào xã hội cũng dễ trở thành người phạm tội Ngoài

ra, con người lớn lên trong xã hội với nhiều sức ép phải thành công hoặc đo giá trị con người bằng vị trí xã hội, tài sản, tiền bạc… (ví dụ các nước tư bản cạnh tranh cao như Hoa Kỳ) cũng có nhiều khả năng lựa chọn các hoạt động phi pháp để đạt được sự công nhận của cộng đồng

Lý thuyết về tội phạm học xã hội không giải thích được những trường hợp hoặc một số giai đoạn lịch sử những người sống trong điều kiện xã hội kém thuận lợi không trở thành tội phạm Việc xác định đối tượng cá nhân nào nhạy cảm với môi trường xã hội xấu cũng không được giải đáp bởi lý thuyết này

1.1.4 Trường phái phân tích loại hình tội phạm

Trường phái này dựa trên thực nghiệm để tìm ra những đặc trưng điển hình của từng loại hình tội phạm, về cơ bản mang tính nghiệp vụ, thống kê và dựa trên nhiều môn, lý thuyết khoa học khác nhau để phục vụ quá trình phân tích Các cơ quan cảnh sát, điều tra chuyên nghiệp, ví dụ Cục Điều tra liên bang Hoa Kỳ (FBI) thường áp dụng phương pháp của trường phái này Cụ thể, việc lập hồ sơ tội phạm sẽ tập trung xác định động cơ tâm lý phạm tội và yêu cầu cảm xúc để có hành vi phạm tội Xây dựng được những đặc trưng điển hình sẽ giúp nghiên cứu, điều tra nguyên nhân và xử lý các loại hình tội phạm khác nhau một cách dễ dàng Về cơ bản, trường phái này khá gần với việc phân tích nhân thân tội phạm

1.1.5 Trường phái kết hợp nhiều lý thuyết

Mặc dù không kết luận hoặc chỉ rõ lý do tại sao con người có hành vi phạm tội, trường phái lý thuyết này ủng hộ đây là kết quả kết quả của nhiều yếu tố từ di truyền, môi trường đến diễn biến tâm thần Vì thế, trường phái này chủ trương sử dụng cách tiếp cận liên ngành dựa trên kết quả nghiên cứu học thuật của nhiều bộ môn khoa học như tâm lý học, kinh tế chính trị học, khoa học chính trị, sinh học, tâm thần học, xã hội học… nhằm giải thích nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của con người Các đại diện tiêu biểu Wilson & Herrnstein (1985) khẳng định để tìm ra nguồn gốc của tội phạm,

Trang 21

cần hiểu rõ bản chất con người vốn bị ảnh hưởng bởi cả thân xác, trí óc và tính cách Bằng phân tích dựa vào số liệu, họ cho rằng những đặc tính kế thừa sẽ kết hợp với môi trường xung quanh để tạo ra một cá nhân có nhạy cảm nhất định với việc phạm tội Để chuyển một người có nguy cơ phạm tội không phạm tội, vai trò gia đình là đặc biệt quan trọng, thông qua việc giúp các cá nhân đối mặt, xử lý những yếu tố tiêu cực và chấp hành pháp luật

Ngoài ra, việc quyết định lựa chọn phạm tội hay không phạm tội còn là kết quả từ

sự ưu tiên hay đánh giá về lợi, thiệt của việc phạm tội của mỗi cá nhân vốn hình thành từ quan niệm sống, tác động và can thiệp của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, chủ lao động

1.1.6 Trường phái tội phạm học xã hội chủ nghĩa

Trường phái này gắn liền với lý thuyết về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

và sự hình thành, vận động, phát triển của các nhà nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới Khởi đầu từ các nhà tư tưởng như Henri de Sait-Simon, Charles Fourier, Etienne Cabet, Robert Owen, sau đó được hệ thống hóa, phát triển bởi Karl Marx, Friedrich Engels và Vladimir Elich Lenin, bản chất tội phạm được chứng minh có nguồn gốc và gắn liền với

sự xuất hiện của chế độ tư hữu và quyền lực nhà nước, mang mính chất giai cấp và phân chia giai cấp Xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa là con đường để triệt tiêu tội phạm

Những nền tảng lý luận cơ bản về tội phạm trong lý thuyết của các nhà tư tưởng chủ nghĩa xã hội được tiếp tục nghiên cứu, phát triển dựa trên quan sát thực hiện trong giai đoạn hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tiến hành xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội Theo đó, nhiều hiện tượng, vấn đề tội phạm ở các nước xã hội chủ nghĩa được phân tích một cách toàn diện,

từ nhiều góc nhìn, dựa trên thành quả của nhiều ngành khoa học, đồng thời chống lại các quan điểm, tư tưởng phản động, quy kết tội phạm là bản chất sinh học của con người

1.2 Nghiên cứu về đặc điểm nhân thân

Đặc điểm nhân thân phản ánh đặc điểm riêng có của mỗi cá nhân và tại nhiều nước thường quy định chỉ sử dụng đối với người phạm tội (đối với người bình thường, không sử dụng khái niệm đặc điểm nhân thân mà thay thế bằng khái niệm tương đương như đặc điểm cá nhân, đặc điểm riêng , tuy nhiên khái niệm này vẫn được dùng chung,

áp dụng với mọi đối tượng trong thực tế cuộc sống) Trong nghiên cứu này, nhân thân được sử dụng cho cả người phạm tội và người bình thường Nhân thân người phạm tội

là những đặc điểm dấu hiệu đặc trưng nhất phản ánh bản chất của người phạm tội, những đặc điểm dấu hiệu này tác động với những tình huống và hoàn cảnh khách quan khác đã tạo ra hành vi phạm tội

Trang 22

Nhìn chung, đặc điểm nhân thân được thống nhất rộng rãi bao gồm cả yếu tố sinh học và yếu tố xã hội Các yếu tố sinh học bao gồm tuổi, giới tính, dân tộc, đặc điểm thể chất như chiều cao, cân nặng, dáng người, sức khỏe, màu da Các yếu tố xã hội bao gồm đặc điểm phản ánh vị trí, vai trò xã hội và quá trình xã hội hóa cá nhân như đặc điểm xuất thân gia đình, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh gia đình, học vấn, văn hóa, nghề nghiệp, việc làm, địa vị xã hội Khác các yếu tố xã hội, yếu tố sinh học là khó thay đổi hơn nhiều Ngoài ra, theo nhiều quan điểm, ví dụ theo Lý Văn Quyền (2021), đặc điểm nhân thân còn bao gồm các đặc điểm tâm lý, phản ánh các thuộc tính tâm lý biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội như xu hướng và năng lực hành vi, tính cách, khí chất , vốn được coi là một phần của yếu tố sinh học theo quan điểm truyền thống Các yếu tố sinh học về cơ bản phản ánh những thuộc tính sinh học của cá nhân hay căn nguyên động vật của con người, chủ yếu do gien, hormone quyết định

Các yếu tố xã hội bao gồm những yếu tố hiện diện trong xã hội có ảnh hưởng tới

cá nhân đến từ chính cá nhân, gia đình, bạn bè người quen, tình trạng kinh tế - xã hội, trường học (Leonard, 2013)

Trong nghiên cứu này, nói đến tác động của đặc điểm nhân thân tới tính cách là hàm ý tác động của các yếu tố nhân thân xã hội tới tính cách của người phạm tội (đối với người bình thường thì là tác động của các đặc điểm xã hội của cá nhân tới tính cách

cá nhân)

Mặc dù nghiên cứu hiện đại đã loại bỏ quan điểm một số người sinh ra đã là tội phạm (vì có thuộc tính sinh học gán cho tội phạm), các thống kê chứng tỏ có mối liên quan nhất định giữa hành vi chống đối xã hội với một số đặc điểm sinh học di truyền như cân nặng khi sinh, tính cách (Breslau, Klein, & Allen, 1988; Ross, Lipper, & Auld, 1990; Haller, Makara, & Kruk, 1998; Tibbetts & Piquero, 1999; Dodge & Pettit, 2003; Moffit, 2005)

Trong nghiên cứu này, các yếu tố nhân thân xã hội là trọng tâm để phân tích, đánh giá

Cơ sở lý luận và chứng cứ thực nghiệm đều cho rằng hành vi phạm tội là kết quả của nhiều yếu tố và va chạm xã hội và có liên quan đến nhiều tiến trình xã hội (Leonard, 2013; Molidar, 1996; Johnson & cộng sự, 2004; Harris-McKoy & Cui, 2013; Sousa & cộng sự, 2011; Robinson, nd) Những nhóm yếu tố xã hội trong đặc điểm nhân thân thường được các nghiên cứu đề cập là:

- Cộng đồng/láng giềng: Môi trường tiếp xúc tội phạm hoặc cộng đồng, láng giềng thất nghiệp, văn hóa thấp, giáo dục kém, nhà cửa tồi tàn là các yếu tố được nhiều

Trang 23

học giả coi là điều kiện cần và đủ dẫn tới hành vi phạm tội (Gorecki, 1974; McKay & Shaw, 1942; Dechant, n.d.; Kitchen, n.d.)

- Tình trạng kinh tế - xã hội: Yếu tố này phản ánh vị trí của một cá nhân trong xã hội (về học vấn, thu nhập, tài sản, nghề nghiệp…) Nhiều lý thuyết ủng hộ quan điểm

sự xung đột và mâu thuẫn về chỗ đứng xã hội cũng là nguồn gốc của hành vi phạm tội (Adler, Mueller & Laufer, 2012)

- Hoàn cảnh gia đình/chất lượng các mối quan hệ: Thiếu quan tâm, giáo dục, giao tiếp từ gia đình và các quan hệ xã hội dẫn tới lệch lạc, thiếu sót trong suy nghĩ, hiểu biết

là nguyên nhân căn bản của hành vi phạm tội (Sampson & Laub, 1993; Listwan, 2001; Johnson và cộng sự, 2004; Harris-McKoy & Cui, 2013)

- Giáo dục/nghề nghiệp: Người có trình độ giáo dục thấp, thất nghiệp được quan sát ở nhiều nước có tỷ lệ vi phạm pháp luật cao hơn nhiều so với trung bình (Sampson

& Laub, 1993; Devers, 2011; Snowball & Hunter, 2006)

Ở Việt Nam, đặc điểm nhân thân xã hội được nhiều nghiên cứu xem xét, phân tích, từ đó phát hiện một số đặc điểm nhân thân đặc thù có nguy cơ cao dẫn đến hành vi phạm tội Bùi Kiên Điện (2001), Lê Cảm (2001), Nguyễn Phùng Hồng (2001), Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2005), Nguyễn Tuyết Mai (2007), Phạm Văn Tỉnh (2008), Trần Hữu Tráng (2010), Nguyễn Việt Hùng (2013), Nguyễn Cảnh Hiền (2014), Chu Thị Quỳnh (2015), Lê Văn Định (2015, 2017), Hồ Thanh Lam (2016), Bùi An Giôn (2018), Lê Thị Hồng Xuân & Nguyễn Thị Thùy Linh (2018), Trần Thị Liên (2018), Phạm Uyên Thy (2019), UNICEF (2019), Bùi Xuân Phong (2020), Đỗ Thị Lý Quỳnh (2020), Nguyễn Thị Thu Phương (2022) khi nghiên cứu về nhân thân người phạm tội trong nhiều lĩnh vực và địa bàn đều đi đến kết luận đặc điểm nhân thân nổi bật của người phạm tội là còn trẻ, thiếu chín chắn, trình độ học vấn thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, hoàn cảnh gia đình phức tạp, thất nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, dễ tái phạm

Ngoài ra, những đặc điểm nhân thân khác nhau có xu hướng dẫn đến hành vi phạm tội khác nhau Ví dụ, Nguyễn Huy Vinh (2018) đã tổng kết ở Việt Nam đặc trưng nhân thân thực hiện hành vi xâm hại tình dục chủ yếu là nam giới, tuổi trên 18, nghề nghiệp thiếu ổn định, học vấn thấp, thiếu sự quan tâm của gia đình, thường cư trú ở nông thôn, miền núi, có tâm lý thích hưởng thụ, nhận thức sai về các giá trị đạo đức; đặc trưng nhân thân thực hiện hành vi mua bán người là có cả nữ giới, tuổi trên 25, có trình độ và hiểu biết nhất định, làm thương mại, dịch vụ

Chính vì vậy, nhân thân tội phạm là yếu tố hết sức quan trọng trong tìm hiểu nguyên nhân, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội cũng như có ý nghĩa nhất định đối với

Trang 24

mức độ án phạt, hình thức giam giữ, cải tạo khi đã phạm tội

1.3 Nghiên cứu về tính cách

Tính cách phản ánh sự khác biệt của cá nhân trong xu thế biểu hiện suy nghĩ, cảm giác và hành động (McCrae & Costa, 1990) Tính cách thường được phân loại là một yếu tố sinh học, hay theo một số quan điểm khác như Lý Văn Quyền (2021) là một yếu

tố tâm lý kết hợp cả yếu tố sinh học và xã hội, thuộc đặc điểm nhân thân (hoặc đặc điểm

cá nhân đối với người thường) nhưng khác các yếu tố sinh học khác (như màu tóc, màu

da, chiều cao ) có thể thay đổi theo thời gian hoặc thể hiện khác nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau do tính cách được hình thành từ sự kết hợp, tương tác giữa gien sinh học và môi trường xã hội Theo Upton (2013), tính cách còn thuộc phạm vi các yếu tố tâm lý học Sự thay đổi của tính cách là khó hơn nhiều so với các yếu tố xã hội thuộc đặc điểm nhân thân

Tính cách bị ảnh hưởng bởi cả gien di truyền sinh học và môi trường xã hội Một

số gien nhất định có liên hệ trực tiếp tới hòa nhập xã hội, thiên hướng hay lo nghĩ, buồn rầu và khả năng tự kiểm soát bản thân Tính cách cũng có sự biến chuyển theo thời gian

và môi trường sống nhưng những khí chất cơ bản và hành vi phần lớn do gien di truyền quyết định và thường không thay đổi Yếu tố môi trường xã hội được chấp nhận chung

có ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính cách, nhất là suy nghĩ, quan điểm sống là văn hóa; sự nuôi dậy, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội; hoàn cảnh lớn lên

Các loại tính cách khác nhau có thể bị ảnh hưởng khác nhau bởi gien di truyền sinh học và môi trường xã hội Ví dụ, tính sẵn sàng trải nghiệm, sự kiên nhẫn, sự thân tình, tính xã giao lịch sự hình thành chủ yếu từ hoàn cảnh nuôi dậy và lớn lên trong khi những tính cách khác như sự dễ chịu, sự mất tập trung, bất ổn tâm lý, khả năng lãnh đạo phần lớn do gien di truyền quyết định nên có tính ổn định cao hơn

Trên thế giới các nghiên cứu thường phân tính, đánh giá tác động của môi trường sống, quá trình nuôi dưỡng, hoàn cảnh gia đình hay các yếu tố xã hội khác tới sự hình thành, thay đổi tính cách của người bình thường Theo Lanning (2017) và Triandis & Suh (2002), về cơ bản các yếu tố xã hội, văn hóa và môi trường sống, hoàn cảnh gia đình được chứng minh có ảnh hưởng nhất định tới tính cách của các cá nhân, đặc biệt

là các tính cách có liên quan đến tương tác cộng đồng, xã hội

1.3.1 Mô hình yếu tố tính cách

Theo Upton (2013), các yếu tố tâm lý học bao gồm những quá trình diễn ra ở cấp

độ cá nhân cũng như ý nghĩa cá nhân gán cho một tình huống cụ thể làm ảnh hưởng tới

Trang 25

trạng thái tâm thần Tính cách thuộc phạm vi các yếu tố tâm lý học Đặc điểm tính cách phản ánh sự khác biệt của cá nhân trong xu thế biểu hiện suy nghĩ, cảm giác và hành động (McCrae & Costa, 1990)

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá về tính cách thường đi đến kết quả về sự phân loại và hệ thống các tiêu chí đặc điểm tính cách Các mô hình tính cách khác nhau ở sự phân loại và mô tả đặc điểm tính cách Tuy nhiên, về cơ bản, Eysenck, người tiên phong trong nghiên cứu tính cách, đã xác định có 3 đặc trưng tính cách cơ bản là: tâm thần (thể hiện qua tính hiếu chiến, ích kỷ, bốc đồng); sự nhạy cảm (thể hiện qua thiếu tự tin, hay

lo lắng, dễ biến đổi cảm xúc); sự hướng ngoại (thể hiện qua thích cảm giác mạnh, thích chi phối, quyết đoán)

1.3.1.1 Mô hình 5 yếu tố tính cách OCEAN

Mô hình thường được sử dụng nhất hiện nay là mô hình tính cách 5 yếu tố OCEAN của Goldberg (1992, 1993), McCrae & Costa (1987), McCrae & John (1992)

Khuôn khổ lý thuyết cho mô hình này khởi phát từ Fiske (1949), sau được mở rộng bởi Norman (1967), Smith (1967) và phát triển, hoàn thiện bởi Goldberg (1981,

1982, 1990, 1992, 1993) và McCrae & Costa (1987, 1990), McCrae & John (1992) Về

cơ bản, mô hình xác định tính cách con người gồm 5 nhóm yếu tố cơ bản là sự sẵn sàng trải nghiệm (O), sự tận tâm (C), sự hướng ngoại (E), sự dễ chịu (A) và tâm lý bất ổn (N) Giá trị của mỗi yếu tố nằm trong khoảng nhất định giữa mức thấp nhất và mức cao nhất

Ví dụ một người có điểm số sẵn sàng trải nghiệm (O) thấp thì ít thích trải nghiệm, ngược lại thì thích trải nghiệm, khám phá

Mô hình tính cách 5 yếu tố OCEAN được ứng dụng tương đối rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhất là xây dựng giải pháp tối ưu trong sử dụng, quản lý con người dựa trên đặc điểm tính cách

1.3.1.2 Những mô hình yếu tố tính cách khác

Ngoài mô hình tính cách 5 yếu tố OCEAN, nhiều mô hình khác cũng được giới học thuật xây dựng Ví dụ mô hình 3 yếu tố Eynseck (PEN) của Eynseck (1967, 1989) bao gồm tâm thần (P), sự hướng ngoại (E) và sự nhạy cảm (N) Mô hình 4 yếu tố của Kamaluddin và cộng sự (2015): tính cách cá nhân, khả năng kiểm soát kém, hiếu chiến, lệch lạc nhận thức

1.3.2 Áp dụng mô hình yếu tố tính cách trong nghiên cứu tội phạm

Các mô hình yếu tố tính cách được áp dụng tương đối rộng rãi trong nhiều lĩnh vực vì nhiều mục đích khác nhau (tuyển dụng, quản lý, sử dụng nhân viên; phân tích

Trang 26

khách hàng; nghiên cứu các đối tượng dân cư…) Trên thế giới, những công trình trong

2 thập kỷ gần đây có sử dụng các mô hình yếu tố tính cách trong nghiên cứu tội phạm

là Listwan (2001), Miller & Lynam (2001), Wiebe (2004), Gudonis (2011), Reid (2011), Turner (2014), Gul & Jabeen (2015), Kamaluddin và cộng sự (2015), Kluwer (2016), Lust (2017), Loftus (2019), Tharshini và cộng sự (2021) Mô hình tính cách 5 yếu tố OCEAN thường được sử dụng nhất để xem xét tác động của tính cách tới hành vi phạm tội Ở Việt Nam, chưa có công trình sử dụng mô hình các yếu tố tính cách phục vụ nghiên cứu về tội phạm

Trong nghiên cứu tội phạm, kết quả tương đối phổ quát là cá nhân có điểm số thấp về sự dễ chịu, sự tận tâm, sự cởi mở và điểm số cao về sự nhạy cảm, sự hướng ngoại có nguy cơ phạm tội cao hơn Bên cạnh đó, các nghiên cứu, khảo sát thường có phát hiện tội phạm có điểm số cao về sự bốc đồng, thích cảm giác mạnh, hay căng thẳng, mệt mỏi, hay lo lắng, thù địch, hiếu chiến; điểm số thấp về hòa nhập xã hội Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt nhất định trong kết quả đánh giá tính cách tội phạm giữa các nghiên cứu và có nhiều tranh cãi, quan điểm khác nhau về vấn đề này Ví dụ trước đây John và cộng sự (1994) phát hiện tội phạm vị thành niên có điểm số thấp về sự dễ chịu, sự tận tâm, sự cởi mở và điểm số cao về sự nhạy cảm Wiebe (2004) nhận xét sự dễ chịu và sự tận tâm có quan hệ với tội phạm trưởng thành Kamaluddin và cộng sự (2015) sử dụng

mô hình phân tích tác động của 4 yếu tố tính cách cá nhân, khả năng kiểm soát kém, hiếu chiến, lệch lạc nhận thức tới hành vi phạm tội, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rèn luyện của mỗi cá nhân trong môi trường lành mạnh để giảm thiểu tác động của những yếu tố tiềm ẩn

Tuy nhiên, về cơ bản, sử dụng các mô hình yếu tố tính cách để phân tích, đánh giá tác động tới hành vi phạm tội còn tương đối hạn chế trên thế giới Các nghiên cứu

có đưa vào mô hình yếu tố tính cách cũng chỉ giới hạn ở việc áp dụng trực tiếp mà chưa phát triển, mở rộng hoặc điều chỉnh có tính đến những đặc thù của lĩnh vực tội phạm Giá trị của những nghiên cứu này vì vậy chỉ dừng lại ở mức ứng dụng thực tiễn mà chưa

có nhiều đóng góp về lý luận Trong khi đó ở Việt Nam chưa xuất hiện nghiên cứu trong lĩnh vực tội phạm sử dụng các mô hình về tính cách

1.4 Nghiên cứu quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam

Mặc dù nghiên cứu về tội phạm được tiến hành từ khá sớm ở Việt Nam, khảo sát

sơ bộ ở cho thấy nghiên cứu có liên quan đến phòng ngừa tội phạm khá phong phú về

số lượng và phần lớn những nghiên cứu chuyên sâu có tính lý luận cao thuộc lĩnh vực tội phạm học, hình sự, luật pháp, pháp y, tâm lý… (Võ Khánh Vinh, 2004; Dương Tuyết Miên, 2008; Lê Cảm, 2008) Tuy nhiên, nền tảng lý luận của những nghiên cứu này vẫn

Trang 27

chủ yếu từ thời Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, thể hiện qua một

số giáo trình, công trình lý luận của Nguyễn Xuân Yêm (1999, 2001, 2012); Đào Trí Úc (2000); Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (2000); Lê Thế Tiệm (2001); Phạm Hồng Hải (2002); Phạm Văn Tỉnh (2007); Trịnh Tiến Việt (2008); Võ Khánh Vinh (2013)… Những giáo trình, nghiên cứu này được xây dựng, phát triển dựa trên các nguyên lý, cơ sở lý luận về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản qua lăng kính giai cấp Bản chất tội phạm có nguồn gốc từ chế độ tư hữu tư liệu sản xuất và phân chia giai cấp nên xây dựng chủ nghĩa xã hội là con đường để giải quyết triệt để tội phạm Thành tựu lớn nhất của nhóm nghiên cứu này là chỉ rõ một cách toàn diện, từ nhiều góc nhìn và dựa trên kết quả nhiều ngành khoa học về nguyên nhân và quá trình vận động, chuyển biến của các hiện tượng tội phạm trong lịch sử cũng như hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Tuy nhiên, giải pháp để phòng ngừa tội phạm của những nghiên cứu này có tính dài hạn

và phụ thuộc vào việc thay đổi, cải biến nguyên lý hoạt động chung của bộ máy nhà nước và thiết chế xã hội Điều này là chưa phù hợp với giai đoạn phát triển chuyển tiếp như Việt Nam hiện nay, đồng thời chưa thực sự thành công trong việc giải thích, làm rõ bản chất và có đối pháp đối với những chuyển biến nhanh chóng ở quy mô lớn do tác động của toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ Tội phạm ở Việt Nam giống với thế giới đã có sự thay đổi về chất, ít nhất thể hiện qua hình thức, phương thức tổ chức, hoạt động nhưng chưa được kiến giải sâu sắc, đầy đủ bởi những nghiên cứu sử dụng phương pháp truyền thống

Trong khi đó nghiên cứu quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam chưa thực sự độc lập, nặng truyền thống mô tả và thiếu cơ sở, khuôn khổ lý luận vững chắc do chưa tiếp nhận có hệ thống, đầy đủ những tiến bộ học thuật của thế giới về tội phạm học nói chung, quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm nói riêng Các nghiên cứu có cách nhìn sâu sắc, bản chất, đa chiều còn ít Đa số nghiên cứu chỉ đơn giản hướng vào phân tích, mô tả tình hình thực tế để đề ra chính sách, biện pháp giải quyết mà chưa

có nền tảng lý luận vững chắc hoặc có mối liên kết với những ngành nghiên cứu tội phạm học khác

Khảo sát những nghiên cứu từ năm 2001 trở lại đây của Bùi Kiên Điện (2001),

Lê Cảm (2001), Nguyễn Phùng Hồng (2001), Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2005), Nguyễn Tuyết Mai (2007), Phạm Văn Tỉnh (2008), Trần Hữu Tráng (2010), Nguyễn Việt Hùng (2013), Nguyễn Cảnh Hiền (2014), Chu Thị Quỳnh (2015), Lê Văn Định (2015, 2017),

Hồ Thanh Lam (2016), Bùi An Giôn (2018), Lê Thị Hồng Xuân & Nguyễn Thị Thùy Linh (2018), Trần Thị Liên (2018), Phạm Uyên Thy (2019), UNICEF(2019), Bùi Xuân Phong (2020), Đỗ Thị Lý Quỳnh (2020), Nguyễn Thị Thu Phương (2022) cho thấy những nghiên cứu này thiên về mô tả thực trạng, ít ứng dụng các mô hình phân tích định

Trang 28

lượng và hầu như không có đóng góp về học thuật Khuôn mẫu chung của những nghiên cứu này là xác định vấn đề tội phạm đang phải đối mặt ở một lĩnh vực, địa bàn cụ thể (ví dụ tội phạm về ma túy, buôn bán người, tài sản ; ở một địa phương hoặc vùng địa

lý nhất định ở miền núi, đô thị ; đối tượng phạm tội là thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên hoặc người đã trưởng thành ) thông qua số liệu thống kê về các vụ việc, vụ án; hậu quả, hệ lụy đối với xã hội, cộng đồng, tổ chức, gia đình và các cá nhân Tiếp đến, các tác giả chỉ ra nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh tội phạm từ góc độ yếu kém của hệ thống pháp luật; buông lỏng quản lý nhà nước; hoàn cảnh thực tế khách quan; vấn đề mang tính chủ quan Các nghiên cứu thường kết thúc bằng việc đưa ra các giải pháp

xử lý có tính cảm quan, kinh nghiệm và nhằm giải quyết tình huống

Như vậy, nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm chỉ giới hạn ở việc mô tả những sự kiện, vấn đề rời rạc, nhỏ lẻ, chưa vẽ được một bức tranh chung có tính tổng thể, đầy đủ về nguồn gốc, chuyển hóa và diễn biến của tội phạm của Việt Nam cũng như đối pháp trong quản lý nhà nước Vẫn tồn tại sự lẫn lộn, chưa

rõ ràng đây là những nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý nhà nước hay lĩnh vực tội phạm học Đặc biệt, việc tiếp cận và xử lý các vấn đề, đòi hỏi của thực tế chưa dựa trên những khuôn khổ, phương pháp, mô hình mang tính hệ thống, khoa học Giải pháp, ứng dụng thực tế từ kết quả của những nghiên cứu này vì vậy còn hạn chế, chưa có tính toàn diện, căn cơ và dài hạn Giá trị học thuật, lý luận của các nghiên cứu hầu như không đáng kể

và chưa giúp giải thích những vấn đề tội phạm mới

1.5 Khoảng trống nghiên cứu

Như trên đã phân tích, trên thế giới, đóng góp có ý nghĩa lý luận đối với các mô hình yếu tố tính cách phục vụ nghiên cứu trong lĩnh vực tội phạm còn hạn chế Đây là khoảng trống về học thuật cho những nghiên cứu mới trong lĩnh vực tội phạm

Đối với trường hợp của Việt Nam, với đặc trưng là một nước chuyển đổi về văn hóa, kinh tế, xã hội, hệ thống luật pháp, tư pháp có khác biệt nhất định với các nước trên thế giới chưa được các nghiên cứu trên thế giới trong lĩnh vực quản lý nhà nước về tội phạm đề cập và xem xét đầy đủ

Việc áp dụng các mô hình phân tích định tính về các yếu tố dẫn đến hành vi phạm tội (tâm lý, xã hội, sinh học) hầu như chưa có Nghiên cứu sâu, có dấu ấn khác biệt về

cơ sở lý thuyết, phương pháp luận với tính ứng dụng cao hiện chỉ giới hạn ở một số ít các nghiên cứu (như Nguyễn Phùng Hồng (2001); Bùi Anh Dũng (2006), Phạm Văn Tỉnh (2008); Trần Hữu Tráng (2010, 2014), Đỗ Đức Minh (2017)) Mặc dù số lượng còn nhỏ nhưng những công trình nghiên cứu có tiếp thu, ứng dụng những thành tựu học

Trang 29

thuật tiên tiến của thế giới đã góp phần tạo dấu ấn khác biệt, tạo hướng tiếp cận mới với nhiều triển vọng trong việc giải thích, phân tích các hiện tượng mới của xã hội

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố tính cách tới tình hình tội phạm và hành

vi tội phạm ở Việt Nam hầu như chưa có Bên cạnh đó, nghiên cứu về đặc điểm nhân thân thường không được đặt trong mối liên hệ với những yếu tố khác Nguồn gốc, nguyên nhân, bản chất sâu xa của hành vi tội phạm trong mối liên hệ với nhiều yếu tố ngoài đặc điểm nhân thân chưa được phân tích và phát hiện Đây cũng là một phần lý

do của thực tế các giải pháp quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam chưa thực sự hiệu quả

Với thực tế nêu trên, việc xây dựng, phát triển các mô hình tìm hiểu, phân tích nguyên nhân tội phạm từ những khía cạnh phi truyền thống như tính cách cho hoàn cảnh quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam có nhiều ý nghĩa về học thuật

và thực tiễn cho không chỉ Việt Nam mà cả thế giới Việc kết hợp phân tích tác động của cả đặc điểm nhân thân và yếu tố tính cách tới hành vi phạm tội là một hướng giải quyết tốt cho vấn đề này Đây cũng là khoảng trống về mặt lý luận mà giới nghiên cứu

có thể khai thác, tìm hiểu, qua đó có đóng góp cho sự tiến bộ về học thuật của nước nhà

và cộng đồng quốc tế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về phòng ngừa tội phạm

Trang 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Nghiên cứu về tội phạm đã có một lịch sử lâu dài trên thế giới Cùng với sự phát triển trong các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nghiên cứu về tội phạm ngày càng có nhiều tiến bộ, hiểu biết sâu sắc, đa chiều, khách quan về nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm Ngoài đặc điểm nhân thân vốn được coi là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm, các yếu tố tính cách cũng bắt đầu được giới học giả quan tâm phân tích, nghiên cứu

Việc khai thác khoảng trống về lý luận và ứng dụng thực tiễn trong nghiên cứu

về tội phạm hứa hẹn đem lại đóng góp về học thuật và gợi ý các giải pháp phòng ngừa tội phạm trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng

Trang 31

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN THÂN, TÍNH CÁCH, HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM

Đấu tranh phòng ngừa tội phạm luôn là một nội dung quan trọng trong chiến lược

an ninh và trật tự an toàn xã hội ở mọi thời kỳ lịch sử của các quốc gia, trong đó có Việt Nam Do sự phát triển vượt bậc của nhiều ngành, môn khoa học vài thế kỷ qua, nhất là khoa học về xã hội và sinh học, bản chất, nguyên nhân của tội phạm được phân tích, nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau đã đem đến hiểu biết ngày càng đầy đủ, toàn diện cho nhân loại về lĩnh vực này Hoạt động phòng ngừa tội phạm vì thế cũng có những biến chuyển to lớn về mục tiêu, cách tiếp cận, phương pháp, nghiệp vụ thực hiện trên cơ sở những phát hiện khoa học được kiểm chứng Về cơ bản, trong xã hội hiện đại, tội phạm

đã không còn được coi là bản chất bất biến, cố hữu gắn với những cá nhân với các đặc điểm định trước Phạm tội là kết quả của nhiều yếu tố, hoàn cảnh tác động tới cuộc sống của các cá nhân và gia đình họ cùng điều kiện môi trường và cơ hội thuận lợi cho hành vi phạm tội (UNOCD, 2010) Để phòng ngừa tội phạm hiệu quả cần nắm rõ những yếu tố, hoàn cảnh, điều kiện, cơ hội và biểu hiện… dễ làm phát sinh tội phạm, từ đó có chiến lược, giải pháp hành động phù hợp nhằm thay đổi yếu tố, hoàn cảnh, điều kiện, cơ hội và ứng phó với những biểu hiện này

Chương này sẽ làm rõ nội dung các khái niệm chính, cơ sở lý luận và thực nghiệm

có liên quan đến đặc điểm nhân thân, tính cách, hành bi phạm tội và quản lý nhà nước

Trong khoa học hình sự, thuật ngữ hành vi phạm tội và thuật ngữ tội phạm được

sử dụng chung để chỉ cùng một khái niệm Khái niệm này có nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa và khác nhau theo thời gian và không gian nhưng về cơ bản đều nhằm phản ánh những hành vi vi phạm pháp luật hình sự Do luật pháp luôn phản ánh bản chất của

Trang 32

Nhà nước và thể hiện ý chí chung của quốc gia và ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, tội phạm hay hành vi phạm tội đều có bản chất là hành vi vi phạm pháp luật, quy định có tính chất nghiêm trọng, nguy hiểm cần bị trừng phạt, xử lý bằng biện pháp hình

sự Ví dụ, Dương Tuyết Miên và các tác giả (2010) nêu “tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật hình sự”

Trong nghiên cứu này, khái niệm tội phạm hay hành vi phạm tội được căn cứ vào quy định tại Điều 8, Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể như sau: “1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự 2 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm

và được xử lý bằng các biện pháp khác” Tội phạm theo luật hình sự phải là hành vi của con người Những tư tưởng, ý định hay suy nghĩ của con người dù có sai lệch đến đâu cũng không thể là tội phạm vì chúng không thể gây nguy hại cho xã hội Chỉ qua hành

vi của mình, con người mới có thể gây ra sự gây hại cho xã hội Khẳng định “Tội phạm

là hành vi nguy hiểm cho xã hội” là sự xác nhận một nguyên tắc của pháp luật nói chung

và của luật hình sự nói riêng là nguyên tắc hành vi, và sự xác nhận này chính là một trong những đảm bảo cho con người không bị truy bức về tư tưởng hay định kiến Nói tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội có nghĩa hành vi phạm tội phải gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo

vệ Hành vi không gây ra thiệt hại hoặc không đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ

xã hội được luật hình sự bảo vệ này không thể là tội phạm

Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là điều kiện đầu tiên, là cơ sở để xem xét hành vi nào đó là tội phạm và quy định nó trong BLHS Việc đánh giá hành vi nào đó

là nguy hiểm cho xã hội phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Theo cách hiểu và định nghĩa về tội phạm như trên, một hành vi được xác định

là tội phạm trong một thời điểm và địa điểm nào đó có thể không phải là tội phạm ở những thời điểm và địa điểm khác

Tội phạm được phân loại theo nhiều cách khác nhau Xét về mức độ nghiêm trọng, tội phạm có thể được chia thành ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng

Trang 33

và đặc biệt nghiêm trọng (Điều 9, Bộ luật Hình sự năm 2015) Xét về lĩnh vực, tội phạm

có thể thuộc lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, môi trường… Xét về đối tượng tác động, tội phạm có thể bao gồm xâm phạm sở hữu, xâm phạm thân thể, ma túy, tham nhũng, bạo lực, giới tính… Xét về hình thức tổ chức, tội phạm có thể bao gồm tội phạm

có tổ chức và tội phạm cá nhân Xét về mức độ chuyên nghiệp, tội phạm bao gồm tội phạm chuyên nghiệp và tội phạm không chuyên…

Nói tóm lại, khái niệm tội phạm và khái niệm hành vi phạm tội là tương đương, cùng có cách hiểu là hành vi vi phạm pháp luật hình sự cần bị trừng phạt, xử lý bằng biện pháp hình sự Trong nghiên cứu này, tội phạm ngoài cách hiểu là hành vi phạm tội còn được sử dụng theo nghĩa là chủ thể hay người gây ra hành vi phạm tội

2.1.2 Nguyên nhân hành vi phạm tội

Việc tìm hiểu nguồn gốc, nguyên nhân và điều kiện của hành vi phạm tội hay tội phạm đã được con người tiến hành từ rất sớm Nhìn chung, mọi hành vi phạm tội để xảy

ra đều trải qua một quá trình, là kết quả của những nguyên nhân nhất định và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Có thể nói nguyên nhân là động cơ khởi phát, là yếu tố cần của bất kỳ hành vi phạm tội nào Trong khi đó điều kiện là điểm kết thúc, là yếu tố đủ thúc đẩy hành vi phạm tội Một mặt, thiếu nguyên nhân thì mọi điều kiện, hoàn cảnh thuận lợi đều không làm nảy sinh tội phạm Mặt khác, có nguyên nhân, động cơ phạm tội nhưng điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợi thì hành vi phạm tội sẽ không hay chưa thể xảy ra

Theo Lý Văn Quyền và các tác giả (2008), nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội đến từ nhiều khía cạnh, từ kinh tế - xã hội đến tư tưởng - chính trị, văn hóa - giáo dục và tổ chức - quản lý xã hội; từ khách quan đến chủ quan…

Như đã phân tích ở chương trước, mặc dù chưa có lý thuyết thống nhất phổ quát, các học giả đồng nhất quan điểm có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và mỗi lý thuyết có ưu thế nhất định trong việc giải thích các loại hành vi phạm tội khác nhau, đối tượng tội phạm khác nhau, ở những thời kỳ lịch sử khác nhau và hoàn cảnh, địa điểm khác nhau Nguyên nhân hành vi phạm tội có phạm vi rất rộng, cơ bản là tổng hợp các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội, tổ chức có tính tiêu cực tác động qua lại và thâm nhập lẫn nhau làm phát sinh tội phạm (Lý Văn Quyền và các tác giả, 2008)

2.2 Đặc điểm nhân thân

2.2.1 Nhân thân nói chung

Nhìn chung, bản chất của con người bao gồm những nội dung về sinh học và xã hội Vì vậy, nhân thân là khái niệm được thống nhất rộng rãi phản ánh đặc điểm riêng

Trang 34

có của mỗi cá nhân bao gồm yếu tố sinh học và yếu tố xã hội Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng đặc điểm nhân thân còn bao gồm yếu tố tâm lý vốn được coi là một phần của yếu tố sinh học theo quan điểm truyền thống Các yếu tố sinh học về cơ bản phản ánh những thuộc tính sinh học của cá nhân hay căn nguyên động vật của con người, chủ yếu do gien, hormone quyết định Các yếu tố xã hội phản ánh vị trí, vai trò xã hội và quá trình xã hội hóa cá nhân như đặc điểm xuất thân gia đình, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh gia đình, học vấn, văn hóa, nghề nghiệp, việc làm, địa vị xã hội Các yếu tố tâm

lý phản ánh thuộc tính tâm lý biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội như xu hướng và năng lực hành vi, tính cách, khí chất

Khái niệm nhân thân con người là khái niệm bao trùm cả tâm lý, sinh lý và các mối quan hệ xã hội Trong đó các đặc điểm xã hội giữ vai trò quyết định đối với quá trình hình thành nhân thân của con người, còn tính sinh vật chỉ là điều kiện vật chất để phát triển bản chất xã hội của nhân thân người đó Tuy nhiên các đặc điểm sinh học, các quan hệ tâm, sinh lý có ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân thân con người, sức khỏe, cá tính, năng khiếu của con người và cần được nghiên cứu để có thể hiểu rõ về quá trình hình thành con người cũng như cách cư xử của họ trong thực tế cuộc sống

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân thân là một khái niệm đặc trưng chỉ được sử dụng khi nói về một thực thể tự nhiên, xã hội đặc biệt đó là con người và cần được tiếp cận từ góc độ xã hội – lịch sử Theo đó, nhân thân con người được hiểu như là sản phẩm của một thời đại nhất định, được quy định bởi những điều kiện cụ thể của hiện thực xã hội Sự hình thành nhân thân của một con người chịu sự tác động của chính sự tồn tại cá nhân người đó, những kinh nghiệm sống của họ được quy định bởi nội dung của những quan hệ hình thành trong gia đình, trong các mối quan hệ bạn bè, trong lao động, học tập Hay nói cách khác, nhân thân con người chính là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu phản ánh bản chất xã hội của con người Nói cách khác, chủ nghĩa Mác - Lênin thiên về yếu tố xã hội khi nhìn nhận, đánh giá đặc điểm nhân thân của một

cá nhân Nhân thân với tư cách là tổng thể thống nhất của các thuộc tính, tính cách và phẩm chất của con người và thể hiện ở những quan hệ xã hội như: vị thế xã hội của

cá nhân đó (cá nhân đó thuộc tầng lớp nào trong xã hội, các đặc điểm xã hội - nhân khẩu học của cá nhân như: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình ); vai trò, chức năng xã hội của cá nhân và các đặc điểm tâm lý, đạo đức của cá nhân đó

Ở Việt Nam, khái niệm nhân thân cũng có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau nhưng

cơ bản có nội dung tương tự như trên Ví dụ theo Lý Văn Quyền và các tác giả (2008), nhân thân là đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất con người tham gia mối quan hệ xã hội, gồm có 3 hệ thống: xã hội - nhân khẩu; chức năng, vai trò xã hội của cá nhân; đạo

Trang 35

đức - tâm lý

2.2.2 Nhân thân người phạm tội

Khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành trên cơ sở kết hợp khái niệm “nhân thân” và khái niệm “người phạm tội” Như vậy, khái niệm nhân thân người phạm tội được hiểu là nhân thân người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội bị pháp luật hình sự coi là tội phạm, phản ánh toàn bộ các quá trình, hiện tượng

xã hội trong con người sinh học của tội phạm, là đặc trưng khác biệt nhất định dễ trở thành nguyên nhân, điều kiện dẫn tới hành vi phạm tội

Ví dụ theo Võ Khánh Vinh (2013), nhân thân người phạm tội là “tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” Người phạm tội là người

đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm Thời gian một người bị coi là người có tội được tính từ khi toà án tuyên án cho đến khi xoá

án tích Tội phạm là kết quả của sự tác động qua lại rất phức tạp của nhiều yếu tố trong

đó các đặc điểm của nhân thân đóng vai trò quan trọng Các đặc điểm về nhân thân người phạm tội là kết quả của những điều kiện sống nhất định, của sự giáo dục, của những mối quan hệ và sự ảnh hưởng qua lại giữa môi trường xã hội và người phạm tội

Nhìn chung, các yếu tố sinh học mặc dù cũng là một phần của đặc điểm nhân thân người phạm tội nhưng ít ý nghĩa hơn nhiều so với các yếu tố xã hội và tâm lý Quan niệm này nhằm loại bỏ định kiến trước đây con người sinh ra với những đặc điểm sinh học nhất định sẽ trở thành tội phạm Ví dụ theo Phạm Uyên Thy (2019), nhân thân người phạm tội gồm các đặc điểm về nhân khẩu (giới tính, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa vị xã hội, hoàn cảnh gia đình, quan hệ gia đình, thành phần gia đình, hoàn cảnh kinh

tế gia đình, nơi cư trú, quan hệ xã hội); đặc điểm tâm lý (phẩm chất đạo đức, tâm lý cá nhân, tâm lý phạm tội, tâm lý pháp luật); đặc điểm pháp lý

Phân tích, nghiên cứu, đánh giá nhân thân người phạm tội giúp xác định nguyên nhân, điều kiện dẫn cá nhân đến hành vi phạm tội; bản chất, đặc điểm, tính chất, quan điểm, quan niệm chống đối xã hội của người phạm tội, từ đó có thể xây dựng giải pháp,

dự báo và phòng ngừa tội phạm, cải tạo, cải biến người phạm tội và ngăn ngừa tái phạm một cách hiệu quả

Theo Bùi An Giôn (2018) và Phạm Uyên Thy (2019), những yếu tố tác động đến

sự hình thành nhân thân người phạm tội gồm các yếu tố khách quan thuộc môi trường sống (môi trường tự nhiên- địa lý, môi trường gia đình, môi trường giáo dục, môi trường

Trang 36

chính trị - kinh tế - xã hội, môi trường văn hoá - đạo đức, môi trường hành chính - pháp lý), các yếu tố chủ quan của cá nhân (sai lệch về sở thích, nhu cầu và cách thức thoả mãn nhu cầu, hạn chế về ý thức pháp luật và khả năng kiểm soát hành vi của cá nhân)

Theo nhiều học giả và điều tra viên chuyên nghiệp, các đặc điểm nhân thân phản ánh nhất định nguyên nhân, điều kiện để một cá nhân có thể có hành vi phạm tội Sở dĩ

có cơ sở như vậy vì phân tích nhân thân giúp hiểu rõ các khía cạnh sinh học (giới tính, khí chất …), tâm lý (ý thức, thói quen…), xã hội (trình độ học vấn, văn hoá, nghề nghiệp, nơi cư trú…), hoàn cảnh gia đình… vốn là những đặc trưng phản ánh bản chất xã hội,

tự nhiên của cá nhân

Theo Võ Khánh Vinh (2013), nhân thân người phạm tội là một bộ phận cấu thành tất yếu và rất quan trọng của cơ chế hành vi phạm tội Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội giúp làm sáng tỏ mối quan hệ và sự tác động qua lại của các đặc điểm sinh học, xã hội trong nhân thân người phạm tội, từ đó dẫn đến động cơ và hành vi phạm tội Việc phân tích nhân thân người phạm tội thường được tiến hành ở 3 cấp độ ((i) nhân thân người phạm tội nói chung; (ii) nhân thân người phạm tội theo từng nhóm tội; (iii) nhân thân người phạm tội cụ thể), từ đó xác định vai trò của từng nhóm đặc điểm nhân thân trong quá trình và cơ chế phát sinh hành vi phạm tội

Tóm lại, nhân thân gồm nhiều đặc điểm Theo quan điểm truyền thống có hai đặc điểm là sinh học và xã hội Theo một số quan điểm khác thì có ba đặc điểm là sinh học,

xã hội và tâm lý Luận án chủ yếu nghiên cứu nhân thân về xã hội, thể hiện ở hệ thống câu hỏi, tiêu chí khảo sát phạm nhân

2.3 Tính cách và mô hình các yếu tố tính cách OCEAN

2.3.1 Khái niệm tính cách cá nhân

Tính cách cá nhân đã được nghiên cứu, tìm hiểu từ xa xưa Có nhiều định nghĩa

và cách hiểu về tính cách cá nhân hay đặc điểm tính cách cá nhân Ví dụ Revelle (2013) coi tính cách là “đặc điểm ổn định về can thiệp, nhận thức và mong muốn làm phát sinh hành vi”, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) (2017) định nghĩa tính cách là “sự khác biệt cá nhân trong đặc điểm tư duy, cảm nhận và cư xử”

Mặc dù đa dạng, các định nghĩa đều có điểm chung coi tính cách là tập hợp những đặc điểm về hành vi, nhận thức và cảm xúc có tính ổn định tương đối hình thành từ quá trình tương tác, kết hợp giữa các yếu tố môi trường và yếu tố sinh học của cá nhân Tính cách giúp phân biệt các cá nhân khác nhau và được phân loại theo nhiều cách khác nhau

Ví dụ Jung (1976) phân loại tính cách thành hướng ngoại và hướng nội với 4 chức năng tâm lý là tư duy, cảm nhận, xúc động, trực giác Các nghiên cứu và phân tích, quan sát

Trang 37

nhìn chung đều thừa nhận trừ trường hợp có những thay đổi đột biến của yếu tố môi trường và sinh học, tính cách về cơ bản là ổn định qua thời gian

Khi phân tích nhân thân người phạm tội, tính cách cá nhân được xác định thuộc khía cạnh sinh học của người phạm tội

Hiện nay, lý thuyết có tính phổ cập và được chấp nhận rộng rãi nhất là lý thuyết

về mô hình 5 yếu tố tính cách OCEAN Theo lý thuyết này, tính cách được định nghĩa

là “đặc điểm về tư duy, cảm nhận và hành vi của con người” (Corr&Matthews, 2009)

2.3.2 Cấu trúc mô hình các yếu tố tính cách OCEAN

2.3.2.1 Giới thiệu mô hình các yếu tố tính cách OCEAN

Nghiên cứu về tính cách có lịch sử tương đối dài Nghiên cứu về tính cách có tính

hệ thống được xác định có từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại trong đó các triết gia đã phân chia tính cách con người ra làm nhiều loại và đề cập về mối liên hệ giữa đặc điểm cơ thể với tính cách Từ thế kỷ 18, dưới ảnh hưởng của thành tựu nhiều môn khoa học, tính cách

và quan điểm, thái độ, hành vi được nhiều nhà khoa học, thần kinh học cho rằng có mối liên hệ trực tiếp với đặc điểm vật lý một số vùng khác nhau của bộ não (như kích cỡ, hình dạng, mật độ)

Hiện nay, theo các nghiên cứu di truyền, tính cách cá nhân về cơ bản bị tác động bởi cả yếu tố gen và môi trường (Soto, 2018) Tuy nhiên, những cố gắng xác định thành phần di truyền và thần kinh trong mỗi yếu tố tính cách đạt được kết quả hạn chế, cho thấy sự phức tạp của nền tảng sinh học trong các yếu tố tính cách

Đối với người phạm tội, tính cách cá nhân cơ bản thuộc khía cạnh sinh học của nhân thân người phạm tội

Các mô hình đánh giá, phân tích các yếu tố tính cách trong thực tế rất đa dạng Tuy nhiên, như đã giới thiệu ở chương trước, mô hình các yếu tố tính cách được ứng dụng rộng và phổ biến nhất là mô hình 5 yếu tố tính cách OCEAN Khởi nguồn từ Fiske (1949), sau đó được phát triển, mở rộng bởi Norman (1967), Smith (1967), Goldberg (1981), and McCrae & Costa (1987), mô hình OCEAN đến nay đã đạt được sự thống nhất cao trong giới nghiên cứu về cấu trúc chung gồm 5 yếu tố tính cách cũng như đặc điểm thành phần trong từng yếu tố tính cách Mô hình này đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ, áp dụng ở nhiều quốc gia, nhiều nền văn hóa, nhiều đối tượng và lĩnh vực Soto (2018) đã tổng kết những nội dung cơ bản trong mô hình 5 yếu tố tính cách OCEAN

2.3.2.2 Cấu trúc chung

Trang 38

Mô hình OCEAN bao gồm 5 yếu tố tính cách cá nhân cơ bản: sự sẵn sàng trải nghiệm (O), sự tận tâm (C), sự hướng ngoại (E), sự dễ chịu (A) và tâm lý bất ổn (N)

Sự khác nhau giữa các cá nhân về 5 yếu tố tính cách này giúp phân biệt tính cách riêng của mỗi người Mỗi một yếu tố tính cách bao gồm một tập hợp các đặc điểm hành vi

có liên quan

Sự sẵn sàng trải nghiệm (O) phản ánh sự khác biệt về sự ham tìm hiểu kiến thức, nhạy cảm thẩm mỹ và óc tưởng tượng Những người có độ sẵn sàng trải nghiệm cao thích tư duy và học hỏi, nhạy cảm với nghệ thuật và cái đẹp, hay có sáng kiến trong khi người ít sẵn sàng trải nghiệm thường không quan tâm tới kiến thức và nghệ thuật Những đặc điểm hành vi thuộc yếu tố tính cách này gồm có sự tưởng tượng, sự sáng suốt, mối quan tâm thay đổi, sự độc đáo, sự táo bạo, sự ưa thích đa dạng, sự lanh lợi, sự hiếu kỳ,

sự nhận thức, sự hiểu biết, sự phức tạp/sâu sắc (Lebowitz, 2016)

Sự tận tâm (C) thể hiện sự khác biệt về khả năng tổ chức, năng suất và trách nhiệm Những người tận tâm cao thích trật tự và có tổ chức, làm việc bền bỉ để đạt mục tiêu, cam kết hoàn thành trách nhiệm và nhiệm vụ Trong khi đó người không tận tâm cảm thấy thoải mái với sự mất trật tự và ít có động lực hoàn thành nhiệm vụ Những đặc điểm hành vi thuộc yếu tố tính cách này gồm có sự bền bỉ, tham vọng, tính cẩn thận, tự giác, sự kiên định, có thể dự đoán, khả năng kiểm soát, sự tin cậy, sự tháo vát, sự chăm chỉ, nghị lực, ý chí, khả năng lập kế hoạch (Lebowitz, 2016)

Yếu tố hướng ngoại (E) thể hiện sự khác biệt giữa các cá nhân về hòa nhập xã hội, tính quyết đoán và nghị lực Những người hướng ngoại cao thích giao du với người khác, cảm thấy thoải mái thể hiện bản thân trong tập thể và thường có cảm xúc tích cực như nhiệt tình và sôi nổi Ngược lại, những người hướng ngoại thấp (hướng nội cao) thường dè dặt về mặt xã hội và cảm xúc Những đặc điểm hành vi thuộc yếu tố tính cách này gồm có tính chan hòa, sự quyết đoán, tính vui vẻ, sự hướng ngoại, sự tích cực, hay nói, khả năng đọc rõ ràng, yêu hài hước, có mong muốn được yêu mến, thân thiện, có niềm tin xã hội (Lebowitz, 2016)

Yếu tố dễ chịu (A) phản ánh sự khác biệt về lòng thương, sự tôn trọng và sự thừa nhận của người khác Những cá nhân dễ chịu thể hiện sự quan tâm cảm xúc tới hạnh phúc của người khác, cư xử vì quyền lợi và sở thích của người khác và nhìn chung có niềm tin tích cực với người khác Người ít dễ chịu trong khi đó thường kém tôn trọng người khác cũng như chuẩn mực lịch sự của xã hội Những đặc điểm hành vi thuộc yếu

tố tính cách này gồm có lòng vị tha, sự tin cậy, sự khiêm tốn, sự nhún nhường, tính kiên nhẫn, khả năng kiềm chế, khả năng ứng biến, tính lịch sự, sự tử tế, sự trung thành, tính

Trang 39

không ích kỷ, sự có ích, tính nhạy cảm, tính tốt bụng, sự phấn khởi, sự thấu đáo (Lebowitz, 2016)

Sự bất ổn tâm lý (N) đo lường sự khác biệt về tần suất và cường độ của những cảm xúc tiêu cực Những người có bất ổn tâm lý cao có khuynh hướng hay lo âu, buồn

bã, thay đổi cảm xúc trong khi đó người có tâm lý ổn định thường bình tĩnh, kiên cường, ngay cả trong những tình huống khó khăn Những đặc điểm hành vi thuộc yếu tố tính cách này gồm có tính vụng về, bi quan, tâm trạng, hay ghen tị, hay giận hờn, sợ hãi, hồi hộp, lo lắng, nhút nhát, cảnh giác, tự phê phán, thiếu tự tin, cảm thấy thiếu an toàn, thiếu

ổn định, quá nhạy cảm (Lebowitz, 2016)

2.3.2.3 Hệ thống câu hỏi đo lường đặc điểm hành vi

Những yếu tố tính cách nêu trên trong mô hình OCEAN được đo lường chủ yếu thông qua hệ thống câu hỏi 5 yếu tố tính cách lớn (Big Five Inventory) hoặc hệ thống câu hỏi tính cách NEO điều chỉnh (Revised NEO Personality Inventory)

Hệ thống câu hỏi 5 yếu tố tính cách lớn (BFI) được Goldberd (1993) xây dựng với 44 câu hỏi để xác định điểm số của 44 đặc điểm hành vi Điểm số của những đặc điểm hành vi thuộc một yếu tố tính cách sẽ được tổng hợp để xác định điểm số chung của yếu tố tính cách Hệ thống câu hỏi 5 yếu tố tính cách lớn vẫn được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu tâm lý học Theo Schmitt và cộng sự (2007), Dự án Mô tả giới tính quốc tế (ISDP) là hệ thống cơ sở dữ liệu đa văn hóa lớn nhất thế giới về giới tính và tính cách sử dụng hệ thống BFI 44 câu hỏi do Goldberd và các nhà tâm lý học hàng đầu thế giới xây dựng

Hệ thống câu hỏi tính cách NEO điều chỉnh được bắt đầu xây dựng bởi Costa & McCrae (1978), sau đó được bổ sung và hoàn thiện bởi Costa & McCrae (1990, 2005, 2010) Hệ thống câu hỏi này ban đầu chỉ được thiết kế để đo lường 3 yếu tố tính cách bất ổn tâm lý (N), hướng ngoại (E), sẵn sàng trải nghiệm (O), sau đó mới được thiết kế

để đo lường cả 5 yếu tố tính cách Khác với hệ thống câu hỏi 5 yếu tố tính cách lớn, hệ thống câu hỏi tính cách NEO điều chỉnh có 6 mặt tính cách trong mỗi yếu tố tính cách Các mặt tính cách được hình thành từ những đặc điểm hành vi Tất cả có 240 câu hỏi sử dụng thang điểm từ 1 đến 5 để đo lường các đặc điểm hành vi Ngoài ra, có hệ thống câu hỏi tính cách NEO điều chỉnh rút gọn với chỉ 60 câu hỏi và mỗi yếu tố tính cách được tính toán trực tiếp từ các đặc điểm hành vi (không có các mặt tính cách trong mỗi yếu tố tính cách)

2.3.3 Sự tin cậy của mô hình các yếu tố tính cách OCEAN

Trang 40

Cơ sở dữ liệu cho mô hình OCEAN được thu thập từ những trao đổi, nói chuyện bằng ngôn ngữ hằng ngày hoặc thực hiện các bài kiểm tra tính cách chính thức Những nghiên cứu tâm thần so sánh tính cách thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau đã phát hiện

ra các ngôn ngữ trên thế giới đều có từ vựng đồng nghĩa tương đương thể hiện nội dung các đặc điểm tính cách trong mô hình OCEAN Các thang đo đánh giá tính cách trong

mô hình OCEAN đều có thể thể hiện nghĩa tương đương bằng những tính từ mô tả tính cách trong các ngôn ngữ Hơn nữa, những tính cách được đo lường bởi nhiều bài kiểm tra tính cách chính thức (bao gồm cả những bài kiểm tra trước khi có sự đồng thuận của giới học giả về cấu trúc của mô hình OCEAN) đều có thể sắp xếp lại theo cấu trúc của

mô hình OCEAN Vì vậy, mô hình OCEAN có thể thể hiện đúng cấu trúc các mô tả tính cách của cả giới chuyên gia và dân thường

Mô hình OCEAN đã thể hiện kết quả tương đối nhất quán ở cấp độ quốc tế Những yếu tố tính cách có sự liên hệ nhất định với nhau Việc ứng dụng kết quả mô hình OCEAN thể hiện được sự tin cậy và hiệu quả Schmitt và cộng sự (2007) trong nỗ lực tập hợp dữ liệu tính cách dân cư của 56 quốc gia ở 5 châu lục (nhằm mục tiêu nghiên cứu sự khác biệt văn hóa, ngôn ngữ có ảnh hưởng đến tính cách hay không) dựa trên mô hình OCEAN (hệ thống 44 câu hỏi BFI Tiếng Anh thuộc khuôn khổ ISDP được dịch ra

28 ngôn ngữ phục vụ khảo sát, phỏng vấn tại các nước) đã có phát hiện phần lớn các nền văn hóa, ngôn ngữ có sự khác biệt nhỏ về tính cách Tuy nhiên, tính cách người Châu Á có sự khác biệt nhất định với người phương Tây (Mỹ) do tính cộng đồng, tập thể cao hơn khiến cách hiểu, suy nghĩ, quan niệm và kết quả trả lời một số câu hỏi (ví

dụ về tính cách trải nghiệm) không giống như của người dân phương Tây

2.3.4 Khả năng dự báo của mô hình OCEAN

Mỗi một yếu tố tính cách được chứng minh có thể dự báo một số kết quả sẽ xảy

ra trong cuộc đời Ví dụ, sự hướng ngoại dự báo tốt những kết quả về xã hội Cá nhân hướng ngoại cao thường có nhiều bạn bè và đối tác và được đánh giá là người có tính

xã hội cao Nhìn chung, họ thích và thực hiện tốt những nghề nghiệp cần giao tiếp và kết nối xã hội, doanh nghiệp, đồng thời dễ nắm vai trò lãnh đạo cộng đồng Về mặt tâm

lý, người hướng ngoại có cảm giác mãn nguyện (mang tính chủ quan) hơn người hướng nội, nhất là về tần suất và mức độ cảm xúc tích cực

Sự dễ chịu gắn liền với một số kết quả liên quan đến trợ giúp người khác Ví dụ, người có tính dễ chịu cao thường được bạn bè quý mến, có mối quan hệ gần gũi ổn định

và hài lòng Nhìn chung, họ thích nghề nghiệp xã hội và dễ có đức tin tôn giáo, làm công việc tình nguyện và có vai trò lãnh đạo cộng đồng Người dễ chịu thường ít gây ra hành

Ngày đăng: 16/02/2023, 12:38

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w