Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng 6/1991 đã xác định rõ hơn quan điểm của đảng đối với KTTN là: KTTN được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý,
Trang 1Luận văn Kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre
Trang 2Mở Đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành bởi 3 cù lao lớn Với địa thế nằm ở cuối nguồn Cửu Long và gần như bao trùm toàn bộ vùng hạ lưu sông Tiền, bốn nhánh đổ ra biển, đã tạo ra cho Bến Tre một hệ sinh thái khá độc đáo của một vùng cù lao cửa sông với 65 km bờ biển, địa hình có nhiều sông ngòi, kênh rạch lớn nhỏ, đây là tiềm năng rất lớn
để Bến Tre phát triển ngành thủy sản Vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (2000) đã xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn là bước đột phá sự tăng trưởng kinh tế của địa phương và chủ trương này được
cụ thể hoá bằng các nghị quyết, chuyên đề về phát triển ngành thủy sản, trong
đó đặc biệt quan tâm về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) trong ngành thủy sản Trên thực tế, thời gian qua KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre phát triển khá mạnh và đã đóng góp rất lớn vào phát triển ngành thủy sản, KTTN
có nhiều kinh nghiệm trong khai thác, chế biến và nuôi trồng thủy sản Mặt khác, KTTN rất linh hoạt, nhạy bén với cơ chế thị trường phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế biển hiện nay Tuy nhiên, do ảnh hưởng tư duy nhận thức cũ về KTTN của một số cán bộ xem nhẹ vai trò của KTTN, nên KTTN chưa phát huy hết vai trò trong phát triển ngành thủy sản nói riêng và phát triển kinh tế tỉnh nhà nói chung
Để tiếp tục khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của KTTN và phấn đấu sớm đưa ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, thì cần làm rõ thực trạng KTTN nhằm hoạch định chính sách phù hợp để phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Chính vì vậy, “Kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre”
Trang 3được chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ Kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kinh tế tư nhân trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm ở các góc độ, phạm vi, mức độ khác nhau và đã
có nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí…như:
- GS.TS Hồ Văn Vĩnh (chủ biên), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước
đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003 Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến vị trí, vai trò của KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần; vấn đề quản lý của nhà nước đối với KTTN, thực trạng KTTN ở nước ta, phương hướng, giải pháp, chiến lược phát triển KTTN trong tình hình hiện nay
- TS Hà Huy Thành (chủ biên), Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và
tư bản tư nhân- lý luận và chính sách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân, đánh giá và phân tích thực trạng phát triển khu vực KTTN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, đồng thời trình bày những quan điểm, chính sách và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực KTTN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Luận văn thạc sĩ Phan Mậu Doãn, Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế
thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Đồng Nai, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 2005 Tác giả đã phân tích, đánh giá vị trí, vai trò và
xu hướng vận động của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Phân tích thực trạng KTTN ở tỉnh Đồng Nai, từ đó đề ra những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của KTTN ở Đồng Nai
- Cùng một số bài viết của các tác giả: GS.TS Vũ Đình Bách; PGS.TS
Vũ Văn Phúc; PGS.TS Nguyễn Đình Kháng; PGS.TS Ngô Thị Hoài Lam; GS.TS Nguyễn Thị Doan; TS Nguyễn Văn Lịch
Trang 4Trong ngành thủy sản, đã có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Minh
về đề tài “Phát huy năng lực các thành phần kinh tế trong công nghiệp chế
biến thủy sản xuất khẩu ở Việt Nam hiện nay”, năm 1996, luận án này chỉ đề
cập đến việc phát huy năng lực các thành phần kinh tế trong công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu chung cho cả nước Luận án tiến sĩ của Nguyễn
Thành Hưng về đề tài: “Doanh nghiệp nhà nước khai thác, chế biến thủy sản
trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay”, năm 2001, luận án chỉ đề cập
doanh nghiệp nhà nước khai thác, chế biến thủy sản trong phạm vi cả nước…
và một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về ngành thủy sản như:
- “Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản ở tỉnh Kiên Giang”, năm
2000 của thạc sĩ Lê Thị Đào Thanh Luận văn chỉ đề cập ở góc độ đánh bắt xa
bờ biển, chế biển hải sản (cá nước mặn, nước lợ) ở tỉnh Kiên Giang
- “Phát huy năng lực kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở Kiên
Giang”, năm 2000 của thạc sĩ Võ Thị Xinh Luận văn này đề cập vai trò thành phần KTTN trong công nghiệp khai thác chế biến thủy sản (cá nước mặn, nước lợ) ở tỉnh Kiên Giang
- “Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản ở tỉnh An Giang”, năm 2001
của thạc sĩ Lưu Vĩnh Nguyên ở luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến phát triển công nghiêp chế biến thủy sản nước ngọt trên địa bàn tỉnh An Giang
Nhìn chung đã có rất nhiều công trình, bài báo, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về KTTN nhưng ở góc độ chung của nền kinh tế quốc dân hoặc nghiên cứu KTTN trong việc khai thác, chế biến thủy sản Trong khi
đó, ở Bến Tre thủy sản đang trở thành một trong hai ngành chiến lược của tỉnh, ngành thủy sản ở Bến Tre đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao
tỉ lệ tăng trưởng GDP, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho người lao động Tuy vậy, việc nghiên cứu KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre chưa
có đề tài nào nghiên cứu một cách độc lập Vì vậy, vấn đề KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre cần được nghiên cứu một cách cơ bản và toàn diện hơn
Trang 53 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là khẳng định rõ hơn vai trò, tính
tất yếu khách quan của KTTN trong ngành thủy sản, đồng thời thông qua việc nghiên cứu thực trạng tình hình KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre đã làm luận cứ khoa học cho việc đưa ra những giải pháp phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre
- Với mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Làm rõ vai trò KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre
+ Phân tích, đánh giá thực trạng KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre trong những năm gần đây để tìm ra những vấn đề cần giải quyết trong phát triển KTTN ngành thủy sản
+ Từ thực trạng, xác định phương hướng và đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre thời gian tới
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là KTTN trong ngành thủy sản
ở Bến Tre, thời gian khảo sát chủ yếu những năm gần đây
4 Cơ sở ký luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ trương, chính sách của Nhà nước về các thành phần kinh tế nói chung, KTTN nói riêng Ngoài ra, luận văn kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp lôgíc
và lịch sử Ngoài các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác- Lênin, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp,
so sánh…
Trang 65 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn vận dụng lý luận chung vào phân tích tình hình cụ thể trong một lĩnh vực ở địa phương nhằm làm rõ vai trò KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp có tính khả thi để phát triển KTTN ngành thủy sản ở Bến Tre trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Từ việc nghiên cứu, phân tích thực trạng, đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre theo định hướng XHCN Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành trong tỉnh tham khảo, hoạch định chính sách nhằm phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre nói riêng và phát triển kinh tế- xã hội nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 7Chương 1
Vai trò kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản
ở bến tre
1.1 kinh tế tư nhân và đặc điểm của kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản
1.1.1 Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân
Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, sở hữu tư nhân và KTTN đã ra đời trước và có một quá trình phát triển lâu dài, cho đến khi chúng ta đã tiến hành các đợt cải tạo XHCN, phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thì KTTN
bị coi là không đồng hành với quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), do đó
nó đã không được thừa nhận về mặt nhận thức, quan điểm và pháp lý Do đó, việc thừa nhận và tạo mọi điều kiện khuyến khích phát triển KTTN, coi mọi thành phần kinh tế điều là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân là cả một quá trình phát triển không ngừng về tư duy nhận thức Quá trình đó đã gắn liền với trình đổi mới toàn diện của đất nước chuyển nền kinh tế
từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường định hướng XHCN
Kinh tế tư nhân được Đảng và Nhà nước ta thừa nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, KTTN phát triển rộng khắp cả nước trên tất cả các lĩnh vực Đánh giá vai trò của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã khẳng định:
KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế [14, tr.363- 364]
Trang 8Đây là quan điểm của Đảng về phát triển KTTN trong thời kỳ đổi mới
Để đưa ra được quan điểm này Đảng ta phải trải qua một quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn
Thật vậy, sau năm 1975 mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở miền Bắc được áp dụng vào miền Nam Cho đến giữa những năm 1980, mô hình kinh tế này được áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Trước tình hình đó, công cuộc đổi mới được khởi xướng, trong đó, nhận thức về KTTN cũng từng bước đổi mới Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã thừa nhận
sự tồn tại khách quan của KTTN bao gồm kinh tế tiểu sản xuất- hàng hoá, tiểu thương, tư sản nhỏ Đại hội đã chỉ rõ:
Kinh tế gia đình có vị trí quan trọng và có khả năng dồi dào, cần được khuyến khích và giúp đỡ phát triển Đối với kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, nhà nước thừa nhận sự cần thiết của bộ phận kinh tế này trong thời kỳ quá độ Đối với tiểu thương, thông qua nhiều hình thức tuỳ theo ngành hàng, để sắp xếp, cải tạo và sử dụng
họ thành lực lượng bổ sung cho thương nghiệp XHCN…Nhà nước cho phép những nhà tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức kỹ thuật và quản lý của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh trong một số ngành nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ ở những nơi cần thiết trong
Trang 9bảo đảm địa vị bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ; xoá bỏ mọi định kiến hẹp hòi và phân biệt đối
xử về mặt chính trị và xã hội với họ và con cái họ [17, tr.96]
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) nêu rõ quan điểm: Thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất và coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật Nghị quyết nhấn mạnh: Trong điều kiện của nước ta, các hình thức KTTN; cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế
và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hoá đi lên CNXH
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) đã xác định
rõ hơn quan điểm của đảng đối với KTTN là:
KTTN được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước; trong đó, kinh tế cá thể và tiểu chủ
có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức [11, tr.69]
Một trong những cơ sở pháp lý quan trọng và có hiệu lực cao nhất bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và bình đẳng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp đã xác định nền kinh tế nước ta là: nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN và ghi nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế cá thể và tư bản tư nhân Điều 21 của Hiến pháp có quy định rõ: “Kinh
tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển”
Trang 10Hiến pháp thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, bảo hộ vốn và tài sản hợp pháp của người kinh doanh lần đầu tiên kể từ năm
1954, sở hữu tư nhân đã được Hiến pháp thừa nhận và coi là một trong ba chế
độ sở hữu chủ yếu của nền kinh tế Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 đã đặt những nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài và ổn định của KTTN
Đại hội lần thứ VIII của Đảng làm rõ thêm quan điểm đối với phát triển KTTN, cụ thể là:
Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm, hướng dẫn họ từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh [12, tr.26]
Hội nghị Trung ương 6 khoá VIII (lần 1) nhấn mạnh hơn nữa các chính sách đối với KTTN là:
Giải phóng và phát huy mọi lực lượng, mọi tiềm năng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người, mọi gia đình, mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả…Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho KTTN phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm, khắc phục sự giảm sút của khu vực kinh tế này [17, tr.304,316] Đại hội IX của Đảng (4/2001) tiếp tục khẳng định:
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là
bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định
Trang 11hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở cả thành thị và nông thôn có vị trí quan trọng lâu dài, nhà nước tạo điều kiện giúp đỡ để phát triển…Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách pháp
lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển [13, tr.96, 98]
Quán triệt quan điểm của Đại hội lần thứ IX, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN (tháng 3/2002) chỉ rõ: Phát triển KTTN ở những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của KTTN, đảm bảo định hướng XHCN của nền kinh tế nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Đến Đại hội X của Đảng (4/2006) đã xác định vai trò quan trọng của KTTN trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Đại hội nhấn mạnh:
Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác
và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân KTTN có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế [15, tr.83]
Đặc biệt ở Đại hội X Đảng ta đã cho phép đảng viên làm KTTN trong các ngành nghề lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng mà pháp luật không cấm đã có tác dụng khuyến khích mạnh mẽ phát triển KTTN, tạo điều kiện
Trang 12cho KTTN được phát huy đầy đủ tiềm năng thế mạnh, tạo sức bật lớn cho nền kinh tế Đây được coi là bước đột phá mới về nhận thức phát triển KTTN
Thực hiện quan điểm Đại hội X, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá X đã đưa ra những quy định đảng viên làm KTTN, cụ thể như sau:
Đảng viên làm KTTN phải trực tiếp tham gia lao động (lao động quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh; lao động kỹ thuật hoặc lao động chân tay); có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm; phải gương mẫu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương [18, tr.34]
Từ quan điểm và đường lối của Đảng đối với KTTN, Nhà nước cũng đã
có những đổi mới cơ chế đối với KTTN mà tập trung nhất là ban hành Luật Doanh nghiệp (Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999 thay thế cho Luật Công ty
và Luật Doanh nghiệp tư nhân) Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp đánh dấu một mốc mới, là bước ngoặt thúc đẩy KTTN phát triển mạnh mẽ Luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho tư nhân trong việc thành lập và
tổ chức sản xuất kinh doanh Ngoài Luật doanh nghiệp, Quốc hội cũng ban hành một số luật có liên quan đến KTTN như Luật Thương mại, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp… Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới, là một bước đột phá nhằm tiến tới xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp
Nhìn lại công cuộc đổi mới của đất nước cho thấy rằng đó là một quá trình đầy khó khăn phức tạp, nhưng rồi hướng đi đã được xác định rõ Đó là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, những rào cản đối với KTTN được xoá bỏ Những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã ngày khẳng định sự tồn tại của khu vực
Trang 13KTTN không chỉ là tất yếu khách quan mà còn là cần thiết để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển nền kinh tế
Như vậy, chính sách kinh tế nhiều thành phần ngày càng được nhận thức rõ hơn và có nhiều chủ trương khuyến khích phát triển và các chính sách
hỗ trợ Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN phát triển Trong những năm đổi mới toàn diện đất nước, cùng với những thành tựu chung của cả nền kinh tế đã đạt được KTTN đã tự khẳng định được vị trí, vai trò của mình
1.1.2 Bản chất của kinh tế tư nhân
Theo Mác, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có vai trò phản ánh đặc trưng của hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng như hình thức tổ chức kinh tế nói riêng; nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và phân phối kết quả sản xuất Như vậy, có thể nhận thức rằng, KTTN được đặc trưng bởi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Mặc dù trong các tài liệu nghiên cứu của Mác và Lênin không sử dụng thuật ngữ KTTN, nhưng các ông thường đề cập đến các thuật ngữ sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, lao động tư nhân
Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, nền kinh tế được phân chia thành ba khu vực chủ yếu là kinh tế nhà nước, KTTN, kinh tế hỗn hợp Nền kinh tế của Trung Quốc hiện nay cũng được chia thành hai khu vực: khu vực kinh tế công hữu (gồm kinh tế quốc hữu và kinh tế tập thể) và kinh tế phi công hữu (gồm KTTN và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) Nhìn chung, những sự phân chia trên chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và vốn ở Việt Nam trước năm 1986, KTTN không được thừa nhận là hoạt động hợp pháp nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Từ khi đổi mới, Đảng ta đã thừa nhận sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong đó có KTTN Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
Trang 14quốc lần thứ X đã xác định nền kinh tế quốc dân ở nước ta hiện nay gồm 5 thành phần kinh tế Đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó, KTTN bao gồm: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân
Như vậy, KTTN là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất hoặc vốn với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các cơ
sở kinh tế cá thể, tiểu chủ…KTTN không phải là một thành phần kinh tế thuần tuý mà là phạm trù để chỉ thành phần kinh tế hỗn hợp bao gồm các bộ phận cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân
Kinh tế cá thể là bộ phận kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ
về tư liệu sản xuất và hoạt động chủ yếu vào sức lao động của chính họ, tồn tại chủ yếu dưới hình thức hộ sản xuất kinh doanh
Kinh tế tiểu chủ là bộ phận kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động
Kinh tế tư bản tư nhân là bộ phận kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê; hình thức tồn tại chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần tư nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn
Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành cơ quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển KTTN là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Tiêu thức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nào đó có thuộc KTTN hay không là quan hệ sản xuất, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất KTTN không phải là một thành phần kinh tế thuần tuý, mà là một phạm trù để chỉ nhóm thành phần
Trang 15kinh tế vừa có những đặc trưng chung lại vừa có bản chất khác nhau Do đó,
để xác định bản chất của KTTN phải xét trên cả 3 mặt quan hệ sản xuất, đó là quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối thu nhập
- Xét về quan hệ sở hữu: KTTN thể hiện quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất hoặc vốn cũng như của cải vật chất được tạo ra nhờ sản xuất hoặc vốn
đó Trong quá trình phát triển của sản xuất xã hội, sở hữu tư nhân cũng phát triển từ trình độ thấp đến trình độ cao Trình độ thấp là sở hữu tư nhân nhỏ, đây là hình thức tư hữu của những người lao động tự do sản xuất ra sản phẩm bằng sức lao động của chính mình và của các thành viên trong gia đình Trình
độ cao là sở hữu tư nhân lớn, sở hữu này phát triển từ sở hữu tư nhân nhỏ, nhưng khi đã trở thành sở hữu tư nhân lớn thì nó lại là cơ sở làm nảy sinh mâu thuẫn nhất định giữa chủ sở hữu và lao động làm thuê Vì vậy, những hình thức khác nhau của sở hữu tư nhân thường là những hình thức đặc trưng của các phương thức sản xuất khác nhau Chẳng hạn như: sở hữu tư nhân của chủ nô và phường hội đặc trưng cho phương thức sản xuất phong kiến, sở hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa đặc trưng cho phương thức sản xuất sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Xét về quan hệ quản lý: xuất phát từ quan hệ sở hữu của KTTN, quan
hệ quản lý của khu vực này gồm các quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ và quan hệ quản lý dựa rên sở hữu tư nhân lớn
Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ là quan hệ dựa trên sự tổ chức, phân công công việc trong nội bộ gia đình, giữa các thành viên trong gia đình với nhau Dựa trên quyền lực của người chủ gia đình, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ phục tùng sự phân công, điều khiển, quản lý của người chủ gia đình đối với các vấn đề sản xuất kinh doanh Quan hệ giữa người chủ và các thành viên trong gia đình không phải là quan hệ bóc lột mà
nó mang tính chất gia trưởng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nhiều hộ
Trang 16cá thể do nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất đã thuê thêm lao động ngoài gia đình Như vậy, đã xuất hiện mầm móng của quan hệ bóc lột, nhưng chừng nào người chủ hộ chưa thoát khỏi hoạt động lao động trực tiếp thì ranh giới giữa bóc lột và không bóc lột chưa được xác định một cách rõ ràng
Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn đây là quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và khách thể quản lý Chẳng hạn như quan
hệ giữa người chủ doanh nghiệp với lao động Quan hệ này xét về bản chất là quan hệ bóc lột Bóc lột ở đây phải được xem xét nghiên cứu trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, xét sự bóc lột phải đặt trong mối quan hệ sau:
+ Trong điều kiện nước ta cung lao động nhiều hơn cầu về lao động thì bất cứ ai bỏ vốn ra kinh doanh, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động điều được khuyến khích
+ Khi người lao động đồng thời là người sử dụng lao động, nhưng do chất lượng lao động kém nên thu nhập thấp, đồng ý tự nguyện ký hợp đồng lao động cho một người sử dụng lao động khác có thu nhập cao gấp nhiều lần Trong trường hợp này không nên hiểu đây là bóc lột và bị bóc lột Bởi vì, chỉ khi nào người lao động bán sức lao động cho chủ tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng như C.Mác nói thì mới có quan hệ bóc lột và bị bóc lột
- Xét về quan hệ phân phối: về thực chất phân phối là việc giải quyết
mối quan hệ về lợi ích kinh tế các cá nhân tham gia vào quá trình tái sản xuất kinh doanh Do vậy, việc phân phối nếu không đảm bảo được lợi ích của các
cá nhân sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất kinh doanh khó có thể đạt được hiệu quả cao
Trong KTTN, quan hệ phân phối được dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân,
do chủ tư nhân thực hiện Đối với các cơ sở tư nhân mà người sở hữu đồng
Trang 17thời là người lao động, không thuê mướn nhân công, thì phân phối kết quả sản xuất được thực hiện trong nội bộ gia đình của các hộ kinh doanh nhằm đảm bảo nhu cầu của các thành viên trong gia đình Còn đối với các cơ sở tư nhân lớn, chủ sở hữu sử dụng lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản xuất căn
cứ vào giá trị sức lao động của người lao động làm thuê để trả công lao động cho họ, còn phần thặng dư thuộc về người sở hữu
Kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sở hữu tư nhân gồm sở hữu tư nhân nhỏ (sở hữu của những người lao động làm ra sản phẩm bằng chính lao động của họ và các thành viên trong gia đình như hộ nông dân cá thể…) và sở hữu tư nhân lớn-sở hữu vốn, tài sản của các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài đầu tư vào Việt Nam KTTN bao gồm các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh sau:
- Loại hình kinh tế cá thể: là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất và hoạt động chủ yếu vào sức lao động của chính họ
Kinh tế hộ gia đình là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong loại hình kinh tế cá thể và trong khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp, đây là bộ phận cấu thành quan trong của KTTN
Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ
về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình (đó là những hộ làm kinh tế trang trại, kinh tế trang trại chính là một hình thức của kinh tế tiểu chủ trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp)
Kinh tế cá, thể tiểu chủ đang có vị trí quan trọng trong nhiều ngành, nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động
Trang 18- Loại hình doanh nghiệp tư nhân (được thành lập theo Luật Doanh nghiệp) là doanh nghiệp do một cá nhân là chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp
tư nhân là một trong những loại hình kinh doanh phổ biến nhất trong các loại hình doanh nghiệp của KTTN
- Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà trong đó các thành viên là tư nhân cùng góp vốn (công
ty trách nhiệm hữu hạn), mua cổ phần (công ty cổ phần) để thực hiện kinh doanh Các thành viên được hưởng lợi nhuận và cùng chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp
Tóm lại: KTTN nếu xét về thành phần kinh tế theo tinh thần Đại hội X
của Đảng thì bao gồm 3 bộ phận: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân Đứng trên giác độ các hình thức tổ chức sản xuất, thì cũng có thể nói KTTN tồn tại
ở các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và các hộ, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.3 Ngành thủy sản và vai trò của kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản
1.1.3.1 Vị trí của ngành thủy sản trong cơ cấu kinh tế
Kinh tế thủy sản là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, Đảng ta chủ trương phát triển mạnh kinh tế thủy sản trong những năm tới, nhằm tạo thêm lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho nhân dân và xuất khẩu, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, gắn sản xuất thủy sản với các mục tiêu xã hội, an ninh quốc phòng trên cơ sở phát triển bền vững Đại hội X đã nhấn mạnh:
Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hoá lớn đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; chuyển đổi cơ cấu khai
Trang 19thác qua việc lựa chọn ngư trường, loại hình nghề nghiệp và sản phẩm để nâng cao giá trị hàng hoá sử dụng hợp lý nguồn lợi, giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm tăng trưởng bền vững [18, tr.192]
Đối với hầu hết các nước, ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt đối với những nước có vùng biển và vùng nước nội địa phong phú Việt Nam là nước có mặt biển rộng với hơn 3.200km bờ biển, có nhiều hồ và sông suối trong đất liền, có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nuôi ở vùng nước lợ và nước ngọt Phát triển ngành thủy sản có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta, thể hiện trên các mặt sau đây:
- Ngành thủy sản cung cấp những sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu dùng của dân cư, cung cấp nguồn nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác
Theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng định hầu hết các loại thủy sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hoá, phù hợp với mọi lứa tuổi Thuỷ sản ngày càng được tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh (tim mạch, béo phì…) và ít chịu ảnh hưởng của ô nhiễm hơn Xét về thành phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại thịt, các loại thực phẩm là thủy sản ít chứa mỡ hơn, nhiều chất khoáng hơn nhưng chất đạm khá cao Chẳng hạn trong thịt bò, tỉ lệ tính theo phần trăm của đạm là 16,2%-19,2%, của mỡ là 11-18%, chất khoáng là 0,8-1,0%, cũng tương tự theo tỉ lệ nói trên trong cá thu có thứ tự là 18,6%, 0,4% và 1,2%, ở cá hồng là 17,8%, 5,9% và 1,4% [19, tr.7]
Ngành thủy sản cung cấp một phần thức thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp Mặt khác, ngành thủy sản cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và một số ngành công nghiệp khác Nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến thực phẩm gồm tôm, cá, nhuyễn thể, rong biển…Ngoài ra, các nguyên liệu thủy sản còn được sử dụng
Trang 20làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ nghệ…
- Phát triển ngành thủy sản sẽ đóng góp quan trọng tăng trưởng tốc độ kinh tế cả nước nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng
Ngành thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng.Vì vậy, phát triển mạnh ngành thủy sản, đặc biệt phát triển công nghiệp chế biến thủy sản, sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp Trong những năm qua, tỉ trọng đóng góp của khu vực nông, lâm, thủy sản vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng giảm xuống rõ rệt từ 38,1% năm 1986 xuống còn 20,9% năm 2005 [18, tr.56] Đây là xu hướng phù hợp với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong khi tỉ trọng đóng góp vào tăng trưởng của ngành thủy sản lại tăng lên từ 10,9% lên 19,6% vào năm 2004 Ngành thủy sản đã thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Cùng với việc tăng cường năng lực đánh bắt xa bờ cho ngư dân, phong trào nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, nuôi cá tra, cá basa, cá rô, cá lóc, ba ba… phát triển hết sức mạnh mẽ ở các địa phương, nhất
là vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven biển Nam Trung bộ Sự phát triển nhanh chóng của ngành thủy sản nước ta trong những năm qua chúng ta
có thể thấy rõ qua bảng số liệu sau:
Bảng 1.1: Sản lượng và diện tích nuôi thủy sản cả nước
Năm
Tổng sản lượng thủy sản (tấn)
Sản lượng nuôi thủy sản (tấn)
Sản lượng khai thác hải sản (tấn)
Tổng số tàu thuyền(chiếc)
Diện tích mặt nước nuôi thủy sản (ha)
Trang 21(Nguồn www.Fistenet.gov.vn)
Bảng trên cho chúng ta thấy sản lượng năm 2005 so với năm 2001 tăng 1,7 lần trong đó sản lượng khai thác tăng 1,5 lần, còn sản lượng nuôi tăng gấp
2 lần so với năm 2001 Như vậy là tốc độ tăng trưởng của nuôi trồng thủy sản
là rất nhanh, nhất là những năm gần đây
- Ngành thủy sản phát triển, không chỉ tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân (có người đã trở nên giàu có), đáp ứng đủ cá, muối, nước mắm cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư trong nước, mà còn tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao đưa lại nguồn ngoại tệ ngày càng lớn cho đất nước
Trong nhiều năm qua, ngành thủy sản nước ta từng bước phát triển và
có đóng góp quan trọng vào hoạt động xuất khẩu của đất nước Năm 2000, tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu đã vượt qua mức 2 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu 1,478 tỉ USD, đến năm 2002 xuất khẩu thủy sản vượt mốc 2
tỉ USD (đạt 2,014 tỉ USD) Năm 2003, mặc dù ngành thủy sản nước ta phải đối mặt với những diễn biến phức tạp của thị trường thế giới, những rào cản thương mại của một số nước, nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản vẫn đạt 2,19 tỉ USD (bằng 1,5 lần so với năm 2000), trong đó giá trị xuất khẩu tôm đạt trên 1tỉ USD đã khẳng định vị trí xuất khẩu tôm trên thị trường thế giới và trong nghề nuôi trồng thủy sản nước ta Năm 2005, ngành thủy sản bằng sự nỗ lực phấn đấu liên tục, không mệt mỏi, vượt qua những khó khăn khách quan và chủ quan, đã hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản mà ngành đã xây dựng, tổng sản lượng đạt 3,43 triệu tấn, tăng 9,24% so với năm 2004 Kim ngạch xuất khẩu đạt 2,73 tỉ USD tăng 13% so với năm 2004 và bằng 18,5%
so với năm 2000 Năm 2006, xuất khẩu thủy sản đạt 2,8 tỉ USD, tăng 5,66%
so với năm 2005 Tính chung 5 năm 2001-2005, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trên 11tỉ USD, chiếm khoảng 9% tổng giá trị xuất khẩu của
Trang 22cả nước Đặc biệt cơ cấu sản phẩm của kinh tế thủy sản cũng được thay đổi mạnh mẽ theo hướng tăng tỉ trọng nuôi trồng, tăng tỉ trọng sản phẩm có giá trị cao, nhất là sản phẩm xuất khẩu
Đối với các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, đến nay đã có những bước tiến triển quan trọng trong việc đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh Đã có hơn 171 doanh nghiệp được EU công nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh, có hơn 120 doanh nghiệp được cấp phép vào thị trường Mỹ, 320 doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào Hàn Quốc Các doanh nghiệp cũng từng bước nâng cao năng lực xúc tiến thương mại để đi vào các thị trường mới Đối với toàn bộ ngành thủy sản, đã có những tiến
bộ đáng kể về gắn kết giữa yêu cầu của thị trường ngoài nước (về số lượng, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm) với thực tiễn sản xuất kinh doanh chế biến, nuôi trồng, khai thác và phát triển cơ sở hậu cần dịch vụ; gắn kết giữa khâu chế biến xuất khẩu với yêu cầu vệ sinh trong nuôi trồng, bảo quản và khai thác sản phẩm, gắn kết giữa khâu chế biến xuất khẩu với chế biến phục vụ nhu cầu thị trường nội địa Hiện nay sản phảm thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu sang 75 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhưng quy
mô thị trường còn nhỏ bé, kể cả thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU… Vì vậy, cần tiếp tục mở rộng các thị trường này Muốn vậy, cần phải đảm bảo ổn định và chủ động về sản lượng, an toàn về vệ sinh và chất lượng sản phẩm xuất khẩu
- Phát triển ngành thủy sản góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Với nhiều lợi thế đặc biệt về mặt nước và nguồn lợi thủy sản, phát triển mạnh mẽ nước ta sẽ góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước nói chung và kinh tế-xã hội nông thôn nói riêng Về mặt kinh tế, những địa phương thuộc duyên hải Trung bộ hoặc Tây Nam bộ, phát triển thủy sản là
Trang 23ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của địa phương ở các địa phương không có tiềm năng về biển, đặc biệt vùng nông thôn ngoại thành phát triển thủy sản là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn nhằm đạt hiệu quả kinh tế-xã hội cao Về mặt xã hội, ở các vùng nghèo, vùng sâu phát triển nuôi thủy sản ao, hồ, sông tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân Việc sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thủy sản tại chỗ
ở các vùng này còn góp phần trực tiếp cải thiện dinh dưỡng Ngoài ra, các trạm tàu khai thác thủy sản xa bờ còn góp phần tăng cường an ninh quốc phòng cho vùng biên giới biển đảo của Tổ quốc Đối với một số vùng biển, vùng ngập nước ven biển hay trong đất liền, phát triển thủy sản cũng góp phần vào phát triển ngành du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hoá
Ngành thủy sản có vị trí to lớn trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt đối với những nước có nhiều tiềm năng và nguồn lợi thủy sản như nước ta Vị trí
to lớn của ngành thủy sản Việt Nam được thể hiện rõ trên các mặt như: cung cấp cấp những sản phẩm quý cho tiêu dùng nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác; đóng góp vào tăng trưởng chung của toàn ngành nông nghiệp; tham gia vào xuất khẩu thu ngoại tệ và góp phần vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
1.1.3.2 Vai trò của kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản
Để đánh giá vai trò của một khu vực kinh tế, các nước thường sử dụng
ba chỉ số cơ bản, đó là: tỉ trọng của nó trong GDP, tỉ trọng trong huy động vốn kinh doanh và tỉ lệ thu hút lao động xã hội (tạo việc làm) Ngoài ra các nước còn sử dụng một số chỉ tiêu khác để đánh giá vai trò của KTTN trong tăng trưởng kinh tế nói chung hay trong phát triển một số ngành cụ thể nói riêng
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, KTTN có điều kiện phát triển với
Trang 24nhiều hình thức và quy mô khác nhau Hàng chục ngàn doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ra đời và hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực thủy sản Trong những năm gần đây, KTTN trong ngành thủy sản phát triển khá mạnh đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến thủy sản của tư nhân tăng nhanh, nhiều doanh nghiệp
tư nhân đã có giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng đầu, một số doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đã có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD mỗi năm Bằng sự năng động, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, KTTN đã khẳng định vai trò của mình trong sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung và phát triển ngành thủy sản nói riêng Vai trò quan trọng đó của KTTN thể hiện
ở những mặt sau:
Một là, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp
phần xoá đói giảm nghèo Một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay mà lãnh đạo Đảng và chính quyền các cấp quan tâm đó là giải quyết việc làm cho người lao động Giải quyết việc làm không chỉ đảm bảo đời sống cho người lao động mà còn là điều kiện quan trọng để đảm bảo duy trì tốt an ninh xã hội Hàng năm ở nước ta số người bổ sung vào lực lượng lao động khoảng 1,4 triệu người Đây là nguồn lực lớn nhưng khai thác được nguồn lực này không phải đơn giản Do đó, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của các tầng lớp dân cư không chỉ là những vấn đề kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc
Phát triển KTTN trong ngàng thủy sản sẽ tạo ra nhiều khả năng thuận lợi để huy động nhiều hơn nguồn nhân lực vì:
+ Kinh tế tư nhân sử dụng lao động tại chỗ nên hầu như không phải giải quyết nơi ăn chốn ở cho người lao động, đa số trong khu vực KTTN là lao động tại gia
+ Điều kiện đào tạo tay nghề cho người lao động thuận lợi hơn so với các khu vực kinh tế khác Hầu hết họ được đào tạo tại chỗ, thông qua kèm cặp
Trang 25của người nhà đã có tay nghề, do đó chi phí đào tạo không đáng kể Cụ thể, chi phí vốn để đào tạo ra một chỗ làm của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn hàng chục lần so với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nhà nước lại cao hơn 4 lần so với doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN
Hiện nay cả nước có 69,2 vạn hộ thủy sản, tăng 35,2% so với năm
2001, bình quân mỗi năm tăng 6,2%, riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng 12 vạn hộ Năm 2006, cả nước có 34.202 trang trại nuôi thủy sản chiếm 30,1% trong tổng số trang trại, bình quân mỗi trang trại thuê trên 3 lao động, thu nhập bình quân một lao động làm việc thường xuyên của một trang trại là 17,5 triệu đồng/năm [2, tr.16]
Nhờ tạo việc làm cho người lao động, trong ngành thủy sản KTTN
đã góp phần tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư, cải thiện đời sống nhân dân Hiện nay, số hộ có thu nhập lớn từ thủy sản là 9.350 hộ chiếm 67,9% trong tổng số hộ nuôi thủy sản cả nước Thu nhập tăng nên vốn tích luỹ trong dân cũng tăng, vốn tích luỹ bình quân của hộ thủy sản là 11,3 triệu đồng vào năm 2006
Như vậy, có thể nói trong điều kiện lực lượng lao động ở nước ta ngày càng tăng, tỉ lệ thất nghiệp còn cao, trong khi khu vực kinh tế nhà nước, kinh
tế tập thể khả năng thu hút lao động rất hạn chế thì KTTN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động góp phần xoá đói giảm nghèo
Hai là, KTTN khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần được Đảng ta khởi xướng
từ Đại hội VI là một trong những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước
ta, nhằm mục đích huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế-xã hội Những chủ trương đó đã được tiếp tục khẳng định qua các kỳ đại hội Đảng, được cụ thể hoá bằng các văn bản, pháp luật của Nhà
Trang 26nước, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế, mọi người dân yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh Nhờ vậy đã khơi dậy được những nguồn lực, những tiềm năng còn tiềm ẩn trong dân cư, phát huy sáng tạo của nhân dân, huy động ngày càng nhiều các nguồn lực về vốn, lao động… cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế-xã hội Vốn đầu tư của KTTN ngày càng tăng và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư phát triển xã hội
Trong những năm gần đây, số hộ nuôi thủy sản và trang trại nuôi trồng thủy sản tăng nhanh Tỉ trọng hộ thủy sản tăng từ 4,6% năm lên 6,6% năm
2006 Cả nước có 34.202 trang trại nuôi trồng thủy sản, vốn bình quân một trang trại là 257,8 triệu đồng vào năm 2006 (tăng 122,7 triệu đồng so với năm 2001) [2, tr.16]
Phát triển KTTN sẽ tạo điều kiện thuận lợi để huy động được một nguồn lực lớn cho phát triển sản xuất kinh doanh KTTN không chỉ là nơi thu hút giải quyết việc làm mà còn là môi trường thuận lợi phát huy khả năng sáng tạo, tính năng động, nhạy bén trong sản xuất kinh doanh của người lao động Trên thực tế, đã có không ít những chủ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đã trở thành những cá nhân điển hình tiên tiến, có những sáng kiến, kinh nghiệm tạo ra sản phẩm mới, được xã hội công nhận tôn vinh Với tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay nghề và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, bí truyền được tích luỹ qua nhiều đời của từng dòng họ và gia đình sẽ
là nguồn sáng tạo vô tận cho sự tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, trong KTTN do các nhà kinh doanh tự bỏ vốn của mình để đầu tư, chịu trách nhiệm và do phải trực tiếp chịu các áp lực của thị trường nên các doanh nghiệp phải tính toán chặt chẽ việc lựa chọn sản xuất kinh doanh Trong quá trình phát triển dưới tác động của cạnh tranh, đã có không ít doanh nghiệp tư nhân bị phá sản, chủ doanh nghiệp bị “đào thải”, nhưng thực tế không ít doanh nghiệp tư nhân vươn lên phát triển trở thành những doanh nghiệp lớn
Trang 27Ba là, KTTN trong ngành thủy sản đã sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng
hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trong kinh tế thủy sản, KTTN nắm giữ gần như toàn bộ khu vực kinh doanh nguyên liệu thủy sản và đã mở rộng phạm vi hoạt động ra thị trường xuất khẩu KTTN ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm mới và góp phần quan trọng vào chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng về xuất khẩu của Việt Nam Trên thực tế, đã có nhiều doanh nghiệp tư nhân có được những vị thế và chỗ đứng tốt trên thị trường trong nước và thế giới
Khi xã hội phát triển, đời sống nhân dân cao, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá thủy sản không chỉ với số lượng lớn mà còn đòi hỏi đa dạng hơn về chủng loại, mẫu mã và chất lượng cao Do vậy, sự năng động của KTTN đã tạo ra nhiều sản phẩm có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, có tính cạnh tranh trên thị trường, đáp ứng nhu cầu đa dạng của đời sống kinh tế-xã hội Cụ thể một
số mặt hàng thủy sản xuất khẩu có giá trị hiện nay như: cá ngừ đông lạnh, tôm hùm đông tươi sống, mực và bạch tuộc đông và các sản phẩm đồ hộp thủy sản
Bốn là, KTTN đóng góp quan trọng trong GDP và thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế
Sự phát triển của KTTN thời gian qua đã khơi dậy những tiềm năng của đất nước cho phát triển kinh tế - xã hội Nguồn tiềm năng đó là trí tuệ, kinh nghiệm, khả năng kinh doanh, sức lao động… Nhờ khai thác và sử dụng tốt những tiềm năng này vào quá trình sản xuất kinh doanh, KTTN đã tạo ra một khối lượng lớn sản phẩm cho xã hội, đồng thời nâng cao thu nhập của người lao động, tạo động lực thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển, góp phần vào tăng trưởng của nền kinh tế
Năm là, KTTN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và trang
bị kỹ thuật, công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Việt Nam là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở khu vực
Trang 28nông thôn và hơn 60% lao dộng trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Việt Nam đang thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không thể không có những doanh nghiệp có quy mô lớn, nhiều vốn, kỹ thuật hiện đại, nhằm tạo ra sức mạnh để cạnh tranh và thắng lợi trên thị trường trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, cần phải tăng khả năng tích tụ
và tập trung vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để chúng vươn lên thành doanh nghiệp lớn, điều này có thể thực hiện được thông qua phát triển KTTN Thực tế ở nước ta cho thấy, quá trình phát triển KTTN đồng thời cũng là quá trình tích tụ và tập trung vốn phát triển doanh nghiệp tìm kiếm phương thức kinh doanh có hiệu quả nhằm giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường Đó chính là các chủ tư nhân phải đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển vào sản xuất kinh doanh các sản phẩm có lợi nhất Các cơ sở của KTTN trong lĩnh vực dịch vụ thủy sản đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiêp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Kinh tế tư nhân là khu vực năng động, đầy tiềm năng, đang không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta Với những vai trò của KTTN nêu trên đã chứng tỏ chủ trương, đường lối chính sách của Đảng ta về phát triển bộ phận kinh tế này trong ngành thủy sản là hoàn toàn đúng
1.1.4 Đặc điểm của kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản
Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được coi là lực lượng quan trọng phát triển kinh tế của đất nước Sự phát triển khu vực KTTN là phù hợp với lực lượng sản xuất đang lên và là một trong những
cơ sở hình thành cơ chế thị trường định hướng XHCN
Đại hội X đã xác định KTTN bao gồm cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân KTTN tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề khác nhau Trong kinh tế thủy sản, KTTN có những đặc điểm sau:
Trang 29- Đặc điểm của kinh tế cá thể trong ngành thủy sản
Kinh tế cá thể là loại hình kinh tế hộ gia đình hay cá nhân, hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động của chính họ hay cá nhân đó, việc thuê lao động là không có, nếu có thì không nhiều và không thường xuyên
+ Kinh tế cá thể tổ chức theo phương thức hộ gia đình, là lực lượng chủ yếu sản xuất nguyên liệu thủy sản, có quy mô sản xuất nhỏ, chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm, trình độ công nghệ thấp Vì vậy, sản phẩm không đồng nhất về kích cỡ, chất lượng, chủng loại, năng suất thấp
+ Tài sản chủ yếu gắn liền với kinh tế hộ gia đình trong sản xuất là ruộng đất hoặc tàu thuyền… với các tài sản đó hộ gia đình sử dụng sức lao động của các thành viên trong gia đình để lao động sản xuất
+ Kinh tế hộ gia đình nói chung, hộ thủy sản nói riêng không thuê mướn lao động, mà dựa trên lao động của bản thân hộ gia đình
+ Hộ tự chủ trong hoạt động kinh doanh, tự kiếm đầu vào cho sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm đầu ra Do được giao quyền sử dụng đất lâu dài, dưới tác động của cơ chế thị trường đã hướng dẫn hộ bố trí sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả hơn biểu hiện tập trung ở việc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng lúa hiệu quả thấp sang nuôi thủy sản Tuy nhiên, trong thời gian qua, người dân tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng với quy mô lớn, tự lo nguồn giống hay thức ăn theo cách hiểu của từng hộ và không ít hộ rơi vào nợ nần
do dịch bệnh thủy sản gây chết hàng loạt…nguyên nhân là do thiếu sự liên kết giữa nhà nước và tư nhân trong các hoạt động dịch vụ thủy sản để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của hộ thủy sản
- Đặc điểm của kinh tế tiểu chủ trong ngành thủy sản
+ Về sở hữu: Tài sản và vốn thuộc quyền sở hữu và sử dụng của người chủ dùng cho sản xuất kinh doanh nuôi trồng thủy sản
+ Về lao động: Lao động làm việc gồm có lao động gia đình và lao
Trang 30động thuê mướn
+ Về cơ chế quản lý: Do tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên các chủ hộ tự tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý theo kinh nghiệm của bản thân và gia đình
- Đặc điểm của kinh tế tư bản tư nhân trong ngành thủy sản
+ Tài sản của doanh nghiệp có chủ sở hữu cụ thể, chủ sở hữu gắn với doanh nghiệp, lợi ích của doanh nghiệp gắn liền với lợi ích của chủ sở hữu
+ Mục tiêu hoạt động cũng như sự sống còn của doanh nghiệp tư bản tư nhân là lợi nhuận Do đó, các doanh nghiệp tư bản tư nhân sẵn sàng thực hiện mọi biện pháp để kiếm lợi, kể cả những việc làm phi pháp như đưa tạp chất vào nguyên liệu thủy sản làm tăng giả tạo trọng lượng
+ Mọi hàng hoá và dịch vụ trong doanh nghiệp tư bản tư nhân đều xuất phát từ nhu cầu thị trường, không lệ thuộc vào sự hướng dẫn và kiểm soát của cấp trên như các doanh nghiệp trong nước Do đó, các công ty tư nhân không ngừng tìm kiếm những sản phẩm có khả năng cạnh tranh, họ luôn chủ động tìm cách tự mình hoặc hướng dẫn cho ngư dân đổi mới và đa dạng hoá sản phẩm Họ thích ứng rất nhanh với những thay đổi của thị trường cũng như những thay đổi trong thể chế, pháp luật của Nhà nước Bằng các lợi thế trên các doanh nghiệp tư bản tư nhân thường có chi phí lao động thấp, chi phí sản xuất thấp, kiểm soát chặt giá thành, quản lý trang thiết bị tốt, đổi mới công nghệ nhanh và hiệu quả cao hơn hẳn các doanh nghiệp nhà nước
Tóm lại: Trong ngành thủy sản ở nước ta hiện nay đang hình thành và
phát triển hệ thống các loại hình doanh nghiệp tư nhân rất đa dạng trong mọi hoạt động nuôi trồng, khai thác, chế biến xuất khẩu, sản xuất và cung ứng các yếu tố đầu vào cho nuôi trồng thủy sản Phát triển KTTN trong ngành thủy sản
sẽ thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển nói chung và ngành thủy sản phát triển nói riêng
1.2 Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân trong
Trang 31ngành thủy sản ở Bến Tre
1.2.1 Vai trò của kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở Bến Tre
1.2.1.1 Sự cần thiết phát triển kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở Bến Tre
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện chương trình đánh bắt xa bờ, phát triển nuôi trồng và chế biến thủy sản nhằm khai thác tiềm năng hải sản, cung cấp thực phẩm cho tiêu dùng, xuất khẩu, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Để thực hiện chương trình đó cần có sự tham gia của các cấp, các ngành, mọi người và mọi thành phần kinh tế, trong đó có KTTN Trong ngành thủy sản KTTN đóng vai trò rất quan trọng, vì vậy cần phải phát triển KTTN trong ngành thủy sản cả nước nói chung và ở Bến Tre nói riêng
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long được hợp thành bởi 3 cù lao lớn và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ thành Là một châu thổ nằm sát biển, Bến Tre có địa hình bằng phẳng, rải rác những giồng cát xen
kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có những rừng chồi và những dãy rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông, Bến Tre có 65 km bờ biển nên rất thuận lợi trong phát triển thủy sản Trong những năm qua, Bến Tre xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn và có những chương trình về phát triển thủy sản nhằm huy động mọi thành phần kinh tế tham gia vào phát triển thủy sản và thời gian qua KTTN đã góp phần rất lớn vào phát triển kinh tế thủy sản của tỉnh nhà, do đó cần thiết phải phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre vì:
Một là, xuất phát từ nhu cầu khách quan trong hoạt động sản xuất kinh
doanh ngành thủy sản ở Bến Tre
Bến Tre là một tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp, điểm xuất phát thấp, tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trong cơ cấu GDP của tỉnh chiếm
Trang 32khá cao năm 2001 là 66,65%, năm 2005 là 57,58% và năm 2006 là 54,7%, sản xuất nông nghiệp còn manh mún, phân tán do quy mô kinh tế hộ rất nhỏ, diện tích canh tác còn thấp nên hoạt động sản xuất kinh tế hộ ngành thủy sản quy mô còn nhỏ, nhiều hộ dân có đất nhưng hạn chế về vốn, về trình độ trong phương thức sản xuất kinh doanh: Trong nuôi trồng thủy sản năm 2000 diện tích nuôi thủy sản là 33.928 ha nhưng chỉ có 18 ha nuôi tôm sú công nghiệp, còn lại là nuôi tôm quảng canh hoặc quảng canh cải tiến Trong đánh bắt khai thác thủy sản ven bờ vẫn còn ở mức cao, việc sử dụng các công cụ cấm vẫn còn xảy ra và ngày càng tinh vi hơn, nên đòi hỏi phải có sự cải tiến về phương thức sản xuất kinh doanh Trên thực tế, đã xuất hiện nhiều mô hình nuôi tôm, cá theo phương thức nuôi công nghiệp và bán công nghiệp mang lại năng suất cao (đạt 9,2 tấn/1 ha, đặc biệt vùng có độ mặn thấp nuôi tôm
sú bán công nghiệp đạt 4,2 tấn/1 ha) đã được nhiều hộ gia đình áp dụng, nhưng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp đòi hỏi nguồn vốn lớn, kỹ thuật cao, quản lý chặt chẽ, quy mô tập trung Trong khi đó ở Bến Tre, đất đai hẹp và manh mún, nhiều hộ dân có đất nhưng không có kỹ thuật, vốn ít không đủ để đầu tư để nuôi công nghiệp và bán công nghiệp đã dẫn đến tình trạng nuôi nhỏ lẻ, nếu không quản lý tốt môi trường nuôi khả năng phát sinh dịch bệnh dễ dàng xảy ra
Trong đánh bắt, khai thác xa bờ được Chính phủ, các ngành chức năng khuyến khích, tạo điều kiện phát triển, cho vay vốn đóng tàu, mua sắm ngư cụ… đã tạo cho ngành thủy sản từng bước phát triển tuy nhiên trong hoạt động đánh bắt xa bờ cũng gặp khó khăn như thời gian đánh bắt kéo dài hơn đòi hỏi kỹ thuật trong sơ chế bảo quản sản phẩm phải tốt hơn… Vì vậy, phát triển mạnh ngành thủy sản ở Bến Tre đòi hỏi phải khuyến khích hình thức nuôi tôm, cá theo phương thức công nghiệp và phải hiện đại hoá công nghệ cho ngư dân khi tham gia đánh bắt xa bờ Muốn đạt được điều đó phải tổ chức lại sản xuất kinh doanh trong ngành thủy sản để
Trang 33phát huy năng lực trong nuôi trồng, đánh bắt xa bờ, trong chế biến và hạn chế những thiệt hại rủi ro
Phát triển KTTN trong ngành thủy sản là phù hợp với yêu cầu nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản ở Bến Tre, nhằm khai thác nguồn lực về vốn, về lao động cho sản xuất kinh doanh, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng suất sản xuất, đưa ngành thủy sản phát triển Phát triển KTTN trong ngành thủy sản là đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Hai là, phát triển KTTN trong ngành thủy sản nhằm khai thác lợi thế
của tỉnh có hiệu quả hơn, huy động được sức mạnh trong phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà
Phát triển KTTN trong ngành thủy sản khai thác được tiềm năng đất đai, sử dụng hiệu quả mặt nước cho nuôi trồng thủy sản ở cả 3 vùng mặn, lợ, ngọt Cụ thể diện tích nuôi thủy sản của KTTN năm 2004 là 36.329,5 ha đến năm 2006 là 37.088,6 ha Mặt khác, phát triển KTTN còn huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư vào phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện thu nhập của người dân trong xã hội nói chung và trong ngành thủy sản nói riêng
Ba là, phát triển KTTN trong ngành thủy sản là yêu cầu cần thiết của
quá trình sản xuất, kinh doanh từ khâu cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm đầu ra
Kinh tế thủy sản càng phát triển cao thì nhu cầu dịch vụ cho quá trình sản xuất càng tăng cả quy mô lẫn chất lượng Nhất là đối với việc phát triển hình thức khai thác đánh bắt xa bờ và nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp với yêu cầu sản xuất tập trung và quy mô sản xuất khoa học mới đạt hiệu quả cao Do vậy, đòi hỏi phải phát triển KTTN trong ngành thủy sản vì đây là khu vực nắm giữ toàn bộ việc kinh doanh nguyên liệu thủy sản, cung cấp các dịch
Trang 34vụ cần thiết cho phát triển thủy sản
Trong khâu sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ cho quá trình sản xuất của ngành thủy sản, KTTN cung cấp các dịch vụ như: dịch vụ sửa chữa máy móc, tàu thuyền; dịch vụ cung ứng công cụ, ngư cụ phục vụ nuôi trồng, đánh bắt; dịch vụ cung cấp thức ăn, thuốc trị bệnh cho tôm… đặc biệt đối với khai thác, đánh bắt xa bờ cần phải có những dịch vụ phục vụ như các thiết bị sơ chế và bảo quản trên tàu…Chính vì vậy, việc phát triển KTTN trong ngành thủy sản
là yêu cầu khách quan cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh nhằm khai thác mọi nguồn lực vào phát triển thủy sản và mang lại hiệu quả cao
1.2.1.2 Vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân trong phát triển thủy sản
ở Bến Tre
Trong ngành thủy sản KTTN đóng vai trò rất quan trọng thể hiện:
Một là, KTTN có thể huy động nguồn vốn, lao động, tài năng của ngư
dân vào phát triển ngành thủy sản Cụ thể, vốn đầu tư của KTTN vào ngành thủy sản năm 2001 là 76,8 tỷ đồng, năm 2002 là 106,9 tỷ và năm 2005 là 171
tỷ Ngoài ra phát triển KTTN còn tạo việc làm cho người lao động, chẳng hạn năm 2003 là 112.299 lao động, năm 2006 là 124.999 lao động Như vậy KTTN đã góp phần đáng kể trong giải quyết việc làm cho người lao động
Hai là, phát triển KTTN trong ngành thủy sản tăng thêm nguồn thu cho
ngân sách, tăng thu nhập để cải thiện điều kiện sống cho nhân dân
Ba là, KTTN phần lớn gồm các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, dây chuyền
thiết bị giản đơn, dựa vào kinh nghiệm truyền thống, có mối quan hệ rộng về cung ứng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, có kinh nghiệm quản lý Do đó, KTTN rất năng động, linh hoạt thay đổi nhanh mặt hàng và phương thức kinh doanh đáp ứng khá nhanh các nhu cầu phong phú, đa dạng luôn thay đổi của thị trường về hàng thủy sản, góp phần tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế
Trang 35Bốn là, KTTN trong ngành thủy sản thúc đẩy cạnh tranh chống lại xu
thế độc quyền cản trở sự phát triển của ngành, tạo ra một sức ép lớn buộc các doanh nghiệp nhà nước phải đổi mới KTTN đã sản xuất ra nhiều hàng hoá phong phú về mẫu mã, chủng loại và có giá cả linh hoạt nên được người tiêu dùng quan tâm Bởi vì các cơ sở kinh tế muốn tồn tại và phát triển phải cạnh tranh, buộc các chủ thể kinh tế quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
Tóm lại: Trong ngành thủy sản ở Bến Tre có sự tham gia của các
thành phần kinh tế nhưng lực lượng chủ yếu là kinh tế nhà nước và KTTN KTTN có mặt hầu hết trong các lĩnh vực của ngành thủy sản, đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng nguyên liệu chế biến thủy sản xuất khẩu Trong quá trình hoạt động và phát triển của mình, KTTN đã góp phần đáng
kể vào phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Do đó, việc phát huy vai trò của KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre là một đòi hỏi cấp bách và cần có sự
hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành phần kinh tế nhằm phát triển ngành thủy sản
là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
1.2.2 Những điều kiện tự nhiên xã hội ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở Bến Tre
1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Bến Tre là một tỉnh đồng bằng ven biển, ở vị trí có toạ độ địa lý: 9048 đến 10020 vĩ bắc và 106048 đến 106057 kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km nên rất thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản
Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 2.356,8 km2, trong đó đất nông nghiệp
là 181.251 ha, đất lâm nghiệp là 6.421 ha, đất nuôi trồng thủy sản là 36.294
ha [6, tr.53]
Trang 36Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng cho thời tiết Nam Bộ gồm 2 mùa mưa nắng rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
và mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm
từ 260 C đến 270 C, trong năm không có nhiệt độ tháng nào trung bình dưới
200 C Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250 mm - 1.500 mm, trong mùa khô lượng mưa vào khoảng 2 - 6% tổng lượng mưa cả năm
Là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, được bao quanh và ngăn với các tỉnh bạn trong vùng sinh thái bởi hệ thống sông biển khép kín Có 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ thành Nhìn chung các sông chảy qua địa phận tỉnh rồi đổ ra biển, chịu ảnh hưởng của thủy triều nên rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế Do nằm kề biển Đông, những con sông ở Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ biển hồ đổ về mà còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào, nên tạo thành những vùng nước mặn, lợ, ngọt rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản, song cũng gây không ít khó khăn cho địa phương, hàng năm phải đầu tư cải tạo đất nhiễm mặn và xây dựng cơ sở
hạ tầng, đê kè thủy lợi để đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân Tuy vậy, Bến Tre nhờ có điều kiện khí hậu thủy văn thiên nhiên ưu đãi nên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với nuôi trồng thủy sản
1.2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Bến Tre là một tỉnh có mật độ dân số thấp so với các tỉnh trong cả nước (573 người/km 2) Năm 2005, dân số của Bến Tre là 1.351.472 người, trong đó có 1.219.819 người sống ở nông thôn chiếm tỷ trọng 90,2% trong tổng số dân, số trong độ tuổi lao động là 873.689 người, chiếm 64,6% trong tổng số dân
Nhân dân Bến Tre có truyền thống cách mạng, cần cù và rất hiếu học, với một nguồn nhân lực dồi dào và sự ham học hỏi sẽ là một lợi thế lớn đối
Trang 37với sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Nhìn chung, nguồn lao động của tỉnh khá dồi dào, nhưng lực lượng lao động qua đào tạo giai đoạn 2001 - 2005 là 25%, số còn lại không có chuyên môn kỹ thuật, số này tập trung chủ yếu ở nông thôn nên chất lượng lao động của KTTN trong ngành thủy sản vẫn ở trình độ thấp Do đó, hạn chế đến việc tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của bộ phận kinh tế này
Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và các nhiệm vụ, mục tiêu đề ra trong các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Bến Tre, tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2001 - 2005 là 9,38%/năm, GDP bình quân đầu người đạt 461 USD [16, tr.12, 13]
Cơ cấu kinh tế tuy có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng từ 12,38% năm 2001 lên 15,39% năm 2005, dịch vụ tăng từ 18,62% năm 2001 lên 23,13% năm 2005, giảm tỉ trọng nông nghiệp từ 66,65% năm 2001 xuống 57,58% năm 2005 [16, tr.13]
Trong nông nghiệp, thủy sản từng bước vươn lên thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, nuôi thủy sản tiếp tục phát triển, diện tích nuôi toàn tỉnh là 42.302 ha,sản lượng khai thác hàng năm liên tục tăng, cụ thể: trong khai thác sản lượng năm 2001 là 66.546 tấn, năm 2005 là 74.039 tấn, trong nuôi trồng sản lượng đạt 61.168 tấn năm 2001 và 63.342 tấn vào năm 2005 Chính vì vậy, trong phương hướng phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2006-2010, Tỉnh
uỷ Bến Tre đã chỉ rõ:
Tập trung mọi nguồn lực, đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; chú trọng phát triển nông nghiệp theo chiều sâu Phát triển nuôi trồng
và đánh bắt thủy sản đảm bảo hiệu quả, ổn định và bền vững Ưu tiên
Trang 38phát triển nuôi thủy sản để tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu Khai thác và mở rộng diện tích mặt nước nuôi thủy sản trên cả
3 vùng mặn, lợ, ngọt Phát triển mạnh các hộ kinh doanh và các loại doanh nghiệp tư nhân trong ngành thủy sản [16, tr.40, 53]
Tóm lại: Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long còn có
rất nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội Với những điều kiện thiên nhiên ưu đãi, lợi thế vị trí địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú là những nhân tố rất thuận lợi cho sự phát triển của KTTN Song trên thực tế những tiềm năng này chưa được khai thác đúng mức Hiện nay, ngành thủy sản ở Bến Tre vẫn ở trình độ thấp, tụt hậu nhiều hơn so với các tỉnh trong khu vực và bình quân chung của cả nước Nền kinh tế còn mang nặng tính thuần nông, kinh tế hàng hoá chưa phát triển mạnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng thấp kém Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre thời gian qua
Kết luận chương 1
Thuỷ sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Bến Tre góp phần đáng kể trong giải quyết việc làm, tăng sản phẩm cho xã hội và nguồn thu ngân sách, nhưng chưa phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của mình Để phát huy tiềm năng lợi thế của ngành thủy sản cần huy động tất cả các thành phần kinh tế, nhất là coi trọng KTTN Do đặc điểm của ngành thủy sản, các loại hình của KTTN dễ dàng huy động vốn, lao động…để phát triển nuôi, khai thác, chế biến thủy sản và làm dịch vụ hậu cần Phần lớn các cơ sở sản xuất của KTTN có quy mô nhỏ, dây chuyền thiết bị giản đơn KTTN có tổ chức gọn, năng động, linh hoạt, dễ thay đổi nhanh mặt hàng và phương thức kinh doanh, đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trường
Điểm nổi bật của KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre là bao gồm
Trang 39nhiều loại hình tổ chức phong phú, đa dạng như: kinh tế hộ, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, trang trại nuôi thủy sản… nhưng KTTN phần lớn có quy mô nhỏ, phân tán, trình độ công nghệ thấp, do đó kinh doanh tại chỗ là chủ yếu, KTTN tập trung chủ yếu vào nuôi trồng, khai thác và dịch
vụ hậu cần, nên nhìn chung KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre chưa thật
sự bền vững và chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra Muốn vậy, cần phải tổ chức lại sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của KTTN trong ngành thủy sản, để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, nâng cao đời sống của người sản xuất kinh doanh và nâng cao thu nhập của lao động trong ngành thủy sản ở Bến Tre
Trang 40Chương 2
Thực Trạng Và Những Vấn Đề Đặt RA Của kinh tế tư nhân Ngành Thuỷ Sản ở Bến TRE
TRONG Những NĂM Gần ĐÂY
2.1 Tình hình hoạt động, những thành công và hạn chế của kinh tế tư nhân ngành thủy sản ở Bến Tre trong những năm gần đây
2.1.1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở Bến Tre những năm gần đây
2.1.1.1 Kinh tế thủy sản trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bến Tre
Ngành thủy sản là một ngành sản xuất vật chất ra đời và phát triển dựa trên cơ sở sử dụng khả năng của các loài sinh vật sống trong môi trường nước Con người khai thác, nuôi dưỡng và chế biến các sinh vật có giá trị thành sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho nhân dân Mặt khác, thủy sản còn cung cấp nguồn nguyên liệu chế biến cho nhiều ngành và hàng hoá cho xuất khẩu
Bến Tre là một tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, so với các tỉnh ven biển trong cả nước thì có lẽ Bến Tre là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, hình thành hệ sinh thái cù lao sông biển rất thích hợp cho hoạt động nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản với nhiều hình thức trên 3 vùng sinh thái nước mặn, lợ, ngọt Đây là lợi thế so sánh so với cây trồng, vật nuôi khác Chính vì vậy, trong những năm qua Tỉnh uỷ đã xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn, là bước đột phá sự tăng trưởng kinh tế của địa phương trong những năm
2001 - 2005 Phát triển thủy sản trên cả 3 lĩnh vực: nuôi trồng, khai thác và chế biến Trong đó ưu tiên đầu tư phát triển nuôi thủy sản ở 3 vùng mặn, lợ, ngọt là bước đột phá cho tăng trưởng kinh tế thủy sản ở địa phương, tập trung đầu tư và đã đạt được những chuyển biến tích cực cả trong nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh