Báo cáo thực tập: Phát triển bền vững các làng nghề huyện Thạch Thất - Thành phố Hà Nội
Trang 1Tuy nhiên, có một thực tế là hầu hết các ngành, các lĩnh vực chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà quên mất vai trò của sự phát triển bền vững về môi trường, và
sự phát triển của các làng nghề cũng không nằm ngoài thực tế đó Những năm qua, hầu hết các hoạt động kinh tế làng nghề vẫn còn mang tính tự phát và hoàn toàn chịu sự chi phối bởi các yếu tố như thị trường, nguồn nguyên liệu,…Nhìn chung, trình độ quản lý , trình độ lao động còn hạn chế, sự đầu tư mới và cải tiến công nghệ sản xuất ở các làng nghề còn chậm, không đồng bộ và chủ yếu mang tính ngắn hạn - phụ thuộc vào khả năng của từng tổ hợp sản xuất, từng hộ gia đình hoặc giá trị sản phẩm tiêu thụ trên thị trường, mà ít có được những tính toán lâu dài mang tính chiến lược,… chính vì vậy đã xảy ra nhiều sự cố về môi trường, một số làng nghề bị mai một và các làng nghề phát triển thiếu bền vững Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển làng nghề một cách bền vững
Xuất phát từ thực tế: Thạch Thất là huyện công nghiệp của tỉnh Hà Tây (cũ) với rất nhiều làng nghề như nghề mộc, mây giang đan, cơ kim khí, chế biến thực phẩm,… Cũng như bao làng nghề khác trong cả nước, các làng nghề huyện Thạch Thất cũng đang phải đương đầu với những thách thức lớn, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Hà Tây vừa sát nhập vào Hà Nội, phải giải quyết làm sao để vẫn duy trì
Trang 2và phát triển các làng nghề trong một thủ đô yêu cầu khắt khe về môi trường là vấn
đề cần quan tâm Đây chính là lý do em chọn đề tài: “ Phát triển bền vững các làng nghề huyện Thạch Thất – TP.Hà Nội” Với hi vọng thông qua việc đánh giá thực trạng phát triển của các làng nghề trên địa bàn huyện Thạch Thất để từ đó đưa ra một
số phương hướng và giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại và đẩy mạnh phát triển các làng nghề một cách bền vững, góp phần quan trọng vào quá trình CNH – HĐH nông thôn
Kết cấu của đề tài gồm ba phần chính:
Phần 1: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững các làng nghề
Phần 2: Thực trạng phát triển làng nghề huyện Thạch Thất – TP Hà Nội.Phần 3: Phương hướng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề huyện Thạch Thất – TP Hà Nội
Để hoàn thành chuyên đề này em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Vận và các cô các chú, các anh chị trong Phòng Tài chính kế hoạch huyện Thạch Thất – TP Hà Nội Tuy nhiên do trình độ và thời gian có hạn nên
đề tài không thể tránh khỏi những thiếu xót Kính mong các thầy cô và quý cơ quan góp ý thêm giúp em hoàn có thể hoàn thiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CÁC LÀNG NGHỀ
I Khái quát chung về phát triển bền vững
1 Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển là quy luật của cuộc sống, là quy luật tất yếu của tiến hoá đã và đang diễn ra trên khắp hành tinh từ khi nó được hình thành Nhưng phát triển như thế nào là vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm Xuất phát từ những yêu cầu của thực tế khái niệm phát triển bền vững được hình thành Vậy phát triển bền vững là gì ?
Phát triển bền vững là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, mặc dù quan niệm này còn tương đối mới mẻ và chưa có sự thống nhất trong cách diễn giải Do tầm quan trọng của mình, khái niệm phát triển bền vững vẫn đang được xây dựng và định nghĩa về thuật ngữ này liên tục được sửa đổi, mở rộng và sàng lọc
- Xuất phát từ góc độ bảo vệ môi trường, cũng là bảo vệ sự sống, vấn đề phát triển bền vững được đề cập lần đầu tiên vào năm 1987 trong Báo cáo của Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc năm 1987: Phát triển bền vững
là “sự phát triển có thể đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không gây hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.” Định nghĩa này được sử dụng phổ biến nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới
- Hiện nay, quan niệm về phát triển bền vững được hiểu là quá trình đảm bảo thực hiện đồng thời 3 lĩnh vực quan trọng và có mối quan hệ qua lại với nhau: Kinh
tế - Xã hội - Môi trường
- Theo một định nghĩa mang tính thực tiễn hơn (định hướng thực tiễn), thì phát triển bền vững là “ một quá trình quản lý danh mục các tài sản để duy trì và cải thiện các cơ hội mà con người gặp được” Phát triển bền vững bao gồm tính bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội, có thể đạt được bằng cách quản lý một cách hợp lý các vốn vật chất, tự nhiên và con người
Trang 4- Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu một cách toàn diện: “Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh” Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ thực hiện 4 nhóm mục tiêu lớn: mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường và mục tiêu an ninh - quốc phòng Nếu không tính đến nhóm mục tiêu an ninh quốc gia thì mối quan
hệ qua lại giữa 3 nhóm mục tiêu lớn của phát triển bền vững có thể được mô tả như sau:
Hình 1: Mối quan hệ giữa các nhóm mục tiêu phát triển bền vững
Phát triển bền vững bao gồm các nội dung sau:
Phát triển bền vững
Mục tiêu kinh tế tăng trưởng cao,
MT, bảo vệ MT, TNTN
Trang 5Bền vững về mặt kinh tế: Đòi hỏi nền kinh tế phải tăng trưởng GDP và GNI bình quân đầu người cao, cơ cấu kinh tế hợp lý, đảm bảo cho tăng trưởng ổn định, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chí phấn đấu cho tăng trưởng.
Bền vững về xã hội: Phát triển phải mang tính nhân văn, quá trình đó bao gồm việc mở rộng cơ hội lựa chọn cho mọi người; nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người; mọi người cùng tham gia vào quá trình phát triển và mọi người cùng được hưởng lợi từ quá trình phát triển này
Bền vững về môi trường: Đối với từng cá nhân cũng như cả loài người, môi trường có 3 chức năng là không gian sinh tồn của con người; là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; là nơi chứa đựng, xử lý, tái chế các phế thải của con người Vì thế môi trường bền vững là môi trường luôn luôn thay đổi nhưng đảm bảo thực hiện cả 3 chức năng nói trên Xã hội phát triển bền vững là xã hội mà con người có cuộc sống chất lượng cao trên nền tảng sinh thái bền vững
Như vậy phát triển bền vững cũng có thể được gọi bằng một cách khác là phát triển “bình đẳng và cân đối”, có ý nghĩa là duy trì sự phát triển mãi mãi cần cân bằng giữa lợi ích của các nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, và thực hiện điều này đồng thời trên cả 3 lĩnh vực quan trọng có mối liên hệ qua lại với nhau – kinh tế, xã hội và môi trường Phát triển bền vững là về sự bình đẳng, được định nghĩa là sự bình đẳng về cơ hội làm giàu cũng như là về tính toàn diện của các mục tiêu
2 Các thước đo phát triển bền vững
Trong những năm qua khái niệm phát triển bền vững đã trở nên toàn diện và
dễ đo lường hơn Nội dung của phát triển bền vững bao gồm bền vững trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội, môi trường, vì vậy chúng ta cần phải đánh giá trên cả 3 phương diện
- Về mặt kinh tế, tính bền vững được đo lường thông qua chỉ tiêu: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Tổng sản phẩm quốc dân (GNI); cơ cấu đóng góp trong GDP
và GNI; Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người; GNI/người) Quy mô và tốc
Trang 6độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững.
- Về mặt xã hội, cần đo lường các yếu tố tiêu cực gây phương hại cho tính bền vững xã hội như thất nghiệp, bất bình đẳng thu nhập, nghèo đói, tình trạng giáo dục và sức khỏe của người dân Hiện nay thường sử dụng các chỉ tiêu như chỉ số phát triển con người HDI; tỉ lệ thất nghiệp; hệ số bất bình đẳng về thu nhập; tỷ lệ nghèo đói; chỉ tiêu phản ánh giáo dục và trình độ dân trí (tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ nhập học các cấp, số năm đi học trung bình,…); nhóm chỉ tiêu về tuổi thọ bình quân
và chăm sóc sức khoẻ (tuổi thọ bình quân tính từ thời điểm mới sinh, tỷ lệ trẻ em chết yểu tính cho trẻ em chết trong vòng 1 năm hoặc trong thời gian 5 năm, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng); …
- Về mặt môi trường, sử dụng các chỉ tiêu sau để đo lường: mức độ ô nhiễm môi trường, mức độ cạn kiệt tài nguyên, mức độ che phủ rừng,…
II Khái quát về làng nghề
1 Bản chất làng nghề và làng nghề truyền thống
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việc hình thành các làng nghề được bắt đầu từ những nghề ban đầu được dân cư tranh thủ làm trong lúc nông nhàn để phục vụ đời sống hàng ngày
Theo thời gian nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho dân cư phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Nghề phụ từ chỗ chỉ phục nhu cầu riêng đã trở thành hàng hoá để trao đổi đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa vụ màu Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học theo, nghề từ đó lan rộng phát triển trong cả làng hay nhiều làng gần nhau Và cũng chính từ những lợi ích khác nhau do nghề thủ công mang lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hoá, hình thành những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó Các làng nghề được hình thành
Trang 7Vậy làng nghề và làng nghề truyền thống được định nghĩa như sau:
- Làng nghề: là làng (thôn) có ngành sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở từng hộ trong làng tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của người lao động trong làng (thôn)
- Làng nghề truyền thống: là làng nghề đã hình thành lâu đời, sản phẩm có tính cách riêng biệt mang đặc thù riêng của địa phương, được nhiều nơi biết đến, sản phẩm có giá trị kinh tế và văn hoá cao
2 Các tiêu chí để xác định làng nghề
Việc xây dựng các tiêu chuẩn làng nghề nhằm tạo điều kiện thuận lợi phát triển làng nghề CN – TTCN, dịch vụ gắn bó với hoạt động văn hoá du lịch, giao lưu kinh tế và làm cơ sở để xây dựng và phát triển, xét công nhận làng nghề và thực hiện các chính sách ưu đãi Tuy nhiên mỗi địa phương lại có những tiêu chuẩn xác định khác nhau
* Một làng thôn được gọi là làng nghề của tỉnh Hải Dương nếu có đủ điều kiện sau:
- Số hộ, lao động làm nghề CN – TTCN ở làng đạt từ 35% trở lên so với tổng
* Quy định về tiêu chuẩn làng nghề tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Hà Nam:
- Đối với làng nghề mới:
+ Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương
Trang 8+ Số lao động làm các nghề tiểu thủ công nghiệp của làng nghề đạt trên 50% lao động của làng và tối thiểu 50 hộ trở lên
+ Giá trị sản xuất của làng nghề chiếm tỷ trọng trên 70% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng
- Đối với làng nghề truyền thống:
Làng nghề truyền thống phải đạt các tiêu chuẩn như trên; ngoài ra còn phải đảm bảo có nghề sản xuất lâu đời tối thiểu là 50 năm và có ít nhất 30% số lao động của làng làm nghề truyền thống có thu nhập ổn định và đạt giá trị sản xuất trên 50%
so với tổng giá trị sản xuất của làng
Một khi được công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề, các làng nghề sẽ được đảm bảo các quyền lợi sau đây:
+ Các hộ gia đình, cơ sở sản xuất trong làng nghề được ưu tiên hưởng các chế
độ ưu đãi về phát triển nghề và làng nghề của UBND tỉnh và các chính sách hiện hành của Nhà nước
+ Mỗi một làng nghề được UBND tỉnh hỗ trợ một lần 20 triệu đồng lấy từ nguồn Quỹ khuyến công hàng năm, nhằm phục vụ cho các chương trình phát triển ngành nghề và làng nghề địa phương
Các làng nghề đạt tiêu chuẩn phải có trách nhiệm trong việc tích cực đầu tư,
mở rộng sản xuất, quan tâm cải tiến công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nhằm đa dạng hóa mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường; bám sát nhu cầu thị trường để sản xuất mặt hàng mới, du nhập nghề mới đồng thời chú trọng đảm bảo môi trường sinh thái quy trì sự phát triển bền vững
* Tiêu chí xác định làng nghề của tỉnh Hà Tây (cũ):
Trang 9- Chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và mọi quyết định hợp pháp của chính quyền địa phương.
- Số hộ hoặc lao động làm nghề CN – TTCN ở làng đạt 50% trở lên so với tổng số hộ, lao động trong làng
- Giá trị sản xuất hoặc thu nhập CN –TTCN ở làng chiếm tỷ lệ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm, đảm bảo vệ sinh môi trường theo các quy định hiện hành
- Có các hình thức tổ chức phù hợp, chịu sự quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương, gắn với mục tiêu kinh tế xã hội và làng văn hoá của địa phương
- Tên làng do nhân dân bàn bạc, thống nhất và chính quyền địa phương xem xét đề nghị
Các tiêu chuẩn trên của làng phải ổn định và đạt từ 3 năm trở lên mới được UBND tỉnh tổ chức xét công nhận làng nghề
3 Phân loại làng nghề
3.1 Phân loại theo tính chất sản phẩm
Theo cách phân loại này có thể chia thành 5 nhóm chính:
- Nhóm thứ nhất: Nhóm các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ như gốm, sứ, chạm khảm gỗ, đá, mây tre đan,…
- Nhóm thứ hai: Nhóm các làng nghề chế biến thực phẩm như làm bánh, nấu rượu, chế biến thuỷ hải sản,…
- Nhóm thứ ba: Nhóm các làng nghề sản xuất công cụ phục vụ quá trình sản xuất như rèn, đúc, mộc, đóng thuyền,…
- Nhóm thứ tư: bao gồm các làng nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như dệt chiếu, làm nón, dệt vải, may mặc,…
- Nhóm thứ 5: gồm các nghề khác như trồng hoa, cây cảnh, xây dựng,… nhu cầu về các sản phẩm này ngày càng tăng cùng với sự phát triển của xã hội
3.2 Phân loại theo thời gian hình thành và phát triển của làng nghề
Cùng với xu thế phát triển của thời đại các làng nghề cũng tuân theo quy luật đào thải và phát triển, những làng nghề phù hợp thì tồn tại ngược lại sẽ bị mai một và
Trang 10dần biến mất Mặt khác cũng có rất nhiều làng nghề mới xuất hiện Vì vậy phân loại theo tiêu chí này có thể chia thành 2 loại: làng nghề truyền thống và làng nghề mới.
- Làng nghề truyền thống là những làng nghề tồn tại lâu đời, sản phẩm của chúng vẫn được ưa chuộng cho tới tận bây giờ Chúng ta có thể thấy được giá trị văn hoá to lớn của nó, vì vậy cần phải giữ gìn nét văn hoá này để không bị mai một Đồng thời cũng thấy được từ đó những tiềm năng to lớn trong việc phát triển du lịch
- Làng nghề mới là các làng nghề mới xuất hiện do tác động lan
toả của các làng nghề khác hoặc xuất hiện nhằm thoả mãn các nhu cầu
mới của thị trường
4 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của làng nghề
4.1 Gắn liền với nông thôn và sản xuất nông nghiệp
Như chúng ta đã biết ở nông thôn thì sản xuất nông nghiệp là chính Nhưng sản xuất nông nghiệp chỉ mang tính thời vụ, thông thường người nông dân chỉ bận bịu công việc đồng áng vào những ngày đầu hoặc cuối vụ, những ngày còn lại thì lại khá nhàn hạ Từ đó nhiều người đã tìm kiếm thêm công việc phụ để làm như đan lát, dệt vải,… nhằm mục đích ban đầu là phục vụ chính nhu cầu hàng ngày của mình, về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình Các nghề phụ dần phát triển ở nhiều hộ gia đình và nhanh chóng phát triển thành các làng nghề TTCN Xã hội ngày càng phát triển kéo theo sự dư thừa lao động nông thôn ngày một tăng làm tăng nhu cầu giải quyết việc làm tại chỗ cho họ; mặt khác nguyên vật liệu cho sản xuất TTCN thông thường là các sản phẩm từ hoạt động sản xuất nông nghiệp vì vậy rất sẵn có; bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng sản phẩm TTCN ngày một tăng,…đây là điều kiện thúc đẩy sản xuất làng nghề phát triển
4.2 Có truyền thống lâu đời, sản phẩm có tính thẩm mỹ cao và mang đậm bản sắc dân tộc
Đa số các làng nghề Việt Nam đã có lịch sử phát triển lâu đời, trải qua bao thăng trầm các làng nghề vẫn tồn tại và vươn lên mạnh mẽ cùng thời đại Sự tồn tại của nó như một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Trang 11Làng nghề truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là sản phẩm độc đáo của văn hoá Việt Nam Đây là nơi hiện lưu giữ kho tàng di sản văn hoá vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú, nơi biểu hiện cụ thể, sinh động bản sắc văn hóa dân tộc Sản phẩm chính của làng nghề thường là sản phẩm thủ công được tạo ra từ bàn tay khéo léo, óc sáng tạo và con mắt thẩm mỹ của các nghệ nhân vì vậy mỗi sản phẩm chính là một tác phẩm nghệ thuật Người nghệ nhân thổi vào trong tác phẩm của mình cái hồn của núi sông, của quê hương, của con người,… chứa đựng trong đó chính là một phần cuộc sống thật gần gũi, thật thân quen với họ Kinh nghiệm kết hợp với sự khéo léo sáng tạo của người nghệ nhân đã tạo nên những tác phẩm hết sức tinh xảo mang trong đó những nét đặc sắc riêng biệt của từng địa phương, vừa hiện đại, vừa truyền thống, từ đó tạo nên một sức hút kỳ lạ.
4.3 Sử dụng công nghệ lạc hậu, hiệu quả không cao
Quá trình sản xuất tại các làng nghề chủ yếu được thực hiện bằng phương thức thủ công nên thường sử dụng công cụ thô sơ, kỹ thuật lạc hậu, nhiều sản phẩm được tạo ra hoàn toàn dựa vào tay nghề của người thợ như đan lát, thêu thùa,… Vì vậy sản phẩm sản xuất ra mang tính chất đơn chiếc, tốc độ chậm, dễ gây lãng phí và
ô nhiễm môi trường, nên hiệu quả không cao, khó khăn trong việc thực hiện những hợp đồng kinh tế lớn; các công nghệ được sử dụng trong các làng nghề cũng không thể được thay thế hoàn toàn bởi công nghệ tiên tiến hiện đại mà chỉ có thể thay thế ở một số khâu trong toàn bộ quá trình sản xuất Mặt khác, các doanh nghiệp tại làng nghề thường hoạt động nhỏ, lẻ, vốn ít nên việc đầu tư các thiết bị mới thay thế các công nghệ lạc hậu là rất khó khăn từ đó làm giảm sức cạnh tranh của các làng nghề, đặc biệt trong thời buổi thị trường cạnh tranh hết sức gay gắt cả về chất lượng lẫn chi phí
4.4 Lao động thủ công là chính, chủ yếu dựa vào sự khéo léo, lao động không được đào tạo bài bản mà chủ yếu theo phương thức truyền nghề
Các nghề thủ công ra đời khi công nghệ kỹ thuật còn chưa phát triển, người lao động phải làm hầu hết các công đoạn của quá trình sản xuất từ khâu chọn nguyên liệu, sơ chế đến khâu cuối cùng là hoàn thiện sản phẩm Các sản phẩm này để đủ sức
Trang 12cạnh tranh phải hết sức tinh xảo vì vậy đòi hỏi tay nghề và sự sáng tạo cao của người thợ cũng như kinh nghiệm trong nghề của họ Họ có thể làm một mình từ khâu đầu đến khâu cuối hoặc có thể chỉ làm một vài khâu trong quá trình tạo ra một sản phẩm thể hiện sự chuyên môn hoá hơn trong quá trình sản xuất.
Kinh nghiệm của các người thợ được truyền qua các thế hệ như một cách để lưu giữ các giá trị truyền thống Tuy nhiên, việc truyền nghề này không được phổ biến rộng ra nhằm mục đích gìn giữ những bí quyết riêng, vì thế giữ được những nét riêng của từng làng nghề Nhưng hạn chế là những bí quyết đó có thể bị thui chột và biến mất khi không tìm được người thích hợp để truyền lại Ngày nay, đã có sự thay đổi trong cách truyền nghề, nó không chỉ dừng lại ở việc chỉ truyền nghề cho số ít người nữa mà có thể mở rộng việc dạy nghề dưới nhiều hình thức đào tạo nghề như học việc tại chính các cơ sở sản xuất hoặc thông qua các trung tâm dạy nghề,…nhờ vậy mà quy mô của các làng nghề ngày càng được mở rộng
4.5 Với hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu theo hộ gia đình, một số tổ hợp sản xuất và các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tạo nên sự linh động trong quản lý sản xuất kinh doanh
Như chúng ta đã biết, làng nghề đi lên từ sản xuất nhỏ tại các hộ gia đình Với hình thức sản xuất này, mọi cá nhân trong gia đình đều được huy động vào quá trình sản xuất và quản lý Do vốn đầu tư ít, hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ nên thường sử dụng chính nhà mình làm cơ sở sản xuất kinh doanh, điều này còn có ưu điểm là tận dụng được hết thời gian rảnh rỗi của mọi người trong gia đình, họ vừa sản xuất lại vừa có thể quán xuyến việc nhà Thông thường người chủ gia đình là người thợ giỏi nhất và kiêm thêm công việc quản lý Tuỳ vào khối lượng công việc mà họ có thể thuê thêm lao động để phát triển sản xuất Ngày nay, khi nhu cầu về các sản phẩm làng nghề ngày một cao hơn thì việc sản xuất theo hộ gia đình không thể đáp ứng được, vì vậy mà việc liên doanh, liên kết được đẩy mạnh, hình thành các tổ hợp sản xuất, các hợp tác xã,…và cao hơn là hình thành các hiệp hội để có thể tạo điều kiện cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, giảm thiểu chi phí sản xuất, nâng cao khả
Trang 13năng cạnh tranh, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường làng nghề, từ đó phát triển sản xuất Việc đa dạng hoá các hình thức hoạt động cũng là một sự tất yếu.
5 Các nhân tố tác động đến sự phát triển của làng nghề
5.1 Cầu thị trường
Ba câu hỏi mà bất kỳ nhà sản xuất nào cũng phải đối mặt đó là:
- Sản xuất cái gì?
- Sản xuất cho ai?
- Sản xuất như thế nào?
Như vậy cầu về một hàng hoá nào đó là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng có tính quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong một thời
kỳ nhất định nó vừa tác động trực tiếp đến việc nghiên cứu quyết định cung của doanh nghiệp, lại vừa tác động đến mức độ và cường độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp làng nghề Cầu thị trường phụ thuộc vào thị hiếu của người tiêu dùng cũng như các yêu cầu về chất lượng, giá cả,… của họ Sản phẩm đáp ứng được thị hiếu và các yêu cầu của khách hàng thì sẽ được chấp nhận và có chỗ đứng trên thị trường, còn ngược lại làng nghề đó sẽ dần bị mai một và lãng quên Ngày nay, thu nhập của người tiêu dùng ngày một tăng, yêu cầu của họ cũng khắt khe hơn, đặc biệt có rất nhiều sản phẩm được sản xuất bằng công nghệ hiện đại có thể thay thế cho các sản phẩm làng nghề, sự lựa chọn của người tiêu dùng ngày càng được mở rộng, vì thế sản phẩm của làng nghề phải nổi trội hơn các sản phẩm khác thì mới có thể giữ vững vị trí của mình trong lòng người tiêu dùng và khẳng định vị thế của mình trên thị trường Muốn vậy các doanh nghiệp làng nghề phải đổi mới mẫu mã, vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng, phát huy giá trị truyền thống kết hợp với giá trị hiện đại nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm
5.2 Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của các làng nghề,
nó là nền tảng tạo môi trường kinh doanh, tác động trực tiếp tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp làng nghề nói riêng Để đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, Đảng và Nhà
Trang 14nước ta đã chú trọng phát triển các làng nghề CN – TTCN với việc đưa ra các chính sách khuyến khích nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp về vốn, đào tạo lao động ngắn hạn,
về thông tin thị trường, và đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn; đồng thời cũng có các chính sách đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề nông thôn
5.3 Các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Đây là những nhân tố cần thiết cho quá trình sản xuất, nó bao gồm vốn, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ kỹ thuật Những yếu tố này quyết định trực tiếp đến tổng cung, hay khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong xã hội
- Nguyên liệu: là yếu tố đầu vào quan trọng đối với mọi quá trình sản xuất, nó quyết định đến chất lượng sản phẩm và chi phí sản xuất Trước đây nguồn nguyên liệu cho các làng nghề thường là nguồn tại chỗ nhưng ngày nay nguồn này dần bị cạn kiệt và khan hiếm, dẫn đến phải nhập nguyên liệu từ nơi khác làm tăng thêm chi phí vận chuyển mà giá nguyên vật liệu lại không ổn định, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của các làng nghề Vì vậy cần thiết phải ổn định nguồn nguyên liệu cho các làng nghề
- Lao động: là nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế, nó có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của làng nghề Một nguồn lao động tham gia sản xuất tại các làng nghề có ổn định thì mới đảm bảo cho các hoạt động sản xuất ổn định Đặc biệt người lao động tại các làng nghề phải làm hầu hết các công đoạn của quá trình sản xuất, quan trọng là sự khéo léo, sáng tạo của người thợ vì vậy càng tỏ rõ tầm quan trọng của người lao động đối với sự phát triển của làng nghề Hiện nay, nguồn lao động nông thôn khá dồi dào, tuy nhiên do phương thức đào tạo theo kiểu truyền nghề nên khối lượng lao động có kỹ năng, lành nghề lại rất ít vì vậy hạn chế sự phát triển của các làng nghề Ngoài ra đối với người quản lý hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh phải có kiến thức về kinh doanh, quản lý Vì vậy phải đảm được nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng
là điều kiện cần thiết cho phát triển bền vững các làng nghề
Trang 15- Vốn sản xuất kinh doanh: là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, nó quyết định quy mô sản xuất, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp trong các làng nghề cũng không phải là ngoại lệ Trước kia, vốn sản xuất của các hộ gia đình tại các làng nghề thường là vốn tự có, rất nhỏ bé, nên quy mô sản xuất cũng rất nhỏ Ngày nay, do yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất và đầu tư sản xuất theo chiều sâu nên có nhiều cách để tăng nguồn vốn của doanh nghiệp như tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng, hay liên kết hợp tác giữa các cơ sở sản xuất,…từ đó đảm bảo cho sự phát triển của các làng nghề.
- Trình độ kỹ thuật công nghệ: tác động của nhân tố này đến sự phát triển của các doanh nghiệp ngày càng mạnh mẽ Mặc dù đối với hoạt động sản xuất của làng nghề thì công nghệ hiện đại rất khó thay thế hoàn toàn công nghệ sản xuất cũ, tuy nhiên việc đổi mới công nghệ vẫn là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp làng nghề
5.4 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng đó là hệ thống giao thông, mạng lưới điện, bưu chính viễn thông, cơ sở y tế, giáo dục,…Mỗi nhân tố đều góp phần làm cho hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục Để đảm bảo sự phát triển cho các làng nghề thì cũng phải chú trọng đầu tư phát triển cơ sơ hạ tầng vì cơ sở hạ tầng nông thôn tương đối thiếu thốn
và yếu kém
5.5 Yếu tố truyền thống, phong tục tập quán của địa phương
Đây là các nhân tố chi phối nhu cầu tiêu dùng và cả đời sống của dân cư, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất Mặt khác, yếu tố truyền thống, phong tục tập quán của địa phương cũng được phản ánh trong các sản phẩm của làng nghề tạo nên nét độc đáo riêng và mang lại giá trị cao hơn cho sản phẩm làng nghề, từ đó thúc đẩy
sự phát triển của các làng nghề Tuy nhiên, ngày nay tại các làng nghề còn tồn tại một
số quy định không văn tự, đó là các luật lệ làng nghề khá khắt khe cản trở việc mở rộng quy mô sản xuất của các doanh nghiệp làng nghề, từ đó kìm hãm sự phát triển của làng nghề Như vậy đây là yếu tố có tác động không nhỏ đến sự phát triển làng nghề
Trang 16III Phát triển bền vững làng nghề
1 Quan niệm về phát triển bền vững làng nghề
Xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững, khai thác vào một bộ phận nhỏ của nền kinh tế đó là làng nghề chúng ta có thể hiểu phát triển bền vững làng nghề như sau:
“Phát triển bền vững làng nghề là việc cân đối các mục tiêu kinh tế - xã hội – môi trường tại các làng nghề nhằm đáp ứng được các nhu cầu hiện tại cũng như trong tương lai của cộng đồng dân cư sinh sống trong các làng nghề đó Cụ thể hơn thì đó
là việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, gắn liền với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và việc bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường sống tại các làng nghề”
2 Yếu tố đảm bảo sự phát triển bền vững của làng nghề
Từ việc xem xét các yếu tố tác động đến sự phát triển của làng nghề có thể chia ra thành 2 nhóm đó là nhóm yếu tố nội lực và yếu tố bên ngoài Để đảm bảo phát triển làng nghề một cách bền vững cần vận dụng tối đa nội lực kết hợp với các yếu tố ngoại lực để các làng nghề phát triển đúng hướng
2.1 Yếu tố nội lực: như vốn, lao động, công nghệ kỹ thuật
Đây là các yếu tố tạo nên sức mạnh từ bên trong của các doanh nghiệp, là các yếu tố đảm bảo khả năng sản xuất và vận hành của doanh nghiệp Để đảm bảo sự phát triển bền vững của các làng nghề thì phải vận dụng tối đa nội lực, nội lực cộng đồng mà quan trọng là vốn lao động cộng đồng, trong đó trình độ tay nghề và tính truyền thống của ngành nghề là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển làng nghề
2.2 Yếu tố bên ngoài: như chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; sự hỗ
trợ tạo điều kiện của các cấp, các ngành Dưới sự tác động của các yếu tố bên ngoài
có thể tạo ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của các làng nghề Các làng nghề phải tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức để đi đến đích của sự phát triển đó là phát triển bền vững
3 Đánh giá tính bền vững của các làng nghề
Trang 17- Đối với đầu ra của quá trình sản xuất (vấn đề thị trường): có thị trường tiêu thụ ổn định trong hiện tại và có khả năng mở rộng trong tương lai sẽ là điều kiện và
là động lực để các làng nghề duy trì được sự tăng trưởng cao, và lâu dài
- Hiệu quả của phát triển làng nghề: thể hiện ở sự đóng góp vào giá trị sản xuất của địa phương nhiều hay ít, và đóng góp của nó trong việc nâng cao mức sống của lao động làng nghề
3.2 Đánh giá tính bền vững về mặt xã hội
Các mục tiêu về mặt xã hội như giải quyết việc làm cho lao động dư thừa khu vực nông thôn, xoá đói giảm nghèo và vấn đề bình đẳng trong xã hội,… liệu có đạt được không và đạt được ở mức độ nào khi đã đạt được sự bền vững về mặt kinh tế tại các làng nghề Đây là các tiêu chí đánh giá bền vững về mặt xã hội
3.3 Đánh giá tính bền vững về môi trường
Các làng nghề với sự khôi phục và phát triển nhanh về quy mô trong những năm gần đây đã đóng vai trò tích cực đối với đời sống kinh tế - xã hội các địa phương, góp phần quan trọng trong tiến trình CNH – HĐH,… Thế nhưng, sự phát triển của này lại đồng hành với tình trạng chất thải không được xử lý, đổ bừa bãi gây
ô nhiễm cho cả môi trường nước, môi trường không khí và môi trường đất Đến nay
Trang 18tình trạng này đã phát tác những ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cộng đồng Như vậy không thể đảm bảo mục tiêu về môi trường, dẫn đến thiếu bền vững trong phát triển làng nghề Vì vậy cần đo lường khối lượng chất thải (rắn, khí, nước) và mức độ ảnh hưởng của nó đến cộng đồng, cùng với các biện pháp xử lý để đánh giá tính bền vững về môi trường tại các làng nghề.
4 Vai trò của phát triển bền vững của các làng nghề
Cùng với sự chuyển mình của đất nước, các làng nghề cũng phát triển một cách nhanh chóng và giữ một vị trí không nhỏ trong CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn và sự phát triển chung của cả đất nước Vai trò của phát triển bền vững làng nghề thể hiện ở những mặt sau:
4.1 Giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn
Theo thống kê, 75% dân số nước ta sống ở nông thôn và 61% lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Sự chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn kéo theo sự gia tăng lao động dư thừa khu vực nông thôn ngày một tăng do sự thu hẹp dần diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp và sự giải phóng sức lao động do cơ giới hoá và áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp Mặt khác, đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là mang tính thời vụ tạo
ra một lực lượng lớn lao động không có việc làm trong thời kỳ nông nhàn Vì vậy giải quyết việc làm cho họ là một vấn đề cấp bách Sự phát triển các làng nghề đã giải quyết được vấn đề này Trước hết, các làng nghề phát triển đã tạo ra khối lượng lớn công việc, công việc này lại không đòi hỏi lao động được đào tạo bài bản, có trình độ cao vì vậy lao động nông thôn có thể đáp ứng Thứ hai, thu nhập của lao động làng nghề cao hơn 3 – 4 lần so với sản xuất nông nghiệp đơn thuần Thứ ba, sự phát triển làng nghề kéo theo sự phát triển của các ngành nghề, dịch vụ khác có liên quan như vận chuyển, cung cấp nguyên vật liệu,… từ đó tạo thêm nhiều việc làm nữa Do vậy sự phát triển bền vững làng nghề giúp giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn
4.2 Tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hoá cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Trang 19Khối lượng sản phẩm sản xuất ra tại các làng nghề không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, trong nước mà còn mang lại giá trị xuất khẩu cao, đặc biệt
là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Xuất khẩu sản phẩm làng nghề đóng vai trò quan trọng trong việc đóng góp giá trị gia tăng cho nền kinh tế mỗi địa phương nói riêng,
cả nước nói chung, các sản phẩm làng nghề Việt Nam có mặt ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản thu về hàng trăm triệu đô la mỗi năm Ta có thể thấy tốc độ gia tăng nhanh chóng của giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm làng nghề trong cả nước thể hiện thông qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm làng nghề
Với tốc độ tăng nhanh như vậy đóng góp của nó trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước cũng khá cao: năm 2007 kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt 35
tỷ USD thì trong đó giá trị xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề như gốm sứ, mây tre đan chiếm 714 triệu USD Như vậy sự phát triển bền vững của các làng nghề góp phần tạo nên sự tăng trưởng và phát triển bền vững của đất nước
4.3 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH – HĐH
Với sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề thời gian qua đã tạo ra cơ cấu kinh tế mới, hợp lý, hiện đại ở khu vực nông thôn, điều này được thể hiện ở những mặt sau:
Trang 20- Làng nghề phát triển đã tạo ra việc làm cho lượng lớn lao động dư thừa ở nông thôn (bao gồm lao động hoạt động sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ nông nhàn; lao động không có việc do thu hẹp diện tích đất dành cho nông nghiệp và do cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp) và thu hút thêm một lượng lao động hiện đang hoạt động sản xuất nông nghiệp do thu nhập từ hoạt động sản xuất CN – TTCN cao hơn nhiều so với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp đơn thuần Như vậy nó làm thay đổi cơ cấu lao động tại các làng nghề.
- Hoạt động sản xuất làng nghề phát triển đã đóng góp tích cực vào việc tăng
tỷ trọng của giá trị CN –TTCN, từ đó thu hẹp dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu đóng góp vào tổng giá trị sản xuất của toàn địa phương Sự dịch chuyển này phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới
Trong xu thế hội nhập và mở cửa như hiện nay, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế-văn hoá - xã hội Những làng nghề này như một hình ảnh mang đặm bản sắc dân tộc, khẳng định nét độc đáo riêng không thể thay thế được, là một cách giới thiệu sinh động về đất nước, con người của mỗi vùng, miền, địa phương Vì vậy sự phát triển của làng nghề gắn liền với sự phát triển du lịch Lợi ích mang lại từ hoạt động du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế mà còn thể hiện ở sự phát triển kéo theo của các dịch vụ khác Từ đó thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ, tăng
tỷ trọng ngành dịch vụ dẫn đến cơ cấu ngành nghề ở khu vực nông thôn đã thay đổi theo hướng CNH – HĐH
4.4 Tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân cư và xây dựng nông thôn mới hiện đại văn minh, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.
Thực tế đã cho thấy sự phát triển làng nghề mang lại thu nhập cao hơn cho người lao động, thu nhập của người lao động ở làng nghề cao hơn gấp 3 – 4 lần so với sản xuất nông nghiệp đơn thuần, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực có làng nghề chỉ chiếm 3.7% trong khi mức bình quân của cả nước là 10.4% Vì vậy sự phát triển bền vững làng nghề là điều kiện để xoá đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn
Trang 21Khi thu nhập của người dân tăng lên đời sống vật chất và tinh thần của họ cũng ngày càng được cải thiện Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ tốt hơn tăng lên, từ đó thúc đẩy các ngành sản xuất hàng hoá và dịch vụ này phát triển Để đáp ứng các nhu cầu này thì đòi hỏi phải phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, mạng lưới điện, nước,… để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của dân cư và phục vụ phát triển sản xuất Trình độ dân trí của người dân được nâng cao, các phong tục tập quán lạc hậu, không phù hợp dần bị xoá bỏ, đời sống của dân cư nông thôn ngày một văn minh hơn Mặt khác, phát triển bền vững làng nghề thì vấn đề bảo vệ môi trường rất được chú trọng, do vậy người dân được hưởng những điều kiện sống tốt hơn, làm nên một nông thôn mới hiện đại, văn minh và thu hẹp dần khoảng cách với thành thị.
4.5 Bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc
Việt Nam là quốc gia có bề dày truyền thống lịch sử, là một đất nước có nhiều làng nghề truyền thống độc đáo Điểm đặc trưng của làng nghề Việt Nam chính là có
sự gắn bó, tồn tại song song với lịch sử dân tộc, những sản phẩm làng nghề được làm
ra dưới bàn tay tài hoa của những nghệ nhân, mang những nét đặc trưng riêng và có thể thấy trong đó cả một chiều dài lịch sử văn hoá bền lâu Việc đem sản phẩm làng nghề tới với các nước trên thế giới và phát triển du lịch làng nghề là một cách để gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc, làm cho người Việt Nam hiểu về đất nước mình hơn và đồng thời giới thiệu với bạn bè thế giới về đất nước và con người Việt Nam Việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá thông qua phát triển du lịch các làng nghề truyền thống giờ đây không chỉ là mối quan tâm của từng địa phương hay từng quốc gia riêng lẻ Chia sẻ kinh nghiệm về gìn giữ và phát huy bản sắc, nội lực của riêng mình là những cách làm phù hợp để đạt được hiệu quả cao về kinh tế lẫn văn hoá khi phát triển du lịch làng nghề
IV Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số nơi và bài học kinh nghiệm trong phát triển bền vững các làng nghề
1 Mô hình phát triển bền vững tại làng nghề trồng rau Nam Hồng - huyện Đông Anh – Hà Nội
Trang 22Đây là mô hình phát triển bền vững của cộng đồng dân cư quy mô làng xã, mô hình này được phát hiện và hoàn thiện trong phạm vi Dự án “ Môi trường Cộng đồng” vào những năm 2000 – 2003 Đây là vùng cung ứng rau, hoa, quả quan trọng cho vùng nội thành của thủ đô Trong giai đoạn đô thị hoá nhanh của thủ đô Hà Nội nhu cầu về rau xanh cho thành phố cũng không ngừng tăng lên, người dân xã Nam Hồng cùng với việc cung ứng ngày càng nhiều rau, hoa, quả cho thị trường họ thu được lợi nhuận lớn Xét trên phương diện kinh tế người dân ở đây được hưởng lợi từ quá trình phát triển nhanh của thành phố Hà Nội Tuy nhiên vấn đề nảy sinh ở chỗ để
có nhiều rau, hoa, quả để mang ra thị trường bán, trong thời gian trước đây tại xã Nam Hồng đã áp dụng quy trình canh tác lạc hậu, không đảm bảo vệ sinh để tăng năng suất, điều này gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của người tiêu dùng Vì vậy Nam Hồng được chọn là địa điểm triển khai phương thức trồng rau, hoa, quả chất lượng cao Mô hình này là một định hướng rất có giá trị về kinh tế, xã hội và môi trường
- Về kinh tế, do sự co hẹp diện tích đất nông nghiệp đang diễn ra từng ngày tại Nam Hồng, do đó, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm dẫn đến tăng hiệu suất sản xuất trên một đơn vị đất nông nghiệp là một việc không thể không làm
- Về xã hội, hiện tượng mất đất nông nghiệp dẫn đến dư thừa lao động Không phải tất cả các khu công nghiệp sẽ được xây dựng tại đây đều có khả năng thu hút lao động nông nghiệp dư dôi của địa phương Các khu công nghiệp ngoại thành Hà Nội
có điều kiện thu hút các ngành công nghiệp trình độ cao Lúc đó, nguồn nhân lực đòi hỏi có trình độ tương ứng Địa phương không thể ngay một lúc có nguồn nhân lực theo yêu cầu đó Sự dư thừa lao động nông nghiệp chắc chắn sẽ xảy ra Để giảm nhẹ
áp lực của sự sư thừa, mô hình sản xuất rau an toàn, hoa chất lượng cao với hình thức sản xuất quy mô lớn như ở Đà Lạt tỏ ra có nhiều ưu điểm Một lượng lớn lao động tham gia vào khâu dịch vụ liên quan tới bảo quản, lưu thông rau và hoa
Trang 23- Về môi trường, rau không an toàn đang là vấn đề nan giải cho người tiêu dùng của Thủ đô Người ta phải giảm lượng rau xanh, chuyển rau xanh thành rau không xanh (các loại củ), chất lượng bữa ăn vì thế giảm sút.
Việc thực hiện dự án tại xã Nam Hồng đã đạt được những mục tiêu ban đầu
đề ra Thành công của dự án nhờ vào các biện pháp có tính quyết liệt đã được thực hiện sau:
a Đối với sản xuất rau an toàn:
+ Nâng cao nhận thức của cộng đồng những người sản xuất rau tại xã Nam Hồng về tác hại của rau không an toàn, những quy định của pháp luật về rau an toàn, quy trình sản xuất rau an toàn, ứng dụng các mô hình sản xuất rau an toàn với năng suất cao, về các loại thuốc bảo vệ thực vật và cách sử dụng
+ Tăng cường kiểm soát quá trình sản xuất rau, bao gồm việc giám sát của chính quyền xã, hợp tác xã, hội nông dân, các hộ nông dân cam kết sản xuất rau an toàn và giám sát lẫn nhau, lập các hợp tác xã sản xuất rau an toàn dưới hình thức cổ phần
+ Chủ động trong việc xây dựng thương hiệu và uy tín của thương hiệu sản phẩm Sản xuất rau truyền thống của Việt Nam không chú ý đến việc xây dựng thương hiệu của sản phẩm do đó khi xuất hiện vấn đề về rau không an toàn thì người tiêu dùng thương hoang mang, không phân biệt được đâu là rau an toàn và rau không
an toàn Do vậy cần khuyến khích các đơn vị sản xuất tạo dựng thương hiệu sản phẩm theo các bước sau:
Bước 1: Thiết kế, đăng ký thương hiệu của hợp tác xã
Bước 2: Sử dụng bao bị đựng sản phẩm của mình có cả thương hiệu và các thông tin về rau an toan
Bước 3: Lập hệ thống cửa hàng tiêu thụ riêng cho mình, bảng hiệu của cửa hàng nhấn mạnh thương hiệu của sản phẩm và tính an toàn của sản phẩm bán tại cửa hàng
Trang 24Bước 4: Quảng cáo thương hiệu bằng nhiều hình thức khác nhau.+ Cơ quan quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm cần nhận thức rõ và khắc phục các điểm yếu để làm tốt hơn công việc của mình.
b Các biện pháp phát triển vùng trồng hoa chất lượng cao tại xã Nam Hồng:
Về trồng hoa, so với Đà Lạt, Nam Hồng đi sau nhiều năm với quy mô nhỏ lẻ, các loại hoa được trồng đơn điệu, giá thành thấp Vì vậy để có thể phát triển vùng trồng hoa chất lượng cao tại Nam Hồng, các biện pháp sau đây đã được áp dụng:
• Thay đổi giống hoa, chú trọng thị hiếu của thị trường
• Thay đổi phương thức canh tác theo hướng chủ động hơn với thời tiết khí hậu (sản xuất trong nhà kính, nhà lưới, tưới phun chủ động)
• Chú trọng khâu thu hái, bảo quản, vận chuyển, tiếp thị sản phẩm
• Tổ chức lại cơ cấu sản xuất, hình thức hợp tác xã cổ phần cũng đã được thực hiện tại Nam Hồng đối với các hộ trồng hoa
2 Mô hình làng nghề chế biến gạo tại huyện Hoài Đức – TP.Hà Nội
Những năm qua với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ lệ lao động không có việc làm tăng cao Hoài Đức từ một huyện thuần nông đã chuyển sang hướng phát triển làng nghề chế biến, xay xát gạo và các sản phẩm từ gạo Đây là hướng chuyển biến tích cực và mạnh mẽ đối với sự phát triển của huyện Hoài Đức Với vị trí gần kề trung tâm thủ đô Hà Nội, Hoài Đức có nhiều lợi thế và tiềm năng cho phát triển kinh tế như công nghiệp, thương mại, dịch
vụ và đặc biệt là phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong sản xuất và chế biến nông sản Mô hình này gặt hái được nhiều thành công nhờ chú trọng những điểm sau:
- Để đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập thì đầu tư cải tiến dây truyền công nghệ là một hướng đi hiệu quả Việc đầu tư được tiến hành một cách hệ thống và có
Trang 25bài bản: đầu tiên là đầu tư sử dụng dây truyền sản xuất gạo với công nghệ hiện đại và đồng bộ, nhờ đó tỷ lệ thu hồi gạo từ thóc trong quá trình xay xát chế biến đạt tỷ lệ cao 80%, gạo có chất lượng cao, sạch và an toàn; tiếp theo là xuống vùng nguyên liệu
để đầu tư giống kỹ thuật cho bà con nông dân, ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho họ
và đưa cán bộ kỹ thuật xuống hướng dẫn bà con nông dân cách gieo trồng, chăm sóc thu hoạch, bảo quản nông sản sau khi thu hoạch một cách khoa học để đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu đầu vào Đảm bảo vùng nguyên liệu, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của sản phẩm luôn là yếu tố sống còn của các doanh nghiệp Việc xây dựng mô hình liên kết giữa nhà nông, doanh nghiệp, nhà nước và nhà khoa học
đã tạo ra sản phẩm có chất lượng được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận
Một phần khác được thu hồi từ quá trình sản xuất và chế biến gạo như tấm, cám, gạo vỡ được cung cấp làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi cho 20 nhà máy chế biến thức ăn gia súc ở Hoài Đức Từ đó làm tăng giá trị gia tăng cho doanh nghiệp
- Vấn đề xây dựng thương hiệu cũng được chú trọng, nhờ vậy sản phẩm có mặt ở thị trường trong nước và xuất khẩu, chẳng hạn như thương hiệu “hương đồng quê”
- Sức mạnh của hệ thống phân phối: sự vận động, phát triển của xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã tạo ra những cơ hội và thách thức trong kinh doanh đối với cơ sở sản xuât dù nhỏ hay với quy mô lớn Việc xoá bỏ hàng rào thuế quan, tự do hoá thương mại làm cho doanh nghiệp muốn tồn tại phải nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển mạnh hệ thống phân phối để mở rộng thị trường Nắm bắt được xu thế này các cơ sở chế biến tại Hoài Đức đã tích cực phát triển hệ thống phân phối nhằm mở rộng thị trường trong nước và làm cơ sở trung gian bán cho các công
ty lớn khác thực hiện hoạt động xuất khẩu Kênh tiêu thụ sản phẩm của cơ sở là bán cho các đại lý, bán theo hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp và bán cho công ty lương thực phục vụ dự trữ quốc gia Khi giá vật tư đầu vào tăng cao, hay tình hình dịch bệnh sẽ đẩy giá thành lên cao, ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu, nhưng nếu có
Trang 26chất lượng sản phẩm tốt và hệ thống phân phối hiệu quả thì các doanh nghiệp vẫn có thể thực hiện tốt chiến lược mở rộng thị trường.
- Các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá nhằm tăng cường khả năng về vốn
để phát triển sản xuất, mở rộng hệ thống phân phối trong và ngoài nước
Như vậy, với mô hình kinh doanh chuyên môn hoá sản xuất, tập trung khai thác thế mạnh của từng vùng, kết hợp với sự phối hợp đồng bộ đã mang lại hiệu quả tốt
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
HUYỆN THẠCH THẤT – TP HÀ NỘI
I Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội huyện Thạch Thất
1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện
1.1 Vị trí địa lý
Trang 27Huyện Thạch Thất thuộc vùng bán sơn địa nằm ở phía Tây Bắc thành phố Hà Nội.
Phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ và TP Sơn Tây
Phía Tây giáp huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình cũ), huyện Ba Vì và TP Sơn Tây
Phía Đông và phía Nam giáp huyện Quốc Oai
Cách TP Hà Đông 28 km về hướng Đông Nam, cách trung tâm TP Hà Nội gần 40 km về hướng Đông
1.2 Điều kiện tự nhiên của huyện
1.2.1 Khí hậu
Thạch Thất là khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, hình thành hai mùa rõ rệt Do đặc điểm địa hình, Thạch Thất được chia thành 2 vùng khác nhau:
- Vùng đồng bằng, độ cao trung bình từ 5m – 7m, có khí hậu của Đồng bằng sông Hồng, khí hậu nóng ẩm hơn, nhiệt độ trung bình năm 23.80C, lượng mưa trung bình 1700mm – 1800mm
- Vùng đồi, độ cao trung bình 15m – 50m, khí hậu lục địa, chịu ảnh hưởng của gió Lào, nhiệt độ trung bình năm 24.50C, lượng mưa trung bình 2300mm – 2400mm Mùa hạ có mưa nhiều, thường có bão (hàng năm có 5-7 cơn bão) với lượng mưa khoảng 300mm trong 2-3 ngày
1.2.2 Địa hình
Thạch Thất có địa hình đa dạng, vùng đồi núi phía Tây và vùng đồng bằng phía Đông, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
- Vùng đồi gò, bán sơn địa: nằm ở phía hữu sông Tích, diện tích khoảng 72
km2, chiếm 60.7% diện tích tự nhiên của huyện Địa hình trong vùng không đồng đều, gồm những đồi thấp xen kẽ những dộc trũng Đất đai chủ yếu nằm trên nền đất phong hoá xen lẫn lớp sỏi ong Tầng đất canh tác thấp Với đặc điểm như vậy thích
Trang 28hợp cho phát triển trồng cây công nghiệp và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Đến thời điểm năm 2004 một phần diện tích của vùng bán sơn địa huyện đã quy hoạch thành các vùng phát triển đô thị và công nghiệp.
- Vùng đồng bằng phía Đông: nằm ở phía tả ngạn sông Tích, địa hình tương đối bằng phẳng Địa chất tương đối đồng nhất, chủ yếu nằm trên vùng đất phù sa, riêng ven sông Tích là nền địa chất phù sa cổ Với đặc điểm như vậy thuận lợi cho việc đa dạng hoá vật nuôi cây trồng, thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, song khó khăn về công tác chống úng và sự lựa chọn chế độ canh tác thích hợp đối với các vùng trũng
1.2.3 Tài nguyên
Đây là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế địa phương
1.2.3.1 Tài nguyên đất
Thống kê phân loại đất, thổ nhưỡng Thạch Thất bao gồm các loại đất sau:
- Vùng đồng bằng: có loại đất phù sa không được bồi và đất phù sa gley
- Vùng đồi, núi: có loại đất nâu, vàng trên phù sa cổ và đất đỏ vàng trên đá phiến sét
Đất phù sa cổ không được bồi hàng năm có diện tích lớn, phân bổ rộng Tại các vùng có địa hình trũng, ngập nước lâu ngày, mức nước ngầm nông có đất gley Đất nâu vàng trên phù sa cổ và đỏ vàng trên đất phiến sét phân bố chủ yếu ở vùng đồi gò
Nhìn chung, đất Thạch Thất có độ phì cao, với nhiều loại địa hình nên có thể
bố trí được nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây công nghiệp, trồng cây gây rừng
1.2.3.2 Tài nguyên nước
Nhìn chung tài nguyên nước dồi dào phục vụ cho nông nghiệp và sinh hoạt Tuy nhiên, cũng cần có hệ thống tưới tiêu hợp lý để điều hoà nước, giữ nước và cấp nước vào mùa khô Với nguồn nước mặt và nước ngầm hiện có tuy chưa chủ động điều tiết đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống nhưng trong tương lai khi xây dựng chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai – Hoà Lạc – Sơn Tây thời kỳ sau 2020,
Trang 29trục đường 21A, tỉnh lộ 80 với hệ thống nhiều khu công nghiệp, trường đại học, cụm, điểm công nghiệp,… cần có giải pháp cấp thoát nước phù hợp.
1.2.3.3 Khoáng sản
Thạch thất là huyện nghèo tài nguyên khoáng sản Theo kết quả điều tra địa chất về khoáng sản , Thạch Thất có một số khoáng sản chính sau: Sét gạch ngói ở xã Đại Đồng, đá ong ở Bình Yên
Đá ong là vật liệu xây dựng nên việc khai thác đá đã có lịch sử từ lâu đời, đến nay vẫn khai thác theo phương pháp thủ công, hiệu quả kinh tế thấp, trữ lượng đá tốt
đã giảm nhiều
2 Tình hình kinh tế - xã hội của huyện
2.1 Tăng trưởng kinh tế
Trên cơ sở đánh giá và vận dụng đúng thế mạnh, tiềm năng của địa phương trong việc phát triển kinh tế xã hội, những năm qua kinh tế huyện Thạch Thất đã đạt được nhiều thành công ngoài mong đợi Tốc độ tăng GDP bình quân thời kỳ 2000 –
2004 của huyện Thạch Thất là 16.5%/năm, cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh cùng thời kỳ này là 6.8%/năm, đồng thời cũng vượt mục tiêu của quy hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 1999 đặt ra là 9.5% Tổng giá trị sản xuất năm 2007 đạt 1.703.960 triệu đồng, so với năm 2000 chỉ đạt 432.052 triệu đồng,ta có thể thấy quy mô nền kinh tế của huyện đã lớn hơn trước rất nhiều
2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế huyện có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng CNH - HĐH thể hiện chất lượng của tăng trưởng kinh tế ngày càng được cải thiện Sự chuyển dịch diễn ra trong từng ngành và trong cả nền kinh tế
Cơ cấu nền kinh tế của huyện có sự chuyển biến như sau: Tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp (theo GTSX) giảm từ 44.24% năm 2000 xuống còn 25.85% năm 2004 và 18.7% năm 2007 Trong khi đó các ngành CN – TTCN ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, tăng tương ứng từ 26.55% lên 53.01% và 64.5% Lĩnh vực dịch
Trang 30vụ không tăng về cơ cấu nhưng giá trị tuyệt đối vẫn tăng đều hàng năm Điều này được thể hiện cụ thể thông qua bảng số liệu sau:
Bàng 2.1: Cơ cấu của các ngành theo GTSX qua các năm
Theo đó cơ cấu lao động cũng dịch chuyển theo hướng phù hợp hơn: Năm
2003, lao động CN – TTCN của huyện chiếm 23.9% ( tăng 5.2% so với năm 2000), lao động dịch vụ - thương mại chiếm 2.9% (tăng 0.8% so với năm 2000), lao động nông nghiệp chiếm 68.2% (giảm 6% so với năm 2000)
Trong lĩnh vực nông nghiệp: do diện tích đất canh tác bình quân đầu người của huyện ngày càng bị thu hẹp (360 m2/người) nên huyện chủ trương chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đẩy mạnh chuyển đổi các mô hình kinh tế, nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị canh tác và xây dựng mô hình kinh tế mang lại hiệu quả cao Cụ thể là: đưa các giống cây có năng suất cao vào sản xuất, đẩy mạnh cơ giới hoá trong khâu làm đất, thu hoạch nhờ vậy đã tạo ra năng suất ngày càng cao (Nếu năm 2000 năng suất lúa 2 vụ là 104.8 tạ/ha thì đến năm 2003 năng suất lúa 2 vụ được nâng lên 112 tạ/ha) Huyện luôn quan tâm đến quy hoạch vùng sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Việc thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, hiệu quả bền vững đã đưa kinh tế nông nghiệp của huyện có bước tăng trưởng khá với tốc độ tăng bình quân 6.4 %/năm, vượt 1.4 % so với mục tiêu đề ra
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển biến tích cực:
Biểu đồ 2.1: So sánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp giữa năm 2003 và 2007
Trang 31trồng trọt chăn nuôi
Năm 2003
Năm 2007