1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm cân đối quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam

34 505 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm cân đối quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tác giả Nguyễn Đức Thông
Người hướng dẫn Cô Nguyễn Thị Lệ Huyền
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo hiểm xã hội
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 111,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập: Một số giải pháp nhằm cân đối quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam

Trang 1

Lời mở đầu

Bảo hiểm xã hội ở nớc ta là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc đối với ngời lao động. Chính sách BHXH đã góp phần quan trọng trong việc trợ cấp vật chất, hỗ trợ đời sống cho những đối tợng hởng BHXH và gia đình

họ khi gặp phải rủi ro, biến cố trong cuộc sống nh ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc chết dẫn đến giảm hoặc mất nguồn thu nhập Chính sách BHXH cũng có tác dụng động viên công nhân viên chức, lực lợng vũ trang yên tâm công tác sản xuất, chiến đầu góp phần thắng lợi vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN Chính vì vậy chính sách BHXH cũng phải thay đổi cho phù hợp, Bộ Luật lao động đợc Quốc hội thông qua năm 1994 có hiệu lực

thi hành từ 1/1/1995, trong đó chế độ chính sách bảo hiểm xã hội cũng đợc quy

định trong Chơng XII bộ Luật này và có liên quan đến một số điều ở các chơng khác Để thể chế các quy định trong Bộ Luật lao động, năm 1995 Chính phủ đã ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số 12/CP, Nghị định số 45/CP quy định cụ thể về đối tợng tham gia, mức đóng góp, điều kiện để đợc h-ởng, mức hởng đối với từng chế độ, đồng thời quy định hình thành Quỹ bảo hiểm xã hội và giao cho Bảo hiểm xã hội Việt Nam thống nhất quản lý

Theo quy định thì Quỹ bảo hiểm xã hội đợc hình thành chủ yếu từ

đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động, đồng thời chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho ngời lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội cũng nh những ngời nghỉ hởng chế độ bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH là một

quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng bảo đảm cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển Việc đảm bảo hệ thống tài chính cho quỹ BHXH là hết sức cần thiết và mang ý nghĩa sống còn đối với hoạt

động của BHXH Nh vậy Quỹ BHXH là một nội dung quan trọng đảm bảo chính

Trang 2

sách BHXH Do vậy,Quỹ BHXH cần đợc thợc hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trởng để đảm bảo cân đối Quỹ lâu dài

Nhận thức đợc tầm quan trọng của Quỹ BHXH đối với sự phát triển của nghành BHXH.Thông qua việc xem xét đánh giá cơ chế quản lý, giải pháp nhằm cân đối Quỹ BHXH ở Việt Nam Từ những lý do trên và quá trình thực tập em đã chọn đề tài Một số giải pháp nhằm cân đối Quỹ BHXH Việt Nam" cho chuyên đề thực tập của mình.

Mục đích của đề tài nhằm đánh giá thực trạng thu-chi từ đó đa ra một số giải pháp và kiến nghị để đảm bảo cân đối Quỹ lâu dài Nhng theo quyết định số20/2002/QĐ-TTg ngày 21/01/2002 của thủ tớng chính phủ về việc chuyển Bảo hiểm y tế Việt Nam sang BHXH Việt Nam Nên giới hạn của đề tài là cân đối Quỹ BHXH khi cha sát nhập

Để hoàn thành đợc bản chuyên đề này, em đã nhận đợc sự hớng dẫn nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Thị Lệ Huyền và các cán bộ ở Ban Quản lý chế độ và chính sách của BHXH Việt Nam trong thời gian em thực tập Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Lệ Huyền và các cô chú ở Ban Quản lý chế độ và chính sách BHXH Việt Nam đã giúp em hoàn thành bản chuyên đề này

Trang 3

Chơng I

-Khái quát chung về BHXH và quỹ

BHXH

I- Khái quát chung về BHXH.

Trong xã hội nguyên thuỷ, do cha có t liệu sản xuất, mọi ngời cùng nhau hái lợm, săn bắn thú rừng, sản phẩm làm ra phân phối bình quân nên khi có ai gặp khó khăn, bất lợi trong cuộc sống thì cả cộng đồng chia sẻ gánh chịu

Trong xã hội phong kiến, quan lại dựa vào bổng lộc của nhà Vua, còn dân

c thì dựa vào sự đùm bọc lẫn nhau của họ hàng, làng xã với cách giải quyết này thì ngời gặp khó khăn hoàn toàn thụ động trông chờ vào sự hảo tâm của phía giúp

đỡ Do vậy sự giúp đỡ mới chỉ là khả năng, có thể hoặc không có thể, có nhiều hoặc có ít hoàn toàn không chắc chắn

Khi nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển đã làm xuất hiện việc thuê mớn nhân công Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng

về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho ngời lao động một số thu nhập nhất

định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản Trong thực tế, nhiều khi các trờng hợp trên không xảy và ngời chủ không phải chi ra một đồng nào Nhng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải

bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết Cuộc

đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và tác động đến nhiều mặt đời sống KTXH Do vậy nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn, sự can thiệp này một phần làm tăng đợc vai trò của nhà nớc, mặt khác buộc cả giới chủ

và giới thợ đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Quỹ

Trang 4

cho ngời lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan

hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải, cuộc sống của ngời lao động và gia đình họ ngày càng đợc đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và đợc bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thờng, tránh đợc những xáo trộn không cần thiết Vì vậy nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên

đợc thế giới quan niệm là BHXH đối với ngời lao động Nh vậy, BHXH là sự

đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội

1- Bản chất của BHXH.

1.1- Về phơng diện cá nhân, BHXH là một nhu cầu khách quan của con ngời.

BHXH là một nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp, nó nhằm đảm bảo

an toàn về kinh tế, giữ cho cuộc sống đợc ổn định, an toàn, tránh đợc sự khổ cực khi bị mất nguồn thu nhập trong cuộc sống Đó chính là các nhu cầu về BHXH

và cũng là những nhu cầu tự nhiên trong hệ thống các nhu cầu về cuộc sống của con ngời Điều nay xuất phát từ nhu cầu cần thiết để đảm bảo các tiêu chuẩn hay giá trị cho cuộc sống tối thiểu Theo nhà nghiên cứu tâm lý và hành vi con ngời của Maslow, nhu cầu BHXH nằm trong nhóm nhu cầu ở bậc thiết yếu cùng với các nhu cầu về điều kiện sinh tồn khác là ăn, ở, mặc, đi lại ở mức tối thiểu nhất BHXH cần phải đợc đảm bảo trớc khi thoả mãn các nhu cầu khác rộng hơn trong

đời sống con ngời

BHXH thực sự là một nhu cầu bức thiết Mac đã từng viết: Vì nhiều rủi ro khác nhau nên phải dành một số thặng d nhất định cho quỹ BHXH để mở rộng theo kiểu luỹ tiến quá trình tái sản xuất ở mức độ cần thiết ”

1.2- Bản chất kinh tế của BHXH

Bản chất kinh tế của BHXH đợc thể hiện ở chỗ những ngời tham gia đóng

Trang 5

góp một khoản tiền trích trong thu nhập để lập một quỹ dự trữ Các khoản đóng góp vào BHXH bao gồm: đóng góp của ngời lao động, chủ sử dụng lao động và của nhà nớc Mục đích của việc hình thành quỹ này là để trợ cấp cho những ngời gặp phải rủi ro, tránh đợc những hụt hẫng về thu nhập cho họ Sự hỗ trợ này đợc lấy từ quỹ BHXH nên giảm và tiết kiệm đợc chi phí cho NSNN.

Ngoài ra bản chất kinh tế còn thể hiện ở chỗ ngời lao động chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình nhng do nhiều nguồn hình thành khác nên quỹ BHXH có khoản tiền lớn đảm bảo đủ chi trả tài chính cho họ khi phát sinh nhu cầu đợc thanh toán Quỹ hoạt động theo nguyên tắc “ số đông bù số ít ” Khoản tiền tạm thời nhàn rỗi đợc sử dụng cho hoạt động đầu t sinh lời Bởi lẽ giữa thời gian và khoản tiền đóng góp của các bên tham gia BHXH và thời gian và khoản chi trả trợ cấp BHXH cho những ngời hởng chế độ là không đồng nhất, chính

điều này đã làm cho quỹ BHXH có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi

Nh vậy rõ ràng BHXH đợc đặc trng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH nhằm góp phần ổn định cuộc sống của ngời lao động và gia đình họ khi gặp phải rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động BHXH phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối lại các nguồn lực giữa các chủ thể tham gia tạo lập và

sử dụng quỹ BHXH

1.3- Bản chất XH của BHXH.

Bản chất xã hội của BHXH thể hiện ở chỗ quỹ BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm trong nớc đợc xã hội tổ chức, quản lý bảo tồn và phân phối lại cho ngời lao động Thực chất quỹ BHXH chính là một phần tổng sản phẩm nhỏ nhng khi gặp rỉu ro đợc cả cộng đồng trợ giúp để giúp đỡ vợt qua khó khăn, hoạn nạn Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra đợc sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân c trong xã hội và góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động tạo điều kiện mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định trật

tự xã hội

BHXH mang tính nhân văn nhân đạo sâu sắc vì lợi ích của con ngời trong những hoàn cảnh gặp khó khăn, vì an toàn xã hội và có ý nghĩa xã hội lâu dài

1.4- Bản chất BHXH xét về mặt chính trị.

Trang 6

BHXH là sự liên kết giữa những ngời lao động khác nhau trong xã hội cũng vì lợi ích chung của cộng đồng, trong đó có cá nhân tham gia BHXH BHXH cũng phản ánh bản chất của một chế độ xã hội nhất định Đối với quốc gia đây còn là những hoạt động thể hiện thái độ trách nhiệm của Chính phủ đối với ngời dân trong xã hội Trong rất nhiều nớc, sự không ổn định hay khủng hoảng của hệ thống BHXH có tác động rất mạnh đến hệ thống chính trị của nớc

đó Chính vì vậy chính sách BHXH nằm trong hệ thống chung của các chính sách về kinh tế, xã hội và là một trong những bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sách quản lý đất nớc của các quốc gia

Nh vậy tổ chức và vận hành một hệ thống BHXH phải đứng trên một quan

điểm tổng thể, toàn diện BHXH không thể tách khỏi một thể chế chính trị nhất

định mà phải dựa trên nền tảng kinh tế cụ thể BHXH không phải là loại hình bảo hiểm cá nhân hay cá nhân tự bảo hiểm mà đó là sự bảo hiểm đặt trong những ràng buộc giữa những con ngời với nhau trong những mối quan hệ nhất định trong cộng đồng mặc dù xuất phát điểm bao giờ cùng là nhu cầu của mỗi con ng-

ời BHXH gắn liền những biến cố làm giảm hay mất khả năng lao động, mất việc làm, đó có thể là những rủi ro ngẫu nhiên: ốm đau, tai nạn lao động nhng cũng

có thể là những trờng hợp xảy ra hoàn toàn không ngẫu nhiên nh: tuổi già, thai sản Đồng thời những biến cố đó có thể xảy ra cả trong và ngoài quá trình lao

động Sự giảm hoặc mất khả năng lao động làm giảm hoặc mất thu nhập, phần thu nhập này sẽ đợc bù đắp thay thế từ nguồn quỹ tiền tệ tập trung do các bên tham gia đóng góp

2- Vai trò của BHXH.

Trên cơ sở cơng lĩnh công ớc Giơnevơ ( công ớc năm 1952) các quốc gia tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mình mà có những hình thức tổ chức BHXH riêng phù hợp Tuy vậy, ở tất cả các quốc hia đều có chung một điểm là: BHXH do Nhà nớc thống nhất và quản lý Từ khi BHXH xuất hiện đến nay, hoạt

động này vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính cộng đồng, nhân văn lớn, điều này cũng có nghĩa là dù kinh tế có phát triển đến mức độ nào, dù có biến động

nh thế nào về thể chế chính trị xã hội thì bản chất BHXH vẫn không thay đổi, vẫn

Trang 7

là một trong những chính sách quan trọng của quốc gia BHXH có những tác dụng sau:

2.1- BHXH nhằm giúp ngời lao động ổn định cuộc sống khi gặp rủi ro.

Mục đích lớn nhất của BHXH là đảm bảo cuộc sống ổn định cho ngời lao

động và gia đình họ khi gặp rủi ro, giảm hoặc mất sức lao động ảnh hởng đến thu nhập Do đó, BHXH có tác dụng rất lớn đối với ngời lao động, làm cho họ yên tâm với công việc

Nói là bảo đảm thay thế bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động là nói sự thay thế bù đắp đó nhất định xảy ra, chắc chắn xảy ra khi ngời lao động bị rơi vào các trờng hợp làm giảm hoặc mất thu nhập nói trên và hội đủ các điều kiện theo quy định thì họ đợc hởng trợ cấp với mức hởng, thời điểm và thời gian hởng theo quy định của Nhà nớc Ngoài ra BHXH còn làm cho ngời lao động gắn

bó với công việc, sống và làm việc có trách nhiệm hơn với chính mình và đối với cộng đồng- điều này đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc của ngời lao động BHXH góp phần hạn chế và điều hoà các mâu thuẫn xảy ra giữa ngời lao động và giới chủ, tạo môi trờng làm việc ổn định cho tất cả các bên khi tham gia BHXH để từ đó tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao thực hiện tăng trởng và phát triển kinh tế

2.2- Gắn bó lợi ích giữa ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà ớc.

n-BHXH không chỉ đảm bảo ổn định cuộc sống cho ngời lao động và gia

đình họ khi gặp phải rủi ro mà còn bảo vệ cho ngời sử dụng lao động, tạo điều kiện cho họ ổn định tài chính để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả

BHXH còn bảo vệ và tăng cờng sức khoẻ cho ngời lao động góp phần tái sản xuất giản đơn sức lao động cho ngời lao động Giúp ngời lao động nhanh chóng trở lại làm việc góp phần tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp và nền KTQD

2.3- Phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia BHXH.

Cũng giống nh tất cả các loại hình bảo hiểm khác BHXH cũng dựa trên nguyên tắc “ lấy số đông bù số ít” vì vậy ngời lao động bình đẳng trong nghĩa vụ

đóng góp cúng nh quyền lợi nhận đợc từ quỹ BHXH Tập hợp tất cả những ngời

Trang 8

doanh trong nền KTQD Bao gồm tất cả các loại công việc từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ nhạng đến nặng nhọc Chính vì thế tính chất xã hội của BHXH là rất cao BHXH phân phối lại thu nhập giữa các đối tợng khác nhau, giữa những ngời

có thu nhập cao và những ngời có thu nhập thấp, giữa những ngời khoẻ mạnh

đang làm việc và những ngời ốm đau bệnh tật Thc hiện chức năng phân phối lại, BHXH đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội

2.4- BHXH tập trung đợc nguồn vốn lớn cho phát triển sản xuất.

Nguồn quỹ hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia cũng là nguồn vốn nhàn rỗi có thể đầu t vào nền KTQD Quỹ BHXH có thể có số d và phần quỹ nhàn rỗi đợc đầu t cho các chơng trình kinh tế, xã hội, vừa đóng góp vào xây dựng đất nớc vừa làm tăng trởng quỹ Trong điều kiện hiện nay hoạt động này có

ý nghĩa rất quan trọng

Ngoài ra với chức năng giám đốc của mình, BHXH tiến hành kiểm tra giám sát việc tham gia và thực hiện chính sách BHXH để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ và quyền lợi của ngời sử dụng lao động và ngời lao động theo quy định của pháp luật Qua đó tạo điều kiện để ngời lao động yên tâm làm việc còn ngời

sử dụng lao động chủ động hơn trong việc quản lý và sử dụng lao động trong quá trình hoạt động của mình Chức năng giám đốc còn thể hiện ở các khâu nghiệp

vụ của hoạt động BHXH và thực hiện chính sách BHXH

3- Lịch sử phát triển BHXH trên thế giới.

Cuối thế kỷ 19, chính quyền nhiều bang ở Đức bắt tay trực tiếp với giới thợ thuyền thiết lập quỹ ốm đau do chính những ngời thợ phải đóng góp bắt buộc

để tơng trợ những lúc gặp rủi ro, ốm đau Sự kiện này đợc đánh dấu vào năm

1850 Thủ tớng Đức bấy giờ là Bismarsk đã phát triển thành hệ thống BHXH, mở

đầu bằng bảo hiểm ốm đau, năm 1883 và đợc giao cho hội tơng tế quản lý Đến năm 1884, mở tiếp bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp ( tức tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ) do các hiệp hội giới chủ quản lý ( chủ yếu vì do giới chủ phải đóng góp ) Đến năm 1889 phát triển thêm bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật do các tỉnh quản lý Lúc này những hệ thống quản lý BHXH gồm 3 thành viên xã hội: ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc đều có phần đóng góp của mình vào BHXH và cùng quản lý Mọi ngời làm công ăn lơng đều buộc phải

đóng góp, bất kể là ngời thợ lành nghề hay ngời lao động thủ công, già hay

Trang 9

trẻ Từ đó mọi ngời làm công ăn lơng bảo đảm có trợ cấp chắc chắn mỗi khi gặp biến cố ngẫu nhiên hoặc gặp rủi ro Mỗi ngời làm công ăn lơng đều tự hào về tinh thần đoàn kết của mình với đồng nghiệp bất hạnh, cả ngời làm công ăn lơng

và ngời sử dụng lao động đều thấy có lợi ích chung vì vừa có lợi cho ngời lao

động vừa có lợi cho doanh nghiệp

Sáng kiến về BHXH của chính quyền Bismarsk đợc nhiều nớc châu Âu tiếp nhận Từ thập kỷ 30 của thế kỷ 20 liên tiếp các nớc Mỹ Latinh, Hoa Kỳ, Canada đều áp dụng; từ sau đại chiến thế giới lần hai và sau khi giành đợc độc lập, nhiều nớc châu Phi, châu á và vùng Caribê cũng lần lợt áp dụng cơ chế BHXH tơng tự Tuy vậy, cần phải nhấn mạnh rằng các nớc áp dụng cơ chế BHXH chủ yếu là áp dụng các đặc trng có sự đóng góp phí BHXH của những ng-

ời đợc bảo hiểm Còn về chế độ trợ cấp cụ thể thì mỗi nớc tuỳ theo đặc điểm kinh

tế xã hội và truyền thống riêng có của nớc mình mà thêm bớt, không máy móc sao chép những chế độ đã có ở nớc này hay nớc khác Nội dung cụ thể của từng chế độ trợ cấp cũng không đồng nhất trong các nớc

Ngày 28/6/1952, Hội nghị tổ chức Lao động quốc tế ( ILO ) họp tại Giơnevơ đã thông qua công ớc số 102 với những quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội trong đó cơ cấu của thành phần xã hội gồm 9 chế độ:

+ Chăm sóc y tế

+ Trợ cấp ốm đau

+ Trợ cấp thất nghiệp

+ Trợ cấp tuổi già ( hu trí )

+ Trợ cấp trong những trờng hợp bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.+ Trợ cấp gia đình

+ Trợ cấp thai sản

+ Trợ cấp tàn tật

+ Trợ cấp tiền tuất

Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nớc tham gia công ớc Giơnevơ thực hiện khuyến nghị này ở mức độ khác nhau, nhng ít nhất phải thực hiện đợc 3 chế độ Trong đó ít nhất phải có 1 trong 5 chế độ: 3,4,5,8,9 Mỗi chế độ trong hệ thống trên khi xây

Trang 10

dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội; tài chính; thu nhập; tiền lơng

Đồng thời, tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải tính đến các yếu tố sinh học; tuổi thọ bình quân của quốc gia; nhu cầu dinh dỡng; xác suất tử vong

Mọi hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:

+ Các chế độ đợc xây dựng theo luật pháp mỗi nớc

+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.+ Mỗi chế độ đợc chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH

+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ

+ Đồng tiền đợc sử dụng làm phơng tiện chi trả và thanh quyết toán

+ Chi trả BHXH nh là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH

+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ Nếu quỹ dự trữ đợc đầu t có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định

+ Các chế độ BHXH cần phải đợc điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội

- Các quốc gia luôn luôn quan tâm đến công tác BHXH để góp phần ổn

định đời sống của ngời lao động khi còn đang làm việc và những ngời đã về hu Nên việc áp dụng hệ thống BHXH nh thế nào phải đợc tính toán cụ thể cho phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia mình Hoạt động BHXH có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào độ chặt chẽ và tính hiệu quả của các cơ chế chính sách, biện pháp thu BHXH Có thể dễ dàng nhận ra một thực tế

đó là trong bất kỳ một thể chế kinh tế xã hội nào thì hoạt động BHXH vẫn phụ thuộc vào NSNN ở các mức độ khác nhau, vấn đề này là phụ thuộc ít hay nhiều,

điều này còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế ở mỗi giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia

- Kinh nghiệm của một số nớc phát triển cho thấy Nhà nớc phải ban hành

hệ thống văn bản pháp luật về BHXH ( Luật, Nghị định, các văn bản hớng dẫn thi hành) tạo nên hành lang pháp lý về BHXH Hệ thống văn bản pháp luật sẽ tạo

điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách BHXH

- Việc đề ra các chính sách BHXH phải dựa trên các nguyên tắc bắt buộc,

để có thể thu hút đợc ngày càng nhiều đối tợng tham gia; vấn đề này ngày càng trở nên quan trọng bởi sự an toàn của quỹ BHXH Việc chi trả các chế độ BHXH

Trang 11

căn cứ vào mức độ đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động đặc biệt

là phụ thuộc vào mức lơng của ngời lao động dùng làm căn cứ đóng BHXH trớc khi về hu

- Nhà nớc tham gia đóng góp BHXH Tuy nhiên mức đóng BHXH ở mỗi nớc có khác nhau, nhng cũng thể hiện rõ quan điểm Nhà nớc cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH nh chủ sử dụng lao động và ngời lao động

- Ngoài khoản đóng góp của Nhà nớc, trong văn bản pháp luật của nhiều nớc còn quy định ró Nhà nớc phải trợ cấp quỹ BHXH Hình thức và mức trợ giúp của Nhà nớc cho quỹ BHXH ở các nớc có khác nhau Có nớc chỉ trợ cấp một lần khi mới thành lập BHXH ( Đài Loan ), nhng đại đa số các nớc đều trợ cấp hàng năm Mức độ trợ cấp đợc dự toán hàng năm căn cứ vào tình hình cân đối thu chi quỹ BHXH và đợc Quốc Hội phê chuẩn cùng thời điểm phê duyệt NSNN

- Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý BHXH hầu hết các nớc

đều quy định tỷ lệ phần trăm chi phí quản lý tính trên tổng số doanh thu Khoản kinh phí này do cơ quan BHXH quản lý, chi tiêu để đảm bảo hoạt động trong toàn ngành BHXH

II.Nguyên tắc,đối tợng của BHXH.

đích củaBHXH không hoàn toàn nh nhau trong mọi điều kiện Do vậy, không thể

có những nguyên tắc chung thống nhất cho mọi trình độ phát triển, cho mọi hình thức BHXH ở tất cả các nớc Tuy nhiên, về cơ bản hoạt động BHXH phải bảo

đảm thực hiện theo những yêu cầu mang tính nguyên tắc chung sau đây:

1.1- Đảm bảo mọi thành viên trong xã hội đều có quyền tham gia và ởng quyền lợi về BHXH.

Trang 12

h-Yêu cầu này xuất phát từ quyền bình đẳng của mọi công dân trong xã hội, một quyền lợi cao nhất mà mọiquốc gia đều thừa nhận và cam kết thực hiện Thực hiện yêu cầu này là sự đảm bảo mọi thành viên trong xã hội, trớc hết là những ngời có nhu cầu tham gia vào lĩnh vực BHXH mà không hề có bất cứ một

sự phân biệt nào Nhà nớc với t cách là ngời quản lý toàn bộ và đại diện quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội có trách nhiệm đứng ra tổ chức hệ thống BHXH

để đáp ứng nhu cầu đó Việc đảm bảo thoả mãn nhu cầu này phải đợc thực hiện trên cơ sở một hệ thống pháp luật với những quy định luật pháp và chính sách thích hợp Đồng thời phải dựa trên cơ sở một hệ thống tổ chức BHXH phát triển thống nhất và hoạt động có hiệu quả cao Còn có một bộ phận lớn cha tham gia vào BHXH chứng tỏ những hạn chế của hệ thống BHXH trong việc thực hiện nguyên tắc này Đây là một vấn đề cần đợc giải quyết ở nớc ta trong thời gian tới

2.2- BHXH phải: Đảm bảo cho ngời lao động về mức thu nhập đẻ họ có

thể duy trì đợc cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời cúng nh khi hết tuổi lao động

2.3- BHXH vừa mang tính bắt buộc vừa mang tính tự nguyện.

Trớc hết BHXH phải mang tính bắt buộc, đó là quá trình tiến tới xã hội hoá hoàn toàn BHXH và ở đây thể hiện rõ nhất vai trò của Nhà nớc trong lĩnh vực này Tính bắt buộc đợc thể hiện trong các nghĩa vụ tham gia và đóng góp, bao gồm mức tiền đóng và thời gian tham gia theo mỗi chế độ của BHXH Đó tr-

ớc hết phải là trách nhiệm pháp lý của ngời lao động và ngời sử dụng lao động tham gia vào BHXH vì sự an toàn của cuộc sống không chỉ của mỗi ca nhân, một

tổ chức mà đó còn phải làmột sự an toàn lớn hơn đó là an toàn của cả xã hội nói chung Tính bắt buộc này, trong hầu hết các nớc đợc thể chế hoá băng các chính sách, các chế độ và những quy định của Chính phủ Đỉnh cao của hiệu lực pháp

lý này là Luật BHXH

Mặt tự nguyện trong một chừng mực nhất định chính là việc tạo co hộicho ngời lao động có nguyện vọng có thể có cơ hội và tự nguyện tham gia hay lựa chọn các hình thức và chế độ tham gia cho phù hợp Thực tế ở đây cần có sự khuyến khích để ngời lao động tham gia vào BHXH Tính tự nguyện phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, ý thức của ngời lao động trong xã hội, nó có thể thực hiện cho nhiều đối tợng và theo các loại hình khác nhau nh tự nguyện tham gia

Trang 13

vào một loại hình nào đó, nhất là đối với những ngời thuộc đối tợng bắt buộc, đã tham gia vào BHXH nhng tự nguyện tham gia thêm một chế độ nào đó nếu thấy

có thể đợc và có nhu cầu

2.4- Xác định mức đóng và hởng.

Tuỳ thuộc vào sự phát triển chung của nền kinh tế và của lĩnh vực BHXH

mà có thể xác định một số mức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đa dạng về BHXH của ngời lao động Mức đóng BHXH có liên quan đến thu nhập dùng để tính tỷ lệ đóng BHXH Mức đóng và hởng có tác động, ảnh hởng trực tiếp đến quy mô và số lợng tham gia vào BHXH Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu, thiết

kế các chính sách và nội dung của từng chế độ cụ thể thích hợp trong BHXH

2.5- Đảm bảo tính công bằng trong xã hội.

Đây là một nguyên tắc quan trọng nhng cũng rất phức tạp trong xây dựng

và thực hiện chính sách về BHXH Sự công bằng trớc hết pải đợc xét đến những mối quan hệ giữa đóng góp và hởng thụ Ngời đóng nhiều phải đợc hởng nhiều hơn Công bằng còn phảiđợc thực hiện trong việc để cho ngời lao động có cơ hội tham gia vào BHXH.Tuy nhiên, cũng nh các lĩnh vực bảo hiểm khác trong nhiều chế độ của BHXH vẫn mang tính chất bù trừ cho nhau giữa những ngời cùng tham gia BHXH Đó là lấy số đông bù số ít, lầy thời gian dài trong đóng góp để tính trả cho thời gian hởng Đó cũng là tính xã hội, tính cộng đồng

Do vậy khó có đợc một sự công bằng mangtính tuyệt đối, nhng phải đảm bảo sự hợp lý và trớc hết là vì lợi ích số đông của cộng đồng Tính công bằng sẽ

đợc nâng cao cùng với việc nâng cao trình độ tổ chức và quản lý trong lĩnh vực BHXH

2- Đối tợng của BHXH và vai trò của các bên tham gia.

2.1- Đối tợng của BHXH.

BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và nền kinh tế hàng hoá bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nớc châu Âu Năm 1883, ở n-

ớc Phổ ( CHLB Đức ) đã ban hành đạo luật BHYT Một số nớc châu Âu và bắc

Mỹ mãi đến cuối những năm 1920 mới có đạo luật về BHXH BHXH là một hệ thống đảm bảo thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi khi ngời lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, bị mất việc làm vì các nguyên nhân rủi ro nh: ốm đau, tai

Trang 14

nạn, già yếu Chính vì vậy đối tợng của BHXH chính là thu nhập của ngời lao

động bị biến động hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những ngời tham gia BHXH

Đối tợng tham gia BHXH là ngời lao động và ngời sử dụng lao động Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện phát triển KT-XH của mỗi nớc mà đối tợng này có thể

là tất cả hoặc một bộ phận những ngời lao động nào đó

Hầu hết các nớc khi mới có chính sách BHXH đều thực hiện BHXH đối với các viên chức Nhà nớc, những ngời làm công hởng lơng Việt Nam cũng không vợt ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng nh vậy là không bình đẳng giữa tất cả những ngời lao động

Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài ngời lao

động còn có ngời sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dới sự bảo trợ của Nhà

n-ớc Ngời sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo hiểm cho ngời lao động mà họ sử dụng Còn cơ quan BHXH nhận sự đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động phải có trách nhiệm quản lý và

sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với ngời lao động Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững

2.2- Vai trò của các bên tham gia.

a- Vai trò của ngời lao động.

Ngời lao động tham gia BHXH với mục đích để đợc hởng chế độ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm vì những “rủi ro xã hội” Thực chất khoản đóng góp này nh một khoản gửi tiết kiệm, có nghĩa là dành một phần thu nhập khi còn đầy đủ khả năng lao động để đóng góp vào qũy BHXH Phần đóng góp này sẽ dợc bồi hoàn khi họ bị suy giảm hoặc mất khả năng lao

động vào các thời kỳ nhằm khắc phục và hạn chế những tổn thất về mặt tài chính khi bị suy giảm thu nhập BHXH bên cạnh đó, ngời lao động đóng góp vào quỹ BHXH còn thể hiện trách nhiệm vì cộng đồng “mình vì mọi ngời” Khi đó những khoản đóng góp này không mang tính bồi hoàn trực tiếp Điều này thể hiện rằng khi xem xét khoản đóng góp của ngời lao động trên góc độ xã hội, thì BHXH mang tính cộng đồng rất cao Nh vậy ngời lao động là đối tợng của hoạt động BHXH

Trang 15

Hiện nay, ở một số nớc trên thế giới phần đóng góp của ngời lao động vào quỹ BHXH đợc chia thành hai loại: Đóng góp bắt buộc và đóng góp tự nguyện Phần đóng góp bắt buộc đợc quy định đối với mọi ngời tham gia BHXH theo quy

định, phần đóng góp này buộc ngời lao động phải có trách nhiệm đối vơí ngay bản thân mình và đối với xã hội Trong khoản đóng góp bắt buộc này, ở nhiều n-

ớc còn phân biệt thành hai hình thức bắt buộc và bắt buộc bổ sung Hình thức bắt buộc bổ sung đợc thực hiện đối với những ngời có thu nhập vợt quá một mức quy

định nào đó sẽ bắt buộc tham gia vào một hệ thống BHXH bổ sung Về hình thức

đóng góp đó nên chế độ đợc hởng có khác nhau: Đối với hình thức bắt buộc bổ sung chế độ đợc hởng theo mức đóng góp Ngoài phần đóng góp bắt buộc, khi ngời lao động có nhu cầu tham gia BHXH để đợc hởng chế độ cao hơn, họ sẽ đợc tham gia BHXH theo hình thức tự nguyện Việc quản lý hình thức BHXH tự nguyện có thể do Nhà nớc hoặc t nhân quản lý Việc quy định các hình thức đóng góp của ngời lao động góp phần thực hiện công bằng xã hội, thực hiện phân phối lại thu nhập quốc dân

b- Vai trò của Chủ sử dụng lao động:

ở các nớc đã có pháp luật về BHXH, chủ sử dụng lao động tham gia BHXH mang tính bắt buộc nhng cũng là biện pháp hạn chế tổn thất trong quá trình sản xuất do những suy giảm hoặc mất khả năng lao động của ngời lao động khi gặp rủi ro, hạn chế những khoản chi phí bất thờng có ảnh hởng không tốt đến tình hình tài chính của các đơn vị Bên cạnh những chế tài quy định việc sử dụng lao động thì việc bắt buộc chủ sử dụng lao động phải tham gia BHXH cũng là một biện pháp buộc chủ sử dụng lao động phải có trách nhiệm đối với ngời lao

động, bảo vệ quyền lợi của ngời lao động, bởi lẽ ngời sử dụng lao động là các chủ doanh nghiệp hoạt động với mục đích lợi nhuận, coi mục đích lợi nhuận là trên hết sẽ sẵn sàng cắt bỏ quyền lợi của ngời lao động khi những quyền lợi đó

có ảnh hởng không tốt đến tài chính của doanh nghiệp Các khoản đóng góp bắt buộc của chủ sử dụng sẽ tạo điều kiện cho ngời lao động đợc hởng mức cao hơn khi chính bản thân ngời lao động đóng góp, góp phần ổn định đời sống cho những ngời hởng chế độ BHXH Điều này có nghĩa là việc tham gia BHXH thể hiện trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với xã hội, trách nhiệm của xã hội

Trang 16

đối với mỗi cá nhân và càng đợc thể hiện rõ khi xem xét thực chất khoản đóng góp của chủ sử dụng lao động.

Thật vậy, khoản đóng góp của chủ sử dụng lao động đợc tính vào giá thành sản phẩm và buộc những ngời tiêu dùng trong xã hội phải gánh chịu, chủ

sử dụng lao động phải gánh chịu thiệt hại do tính cạnh tranh của sản phẩm thấp hơn do giá thành sản phẩm cao (cạnh tranh về giá cả sản xuất) Do đó khoản

đóng góp của chủ sử dụng lao động thực chất là đóng góp của xã hội, thông qua hoạt động cua chủ sử dụng lao động để huy động sự đóng góp của xã hội vào quỹ BHXH để bảo đảm ổn định thu nhập cho ngời lao động khi họ gặp rủi ro

Những luận cứ trên đây càng khẳng định BHXH mang tính cộng đồng rất cao và vai trò của chủ sử dụng lao động đối với BHXH là biện pháp để huy động

sự đóng góp của toàn xã hội vì sự tiến bộ của cong ngời

đó, Nhà nớc thực hiện mọi nghĩa vụ của chủ sử dụng lao động đối với ngời lao

động theo quy định của pháp luật

Với t cách Nhà nớc, Nhà nớc ban hành pháp luật và có các hỗ trợ cần thiết nhằm thúc đẩy hoạt động BHXH để đạt đợc các mục tiêu đã đề ra Về mặt xã hội, BHXH là vấn đề chung của toàn xã hội chứ không đơn thuần là quan hệ chủ- thợ nh trớc đây Pháp luật về BHXH mà Nhà nớc ban hành cần hớng tới mục tiêu

ổn định và thúc đẩy xã hội phát triển Thực chất của các chính sách BHXH là chính sách an dân, đây là tiền đề cho sự phát triển của bất kỳ xã hội nào Ngoài việc ban hành một số hệ thống pháp luật tốt nhằm thúc đẩy hoạt động BHXH, vai trò của Nhà nớc còn thể hiện ở chỗ: Nhà nớc sẵn sàng hỗ trợ cho hệ thống BHXH

ở những thời kỳ khó khăn Sự hỗ trợ này có thể là về tài chính, cơ chế làm việc, phơng tiện làm việc, phơng tiện làm việc, đào tạo nhân lực.v.v có nghĩa là sự hỗ

Trang 17

trợ của Nhà nớc tập trung vào những khâu mà hệ thống BHXH không thể đơn

ph-ơng thực hiện đợc Theo kinh nghiệm của các nớc, thời kỳ ban đầu khi mới thành lập hệ thống BHXH là khó khăn nhất Bởi lẽ lúc đó hệ thống pháp luật về BHXH cha đầy đủ, cơ chế hoạt động cha có hoặc cha đầy đủ hoặc cha phù hợp Phơng tiện làm việc còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ thông thạo nghiệp vụ còn thiếu Sự

hỗ trợ của Nhà nớc thờng đợc thông qua những hình thức sau:

- Chuyển một khoản Ngân sách lớn vào quỹ BHXH thời điểm mới thành lập

- Hàng năm dành một khoản ngân sách cho quỹ BHXH, tính theo tỷ lệ %

so với chi hoặc thu ngân sách

- Hỗ trợ những khoản chi bất thờng

- Cung cấp trụ sở, phơng tiện làm việc ban đầu

- Miễn thuế cho các hoạt động đầu t

- Tuân thủ các quy định tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống BHXH thực thi pháp luật về BHXH

- Thanh toán các khoản thiếu hụt do thu không đủ chi

- Hố trợ cho thiên tai rủi ro

ở một số nớc, khoản hỗ trợ tài chính trích từ ngân sách hàng năm đợc quy

định rõ ràng trong luật về BHXH

Những luận cứ trên chứng tỏ vai trò của Nhà nớc là hậu thuẫn cho hệ thống BHXH tồn tại và phát triển Đến khi trởng thành, hệ thống BHXH lại góp phần ổn định và phát triển kinh tế- xã hội

III- Khái quát chung về quỹ BHXH.

1- Khái niệm quỹ BHXH.

Trong đời sống kinh tế xã hội ngời ta thờng nói đến rất nhiều loại quỹ khác nhau nh quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ tiền lơng, quỹ quốc gia Tất cả các loại quỹ này đều có điểm chung đó là tập hợp các phơng tiện tài chính hay vật chất khác cho những hoạt động nào đó theo những mục tiêu và định hớng tr-

ớc Quỹ lớn hay nhỏ biểu thị khả năng và điều kiện vật chất để thực hiện các hoạt

động BHXH

Ngày đăng: 17/12/2012, 10:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2- Nguồn hình thành quỹ BHXH. - Một số giải pháp nhằm cân đối quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam
2 Nguồn hình thành quỹ BHXH (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w