Một trong những chính sách của Nghị quyết này là chính sách cấm kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do.. - God and Gold: Britain, America, and the making of the morden world 10/2008
Trang 1
Đề tài tham dự cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2011
Tác động của chính sách cấm kinh doanh vàng
miếng năm 2011 đối với nền kinh tế Việt Nam
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG 7
I/ TỔNG QUAN VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG 7
1 Một số khái niệm 7
2 Chức năng của vàng 8
3 Vai trò của thị trường vàng trong nền kinh tế 10
4 Cung cầu trên thị trường vàng 11
5 Một số thị trường vàng phát triển trên thế giới 17
II/ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG 18
1 Hạn ngạch nhập khẩu vàng: 19
2 Thuế nhập khẩu: 21
3 Thuế xuất khẩu: 22
4 Đánh thuế đối với vàng nguyên liệu: 22
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CẤM KINH DOANH VÀNG MIẾNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG VÀNG 24
I NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG VÀNG THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 2005-2010 24
1 Những biến động của thị trường vàng thế giới 2005-2010 24
2 Những biến động của thị trường vàng trong nước 2005-2010 30
II CHÍNH SÁCH CẤM KINH DOANH VÀNG MIẾNG NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ 38
1 Nghị định 11 38
2 Chính sách cấm kinh doanh vàng miếng 39
Trang 3III TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CẤM KINH DOANH VÀNG MIẾNG
41
1 Tác động đối với các doanh nghiệp kinh doanh vàng 41
2 Tác động đối với người tiêu dùng và nhà đầu tư 49
3 Tác động về phía Chính phủ 57
4 Đánh giá tác động của chính sách vàng miếng đối với thị trường 64
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG VÀNG TRONG NƯỚC 67
I ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CẤM KINH DOANH VÀNG MIẾNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TỰ DO 67
II MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG VÀNG TRONG NƯỚC 74
1 Nhóm các giải pháp liên quan trực tiếp đến bình ổn thị trường vàng 76
2 Nhóm các giải pháp gián tiếp bình ổn thị trường vàng 81
KẾT LUẬN 86
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Năm 2010, nền kinh tế thế giới đi vào giai đoạn phục hồi sau khủng hoảng Trong đó các nước đang phát triển tiếp tục là nhóm nước có mức tăng trưởng cao nhất (7%), gấp hơn 2 lần so với khối nước phát triển (2,8%) Tuy nhiên, hệ lụy của mức tăng trưởng này là tình hình lạm phát tăng cao ở mức báo động Tại Việt Nam, chỉ số lạm phát của năm 2010 là 11,75% Bên cạnh đó, giá vàng trong nước liên tục tăng cao
và vẫn có xu hướng tiếp tục tăng do tâm lý người dân muốn tích trữ vàng Để bình ổn thị trưởng, kiểm soát giá vàng và tránh tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế, Chính phủ đã đưa ra Nghị quyết 11 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội Một trong những chính sách của Nghị quyết này là chính sách cấm kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do Mặc dù chưa chính thức có hiệu lực, nhưng chính sách này đã có những tác động nhất định đối với thị trường trong nước Nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề này trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Tác động của chính sách cấm kinh doanh vàng miếng năm 2011 đối với nền kinh tế Việt Nam”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, thị trường vàng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có nhiều biến động và nhận được sự quan tâm lớn Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này, tiêu biểu là:
- Tác động của thị trường vàng 2010 đến chính sách tiền tệ và ngân hàng thương mại (24/1/2011) - TS Đỗ Thị Thủy
- Gold: the once and future money (5/2007) - Nathan Lewis and Addison Wiggin
Trang 6- God and Gold: Britain, America, and the making of the morden world (10/2008) – Walter Russel Mead
Có thể thấy phần lớn những công trình trên mới chỉ đề cập đến thị trường vàng và một
số chính sách ổn định thị trường này nói chung, tuy nhiên chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về vấn đề cấm kinh doanh vàng miếng vì ở thời điểm hiện tại của Việt Nam, chính sách này là tương đối mới Do đó, có thể nói đề tài “Tác động của chính sách cấm kinh doanh vàng miếng năm 2011 đối với nền kinh tế Việt Nam” là một đề tài khá độc đáo
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích tác động của chính sách cấm kinh doanh vàng miếng đến nền kinh tế Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nhằm bình ổn thị trường vàng
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, bản nghiên cứu chủ yếu sử dụng các phương pháp thống
kê, mô tả, phân tích định tính, các phương pháp suy luận logic và diễn giải, tổng hợp,
so sánh
Ngoài ra, bản nghiên cứu cũng lấy các quan điểm, chính sách phát triển của Đáng và Nhà nước với mục đích làm rõ nội dung về lý luận và thực tiễn
5 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách cấm kinh doanh vàng miếng của Việt Nam thông qua việc phân tích thực trạng tác động của chính sách đến nền kinh tế nói chung cũng như các nhóm đối tượng cụ thể như doanh nghiệp, cá nhân,…
Đề tài tập trung vào việc phân tích tác động của chính sách cấm kinh doanh vàng miếng của Chính phủ năm 2011 đối với nền kinh tế Việt Nam, đồng thời cung cấp cái
Trang 7nhìn tổng quan về thị trường vàng và những biến động kinh tế tác động đến thị trường này từ 2005-2010
6 Kết quả nghiên cứu dự kiến
- Thấy được các tác động tích cực và tiêu cực của chính sách kinh doanh vàng miếng đối với nền kinh tế Việt Nam
- Đưa ra được các phương hướng và giải pháp nhằm bình ổn thị trường vàng trong nước một cách hiệu quả nhất
7 Kết cấu của đề tài
Nội dung chính của đề tài được kết cấu thành ba chương như sau:
Chương I:Cơ sở lý thuyết về thị trường vàng
Chương II: Tác động của chính sách cấm kinh doanh vàng miếng đối với thị
trường vàng
Chương III: Một số giải pháp nhằm bình ổn thị trường vàng trong nước
Trang 8CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG
Vàng đã được biết tới và sử dụng bởi các nghệ nhân từ thời Chalcolithic Trong suốt thời kỳ lịch sử, vàng được coi là kim loại đáng thèm muốn nhất trong các kim loại quý,
và giá trị của nó đã được sử dụng làm bản vị cho nhiều tiền tệ (được gọi là bản vị vàng) Vàng được sử dụng như một biểu tượng cho sự thanh khiết, giá trị, sự vương giả, và đặc biệt các vai trò phối hợp cả ba đặc tính đó Trong nhiều xã hội, vàng được xem là một chất thần kỳ có khả năng che chở con người tránh được bệnh tật và tà ma Thậm chí vào thời xưa, những tượng thần và các ngôi đền cũng được trang trí bằng vàng
b Vàng miếng
Vàng miếng là một phương thức thuận tiện trong việc cất trữ và giao dịch Vàng miếng được sản xuất với nhiều kích cỡ khác nhau, phù hợp với từng đối tượng sử dụng nó Các nhà đầu tư cá nhân mua vàng miếng với kích thước nhỏ, nhờ đó họ có thể dễ dàng cầm nắm chúng Chính phủ cất trữ vàng miếng với kích cỡ lớn hơn Chúng ta có thể dễ dàng xác định giá trị của mỗi miếng vàng nhờ vào thông tin về trọng lượng cũng như
độ thuần khiết được viết trên chúng
Đặc điểm nổi bật của vàng miếng đó là độ thuần khiết của chúng Vàng miếng sản xuất
ở những nơi khác nhau sẽ có độ thuần khiết khác nhau Ví dụ vàng miếng được sản
Trang 9xuất tại Mỹ và các nước phương Tây sẽ có độ thuần khiết là 99,99%, trong khi đó tại Iran là 99,50% và tại Thái Lan là 96.50%
c Thị trường vàng
Trong số các kim loại quý hiếm, vàng là kênh đầu tư phổ biến nhất Các nhà đầu tư thường mua vàng như là một cách thức an toàn đối phó với bất kỳ biến động nào của nền kinh tế, chính trị, xã hội hay những rủi ro của thị trường tài chính Những rủi ro ở đây có thể do đầu tư trong thị trường giá xuống, nợ chính phủ, tài chính sụt giảm, lạm phát, chiến tranh hay bất ổn xã hội Đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào về thị trường vàng, song mọi người đều hiểu rằng, thị trường vàng là nơi các nhà đầu tư mua bán vàng, thường là mua trong thời điểm giá thấp, sau đó bán đi với giá cao hơn
để kiếm lời Thị trường vàng cũng như hầu hết các thị trường khác, cơ bản là sự trao đổi mua bán để kiếm lời, trong đó chủ thể là vàng Song thị trường vàng là một thị trường đầy rủi ro thách thức với mỗi nhà đầu tư, bên cạnh đó thị trường vàng cũng nằm trong sự kiểm soát của chính phủ, chịu tác động từ phía chính phủ Bản thân thị trường vàng cũng tạo nên những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế cũng như đời sống xã hội Thị trường vàng bao gồm các nhân tố như giá vàng, cung cầu vàng, các kênh đầu
tư, các công ty kinh doanh và khai thác vàng, chính sách của chính phủ và một số nhân
tố khác
2 Chức năng của vàng
Trao đổi tiền tệ
Vàng được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới như một phương tiện chuyển đổi tiền tệ, hoặc bằng cách phát hành và công nhận các đồng xu vàng hay các số lượng kim loại khác, hoặc thông qua các công cụ tiền giấy có thể quy đổi thành vàng bằng cách lập ra bản vị vàng theo đó tổng giá trị tiền được phát hành được đại diện bởi một lượng vàng
dự trữ
Trang 10Tuy nhiên, do số lượng vàng dự trữ cũng như việc sản xuất, khai thác vàng là hữu hạn, thêm vào đó, nền kinh tế thế giới đang ngày càng phát triển, dẫn đến các tỉ lệ trao đổi tiền tệ cố định với vàng rơi vào tình trạng không thể duy trì được Sau chiến tranh Thế giới thứ II, bản vị vàng và tính chuyển đổi trực tiếp của các đồng tiền sang vàng đã bị các chính phủ trên thế giới huỷ bỏ và được thay thế bằng tiền giấy
Đầu tư
Nhiều người sở hữu vàng và giữ chúng dưới hình thức các thỏi nén hay thanh như một công cụ để chống lại lạm phát hay những đợt khủng hoảng kinh tế Tuy nhiên, một số nhà kinh tế không tin việc giữ vàng là một công cụ chống lạm phát hay mất giá tiền tệ
Vì chỉ nhằm mục đích đầu tư kiếm lời hoặc cất trữ nên các thỏi vàng hiện đại không yêu cầu các tính chất cơ khí tốt Chúng thường là vàng nguyên chất 24k
Nữ trang
Nhờ vào tính mềm, hiếm có và thẩm mỹ cao nên vàng được coi là một trong số những kim loại quý và được chế tác thành nữ trang nhiều nhất Đồ trang sức được làm bằng vàng gồm : nhẫn, bông tai, vòng cổ, vòng đeo tay, dây chuyền, thậm chí vàng được sử dụng để trang trí trên bút máy, bật lửa, ly tách và nhiều đồ dùng khác
Y tế
Vàng được chỉ định làm thuốc trị cho nhiều loại bệnh như ung thư hay viêm khớp Nó cũng được sử dụng rộng rãi trong ngành nha Các hợp kim vàng được sử dụng trong việc phục hồi nha khoa, đặc biệt là răng, như thân răng và cầu răng vĩnh viễn Tính dễ uốn của các hợp kim vàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo bề mặt kết nối răng So với việc sử dụng sứ, vàng đem lại kết quả tốt hơn
Trang 11Công nghiệp
nhiệt độ cao hay đồng thau
● Là một chất phản xạ tốt với bức xạ điện từ như hồng ngoại và ánh sáng nhìn thấy được cũng như các sóng radio, vàng được dùng làm lớp phủ bảo vệ cho nhiều vệ tinh nhân tạo, các tấm bảo vệ nhiệt hồng ngoại và mũ của các nhà du hành vũ trụ
● Ô tô có thể sử dụng vàng để tản nhiệt
chống đóng băng bằng cách cho một dòng điện chạy qua đó
Điện tử
Vàng có tính dẫn điện rất cao và được dùng làm dây dẫn điện trong một số thiết bị tiêu thụ nhiều điện năng Ví dụ, vàng được dùng làm thiết bị nối của các dây dẫn điện đắt tiền như audio, video và cáp USB
3 Vai trò của thị trường vàng trong nền kinh tế
Chiếm một vị trí quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng, thị trường vàng đang ngày càng phát huy vai trò trọng yếu trong nền kinh tế và ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều người
Thị trường vàng là nơi để giao dịch, trao đổi vàng giữa các thương nhân,các doanh nghiệp hay các cá nhân với nhau Có thể nói thị trường vàng là kênh đầu tư ít rủi ro hơn so với một số kênh đầu tư khác như thị trường chứng khoán
Trang 12Hiện nay khối lượng giao dịch trên thị trường vàng khá lớn và có rất nhiều nhà đầu tư tham gia Các nhà đầu tư bao gồm nhiều thành phần và mọi lứa tuổi Đây là sân chơi hấp dẫn cho tất cả mọi người
chủ thể.Trong thị trường vàng, các nhà đầu tư có thể linh động hơn trong các vấn đề giao dịch cũng như thu hồi vốn nhanh vì các giao dich ở đây được thực hiên trong một thời gian ngắn Chỉ cần một máy tính nối mạng internet và 1 cú nhấp chuột, nhà đầu tư
có thể mua bán ngay lập tức tùy ý Họ cũng có thể thiết lập chế độ tự động cho sàn giao dịch kết thúc lệnh giao dịch khi đã đạt được lợi nhuận mong muốn(định mức lãi) hoặc đóng khi thị trường dịch chuyển ngược chiều mong muốn (chốt lỗ) Đây cũng là thị trường có thể kinh doanh 2 chiều Tại thị trường này khi giá lên cao chúng ta có thể bán ra trước (hình thức bán khống, trên tỉ giá) để khi giá xuống thấp mua trả, khoản chênh lệch đó chính là khoản lợi nhuận
hội tồn tại nhiều bất ổn như thiên tai, chiến tranh Khi lạm phát tăng đồng nghĩa với giá
cả hàng hóa dịch vụ tăng nhanh, đồng tiền bị mất giá, và lúc này các nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn thị trường vàng để đầu tư Nó tạo điều kiện để sử dụng vốn có hiệu quả hơn đối với cả người có tiền đầu tư và người vay tiền để đầu tư
4 Cung cầu trên thị trường vàng
a Chủ thể tham gia vào thị trường
Thị trường vàng luôn là một trong số những kênh đầu tư hấp dẫn nhất, do đó các đối tượng tham gia trên thị trường này cũng rất phong phú, đa dạng Có thể phân chia thành 3 nhóm chính như sau:
Nhà đầu tư
Các nhà đầu tư tham gia mua bán trên thị trường vàng nhằm mục đích kiếm lời Họ mua vào khi giá vàng ở mức thấp, bán ra khi giá tăng cao và hưởng khoản chênh lệch
Trang 13Các nhà đầu tư vàng trên thị trường có thể chia ra thành 2 nhóm: nhóm các nhà kinh doanh và đầu tư lớn – họ là những người nắm trong tay một lượng vàng lớn, có thể thao túng diễn biến giá trên thị trường vàng Nhóm thứ hai là các nhà đầu tư nhỏ lẻ Họ không thể khống chế được giá vàng mà thông qua các tính toán, dự báo cũng như tâm
lý “bầy đàn” để tiến hành quyết định đầu tư
Cá nhân và người tiêu dùng
Từ xưa đến nay, người dân Việt Nam có truyền thống cất trữ của cải bằng vàng Ưu điểm nổi bật của nó là không bị mất giá theo thời gian cũng như không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biến động kinh tế Đặc tính này khiến vàng trở thành phương tiện lý tưởng để cất trữ Người dân cất trữ vàng để đối phó với các bất ổn về chính trị cũng như các cuộc khủng hoảng kinh tế Nhu cầu cất trữ vàng của người dân không những tác động mạnh đến lượng cầu vàng, mà còn ảnh hưởng lớn đến lượng cung của loại hàng hóa này, bởi cất trữ chính là đưa vàng ra khỏi hệ thống lưu thông tiền tệ
Chính phủ
Chính phủ tham gia vào thị trường vàng thông qua việc đưa ra các chính sách nhằm điều chỉnh thị trường này Tùy từng chính sách đưa ra, mục tiêu của Chính Phủ là khác nhau và phù hợp với điều kiện kinh tế ở mỗi giai đoạn Bên cạnh việc điều tiết thị trường, Chính phủ nói chung hay ngân hàng nhà nước nói riêng là đối tượng duy nhất
có khả năng xuất nhập khẩu vàng hoặc cấp phép xuất nhập khẩu vàng và cũng là đối tượng nắm giữ một lượng không nhỏ vàng cất trữ Do đó, Chính Phủ đã và đang có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và đảm bảo cân bằng cung cầu trên thị trường vàng
b Cung cầu trên thị trường vàng
Cung trên thị trường vàng
Vàng là một thứ hàng hóa đặc biệt Nó được khai thác từ dưới lòng đất, qua quá trình chế tác trở thành vàng thỏi, vàng miếng hay vàng trang sức Vì vậy, vàng được huy động một cách rất linh hoạt
Trang 14Cung vàng trên thế giới chủ yếu xuất phát từ 3 nguồn chính: khai thác mới, tái chế vàng và lượng vàng bán ra từ các ngân hàng trung ương
Tái chế vàng (1323t)
Biểu đồ 1: Cung vàng thế giới 2010
Nguồn: World Gold Council
● Khai thác mới
Vàng được khai thác tại các mỏ vàng trên tất cả các châu lục, ngoại trừ Nam Cực – nơi việc khai thác vàng bị coi là trái phép Hiện nay có hàng trăm mỏ vàng với trữ lượng khác nhau đã và đang được khai thác trên khắp thế giới
Ngày nay, tổng lượng vàng khai thác hàng năm đang ở mức khá ổn định Trong vài năm trở lại đây, lượng vàng khai thác được trung bình mỗi năm là 2.497 tấn Trong tổng lượng cung vàng, vàng do khai thác mới chiếm tỷ trọng cao nhất - 59% Điều này cho thấy vai trò quan trọng của khai thác vàng trong việc sản xuất vàng, đáp ứng nhu cầu của con người
● Tái chế vàng
Trang 15Trong khi lượng vàng do khai thác mới đem lại là gần như không thay đổi thì việc tái chế vàng lại đảm bảo một nguồn cung tiềm năng đáp ứng tốt nhu cầu của người dân khi cần thiết Bên cạnh lợi ích này, tái chế vàng còn có khả năng giúp ổn định giá vàng trên thị trường Từ cuối năm 2005 đến đầu năm 2010, tái chế đã đem lại nguồn cung chiếm 35% tổng lượng cung vàng
● Ngân hàng trung ương
Các ngân hàng trung ương và các tổ chức đa quốc gia, như quỹ tiền tệ IMF, đang nắm giữ 1/5 lượng vàng đã được khai thác trên thế giới, ước tính khoảng 30.500 tấn Tài sản
dự trữ của Chính phủ mỗi nước trung bình có khoảng 10% là vàng, tuy nhiên lượng dữ trự này có thể thay đổi tùy mỗi quốc gia
Các nước có nền kinh tế phát triển ở Tây Âu và Bắc Mỹ dự trữ tài sản trung bình khoảng 50% dưới dạng vàng Trong khi đó, các nền kinh tế mới nổi chỉ dự trữ tài sản khoảng 10% là vàng Tuy nhiên, các quốc gia này hiện đang có tốc độ phát triển kinh
tế ở mức cao, do đó họ được coi là những đối tượng tiềm năng cho việc tiêu thụ một lượng vàng đáng kể nhằm phục vụ cho việc dự trữ
Sở hữu chính phủ Thành phần khác Không xác đinh
Biểu đồ 2: Tỷ trọng trong mục đích sử dụng vàng của thế giới 2010
Trang 16Nguồn: World Gold Council
Qua đồ thị thứ 2, trong năm 2010, lượng vàng khai thác được sử dụng nhiều nhất trong việc chế tác đồ trang sức (50.0%) Đứng vị trí thứ 2 và thứ 3 là đầu tư tư nhân (18,7%)
và sở hữu của Chính phủ (17,2%) Mặc dù không chiếm lượng vàng nhiều nhất nhưng chính hai nhân tố này lại góp phần tạo nên thị trường vàng
Cầu trên thị trường vàng
Nhu cầu về vàng có ở khắp mọi nơi trên thế giới Đông Á và Trung Đông chiếm khoảng 70% lượng cầu về vàng Ấn Độ, Trung Quốc, Hong Kong, Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ và các tiểu vương quốc Ả Rập cũng có nhu cầu không nhỏ, khoảng 55% tổng nhu cầu của thế giới Điều kiện kinh tế xã hội và văn hóa khác nhau khiến nhu cầu về vàng của mỗi quốc gia không giống nhau Tuy nhiên, cầu về vàng có thể tập trung vào 3 nhóm chính:
đồ trang sức, hoạt động đầu tư và công nghiệp
Trang 17Biểu đồ 3: Nhu cầu sử dụng vàng thế giới 2010
Nguồn: World Gold Council
● Đồ trang sức
Nhu cầu về đồ trang sức chiếm khoảng 2/3 lượng cầu về vàng Trong năm 2009, lượng vàng trang sức có giá trị lên đến 55 tỉ đô la Mỹ Ấn Độ được coi là quốc gia tiêu dùng vàng lớn nhất thế giới vào năm 2009, chiếm 27% tổng nhu cầu Nhu cầu về trang sức bằng vàng được điều chỉnh bởi khả năng chi trả cũng như ham muốn của người tiêu dùng Nó tăng lên khi giá vàng ở mức ổn định hoặc tăng với tốc độ vừa phải và giảm khi giá vàng có chiều hướng biến động mạnh
● Hoạt động đầu tư
Một phần đáng kể của hoạt động đầu tư được tiến hành trên thị trường mua bán thẳng, không qua sổ sách nên rất khó trong việc đo lường Tuy nhiên, có thể thấy rõ ràng rằng
Trang 18nhu cầu đầu tư vàng đang ngày càng tăng trong những năm gần đây Kể từ năm 2003, đầu tư trở thành nhân tố phát triển mạnh nhất trong nhu cầu về vàng nói chung Trong vòng 5 năm tính đến cuối năm 2009, lượng vàng trong đầu tư tăng lên 119% Riêng năm 2009, đầu tư đã thu hút luồng tiền vào lên đến 41 tỉ đô la Mỹ
Có rất nhiều nhân tố thúc đẩy các nhà đầu tư và các tổ chức tìm kiếm các cơ hội đầu tư trên thị trường vàng Đầu tư vàng có rất nhiều hình thức Các nhà đầu tư có thể kết hợp hai hoặc ba hình thức để tạo sự linh hoạt
Sự tăng lên của nhu cầu đầu tư đã tạo ra những cải tiến đáng kể trong việc đầu tư vàng Ngày nay, có rất nhiều sản phẩm đầu tư, đáp ứng đa dạng nhu cầu từ các nhà đầu tư tư nhân cho đến các tổ chức
5 Một số thị trường vàng phát triển trên thế giới
Hai trong số những trung tâm giao dịch vàng quan trọng và lớn nhất trên thế giới là thị trường vàng London và New York
Thị trường vàng London ( London Bullion Market ) là một trong những thị trường vàng lâu đời nhất trên thế giới và là thị trường lớn nhất trong giao dịch vàng vật chất
Trang 19Các thành viên của Hiệp hội thị trường vàng London ( London Bullion Market Association – LBMA ) thực hiện giao dịch vàng và bạc trên thị trường dưới sự giám sát của ngân hàng Anh Hầu hết các thành viên đều là những ngân hàng quốc tế lớn, thương gia và những nhà chế tạo vàng Một ngày hai lần 5 thành viên của London Gold Pool gặp nhau lúc 10h30 sáng và 3h chiều để cùng nhau xác định mức giá cho thị trường Phương pháp xác định giá này được gọi là Gold Fixing 5 thành viên của LBMA là các nhà giao dịch vàng lớn nhất thời bấy giờ Hiện nay, giá vàng được ấn định bằng đồng đô la Mỹ (USD), Bảng Anh (GBP) và đồng Euro (EUR) Cho đến nay, London vẫn là trung tâm lớn nhất thế giới xét về khía cạnh giao dịch OTC, xếp sau đó
là thị trường New York Zurich và Tokyo Mặc dù các thị trường giao dịch vàng vật chất có mặt khắp nơi trên thế giới, nhưng hầu hết các giao dịch buôn bán đều được thanh toán qua London
Sau thị trường vàng London, thị trường đứng thứ hai thế giới là thị trường vàng New York Sàn giao dịch vàng New York mở cửa giao dịch vào năm 1872 Ban đầu, đây chỉ
là sàn giao dịch bơ và phomat New York (NYMEX) Nó được thành lập bởi một nhóm nhà buôn Dần dần các hàng hóa giao dịch ở đây được mở rộng ra, sàn giao dịch này bắt đầu giao dịch các hợp đồng tương lai vào ngày 31/12/1974, ngày đầu tiên các công dân Mỹ được phép sở hữu vàng sau thời kỳ cấm đoán kéo dài trên 40 năm Năm 1994, NYMEX được sát nhập với sàn giao dịch hàng hóa COMEX Các hợp đồng vàng ở COMEX có khối lượng là 100 ounces vàng mỗi hợp đồng và mỗi ngày COMEX giao dịch khonagr 75509 hợp đồng vàng tương lai
Bên cạnh hai thị trường vàng lớn là London và New York, còn một số thị trường vàng quan trọng và lớn khác trên thế giới như Tokyo, Thượng Hải, Hongkong, Sydney, Singapore, Dubai và Zurich
II/ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG
Trang 201 Hạn ngạch nhập khẩu vàng:
Đây là chính sách được Nhà nước sử dụng để hạn chế lượng vàng nhập khẩu vào quốc gia của mình trong một thời gian nhất định Thông thường, hạn ngạch nhập khẩu được
áp dụng bằng cách cấp giấy phép nhập khẩu (còn gọi là phiếu phân hạn ngạch) cho một
số công ty-thường là công ty lớn, uy tín trên thị trường hoặc các doanh nghiệp Nhà nước
Mục đích:
Nhìn chung, việc quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch chủ yếu là nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, sử dụng hiệu quả quỹ ngoại tệ và thực hiện các cam kết của Chính phủ với nước ngoài Nhưng đối với thị trường vàng, chính sách này chỉ có mục đích chính là sử dụng hiệu quả quỹ ngoại tệ Khi cán cân thanh toán bị mất cân đối, đặc biệt là khi thâm hụt, thì hạn ngạch là biện pháp có tác động mạnh, trực tiếp khắc phục tình trạng này thông qua việc hạn chế nhập khẩu
Tác động của hạn ngạch:
Lợi ích đầu tiên và lớn nhất của hạn ngạch đó là Nhà nước xác định trước được khối lượng (hoặc giá trị) nhập khẩu Tuy nhiên, hạn ngạch cũng mang lại một số tác động khác
Thứ nhất, chính phủ không có thu nhập từ hạn ngạch Khi Chính phủ dùng hạn ngạch
để hạn chế nhập khẩu thay cho thuế quan, thì lượng tiền thuế lẽ ra Chính phủ thu được
sẽ rơi vào bất kì doanh nghiệp nào được cấp giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch Ngoài ra những doanh nghiệp được cấp hạn ngạch hoàn toàn có khả năng mua bán giấy phép nhập khẩu trên thị trường nhằm thu được lợi nhuận
Thứ hai, hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp trong nước trở thành nhà độc quyền Những doanh nghiệp được cấp hạn ngạch có thể nhập khẩu vàng rồi bán lại với giá cao hơn thị trường trong nước nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch Khoản lợi nhuận thu được này gọi là tiền thuê hạn ngạch Trong một số trường hợp, việc chuyển giao tiền thuê hạn ngạch ra nước ngoài làm chi phí của một hạn ngạch thực tế sẽ cao hơn loại
Trang 21thuế quan tương ứng Do đó, để giành lại một phần tiền thuê hạn ngạch, Nhà nước có thể áp dụng đấu giá giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch, hoặc quy định hạn ngạch kết hợp với sử dụng thuế quan
Thứ ba, do hạn ngạch làm tăng giá trong nước, nên người tiêu dùng sẽ mất đi một phần thặng dư tiêu dùng
Biểu đồ 4: Tác động của hạn ngạch
Nguồn: Giáo trình Chính sách thương mại quốc tế
Trang 222 Thuế nhập khẩu:
Thuế nhập khẩu đối với vàng là một loại thuế gián thu khi vàng đi qua khu vực hải quan của một quốc gia Đây là một chính sách rõ ràng và ổn định, dễ tính toán, đồng thời cũng dễ đàm phán vì đã được quy định thành luật
Mục đích:
Thuế nhập khẩu đổi với vàng góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, hướng dẫn tiêu dùng trong nước và tham gia thực hiện chính sách thanh toán quốc tế
Tác động của thuế nhập khẩu:
Khác với hạn ngach, lượng vàng nhập khẩu khi áp dụng thuế quan không thể xác định một cách chắn chắn mà phụ thuộc vào mức độ linh hoạt của cung, cầu thị trường Tuy nhiên, tác động do chính sách đem lại đối với thị trường cũng giống như hạn ngạch, đó
là làm giá vàng trong nước tăng lên, các doanh nghiệp giảm nhập khẩu; nhu cầu sử dụng của người dân cũng giảm, từ đó người dân chuyển sang tích trữ tài sản dưới các dạng khác
Trang 23Biểu đồ 5: Tác động của thuế nhập khẩu
Nguồn: Giáo trình Chính sách thương mại quốc tế
3 Thuế xuất khẩu:
Thuế xuất khẩu được nhà nước sử dụng để hạn chế lượng vàng trong nước xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Nhìn chung, đây là chính sách ít được sử dụng rộng rãi tại các quốc gia
4 Đánh thuế đối với vàng nguyên liệu:
Đây là loại thuế đánh vào hoạt động khai thác vàng nguyên liệu, theo đó, tùy hàm lượng vàng cũng như dạng chế biến mà Chính phủ sẽ áp mức thuế suất khác nhau Đây
là chính sách tương đối hiệu quả nhằm bình ổn thị trường vàng trong nước đồng thời mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên, chính sách này chỉ có tác động
Trang 24lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp khai thác vàng chứ không ảnh hưởng mấy đến các doanh nghiệp kinh doanh vàng
Ngoài các chính sách kể trên, để quản lý thị trường vàng trong nước, Nhà nước có thể tùy vào tình hình thị trường cũng như đặc điểm của quốc gia tại mỗi thời điểm khác nhau mà áp dụng một số chính sách ngắn hạn như dẹp bỏ hoặc khuyến khích sàn giao dịch vàng, cấm kinh doanh vàng miếng, vàng lá, vàng thỏi và một số chính sách khác
Ngoài các chính sách kể trên, để quản lý thị trường vàng trong nước, Nhà nước có thể tùy vào tình hình thị trường cũng như đặc điểm của quốc gia tại mỗi thời điểm khác nhau mà áp dụng một số chính sách ngắn hạn như dẹp bỏ hoặc khuyến khích sàn giao dịch vàng, cấm kinh doanh vàng miếng, vàng lá, vàng thỏi và một số chính sách khác
Trang 25CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CẤM KINH DOANH VÀNG MIẾNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG VÀNG
Trang 26Biểu đồ 6: Biến động giá vàng thế giới 2005-2010
Nguồn: World Gold Council
Qua 6 năm, giá vàng liên tục tăng, từ khoảng 444.45 đô la Mỹ/ oz vào năm 2005 lên đến khoảng 1224 đô la Mỹ/ oz vào năm 2010, mức tăng tương đương 275.4%
Gần đây, hội đồng vàng thế giới ( World Gold Council) đã đưa ra thông báo về giá vàng trong quý I/2011 Từ đầu năm 2011 đến nay, giá vàng thế giới đã có nhiều biến động và chạm mức 1500 đô la Mỹ/ oz Tuy nhiên, so với các loại hàng hóa khác, vàng lại là mặt hàng ít dao động nhất Bất chấp nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn nhạy cảm và xu hướng lạm phát tăng cao, vàng vẫn giữ được mức độ biến động ổn định và tương đối thấp, chỉ khoảng 13% trung bình năm Tính đến cuối tháng 3 năm
2011, giá vàng đã tăng khoảng 2,4%
b) Biến động về cầu vàng
Trang 27Biểu đồ 7: Biến động cầu vàng thế giới 2005-2010
Nguồn: World Gold Council
Nhìn chung, cầu về vàng biến động rất thất thường Mặc dù cầu năm 2009 có xu hướng giảm xuống nhưng xét hai năm 2008 và 2010, cầu vàng ở mức khá cao Nguyên nhân của mức cầu tăng cao này là do cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới 2008 và những bất ổn chính trị trong năm 2010 như vấn đề nợ công tại Hy Lạp, bất ổn chính trị tại Ai Cập hay bạo động ở Libi Những lý do này đã khiến vàng trở thành một thứ phương thức đầu tư hấp dẫn, một tài sản đáng tin cậy cho những ai tìm kiếm sự ổn định hay nhằm mục đích dự trữ của cải
Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia chiếm tỉ trọng lớn trong tổng lượng cầu vàng của thế giới Năm 2009, trong tổng lượng cầu vàng của thế giới, Ấn Độ chiếm 15 % bao
Trang 28gồm 25% nhu cầu về vàng trang sức, 19% cầu về vàng đầu tư và 17% cho công nghiệp Trong khi đó, Trung Quốc, đất nước có lượng cầu vàng lớn thứ 2 trên thế giới, cũng chiếm tỉ trọng hơn 10% tổng lượng cầu Năm 2010, thị trường vàng thế giới nói chung
và hai quốc gia này nói riêng đã chứng kiến sự phục hồi đáng kể trong nhu cầu về vàng, bất chấp sự gia tăng liên tục của giá vàng Năm 2010, nhu cầu về vàng đã tăng xấp xỉ 9% so với năm 2009, từ 3,493 tấn lên 3,812 tấn Năm 2009, tổng lượng cầu vàng của người tiêu dùng Ấn Độ là khoảng 600 tấn thì năm 2010, lượng cầu này đã tăng lên 963.1 tấn Tương tự, năm 2009, cầu vàng của Trung Quốc vào khoảng 428 tấn thì năm 2010 con số này đã là hơn 600 tấn Nhìn chung, nhu cầu vàng của thế giới năm
2010 đã có bước tăng đột biến, mặc dù giá vàng của năm này ở mức khá cao và tăng mạnh so với năm 2009 Ngày 12/5/2010, giá vàng tại Ấn Độ là Rs 56,032/oz, mức cao nhất trong năm và chỉ thấp hơn mức kỷ lục vào tháng 12 trước đó là Rs 56,052/oz Cùng thời điểm đó, ở Trung Quốc, giá vàng cũng chạm mức cao nhất từ trước đến giờ, RMB 8,480/oz
Ngoài hai quốc gia có chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng lượng cầu vàng thế giới là Ấn
Độ và Trung Quốc, năm 2010 cũng là năm đánh dấu sự phục hồi đáng kể trong nhu cầu
về vàng ở các thị trường khác như Mỹ hay Châu Âu
Trang 29Biểu đồ 8: Biến động cung vàng thế giới 2007-2010
Nguồn: World Gold Council
Nhìn chung, năm 2010 lượng cung vàng trên thế giới tăng nhẹ, khoảng 2% Trong đó, cung vàng do khai thác mới tăng 9% từ 2332 tấn lên 2543 tấn, tuy nhiên, lượng vàng tái chế lại giảm 1% từ 1672 tấn xuống 1653 tấn Năm 2010, hoạt động tái chế vẫn giữ được mức tăng tương đối bởi giá cao đã tạo ra sức hút lớn đối với các nhà đầu tư Điều đáng chú ý trong năm 2010 là lượng cung vàng bán ra từ NHTW giảm mạnh so với
2009 Năm 2009, lượng vàng cung từ NHTW là 30 tấn, nhưng 2010, NHTW lại trở thành đối tượng tiêu thụ lượng vàng khá lớn, 87 tấn Điều này có nghĩa lượng cung vàng thế giới từ NHTW giảm đi 87 tấn
Trang 30Tấn
Biểu đồ 9: Lượng bán ra của NHTW Châu Âu theo hiệp định CBGA
Nguồn: World gold council
Tấn USD/oz
Biểu đồ 10: Lượng vàng bán ra của IMF
Nguồn: World gold council
Tóm lại, năm 2010 là năm đầy biến động đối với không chỉ giá vàng mà cả cung cầu
vàng trên thị trường Lượng cầu vàng đã có sự tăng lên đáng kể về số lượng Bên cạnh
đó, cung vàng cũng có sự điểu chỉnh nhẹ , tăng lên khoảng 2% Điều đáng lưu ý nhất
trong năm 2010 là việc NHTW ở các nước đã trở thành người mua vàng lớn sau gần 2
thập kỉ giữ vai trò là nguồn cung cấp cho thị trường vàng thế giới
Trang 31Hiện nay, các nền kinh tế mới nổi lại đang có tốc độ phát triển kinh tế khá nhanh và NHTW tại các quốc gia này đang tiến hành mua vàng nhằm đa dạng hóa kênh dự trữ
và giảm thiểu rủi ro Cho đến nay, các NHTW vẫn thừa nhận tầm quan trọng của vàng trong việc duy trì sự ổn định và niềm tin
2 Những biến động của thị trường vàng trong nước 2005-2010
Trong những năm gần đây, nước ta đã nằm trong danh sách những nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu vàng Trước những biến động không ngừng và phức tạp của thị trường vàng, Nhà nước đã có những biện pháp quản lý chặt chẽ nhằm bình ổn thị trường này
Năm 2005
Đây là một năm có nhiều bất ngờ với thị trường vàng trong và ngoài nước Trong suốt
3 quý đầu năm, giá vàng tương đối ổn định, không có nhiều biến động, nhưng đến những tháng cuối năm, nguồn cung vàng có thay đổi lớn và có xu hướng ngày càng giảm sút, trong khi lượng cầu về vàng vẫn không ngừng tăng lên đặc biệt do cuối năm
là thời điểm của các dịp Tết, Giáng sinh, mùa lễ cưới và một số sự kiện khác là những dịp người dân có nhu cầu lớn về mua sắm nữ trang, vàng bạc cất trữ hoặc làm quà tặng Giá vàng liên tục trong cơn sốt dài và không ngừng leo thang, đạt mức kỉ lục là 1 050 000VNĐ/chỉ - tăng 11.3% so với giá vàng năm 2004 và tăng tới 94.8% so với giá tại kì gốc năm 2000
Năm 2006
Trong năm 2006, giá vàng trong nước vẫn không ngừng biến động với biên độ lớn, nhưng so với năm 2005 thì tình hình trở nên khó dự đoán hơn rất nhiều Trên thực tế, giá vàng trong nước không biến động theo giá vàng quốc tế, mà có xu hướng ngược lại với giá thế giới, đã có những thời điểm giá vàng trong nước cao hơn nhiều so với giá
Trang 32thế giới, trong khi có những thời điểm giá vàng luôn thấp hơn mức giá thế giới Cụ thể
là trong 3 tháng đầu năm, giá vàng trong nước thấp hơn giá thế giới, nhưng đến tháng
4, giá vàng trong nước không ngừng tăng lên mà mức cao nhất là cao hơn giá thế giới đến 1 300 000VNĐ/lượng Đến tháng 10, giá vàng lại tiếp tục đảo chiều và đã có lúc giá trong nước thấp hơn giá thế giới gần 200 000VNĐ/lượng
Nguyên nhân là do tình hình thiếu hụt lượng cung của năm 2005 đã khiến các doanh nghiệp trong nước được cấp hạn ngạch nhập khẩu vàng nhập khẩu vàng nguyên liệu ồ
ạt vào những thời điểm thuận lợi Tuy nhiên, theo quy định, lượng vàng này khi nhập khẩu để tiêu thụ trong nước thì buộc phải chuyển hóa thành vàng miếng Điều này làm cho nhu cầu gia công vàng tăng vọt trong khi công suất sản xuất của doanh nghiệp chỉ
đủ đáp ứng được cho nhu cầu bình thường nên đã không kịp cung ứng cho thị trường lượng vàng cần thiết khi nhu cầu tăng cao Đây chính là nguyên nhân khiến cho giá vàng trong nước cao lên bất thường so với giá vàng thế giới vào đầu tháng 4 Sau một thời gian, khi quá trình gia công vàng đã hoàn tất, lượng vàng này trở nên dư thừa, lượng cung vượt quá cầu khiến cho giá vàng trong nước giảm và thấp hơn giá vàng thế giới Trước tình trạng này, các doanh nghiệp lại ngừng nhập khẩu vàng nguyên liệu làm lượng cung giảm đi và giá vàng lại tiếp tục tăng dần
Ở thời điểm này, thị trường vàng Việt Nam có điểm đáng ghi nhận đó là bên cạnh các hoạt động kinh doanh vàng của doanh nghiệp, đã xuất hiện ngày càng nhiều các cá nhân bỏ tiền đầu tư vào vàng, hưởng lợi dựa trên mức chênh lệch và biến động tăng giảm của giá vàng chứ không chỉ đơn thuần là cất trữ giá trị như trước kia Điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến lượng cầu về vàng trên thị trường
Năm 2007
Trong những tháng đầu năm 2007, thị trường vàng tương đối ổn định và lượng giao dịch cũng rất khiêm tốn, lượng người đi mua vàng không nhiều và lượng người bán vàng hầu như không có Tuy nhiên đến quý 2, cầu về vàng lại tiếp tục tăng lên trong
Trang 33khi lượng cung vẫn hạn hẹp trong cả năm 2007 khiến cho giá vàng bị đẩy lên cao và diễn biến rất bất thường
2008, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về nhập khẩu vàng với 45 tấn vàng trị giá 1.7 tỷ đô-la Điều này đã làm cán cân thương mại nước ta bị thâm hụt trầm trọng khiến cho Chính phủ phải ra quyết định tạm thời cấm nhập khẩu vàng từ tháng 6 Tuy nhiên, thị trường vàng không vì thế mà kém sôi động Trên thực tế, giá vàng biến động không ngừng mà đỉnh cao là vào tháng 3 và tháng 7, giá vàng đã vượt trên mức 19 triệu đồng/lượng, mức giá này cao hơn mức giá thế giới trong tháng 3 gần 2 triệu đồng/lượng Sau đó giá vàng có xu hướng giảm dần,
Trang 34đến tháng 10, giá vàng trong nước chỉ còn 16 100 000VNĐ/lượng và giảm mạnh trong những tháng cuối năm
Mặc dù những đợt lên xuống của giá vàng là mang tính chu kì và có những thời điểm tương đối giống nhau nhưng các nhà đầu tư lại có những phản ứng khác biệt tại từng thời điểm Cụ thể là trong tháng 3, khi giá vàng tăng mạnh, cao hơn giá thế giới, các nhà đầu tư vẫn tranh nhau mua vàng; trong khi đó, đến tháng 7, giá vàng tiếp tục bị đẩy lên mức trên 19 triệu đồng/lượng như trong tháng 3, nhưng các nhà đầu tư lại có xu hướng bán ra thay vì ồ ạt mua vào Đến cuối năm, khi giá vàng trong nước giảm mạnh, xuống thấp hơn mức giá thế giới cả triệu đồng, thì các nhà đầu tư có vẻ thờ ơ, lượng vàng mua vào rất ít
Năm 2008 cũng là năm đánh dấu sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các sàn giao dịch vàng, Chỉ sau một thời gian ngắn đã có hơn 10 sàn giao dịch vàng đi vào hoạt động Việc ra đời các sàn vàng, cùng với cơn sốt giá đợt đầu năm đã khiến một lượng tiền lớn chảy từ chứng khoán sang Tuy nhiên, sự khốc liệt của loại hình đầu tư này cũng đã khiến nhiều nhà đầu tư phải trắng tay Việc các sàn vàng ra đời ồ ạt nhưng thiếu các quy định pháp lý cụ thể để quản lý sân chơi này đã khiến cho không ít nhà đầu tư chịu thiệt thòi do bị áp đặt các quy định bất lợi.Do giá vàng trên sàn gắn với giá vàng thế giới, nên có thời điểm giá vàng trên sàn giao dịch lại thấp hơn giá vàng vật chất bên ngoài đã giúp cho nhiều nhà đầu tư kiếm được chênh lệch lớn từ việc mua và rút vàng đem ra ngoài bán Điều này khiến các sàn giao dịch liên tục phải thay đổi hạn mức rút vàng, gây nhiều tranh cãi Chỉ đến khi áp dụng mức phí rút vàng tình trạng này mới chấm dứt, lý do đưa ra nhằm hạn chế nhà đầu tư rút vàng là không đủ vàng dự trữ Tuy nhiên, khi giá vàng thế giới tăng mạnh, giá vàng trên sàn vượt qua cả giá vàng vật chất, các sàn giao dịch lại áp dụng một mức phí ngược đời hơn là phí nộp vàng Mức phí này
có thời điểm lên tới gần 600 000VNĐ/lượng
Trang 35Có rất nhiều nguyên nhân lí giải cho hiện tượng trên Thứ nhất, đó là hệ quả của chính sách cấm nhập khẩu vàng từ tháng 6 năm 2008, trong khi đó, đến đầu năm 2009, do lượng cung vàng trong nước dư thừa từ năm trước cũng như giá vàng trên thế giới tại thời điểm đó đang tăng nên các doanh nghiệp đã xuất đi một lượng vàng khổng lồ Đến cuối năm, khi nhu cầu về kim loại quý nói chung tăng mạnh, lượng cung trong nước không đủ đã khiến cho giá vàng bị đẩy lên cao đột biến Thứ hai, giá vàng bị đẩy lên cao một phần là do cơn sốt đồng đô-la, khi mà các nhà đầu tư quyết định găm hàng chứ không bán ra, với kỳ vọng tỷ giá USD/VNĐ sẽ tiếp tục tăng Thứ ba là do tâm lý các
Trang 36nhà đầu tư Ở thời điểm này, nhận thấy vàng là kênh đầu tư có lợi nhuận cao trong thời gian ngắn, người dân theo tâm lý bầy đàn đã đổ xô đi mua vàng về cất trữ đợi giá tăng thì bán ra nhằm thu lợi nhuận, khiến cho lượng cung vàng vốn đã thiếu hụt lại càng trở nên thiếu hụt trầm trọng trong khi lượng cầu vẫn không ngừng tăng lên Một nguyên nhân nữa đó là do cuối năm là thời điểm mùa cưới, lễ Tết nên người dân có thói quen mua vàng làm quà tặng, trang sức hoặc làm phương tiện cất trữ giá trị Tuy nhiên, nếu quan sát kĩ thì có thể nhận thấy cơn sốt vàng trong tháng 11 thực chất chỉ là một cơn sốt ảo Số lượng giao dịch vàng vật chất rất lớn khối lượng giao dịch lại rất nhỏ Nguyên nhân của hiện tượng này là hoạt động tất toán hợp đồng cho vay của các ngân hàng Cụ thể là khi giá vàng trên thế giới tăng cao, nhiều tiệm vàng và các nhà đầu tư tại Việt Nam đã nghĩ rằng đó có thể là đỉnh và vay vàng tại các ngân hàng bán ra liên tục, nhưng không ngờ rằng giá vàng thế giới đã tiếp tục tăng mạnh Giá vàng Việt Nam cũng tăng sát theo giá thế giới, khiến các nhà đầu tư đã vay vàng ngân hàng bán ra trước đây buộc phải bổ sung tài sản đảm bảo, nhưng không thể đủ thanh khoản do trạng thái dồn quá lớn Trước tình hình này, nhiều ngân hàng lần lượt tự động tất toán bằng cách buộc các nhà đầu tư và tiệm vàng đã vay phải mua lại theo giá ngân hàng công bố Ngân hàng lúc này cũng không có dư vàng để bán, nên phải tìm mua trên thị trường tự do Với một khối lượng lớn nhu cầu như vậy, thị trường không thể đáp ứng kịp, do không thể kịp nhập khẩu và gia công Các ngân hàng vẫn bắt phải mua, giá càng bị đẩy lên, càng buộc phải mua, giá tiếp tục tăng và gây ra hiện tượng sốt giá liên tục và rất nhanh Cơn sốt giá chỉ chấm dứt khi các hợp đồng vay vàng đã bị tất toán hết
và giá sẽ trở lại thời điểm ban đầu Minh chứng cho việc này là chênh lệch mua bán lên tới 1 đến 1.5 triệu đồng/lượng Thật ra, đó chỉ là cơn sốt của giới kinh doanh vàng vật chất và ngân hàng
Một trong những điểm đáng lưu ý trong năm 2009 là Chính phủ yêu cầu chấm dứt hoạt động của các sàn vàng trước tháng 3 năm 2010 Các sàn vàng phải ngừng hoạt động do
sự điều hành yếu kém của các chủ sàn cũng như sự thiếu hoàn thiện trong luật pháp quản lý hoạt động của sàn vàng đã gây thiệt hại cho các nhà đầu tư, đồng thời giá vàng
Trang 37tại sàn biến động mạnh cũng gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế trong nước Về sau, tuy hoạt động của các sàn vàng giảm mạnh nhưng có một sự thật không thể chối cãi đó là nhu cầu đầu tư và giao dịch vàng ở nước ta là rất lớn
36 triệu đồng/lượng – thấp hơn giá vàng trên thế giới - trong khi giá vàng trên thế giới
Trang 38không ngừng tăng mạnh, đây là nỗ lực rất lớn của Nhà nước trong việc bình ổn giá vàng
Một trong những điểm gây tranh cãi về thị trường vàng trong năm 2010 là việc xuất hiện thông tin Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho rằng, số lượng vàng tồn tại trong dân ở Việt Nam lên tới 1000 tấn Với dân số Việt Nam vào khoảng 86 triệu người hiện nay, thì nếu con số này là sự thật, trung bình 8.6 người Việt Nam đang nắm giữ 1 kg vàng, tương đương 26.7 lượng vàng Nghĩa là bình quân mỗi người Việt Nam đang nắm giữ hơn 3 lượng vàng Sau đó, khi đại biểu Quốc hội chất vấn về con số trên, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã cung cấp số liệu về diễn biến xuất nhập khẩu vàng giai đoạn 1998 đến tháng 9/2010, theo số liệu của Tổng cục Hải quan và Ngân hàng Nhà nước Theo đó, số vàng nhập khẩu là 339.86 tấn, và xuất khẩu
là 268,86 tấn (tức con số nhập siêu vàng vào khoảng 71 tấn)
Cũng trong năm 2010, trước diễn biến phức tạp của giá vàng, Chính phủ đã đưa ra một loạt biện pháp nhằm bình ổn thị trường vàng Đầu tiên là Thông tư 22 siết hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng tại các ngân hàng thương mại, tiếp đó là liên tục cấp hạn ngạch nhập khẩu vàng cho các đầu mối, can thiệp bình ổn tỷ giá USD, giảm thuế nhập khẩu vàng từ 1% về 0%, và tăng thuế xuất vàng từ 0% lên 10% kể từ tháng 1 năm 2011 Sau những biện pháp can thiệp nói trên, giá vàng trong nước không còn có những diễn biến bất thường như trong thời gian đầu tháng 11 và đã được giữ ở vùng giá quanh 36 triệu đồng/lượng trong tháng 12 Tuy nhiên, so với giá vàng thế giới, giá vàng trong nước hiện vẫn đang cao hơn khoảng 500.000 VNĐ/lượng
Nhìn chung, trong 5 năm trở lại đây, thị trường vàng không ngừng biến động với nhiều bất ổn, điều này cũng góp phần gây nên sự bất ổn trong kinh tế vĩ mô Tuy nhà nước đã đưa ra nhiều biện pháp can thiệp nhằm bình ổn thị trường vàng nhưng dường như những chính sách này chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong đợi Nhà nước đã lần lượt đưa ra cách chính sách cấm nhập khẩu vàng, mở sàn vàng rồi lại dẹp bỏ hoạt động của các sàn vàng,… Tuy nhiên, có thể nhận thấy hầu hết các chính sách trên chỉ nhằm
Trang 39vào giải quyết các vấn đề ngắn hạn chứ chưa giải quyết được tận gốc vấn đề trong dài hạn Trên thực tế, những biến động trong những năm gần đây chủ yếu do tác động của tình hình kinh tế trong và ngoài nước đồng thời do chính sách hạn ngạch vàng Vì vậy, thay vì cấm đoán một số hoạt động kinh doanh vàng, Nhà nước nên thay đổi từ chính sách hạn ngạch vàng Ngoài ra, các chính sách quản lý thị trường vàng trong những năm gần đây tỏ ra kém hiệu quả là do khi đưa ra chính sách, nhà nước đã không lường được hết phản ứng của thị trường Khi ra quyết định dẹp bỏ sàn giao dịch vàng ảo, Nhà nước mong muốn các người dân chuyển kênh đầu tư như tiết kiệm, tuy nhiên trên thực
tế, người dân lại chuyển dòng vốn của mình sang vàng miếng làm cho thị trường vàng miếng trở nên nóng hơn bao giờ hết Trong thời điểm hiện tại, trong khi những rủi ro của nền kinh tế vẫn chưa được giải quyết, thậm chí có xu hướng tăng cao thì kênh đầu
tư được người dân ưa chuộng nhất vẫn là vàng Chính vì vậy, Nhà nước cần xem xét để đưa ra những chính sách hiệu quả hơn nhằm bình ổn thị trường vàng
2011 CỦA CHÍNH PHỦ
1 Nghị định 11
Trong những năm gần đây, giá vàng có xu hướng tăng nhanh Năm 2010 thị trường vàng biến động thất thường với những mức giá kỉ lục liên tiếp được thiết lập Một trong những nguyên nhân đẩy giá vàng lên cao là do vàng vẫn là một kênh đầu tư được người dân ưa chuộng trong tình hình kinh tế diễn biến phức tạp hiện nay Bên cạnh đó, trong nước giá cả tăng cao, một số mặt hàng là đầu vào quan trọng của sản xuất như: điện, xăng dầu vẫn chưa thực hiện đầy đủ theo cơ chế giá thị trường buộc phải điều chỉnh tăng làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta Vì vậy trong thời gian đó, Chính phủ đã nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế.Tuy nhiên những Chính sách này vẫn chưa có ảnh hưởng nhiều tới nền kinh tế hiện nay, rủi ro của nền kinh tế vẫn chưa được giải quyết,
Trang 40thậm chí có xu hướng tăng cao Do vậy một mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách được đặt ra hiện nay là phải tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
Trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 gồm 7 nhóm giải pháp chính để giải quyết tình trạng cấp bách này 7 nhóm giái pháp này gồm: Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước; thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng; điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo; tăng cường bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và tổ chức thực hiện
Có thể nói Nghị quyết 11 được coi là chiến lược kinh tế của chính phủ cho năm 2011
Nó đưa ra một loạt các giải pháp tập trung chủ yếu vào kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội Trước sức ép về bất ổn vĩ mô trầm trọng từ đầu năm tới nay và những hệ lụy nghiêm trọng đến xã hội nếu các yếu tố bất ổn này
không được giải quyết, có thể nói Nghi quyết 11 thể hiện quyết tâm phản ứng nhanh
của chính phủ Nó cũng lần đầu tiên cho thấy chính phủ gạt mục tiêu tăng trưởng sang một bên và chỉ tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô trong năm nay Trên bối cảnh từ nhiều năm nay Việt Nam luôn đặt nặng mục tiêu tăng trưởng, việc loại bỏ hoàn toàn mục tiêu này khỏi bức tranh kinh tế năm 2011 trong Nghị quyết 11 có thể nói là một bước ngoặt lớn về chính sách
2 Chính sách cấm kinh doanh vàng miếng
Một trong 7 nhóm giải pháp được đưa ra là thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, trong đó đề cập đến định hướng kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng Việc cấm kinh doanh vàng miếng là một nội dung đáng chú ý trong nghị quyết về những giải pháp chủ yếu ổn định kinh tế vĩ mô mà Chính phủ vừa ban hành Cụ thể, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước trong quý 2/2011 trình Chính phủ ban hành