1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Bàn thêm về cấu trúc ngữ nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc độ Ngữ pháp Tri nhận " pot

9 740 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 248,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức rõ tầm quan trọng của cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ loài người cùng với cấu trúc ngữ âm và cấu trúc ngữ pháp, bài viết điểm xuyết các quan điểm về cấu trúc ngữ nghĩa do Lan

Trang 1

262

Bàn thêm về cấu trúc ngữ nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt

dưới góc độ Ngữ pháp Tri nhận

Trần Hữu Mạnh*

Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh - Mỹ, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,

Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

Nhận ngày 8 tháng 11 năm 2007

Tóm tắt Nhận thức rõ tầm quan trọng của cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ loài người (cùng với

cấu trúc ngữ âm và cấu trúc ngữ pháp), bài viết điểm xuyết các quan điểm về cấu trúc ngữ nghĩa

do Langacker (1987) và Taylor (2002) đề xuất và sau đó gợi ý nên nghiên cứu xem xét cấu trúc ngữ

nghĩa theo sự tổng hòa/kết hợp dựa trên những phổ quát ngôn ngữ bao gồm: (a) sự kết hợp nghĩa

của các từ và đoản ngữ tạo nên câu; (b) vị trí tương đối của các thực thể được kể đến trong câu; (c)

sự hiệu chỉnh và các vùng năng động; (d) các không gian tâm linh chung cho sự thông hiểu của con

người; và (e) sự thông hiểu về mặt dụng học dựa trên các đặc điểm về ngôn cảnh Đồng thời xem

xét cấu trúc ngữ nghĩa theo sự không tổng hòa/kết hợp dựa trên những đặc thù của ngôn ngữ cụ

thể đang được nghiên cứu (tiếng Anh và tiếng Việt) bao gồm (a) tính thành ngữ; (b) các tục ngữ,

ngạn ngữ; (c) ẩn dụ và các trường hợp nói bang gió, hình tượng; (d) việc sử dụng quán từ tiếng

Anh và từ loại tương đương với nó trong tiếng Việt; và (e) hiện tượng đặc trưng ngôn ngữ như

trong tiếng Việt là điệp từ, điệp ngữ, nói lái Những trường hợp này được minh họa bằng các ví dụ

trong tiếng Anh và tiếng Việt Bài viết cuối cùng nêu lên các công thức của ngữ nghĩa câu là:

M sent = f [St ± compositionality (RIT)] (in the light of Halliday’s functional grammar)

Or M sent = f [St ± comp (Pred + Arg(s)] (in the light of Cognitive Linguistics)

1 Đặt vấn đề*

Từ góc độ ngữ nghĩa của từ đến vấn đề

ngữ nghĩa của đoản ngữ và câu, có nhiều

quan điểm khác nhau Chomsky, Halliday,

Lyons đã có những lý giải có những phần cơ

bản giống nhau nhưng có khá nhiều nét khác

nhau về những suy xét sâu hơn! Chẳng hạn

Chomsky khi xem xét ngữ nghĩa của từ đã

đoản ngữ đã dựa trên lý luận của Fillmore về

* ĐT: 84-4-7852898

E-mail: tran_huumanh@yahoo.com.vn

lý thuyết về cách (theory of case), những khái niệm về phép biến đổi (cải biên - transformation) và các yếu tố khác về logic,

xạ ảnh Halliday tập trung xem xét nghĩa của

cú (có thể coi là tương đương với khái niệm câu trong các cuốn ngữ pháp học và ngôn ngữ học khác) dựa trên ba siêu chức năng của ngôn ngữ: ý tưởng hoá, liên nhân và văn bản Việc xem xét ý nghĩa của cú trong cấu trúc ngữ nghĩa của cú câu theo quan điểm của Halliday đã được Nguyễn Hoà nêu lên thành công thức: Msent = f(STIR) [1, p.198] Trong cuốn sách viết về Ngữ pháp học tri

Trang 2

nhận, J R Taylor nhấn mạnh rằng cấu trúc

ngữ nghĩa, song hành với cấu trúc ngữ âm và

cấu trúc ngữ pháp là một trong thành tố của

cấu trúc ngôn ngữ vốn dĩ là một bộ phận

không thể tách rời của sự tri nhận và dành cả

một chương để xem xét vấn đề này

Có thể nói chắc chắn rằng quan niệm của

ngữ pháp tri nhận, theo cách nhìn nhận mới

nhất, là điều mà chúng ta hiện đang quan tâm

nghiên cứu Và cách nhìn nhận của nó về cấu

trúc ngữ nghĩa (CTNN) mà chúng tôi sẽ giới

thiệu một cách chiếm nghiệm dưới đây sẽ là

điều mà nhiều nhà ngôn ngữ học trong chúng

ta quan tâm

2 Cấu trúc ngữ nghĩa theo cách nhìn của

Ngữ pháp Tri nhận (Taylor, 2002)

2.1 Trước hết, có thể thấy nhận định cơ

bản sau đây của Ngữ pháp Tri nhận: Ngữ

nghĩa của một biểu thức phức hợp (complex

expression) không đơn thuần chỉ là một hàm số

của các ý nghĩa của các phần của nó và phương

thức mà theo đó chúng được kết hợp lại

Một cách điển hình, nghĩa của toàn bộ

biểu thức là cụ thể hơn hay thậm chí có thể

thay đổi so với ý nghĩa mà các phần tử của nó

kết hợp lại, và có thể bao gồm các thành tố

hoàn toàn không được thực tế hình tượng

hoá bởi bất cứ một yếu tố nào thuộc về các

đơn vị thành tố [2, p.96]

2.2 Taylor liệt kê các trường hợp sau đây

khi xem xét cấu trúc ngữ nghĩa của một đơn

vị ngôn ngữ

2.2.1 Nguyên tắc kết hợp nghĩa

(compositionality)

Theo nguyên tắc kết hợp (hay còn có thể

gọi là tổng hoà nghĩa), nghĩa của một biểu

thức phức hợp (complex expression) được đúc kết từ các ý nghĩa của các thành tố của nó theo cách thức mà chúng được kết hợp lại với nhau [2, p.97]

Hiển nhiên trong hai câu sau đây (1) và (2)

(1) "The cat stole the hat" có ý nghĩa khác với câu (2) "The cat ate the hat" ("Con mèo đánh

cắp cái mũ" và "con mèo ăn cái mũ") chính là

vì 'stole' và 'ate' có những đóng góp về nghĩa khác nhau với việc thông hiểu nghĩa của cả câu, và cũng vì những đóng góp này có quan

hệ một cách có hệ thống đến những tầm (ranges) có tính chất quy ước cách sử dụng khả chấp của người nói tiếng Anh thông thường [2, p.97; 3, p.132-133]

Taylor [2, p.98] nói rõ bốn điều kiện xác định ý nghĩa của biểu thức dựa trên nguyên tắc kết hợp này

Cũng theo Taylor, những trường hợp nằm ngoài nguyên tắc kết hợp kể trên bao gồm:

1 Các thành ngữ (idioms): Một thành ngữ

là một biểu thức mà nghĩa của nó không thể được tính toán (cộng đơn thuần) từ các ý nghĩa của các thành tố tạo nên nó Ví dụ:

(3) You're opening a can of worms

= Anh đang chọc vào một tổ kiến lửa đấy!

hay (4) He kicked the bucket = Hắn ngoẻo rồi

2 Ẩn dụ: Ẩn dụ là một trong nhiều biện pháp của lối nói bóng bẩy (figures of speech) bao gồm ngoa dụ (hyperpole), hài hước/châm biếm (irony) và hoán dụ (metonymy)

Ẩn dụ, theo định nghĩa thông thường, dựa trên sự liên tưởng về nghĩa (association) trên cơ sở sự giống nhau hàm ẩn giữa các từ / cụm từ được sử dụng và từ / cụm từ dựa trên nghĩa đen của chúng Chẳng hạn:

(5) I have a thousand and one things to do

= Tôi có đến nghìn lẻ việc phải làm

và (6) Christmas is approaching

= Lễ Noel đang đến gần

Trang 3

3 Sự thông hiểu về mặt dụng học: Nhìn

chung mỗi phát ngôn đều có thể hiểu được

theo các cách khác nhau, ít nhất theo hai cấp

độ về nghĩa: 1 Nghĩa đen của biểu thức, tức

là dựa trên nghĩa gốc của các từ và 2 Nghĩa

suy diễn theo ngữ cảnh, tức là nghĩa mà người

nói muốn biểu đạt trong ngữ cảnh cụ thể

2.2.2 (7) "The football under the table" (Quả

bóng (nằm) dưới cái bàn)

Taylor giải thích ý nghĩa của cụm từ này

(một danh ngữ phức) theo vị trí tương đối

của quả bóng với cái bàn như sau:

- Quả bóng ở dưới gầm bàn, trong đó cái

bàn được kê ở vị trí thường thấy của nó và

quả bóng nằm dưới gầm bàn

- Quả bóng nằm dưới mặt bàn, trong đó

cái bàn kê ngửa lên trên sàn nhà và mặt bàn

đè lên quả bóng (trên sàn nhà)

- Quả bóng bị cái bàn kê nghiêng đè lên

(trên sàn nhà)

Đó chính ba cách thông hiểu cụm từ này

[4, p.280]

2.2.3 Sự hiệu chỉnh và các vùng năng động

(accommodation and active zones)

Khi các cấu trúc khái niệm (conceptual

stuctures) được kết hợp với nhau, thông

thường mỗi kết cấu cần phải hiệu chỉnh đối

với kết cấu kia sao cho cả hai sẽ tham gia

nhịp nhàng hợp lý trong khuôn khổ khái

conceptualisation) Chẳng hạn động từ "run"

(= chạy) áp dụng khác nhau cho các chủ thể

như: người, ngựa, bò, chuột, báo, hổ Hay

động từ "eat" (= ăn) cùng có thể áp dụng khác

nhau cho các trường hợp trong tiếng Anh: a

person eats a beefsteak/an icecream; a dog

eats a bone; and a snake eats a bird (eat = ăn,

nhai, nhấm nháp, gặm, nuốt)

Đồng thời khi các thực thể tham gia vào một cảnh huống chỉ có một số bộ phận nào

đó của thực thể đó được kể đến

Chẳng hạn:

(8) John kicked the table = Giôn đá cái bàn

Trong ví dụ này, hai thực thể được kể đến (tham thể) là Giôn và "cái bàn - Giôn" là tác nhân, tham gia vào sự kiện 'đá' (chỉ có bàn chân của Giôn thôi); và "cái bàn" là vật thể bị tác động, tức là đích thể (patient) và thực tế là chỉ một bộ phận của cái bàn, chân chẳng hạn, như vậy là chỉ có bàn chân của Giôn tác động đến "chân" của cái bàn Đây chính là những vùng năng động của các thực thể

2.2.4 Các không gian tâm linh và cách dùng quán từ (xác định và không xác định)

Ta hãy xét ví dụ dưới đây:

(9) The girl with green eyes has blue eyes = Cô gái

với đôi mắt xanh lục ấy có đôi mắt xanh lam

Rõ ràng nếu đơn thuần xét về mặt kết hợp nghĩa (compositionality), ví dụ này có sự mâu thuẫn (green eyes khác blue yes) Nhưng chúng ta có thể thấy rõ ý nghĩa (sense) của câu này khi xét về không gian tâm linh (mental spaces): hai không gian tâm linh - một thuộc về cô gái mắt xanh lục, một thuộc

về cô gái mắt xanh lam; và quan hệ tương đồng giữa cô gái và các đôi mắt trong hai không gian đó Cả các không gian tâm linh và các mối quan hệ tương đồng (correspondence relations) đều không được mã hoá rõ ràng trong biểu thức ngôn ngữ học Và do vậy, không gian tâm linh có lẽ nằm ngoài phạm vi của sự kết hợp nghĩa nghiêm ngặt (strict compositionality) và nằm trong nội hàm văn hóa

Bên cạnh đó, ta có thể thấy sự khác nhau của các ý nghĩa của các cánh dùng quán từ trong ví dụ sau đây:

Trang 4

(10) "Ursula wants to marry a millionaire"

= "Ursula muốn cưới một ông triệu phú"

"A millionaire" ở đây khác hẳn với "a

millionaire" trong ví dụ "Ursula married a

millionaire" (cưới một ông triệu phú) về mặt

quy chiếu ("phi quy chiếu" và "quy chiếu")

Xem xét theo một cách khác, ta có thể thấy

có hai cách thông hiểu ví dụ (10) này:

1 Có một ngài triệu phú bằng xương

bằng thịt và Ursula muốn cưới ông ta Đây

chính là trường hợp thông hiểu cụ thể không

xác định (indefinite specific interpretation) (+

referential)

2 Ursula hiện tại vẫn chưa kiếm được

ngài triệu phú này, nhưng trong tâm tưởng

cô nàng vẫn hy vọng là sẽ kiếm được một ý

trung nhân như vậy Đây chính là sự thông

hiểu phi cụ thể không xác định (indefinite

non-specific interpretation) (- referential) [2,

p.98-114; 5, tr.302-307]

3 Đề xuất của chúng tôi về cấu trúc ngữ nghĩa

Theo cách phân tích trên về cấu trúc ngữ

nghĩa của ngữ pháp trí nhân (Langacker và

Taylor), chúng tôi thấy phần nào đó cách

phân chia của các tác giả này chưa thật rạch

ròi và dễ lẫn lộn với nhau Do vậy chúng tôi

mạnh dạn đề xuất cách phân tích sau đây:

3.1 Nhận định chung

Trước hết khi đề cập đến cấu trúc ngữ

nghĩa của thành tố của câu, và đặc biệt của

câu, cần thấy rõ cấu trúc ngữ nghĩa đó bị chi

phối bởi các yếu tố ngôn ngữ và văn hoá của

từng ngôn ngữ (Anh và Việt chẳng hạn) Do

vậy, cấu trúc ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ

đều mang đậm nét phổ quát (universal) và

không phổ quát (non-universal) Nói khác đi,

trong trường hợp ngữ nghĩa của câu là sự

tổng hoà các thành tố của câu, đó chính là tính phổ quát của ngôn ngữ - mọi ngôn ngữ đều mang tính phổ biến này Còn trường hợp phi phổ quát chính là khi khi nghĩa của câu không phải là sự tổng hoà của các thành tố của câu mà có thể do những yếu tố khác như văn hoá là chủ yếu hay đôi khi do cá nhân người nói và người nghe (thứ yếu) thông dịch ngữ liệu đó Ở đây, chúng tôi chỉ xin nói đến những nhân tố thuộc về logíc (phổ quát) và văn hoá (không phổ quát)

3.2 Các trường hợp cụ thể

3.2.1 Cấu trúc ngữ nghĩa dựa trên tính phổ quát (logic) của ngôn ngữ

Theo nguyên tắc này, ngữ nghĩa của câu / phát ngôn chính là sự tổng hoà (hay kết hợp) của các yếu tố cấu thành phát ngôn theo Ngữ pháp Tri nhận Đây chính là các trường hợp

1 Nghĩa của một biểu thức phức (complex expression) - có thể là đoản ngữ hay câu - được kết hợp từ các ý nghĩa của các thành tố cấu thành nên nó (xem 2.2.1 và các

ví dụ (1) và (2))

2 Nghĩa được xác định bởi vị trí không gian của vật thể được kể đến trong phát ngôn (đoản ngữ hay câu) Các vị trí không gian này (spatial positioning) có thể khác nhau (xem 2.2.2 với ví dụ trong tiểu phần này về cái bàn

và quả bóng về cái bàn và quả bóng)

3 Nghĩa bị chi phối bởi sự điều tiết và các vùng năng động: Đây chính là sự thông hiểu của các thành viên của cộng đồng ngôn ngữ với các động từ chỉ hoạt động vật chất và cả tinh thần, nói năng của con người Đồng thời cũng phải hiểu khi nói đến một thực thể được kể đến trong một hành động chỉ có một vùng năng động / hoạt động của thực thể đó được kể đến trong hành động (xem phần 2.2.3 và ví dụ (8))

Trang 5

4 Nghĩa được suy ra từ các không gian

tâm linh có thể được kéo theo vào trong một

phát ngôn, và do vậy các kết hợp nghĩa của

các thành tố xem ra có thể là mâu thuẫn nhau

(xem 2.2.4 và ví dụ (9))

5 Nghĩa dựa trên sự thông hiểu về mặt

dụng học: suy diễn theo ngữ cảnh (cũng là

nét chung song cũng mang tính đặc thù cho

từng ngôn ngữ ) [2, p 103]

3.2.2 Cấu trúc ngôn ngữ dựa trên tính phi

phổ quát

Hay nói khác đi là tính đặc thù của ngôn

ngữ (tức là các đặc điểm về văn hoá đặc thù,

có thể gọi là phi logic hình thức của các ngôn

ngữ cụ thể) Trong phạm vi của bài viết,

chúng tôi xin nêu lên một số trường hợp điển

hình sau đây:

1 Trường hợp nghĩa thành ngữ (idiomatic

meanings): Trong trường hợp này khi nghiên

cứu tiếng Anh và tiếng Việt (một ngôn ngữ

Ấn - Âu có phân tích đúng cao và một ngôn

ngữ Á - Úc đơn lập) có thể thấy những:

+ Đặc điểm chung: nghĩa của thành ngữ

được suy diễn từ các thành tố (có thể xếp vào

trường hợp 3.1.1)

(11) a Chơi với lửa (Việt) = play with fire (Anh)

b Đồ con lừa (Việt) = you donkey (Anh)

+ Đặc thù từng ngôn ngữ: mang đậm nét

văn hoá (truyền thống) như:

(12) a Con chiên ghẻ (Việt) = a black sheep (Anh)

(A disobediant catholician)

b Ăn cháo đái bát = kick down the ladder

(eat the soup and kich the bowl)

c Khó ở (uneasy to exist) = under the weather

d Ngay lập tức (immediate at the moment)

= at once

(Xem thêm các ví dụ (3) + (4) của 2.2.1.)

2 Trường hợp tục ngữ (proverbs): trường

hợp này rõ ràng mang sắc thái, bản chất văn

hoá của từng ngôn ngữ dựa trên sự đúc kết

kinh nghiệm sản xuất, sống và trải nghiệm khoa học, học thuật của từng cộng đồng ngôn ngữ Chẳng hạn:

(13) a Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã (Việt) = Birds of a feather flock together (Anh)

(Buffaloes seek buffaloes, horses seek horses)

b Chó chê mèo lắm lông = The pot calls the kettle black

(Dogs disparage cats to be full of hair) Trong trường hợp này, một câu tục ngữ / ngạn ngữ tiếng Anh có thể chuyển dịch sang tiếng Việt theo các câu nói khác nhau do tiếng Việt có thể có những tương đương đẳng ngữ,

chẳng hạn 13b có thể là: "Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm" hay "Chuột chù chê khỉ rằng hôi "

3 Nghĩa ẩn dụ và một số trường hợp nghĩa dựa trên lối nói bóng bẩy như ngoa dụ, hài hước Trên thực tế, có thể thấy một số trường hợp có thể được coi là chung cho mọi ngôn ngữ

(14) a Chân đồi = the foot of the hill

b Miệng hang = the mouth of the cave

Hay như những trường hợp (5) và (6) của 2.2.1 đã nêu trên đây

Nhưng cũng có những trường hợp sự khác nhau nhất định trong cách sử dụng ẩn

dụ trong hai ngôn ngữ:

(15) a Chân trời ~ horizon (không ẩn dụ)

b Quả / trái tim ~ the heart (không ẩn dụ)

và c Con ngươi của mắt bạn (không ẩn dụ) ~ the apples of your eyes (ẩn dụ)

d Một thành phố hiền hoà (thân thiện)

(không ẩn dụ) ~ a friendly city (ẩn dụ nhân cách hoá)

Trong các ví dụ trên: a và b trong tiếng Việt là ẩn dụ còn tiếng Anh tương ứng không phải là ẩn dụ, và ngược lại với c và d, tiếng Việt không mang rõ nét ẩn dụ còn tiếng Anh lại là ẩn dụ rõ ràng

Đồng thời, trong rất nhiều trường hợp ẩn

Trang 6

dụ thường được lồng ghép với hoán dụ

(metonymy - vấn đề thường gặp trong trường

hợp ý nghĩa phổ quát của ngôn ngữ [2,

p.112] Theo Lakoff [6], khi nói về "anger" (sự giận dữ) ta có biểu tóm tắt sau đây (phần dịch sang tiếng Việt là của chúng tôi)

METONYMY + INCREASE / IN BODY TEMPERATURE STANDS FOR ANGER

(Hoán dụ) (Sự tăng lên của nhiệt độ cơ thế thể hiện sự giận dữ

METAPHORS ) + ANGER / IS HEAT

(Ẩn dụ) (Sự giận dữ là nhiệt lượng)

ANGER IS FIRE + ANGER IS THE HEAT + THE BODY IS A CONTAINER

OF A FLUID IN A CONTAINER FOR EMOTIONS

(Sự giận dữ là lửa cháy) (Sự giận dữ là nhiệt lượng của một (Cơ thể là một công-te-nơ chứa

dòng chảy trong một công - ten - nơ) đựng các cảm xúc)

(Dẫn theo Ungerer & Schmid [7, p.134])

Như vậy trong khá nhiều trường hợp

không có sự phân định rạch ròi giữa nghĩa

kết hợp (phổ quát) và không kết hợp (phi phổ

quát)

Ngoa dụ và hài hước cũng mang những

nét phổ quát và phi phổ quát như:

+ Phổ quát

(16) a Đen như than = black as coal

b Sự rối rắm bời bời = a nice mess (mớ bòng

bong thú vị)

+ Phi phổ quát

(17) a Đen như chó mực ~ (as) unlucky as

(Hobson + Hobson's choice)

b Da trời không nhuộm mà xanh ngắt

Mắt lão không viền cũng đỏ hoe

(~ The sky is so blue without being dyed

And my eyes get so red due to trachoma)

4 Cách dùng quán từ tiếng Anh và việc

sử dụng loại từ và phân định từ (classifier

and identifier) trong tiếng Việt

Quán từ trong tiếng Anh là một nét đặc

thù của loại ngôn ngữ Giecmanh này Nó

khác rất nhiều so với các loại quán từ dùng

trong nhiều ngôn ngữ Ấn Âu khác (chẳng

hạn tiếng Latin, tiếng Rumani, tiếng Pháp và

thậm chí cả tiếng Đức) ở chỗ không có sự

phân biệt về giống và số Nó gắn liền với quy chiếu ngữ pháp (reference in grammar) bao gồm các tiểu phạm trù: Nghĩa chung (generic refence) nghĩa cụ thể (specific repence), nghĩa đơn nhất (unigue reference) nghĩa cụ thể (specific reference), nghĩa đơn nhất (unique reference) Ngoài các ví dụ (14) và (15) đã nêu trên đây, ta có thể nêu thêm một vài ví dụ:

(18) In the country of the blind the one - eyed man

is king = Trong xứ mù anh chột làm vua

Việc sử dụng quán từ "the" trong ba danh ngữ đầu và quán từ zero trong danh ngữ cuối

là khá đặc thù của tiếng Anh (khác với nghĩa)

(19) An apple a day keeps the doctor away

= Ăn một quả táo một ngày giúp bạn cường tráng suốt đời (cách ly bạn khỏi bác sỹ) Nghĩa của quán từ: an = một, a = mỗi; the

với ý nghĩa phân định "ông bác sỹ" của bạn là một nét đặc trưng nữa của tiếng Anh

Loại từ (classifier) và từ phân định/xác định (identifier) là nét đặc thù của tiếng Việt gồm cái (loại từ), anh/ông/lão (từ phân định)

(20) Cái anh chàng nhà quê đua đòi hãnh tiến ấy = that upstart snobbish country-lad

Trang 7

(trong đó "chàng nhà quê" có thể coi là danh

từ đầu tố - head noun - là một danh từ ghép)

Cấu tạo của danh từ ngữ phức tiếng Việt

cũng là một hiện tượng khá đặc trưng cho

loại ngôn ngữ đơn lập này với từ

"này/kia/nọ/đó" là từ xác định (determiner)

tách ra đứng cuối danh ngữ phức khác hẳn

với từ xác định tiếng Anh (this, that, these,

those) mà theo truyền thống là từ chỉ định

(demonstratives)

5 Nghĩa do một số yếu tố đặc trưng cho

ngôn ngữ (bao gồm cả yếu tố văn hoá) quy

định Trong tiếng Việt, chẳng hạn, có thể liệt

kê một số nét đặc trưng của loại ngôn ngữ

đơn lập này

- Hiện tượng lặp từ (điệp ngữ) trong cấu

tạo câu có thể bao gồm:

+ Lặp lại hoàn toàn: lặp chủ ngữ mang

nghĩa số nhiều, (a) hay lặp vị ngữ nghĩa giảm

nhẹ (b)

(21) a Người người thi đua, ngành ngành thi đua

= Everyone and every organization emulates

Nhà nhà làm từ thiện Người người mua

chứng khoán

= Every home does charity Every one buys

stock tickets

b Ông ấy dạo này điên điên khùng khùng

= He’s now a little bit crazy

Bà ấy sau trận ốm cứ nhớ nhớ quên quên

= She got a little bit forgetful after the illness

Hiện tượng lặp này còn xảy ra với các

trạng ngữ:

(22) a Mắt đen tròn thương thương quá đi thôi

= Her round black eyes looked so charming

b Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung

= His family properly ranks among the

mid-level

c Ngày ngày đêm đêm em ngóng chờ tin anh

= Day and night I would expect the news from

you

Theo Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà:

"Điệp ngữ là biện pháp lặp lại một hay nhiều lần những từ, ngữ nhằm mục đích mở rộng nghĩa gây ấn tượng mạnh mẽ hoặc gợi

ra những xúc cảm trong lòng người đọc, nghe":

(23) Chiều chiều lại nhớ chiều chiều Đôi o bướm trắng dải điều thắt lưng

= At dusk we miss the scene when dusk came, Couple of girls with red belt at waist turned round [8, tr.210]

+ Lặp lại có biến đổi thanh điệu: đo đỏ, bàng bạc, bằn bặt, thiêm thiếp, thường dùng để cấu tạo từ, gọi là từ láy Theo chúng tôi loại từ láy này cũng thường xuất hiện trong câu hay cụm từ chứ ít khi đứng một mình và gây nhiều phiền toái cho cả dịch giả Việt - Anh

- Hiện tượng nói lái (spoonerism) thường gặp trong trường hợp thông tục hay chơi chữ Hiện tượng nói lái này nhiều khi thay đổi theo tập quán từng vùng

(24) a Đèo Hải Vân = đèo Vẩn hai/ vần hải đeo (phía Bắc)

(= Hai Van pass) = đần hải veo/ đần vải heo (phía Nam)

b Mua hai lạng = mua lang hại/ lang hai mua (phía Bắc)

(= buy 200grs) = mang hai lụa/mai lua hạng (phía Nam)

Nếu tiếp tục suy diễn theo lỗi nói lái này, nghĩa của đoản ngữ (danh ngữ hay động ngữ) sẽ biến đổi khôn lường và gây nhiều trở ngại cho người nước ngoài học tiếng Việt Trường hợp này tương tự với tiếng Anh trong spoonerism:

(25) Well- boiled icycles (= well- oiled bicycles) (=

xe dốt tầu)

4 Mấy ý kiến kết luận

4.1 Khi xem xét cấu trúc ngôn ngữ, đồng

thời với việc xem xét cấu trúc vật chất của nó:

Trang 8

cấu trúc ngữ âm và cấu trúc cú pháp [5] cần

xem xét cấu trúc ngữ nghĩa chính là sự thể

hiện về mặt tinh thần, tâm lý, tâm linh con

người khi sử dụng ngôn ngữ Rõ ràng có mối

liên hệ hữu cơ giữa các cấu trúc nói trên, nói

khác đi là giữa ngữ âm, cú pháp và ngữ nghĩa

của mọi ngôn ngữ

4.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ

được xác định bởi hai yếu tố: CÓ hay

KHÔNG sự kết hợp nghĩa nghiêm ngặt các

thành tố tạo nên đơn vị ngôn ngữ, mà đơn vị

cơ bản chính là CÂU hoặc CÚ Từ phân tích

trên, ta hoàn toàn có thể xác định công thức

tạo thành nghĩa của câu (khác với công thức

của Nguyễn Hoà 2006) [1]

4.2.1 Theo ngữ pháp Chức năng - Hệ

thống (theo quan điểm của Halliday):

Tiếng Anh: clause = sentence

Msent = f [St ± comp (RIT)]

Giải thích: Meaning of sentence = function

of [structure (i.e.senmantic structure) ±

compositionality (Representational +

Interpersonal + Textual)]

Tiếng Việt

Nghĩa câu = hs [Ctr ± k.hợp (Tgiải +

Lnhân + V bản)]

Giải thích: Nghĩa của câu = hàm số của

[Cấu trúc ngữ nghĩa ± kết hợp các thành tố

(tường giải + Liên nhân + Văn bản)]

4.2.2 Theo ngữ pháp tri nhận và Cú pháp

kết hợp Ngữ nghĩa (theo quan điểm các nhà

Cú pháp học đương đại):

Tiếng Anh: Theo cách nhìn nhận về mệnh

đề logic (proposition): Msent = f [St ± comp

(Pred + Arg (s)]

Giải thích: Meaning of sentence = function

of [structure ± compositionality (Predicatior +

Argumentis)

Tiếng Việt:

Nghĩa câu = hs (Ctr ± kết hợp (Vt + Tht)]

Giải thích: Nghĩa của câu = hàm số của [cấu trúc ngữ nghĩa ± kết hợp nghĩa của (Vị trí + Tham tố)]

4.3 Sự xem xét tính đến các nhân tố tạo

thành cấu trúc ngữ nghĩa của câu, đơn vị cơ bản của mọi ngôn ngữ đều tuân thủ các nguyên tắc chúng tôi đã nêu trong phần 3 của bài viết này Do vậy các nhà ngôn ngữ học, đặc biệt ngôn ngữ học đối chiếu, cần đi sâu xem xét các trường hợp thể hiện trong công thức “± comp (= ± k.hợp)” khai thác các trường hợp phổ quát và phi phổ quát của ngôn ngữ loài người mà theo ý của chúng tôi

số lượng các trường hợp khá cân bằng (5 : 5) Nhưng có lẽ đây là sự cân bằng đã lý tưởng hoá

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyen Hoa, Understanding English Semantics,

VNU Hanoi Press, Hanoi, 2006

[2] J R Taylor, Cognitive Grammar, Oxford

University Press, Oxford, 2002

[3] E Sweetser, Compositionality and blending:

Semantic composition in a cognitive realistic framework, In Janssen and Redeker (eds - 1999),

Longman, London, 1999

[4] R W Langacker, Foundations of Cognitive

Grammar, Vol 1: "Theoretical Prerequisites",

Standford, California, 1987

[5] Trần Hữu Mạnh, Ngôn ngữ học đối chiếu: Cú pháp

tiếng Anh - tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội, H., 2007

[6] G Lakoff, Women, Fire, and Dangerous Things:

What Categories Reveal about the Mind, Chicago,

USA, 1987

[7] F Ungerer, H J Schmidt, An Introduction to

Cognitive Linguistics, Longman, London, 1997

[8] Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, Phong cách

học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.

Trang 9

On the semantic structure of English and Vietnamese

in the light of Cognitive Linguistics

Tran Huu Manh

Department of Anglo-American Language and Culture, College of Foreign Languages, VNU,

Pham Van Dong, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

Realizing the importance of the semantic structure of human languages (together with the phonological structure and the syntactic structure), the article makes a review of the conception

of semantic structure raised by Langacker (1987) and Taylor (2002) and then suggests at the study

of this in terms of (1) compositionality, based on language universals, including (a) the combination of the meanings of words and phrases making up the sentence, (b) the relative positioning of the entities involved in the sentence; (c) the accommodation and the active/dynamic zones; (d) the mental spaces common to human beings’ interpretation; and (e) the pragmatic interpretation based on the context features; and (2) uncompositionality, based on percularities of particular languages under study, namely: (a) idiomacity; (b) proverbs; (c) metaphor and other figures of speech usage; (d) article usage in English and its Vietnamese equivalents; and (e) reiteration, reduplications and spoonerisms which are particularly popular in Vietnamese These cases are supported by examples in the English and the Vietnamese language The article finally arrives at the formulas of the meaning of the sentence as follows:

M sent = f [St ± compositionality (RIT)] (in the light of Halliday’s functional grammar)

Or M sent = f [St ± comp (Pred + Arg(s)] (in the light of Cognitive Linguistics)

Ngày đăng: 28/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm