1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp docx

3 758 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 117,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Cũng trong cuốn sách sư phạm ấy, tác giả viết: “Ý nghĩa từ vựng có thể cảm nhận trực tiếp, còn ý nghĩa ngữ pháp thì cần phải qua nghiên cứu mới phát

Trang 1

Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ

pháp

Cũng trong cuốn sách sư phạm ấy, tác giả viết:

“Ý nghĩa từ vựng có thể cảm nhận trực tiếp, còn ý nghĩa ngữ pháp thì cần phải qua nghiên cứu mới phát hiện được…”

Tác giả giải thích thêm: “[Trong câu Cha thương con] người Việt đều

hiểu từ "cha" và từ "con", […] nhưng không thể hiểu [rằng] "cha" là chủ thể của hành động "thương", còn "con" là đối tượng của hành động ấy”

Hoá ra nghĩa ngữ pháp là thứ nghĩa mà người bản ngữ không hiểu được, nếu không phải là nhà nghiên cứu Những nếu vậy thì mỗi khi nghe câu nói trên đây, người bản ngữ phải đi nhờ nhà ngôn ngữ học giảng hộ mới hiểu được ai thương ai hay sao? Và nếu thật như vậy, thì dĩ nhiên “nghĩa ngữ pháp” chắc chắn là hoàn toàn không thuộc về ngôn ngữ Vì ngôn ngữ chính

là cái phương tiện để cho người ta hiểu nhau dù chưa “nghiên cứu” gì cả

Ở đây có một sự hiểu lầm rất lớn về tri thức của người bản ngữ Ai cũng biết rằng đó là một tri thức tuyệt đối, nhất là về phương diện ngữ pháp: Đến

5 tuổi, đứa trẻ đã nắm được toàn bộ ngữ pháp cơ bản của tiếng mẹ đẻ, đủ để hiểu hầu hết các ý nghĩa được truyền đạt bằng phương tiện ngữ pháp Nghe

câu Cha thương con, nó hiểu rất rõ ai thương ai, tức cái nghĩa ngữ pháp của

câu nói cũng như cái nghĩa từ vựng của từng từ, tuy nó không biết dùng cách nói “chủ ngữ”, “đối tượng”, “hành động” như tác giả Trong khi đó vốn từ

Trang 2

vựng của nó còn rất nghèo, chỉ chừng bốn năm trăm đơn vị từ vựng (chưa đến 20% tổng số từ phổ thông), nghĩa là nó có thể không hiểu người lớn nói

gì nếu trong câu có một vài từ còn mới đối với nó Và ngay người lớn cũng không thể biết hết vốn từ vựng của tiếng mẹ đẻ, và do đó cũng không hiểu nếu gặp một từ khó: điều này tác giả đã quên mất khi viết câu trên

Nhưng hiểu là một chuyện, mà nói lên một cách hiển ngôn để cho biết mình căn cứ vào cái gì mà hiểu như thế (dù đó là “nét nghĩa từ vựng” hay

“quy tắc ngữ pháp”) lại là một chuyện khác Cái việc thứ hai này thì người bản ngữ không làm được, nếu chưa học ngôn ngữ học Chính tác giả mấy câu trên đã chứng minh điều này một cách tài tình và đầy sức thuyết phục: người đọc có thể thấy ngay rằng ông không diễn đạt được đúng được nghĩa

từ vựng của thương và của con khi ông viết rằng “con là một loại người nhất định” và “thương là một hành động” "con" không phải là “một loại người

nhất định”, nghĩa là một bộ phận của nhân loại có những đặc trưng riêng mà

phần còn lại của nhân loại không có; thật ra "con" là một cương vị mà tất cả

các thành viên của nhân loại (và của cả thế giới động vật nữa) đều có, vì

người nào, con vật nào mà chẳng là con do mẹ đẻ ra? Từ "thương" cũng bị tác giả xếp nhầm vào một phạm trù từ vựng khác hẳn:thương không phải là một hành động ([động]) mà là một tình cảm – một trạng thái([tĩnh])

Trong quá trình lịch sử phát triển của mình, nhóm ngôn ngữ Việt Mường đã

có một chuyển đổi quan trọng mang tính quy luật: ban đầu chúng là những ngôn ngữ/ phương ngữ không thanh điệu, về sau hệ thống thanh điệu xuất hiện và có diện mạo như ngày nay Chuyển đổi mang tính quy luật này thường được các nhà nghiên cứu gọi là quy luật hình thành thanh điệu và do

A.G Haudricourt giải thích từ năm 1954 Sơ đồ dưới đây cho chúng ta biết

Trang 3

rằng sự xuất hiện các thanh xảy ra là do các biến đổi của âm cuối (rụng đi)

và phụ âm đầu (lẫn lộn vô thanh với hữu thanh)

Ngày đăng: 28/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w