BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI ------CÁP THỊ THÚY Lấ NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ CHẾ PHẨM VI SINH VÀ HÓA CHẤT ĐỂ PHÒNG CHỐNG BỆNH HẠI CHÍNH DO NẤM GÂY RA TRấN NG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -CÁP THỊ THÚY Lấ
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ CHẾ PHẨM VI SINH VÀ HÓA CHẤT ĐỂ PHÒNG CHỐNG BỆNH HẠI CHÍNH DO NẤM GÂY RA TRấN NGUYÊN LIỆU LẠC TRONG KHO
BẢO QUẢN TẠI TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Công nghệ sau thu hoạch
Mã số:
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Hà Quang Hùng
TS Hà Viết Cường
HÀ NỘI - 2012
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1 2 Mục đích và yêu cầu 3 2.1 Mục đích 3
2.2 Yêu cầu 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1 Giới thiệu về cây lạc 4 1.1 Nguồn gốc xuất xứ của cây lạc 4
1.2 Vai trò của lạc đối với đời sống con người 4
2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới và Việt Nam 5 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới 5
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam 9
3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Bắc Giang 14 4 Tình hình nhiễm bệnh hại và độc tố aflatoxin trên lạc sau thu hoạch ở thế giới và Việt Nam 16 4.1 Tình hình nhiễm bệnh hại và độc tố aflatoxin trên lạc sau thu hoạch ở thế giới 16
4.2 Tình hình nhiễm bệnh hại và độc tố aflatoxin trên lạc sau thu hoạch ở Việt Nam 18
5 Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc do nấm mốc gây ra trong bảo quản 19 5.1 Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc trong bảo quản trên thế giới 19
Trang 35.1.1 Biện pháp hóa học 19
5.1.2 Biện pháp sinh học 20
5.2 Biện pháp phòng chống bệnh hại trên lạc trong bảo quản ở Việt Nam 21
5.2.1 Biện pháp phòng chống bằng phương pháp hóa học 21
5.2.2 Biện pháp phòng chống bằng phương pháp sinh học 22
5.3 Một số hóa chất và chế phẩm vi sinh dùng trong bảo quản lạc 23
5.3.1 Hóa chất Endox C Dry 23
5.3.2 Hóa chất Linqtex 25
5.3.3 Chế phẩm vi sinh EM 27
5.3.4 Chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma 31
PHẦN III: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
1 Đối tượng, thời gian, vật liệu nghiên cứu 35 1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
1.2 Thời gian nghiên cứu 35
1.3 Địa điểm nghiên cứu 35
1.4 Vật liệu nghiên cứu 35
2 Nội dung nghiên cứu 35 3 Phương pháp nghiên cứu 36 3.1 Phương pháp điều tra, thu mẫu bệnh hại do nấm 36
3.2 Phương pháp xác định thành phần nấm hại hạt 37
3.3 Phương pháp phân lập nấm 38
3.4 Phương pháp phân loại nấm 39
3.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng một số chế phẩm vi sinh và hóa chất trong phòng chống bệnh hại chính trên lạc bảo quản 39
Trang 4PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
1 Tình hình nhiễm bệnh hại do nấm gây ra trên lạc trong kho bảo
quản tại tỉnh Bắc Giang 48
2 Thành phần nấm hại lạc trong kho bảo quản tại tỉnh Bắc Giang492.1 Nấm Aspergillus flavus 512.3 Nấm Penicillium sp 54
3 Nguồn nấm bệnh trên hạt lạc 55
4 Thử nghiệm một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với lạc trước
khi làm khô 59
4.1 Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất
đối với lạc trước khi làm khô (không lây nhiễm nấm) 594.2 Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất
đối với lạc trước khi làm khô(có lây nhiễm nấm trước khi xử lýchế phẩm và hóa chất) 624.3 Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất
đối với lạc trước khi làm khô(có lây nhiễm nấm sau khi xử lý chếphẩm và hóa chất) 65
5 Thử nghiệm một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với lạc nhân
sau khi làm khô 68
5.1 Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất
đối với lạc nhân khô (không lây nhiễm) 685.2 Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất
đối với lạc nhân khô (có lây nhiễm trước khi xử lý) 71
6 Thử nghiệm một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với lạc củ
sau khi làm khô 74
6.1 Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất
đối với lạc củ sau khi làm khô (không lây nhiễm nấm) 74
Trang 56.2 Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất
đối với lạc củ sau khi làm khô(có lây nhiễm nấm trước khi xử lýchế phẩm và hóa chất) 776.3 Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất
đối với lạc củ sau khi làm khô(có lây nhiễm nấm sau khi xử lý chếphẩm và hóa chất) 80PHẦN V: KẾT QUẢ VÀ ĐỀ NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Tồn tại và đề nghị 86
2.1 Tồn tại 862.2 Đề nghị 87
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trung bình ở các châu
lục qua thập kỷ 70 – 90 5Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới (2002 - 2007) 6Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc Việt Nam (1995- 2007) 11Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của các vùng trồng lạc
chính ở Việt Nam (2000- 2005) 12Bảng 2.5: Diện tích trồng lạc hàng năm của cả nước 14Bảng 2.6: Sản lượng lạc hàng năm của cả nước 15Bảng 4.1: Tình hình nhiễm nấm trên các mẫu lạc thu thập ở những
thời gian bảo quản khác nhau tại tỉnh Bắc Giang 49Bảng 4.2: Thành phần bệnh nấm hại trên hạt lạc thu thập tại tỉnh
Bắc Giang 50Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra vị trí và mức độ tồn tại của nguồn bệnh
trên lạc 56Bảng 4.4: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc trước khi làm khô (không lây nhiễm nấm) 60Bảng 4.5: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc trước khi làm khô(có lây nhiễm trước khi xử lý chếphẩm và hóa chất) 63Bảng 4.6: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc trước khi làm khô(có lây nhiễm nấm sau khi xử lý chếphẩm và hóa chất) 66Bảng 4.7: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc nhân khô (không lây nhiễm) 69
Trang 7Bảng 4.8: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc nhân khô (có lây nhiễm trước khi xử lý) 72Bảng 4.9: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc củ sau khi làm khô (không lây nhiễm nấm) 75Bảng 4.10: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc củ sau khi làm khô (có lây nhiễm nấm trước khi xử lýchế phẩm và hóa chất) 78Bảng 4.11: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc củ sau khi làm khô (có lây nhiễm nấm sau khi xử lý chếphẩm và hóa chất) 81
Trang 8DANH MỤC CÁC HèNH
Trang
Hình 4.1 Thí nghiệm xác định thành phần bệnh hại trên hạt lạc 51
Hình 4.2: Nấm A flavus trên hạt lạc và trên môi trường PDA 52
Hình 4.3: Nấm A niger trên hạt lạc và trên môi trường PDA 53
Hình 4.4: Nấm Penicillium sp trên hạt lạc và trên môi trường PDA 54
Hình 4.5: Nấm bệnh A niger, A flavus và Penicillium sp trên các bộ phận của củ lạc 57
Hình 4.6: Nấm bệnh A niger, A flavus và Penicillium sp trên các bộ phận của củ lạc 57
Hình 4.7: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với lạc trước khi làm khô (không lây nhiễm nấm) 61
Hình 4.8: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với lạc trước khi làm khô (có lây nhiễm trước khi xử lý chế phẩm và hóa chất) 64
Hình 4.9: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với lạc trước khi làm khô (có lây nhiễm nấm sau khi xử lý chế phẩm và hóa chất) 67
Hình 4.10: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với lạc nhân sau khi làm khô (không lây nhiễm) 70
Hình 4.11: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với lạc nhân sau khi làm khô (có lây nhiễm nấm trước khi xử lý) 73
Hình 4.12: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với lạc củ sau khi làm khô (không lây nhiễm nấm) 76
Trang 9Hình 4.13: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc củ sau khi làm khô (có lây nhiễm nấm trước khi xử lýchế phẩm và hóa chất) 79Hình 4.14: Ảnh hưởng của một số chế phẩm vi sinh và hóa chất đối với
lạc củ sau khi làm khô (có lây nhiễm nấm sau khi xử lý chếphẩm và hóa chất) 82
Trang 10PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày thuộc họ
đậu, có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ [18], hiện nay được trồng trên 100quốc gia và vùng lãnh thổ Lạc là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trịkinh tế cao, là cây công nghiệp ngắn ngày có diện tích và sản lượng đứng thứ
2 chỉ sau cây đậu tương Sản phẩm chế biến từ lạc rất đa dạng trong đó chủyếu từ hạt Hạt lạc chứa khoảng 40-60% lipit và 24-26% prụtờin [2], là nguồnnguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và khô dầu
Ngày nay, lạc được trồng khắp mọi nơi trong cả nước và đã hình thànhmột số vùng trồng lạc chính như Trung du Bắc Bộ, Khu 4 cũ, Tõy Nguyờn vàĐông Nam Bộ Trong đó, Bắc Giang là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc
có diện tích đất tự nhiên là 382,2 nghìn ha, trong đó có 123 nghìn ha đất sảnxuất nông nghiệp [20], trên diện tích đất canh tác này trồng khá phổ biến cácloại cây họ đậu, đặc biệt là cây lạc phân bố khắp 10 huyện thị trong tỉnh Câylạc được trồng chủ yếu ở vụ xuân, vụ hè thu và vụ thu đông, đây là một trongnhững cây trồng chủ lực của nhóm cây công nghiệp ngắn ngày và được đặcbiệt coi trọng trong chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóacủa tỉnh Ngoài ra, Bắc Giang còn là địa bàn cung cấp giống lạc vụ xuân chocác tỉnh miền Bắc, miền Trung và xuất thương phẩm sang các nước khác
Ở Việt Nam, lạc cùng với gạo là hai trong số mặt hàng xuất khẩu lớn củangành nông nghiệp Thị trường lạc trong nước và trên thế giới luụn cú sự biếnđộng và đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm vàthay đổi theo thị hiếu tiêu dùng của từng địa phương, từng quốc gia và khuvực trên thế giới Giá hạt thương phẩm có thể giảm tới 20% nếu bị nhiễm mốimọt và nấm mốc Theo chiến lược quốc gia sau thu hoạch, trong thời kỳ2011- 2020 giảm lượng tổn thất lạc sau thu hoạch xuống còn 2- 2,5%
Trang 11Với mục tiêu chiến lược quốc gia đối với cây lạc như trên và các lợi ích
do cây lạc mang lại thì việc trồng, chăm sóc cây lạc cũng như việc bảo quảnlạc cũng đang rất được chú trọng
Trong quá trình tồn trữ lạc nói riêng và các loại nông sản khác nói chungthì sự gây hại do vi sinh vật đặc biệt là nấm mốc dẫn đến tổn thất khá lớn.Nấm mốc phát triển trên hạt không những làm giảm giá trị dinh dưỡng của hạt
mà còn sinh ra độc tố Trong những độc tố nấm mốc nguy hiểm phải kể tới
aflatoxin Aflatoxin là độc tố của nấm Aspergillus flavus, Aspergillus
parasiticus và Aspergillus nominus
Nấm mốc sinh bào tử phát tán ra môi trường và không khí phát tán nấmmốc đi khắp nơi Đây cũng chính là một nguyên nhân gây hư hỏng nông sảnthực phẩm Khi nấm xâm nhập vào nông sản thực phẩm thì trong quá trìnhsinh trưởng phát triển nấm mốc sẽ sinh ra độc tố làm cho nông sản thực phẩm
bị nhiễm độc và khó có thể kiểm soát được chất độc trong nông sản thựcphẩm Vì vậy cần phải có những biện pháp ngăn chặn như chất diệt nấm, chấtkhử trựng, cỏc chế phẩm sinh học
Hiện nay, để xuất khẩu được nông sản đặc biệt là lạc sang các nướccũng như đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng thì việc nâng cao chất lượngnông sản là một vấn đề được các tổ chức quốc tế cũng như các cơ quan khoahọc về lương thực thực phẩm của thế giới đặc biệt quan tâm Vì vậy cần tìm
ra chất bảo quản có tác dụng ức chế nấm mốc và không gây hại cho sức khỏengười tiêu dùng là một biện pháp cần thiết góp phần nâng cao chất lượng vệsinh an toàn nông sản thực phẩm và kéo dài tuổi thọ Chính vì vậy xuất phát
từ những yêu cầu nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu sử
dụng một số chế phẩm vi sinh và hóa chất để phòng chống bệnh hại chính
do nấm gây ra trên nguyên liệu lạc trong kho bảo quản tại tỉnh Bắc Giang”.
Trang 122 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở xác định thành phần bệnh hại do nấm gây ra trên nguyên liệulạc bảo quản trong kho và diễn biến tỷ lệ hại của bệnh hại chính, từ đó đề xuấtbiện pháp phòng chống chúng bằng một số chế phẩm vi sinh và hóa chất
Trang 13PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Giới thiệu về cây lạc
1.1 Nguồn gốc xuất xứ của cây lạc
Lạc còn được gọi là đậu phộng hay đậu phụng (Arachis hypogaea),
thuộc họ đậu có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ Lạc là loài cõy thõn thảohàng năm tăng có thể cao từ 3 - 50 cm Lá mọc đối, kộp hỡnh lông chim vớibốn lá chét, kích thước lá chét dài 1-7 cm và rộng 1- 3 cm Hoa dạng hoa đậuđiển hình màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa dài 2- 4 cm Sau khi thụ phấn,quả phát triển thành một dạng quả đậu dài 3- 7 cm, chứa 1-4 hạt (ánh) và quả(củ) thường dấu xuống đất để phát triển Trong danh pháp khoa học của loài
cây này phần tên chỉ tính chất loài hypogaea nghĩa là “dưới đất” để chỉ đặc
điểm của quả được dấu dưới đất Hạt lạc (ánh lạc) là loại thực phẩm rất giàunăng lượng vỡ cú chứa nhiều lipid [18]
1.2.Vai trò của lạc đối với đời sống con người
Lạc có giá trị dinh dưỡng cao đặc biệt là có nhiều dầu và protein Tronghạt lạc chứa từ 40 – 60% lipid; 24- 26% protein; 9- 12% glucid; 2- 4,5%cellulo; 1,8- 4,6% tro; 6- 22% hydratcacbon và nhiều loại vitamin (A, B1, B2,B6, PP, E )[2] Ngoài giá trị dinh dưỡng cho con người, lạc còn là nguồnthức ăn tốt cho gia súc Hơn thế nữa, lạc còn là nguyên liệu cho ngành côngnghiệp ép dầu; dầu lạc thuộc loại dầu ăn dễ tiêu và có thể làm nguyên liệu chếbiến thuốc dùng trong y dược [3] Một giá trị vô cùng quan trọng của cây lạc
về mặt sinh học là có khả năng cố định đạm khi cộng sinh với vi khuẩn
Rhizobium Chính vì vậy, cây lạc không đòi hỏi bón nhiều phân đạm, trồng ở
đất nghèo dinh dưỡng vẫn có thể cho năng suất đồng thời cải tạo đất tốt [1],[4] Bên cạnh những quan điểm nêu trên, lạc còn có giá trị lớn trong xuấtkhẩu Trên thế giới, hàng năm sản lượng lạc và dầu lạc xuất khẩu đạt hàngtriệu tấn Châu Á là khu vực có nhiều nước trồng lạc, trong đó Việt Nam là
Trang 14nước đứng thứ tư về sản lượng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia ViệtNam đứng thứ tư về xuất khẩu lạc trên thế giới, sau Trung Quốc, Mỹ vàAchentina Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam những năm gần đây đạtkhoảng 50 triệu đụla Mỹ/năm [18].
2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới và Việt Nam
2.1.Tỡnh hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới
Trong các loại cây trồng làm thực phẩm cho con người, lạc có vị trí quantrọng Mặc dù cây lạc đã có từ lâu đời, nhưng vai trò kinh tế của lạc chỉ mớiđược xác định trong khoảng 125 năm trở lại đây Hiện nay trên thế giới, nhucầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng điều này đã và đang khuyến khíchnhiều nước đầu tư phát triển sản xuất lạc với qui mô ngày càng mở rộng
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trung bình ở các châu lục
Sản lượng (Triệu tấn)
Diện tích (Triệu ha)
Năng suất (Tấn/ha )
Sản lượng (Triệu tấn)
Diện tích (Triệu ha)
Năng suất (Tấn/ha )
Sản lượng (Triệ
u tấn)
Châu Mỹ 1,313 19,2 2,519 0,995 23,6 2,349 1,037 23,1 2,399 Bắc Mỹ 0,643 25,9 1,665 0,680 26,6 1,808 0,713 26,2 1,865 Nam Mỹ 0,670 12,8 0,855 0,351 17,2 0,541 0,324 16,5 0,534 Châu Phi 6,079 7,3 4,423 5,151 7,0 3,620 6,014 7,9 4,721 Đông
Phi 1,127 8,9 1,001 0,873 6,8 0,594 0,832 7,0 0,582 Nam Phi 1,066 7,0 0,745 0,727 5,3 0,383 0,747 6,4 0,479 Tây Phi 3,886 6,9 2,678 3,552 7,4 2,644 4,435 8,3 3,661 Châu Á 10,487 9,1 9,549 12,036 11,6 13,985 13,451 14,5 19,54 Đông Á 2,002 12,7 2,551 2,879 18,8 5,401 3,756 26,4 9,913 Đ.Nam
Á 1,358 10,1 1,372 1,505 11,7 1,756 1,586 12,8 2,029 Tây Á 7,127 7,9 5,626 7,652 8,9 6,825 8,128 9,4 7,602 Châu Âu 0,087 16,1 0,139 0,099 18,1 0,180 0,121 23,5 0,285
Trang 15Thế giới 17,879 9,2 16,491 17,187 11,6 19,954 20,502 13,0
26,66 4Tổng hợp từ các nguồn số liệu của Florkowski (1994) [80], Cesar (2002)[71], USDA (2000-2006) [124] diện tích trồng lạc trên toàn thế giới trong 35năm qua tăng 14,1 % Những năm 70 diện tích lạc trung bình hàng năm là17,879 triệu ha, những năm 90 là 20,502 triệu ha Ở chõu Mỹ, khu vựcBắc Mỹ tăng 10,88 %, Nam Mỹ giảm 51,64 % (từ 0,670 xuống 0,324 triệuha), toàn chõu Mỹ diện tích lạc giảm 21,0 % Ở Chõu Phi, khu vực ĐôngPhi và Nam Phi diện tích giảm 28,1 % (từ 2,193 triệu ha xuống 1,579 triệuha) Tõy Phi có diện tích tăng 14,13 % (từ 3,886 triệu ha lên 4,435 triệu ha),toàn châu Phi diện tích lạc tăng 4,67% Châu Á có diện tích trồng lạc lớnnhất thế giới, trung bình những năm 90 là 13,451 triệu ha, tăng 28,3 % sovới những năm 70 (10,487 triệu ha) Trong đó, diện tích khu vực Đông Átăng mạnh nhất 87,6 % (từ 2,002 triệu ha lờn 3,756 triệu ha), khu vực ĐôngNam Á tăng 15,5 %, Tõy Á tăng 14,1 %
Trong những năm trở lại đây từ 2002 - 2007 diện tích đất trồng lạc củathế giới giảm Năm 2002 diện tích là 23518,3 triệu ha Đến năm 2007 diệntích đất trồng lạc gảm xuống còn 23105,41 triệu ha Năm 2003 -2004 diệntớch lờn 26375,76 triệu ha Năng suất của thế giới năm 2002 đạt 14,14 tạ/ha,đến 2005 năng suất tăng lên 14,47 tạ/ha, sản lượng đạt 36492,14 triệu tấn.Năm 2006- 2007 diện tích giảm nhưng năng suất tăng nhanh đạt 15-16 tạ/ha
và sản lượng đạt 34779,14 triệu tấn – 37114,13 triệu tấn (bảng 2.2)
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới (2002 - 2007)
Năm Diện tích (Triệu Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (Triệu
Trang 16(Nguồn: Số liệu thống kê FAOSTAT, 2008)
Những thập kỷ gần đõy, nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật và sử dụng giốnglạc mới, nờn năng suất lạc trên thế giới không ngừng tăng Năng suất lạctrung bình trong những năm 70 là 9,2 tạ/ha, năm 80 là 11,6 tạ/ha, năm 90 là13,0 tạ/ha [71] Bốn năm gần đõy (2000-2007) năng suất lạc trung bình củathế giới là 14,60 tạ/ha, tăng so với những năm 70 là 55,0 %, năm 80 là30,9 %, năm 90 là 12,0 % [71], [124] Năng suất lạc trung bình toàn thế giớităng, song không đều giữa các khu vực, thậm chí có nhiều nơi giảm Khuvực Bắc Mỹ có năng suất lạc cao, tuy nhiên trong ba thập kỷ 70, 80, 90 tăngkhông đáng kể, từ 25,9 tạ/ha lên 26,2 tạ/ha [71]; mấy năm gần đõy năng suấtlạc khu vực này tăng nhanh, năm 2004 năng suất đạt 37,5 tạ/ha [124] Nam
Mỹ, năng suất lạc ở thập kỷ 90 là 16,5 tạ/ha, tăng 35,0 % so với thập kỷ 70;đến năm 2004 năng suất đạt 21,5 tạ/ha [124] Khu vực Đông Phi và NamPhi năng suất lạc trung bình rất thấp, dưới 10,0 tạ/ha và giảm từ 8,9 tạ/ha(1970-1979) xuống 7,0 tạ/ha (1990-1999), tương ứng giảm 25,2% Khu vựcTõy Phi năng suất lạc ở những năm 90 tăng 30,6 % so với những năm 70.Chõu Á nhờ sự nỗ lực của các quốc gia áp dụng tiến bộ kỹ thuật, chọn tạo và
sử dụng giống mới nên năng suất lạc tăng mạnh, từ 9,1 tạ/ha (1970-1979) lên14,5 tạ/ha (1990-1999) [80]; năm 2004 năng suất lạc đạt 16,4 tạ/ha[124] Khu vực Đông Á có năng suất lạc tăng mạnh nhất, từ 12,7 tạ/ha(1970-1979) lên 26,3 tạ/ha (1990-1999); Đông Nam Á tăng từ 10,1 tạ/ha lờn12,8 tạ/ha [80]; Tõy Nam Á có năng suất lạc rất thấp, song những thập
kỷ qua năng suất đã tăng từ 7,9 tạ/ha (1970-1979) lờn 9,4 tạ/ha 1999) [71], [80] Các nước Châu Âu năng suất lạc tăng từ 16,1 tạ/ha (1970-1979) lên 23,5 tạ/ha (1990-1999) [71]
(1990-Sản lượng lạc trên thế giới luôn tăng, trung bình ở thập kỷ 90 là 26,664
Trang 17triệu tấn/năm tăng 58,0 % so với thập kỷ 70 Tuy nhiên, trong đó có chõu lụcsản lượng lạc tăng, có chõu lục giảm Toàn chõu Mỹ sản lượng lạc giảm 4,9
%, chõu Phi tăng 4,6 % Chõu Á có sản lượng lạc tăng mạnh nhất, là 104,69
% (từ 9,549 triệu tấn/năm lên 19,544 triệu tấn/năm) Điển hình có khu vựcĐông Á, qua ba thập kỷ sản lượng lạc tăng gần 300 % [71], [80] Sản lượnglạc trung bình của thế giới trong bốn năm gần đõy (2000-2007) là 35,506triệu tấn/năm, tăng so với những năm 70 là 93,1 %, tăng so với những năm
90 là 23,5 %
Theo thống kê của Florkowski W.J (1994) [80], của Cesar L.R., StanleyM.F (2002) [71], Ấn Độ có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới, song lạc chủyếu được trồng ở vùng khô hạn và bán khô hạn, nên năng suất lạc rất thấp.Diện tích lạc ở những năm 70 của Ấn Độ là 7,159 triệu ha, năng suất 8,1tạ/ha; những năm 90 diện tích là 7,842 triệu ha, năng suất là 9,4 tạ/ha Támnăm gần đõy (2000-2004) diện tích lạc hàng năm ở Ấn Độ là 8,0 triệu ha,năng suất là 8,6 tạ/ha, giảm 8,5 % so với những năm 90 [124] Trung Quốc lànước đứng thứ 2 về diện tích lạc Diện tích và năng suất lạc ở Trung Quốctăng nhanh trong những thập kỷ qua Thập kỷ 70 diện tích là 2,092 triệuha/năm, năng suất là 12,0 tạ/ha, thập kỷ 80 diện tích tăng lờn là 2,647 triệuha/năm, năng suất là 17,6 tạ/ha [80] Theo Duan Shufen (1998) [77], trongthập kỷ 90 nhờ có những bước nhảy vọt về chọn tạo giống và kỹ thuậttrồng trọt, nên năng suất lạc ở Trung Quốc đạt rất cao, trung bỡnh đạt 26,9tạ/ha Theo thống kê của USDA (2000-2005) [124], những năm gần đây diệntích lạc ở Trung Quốc là 5,035 triệu ha/năm, chiếm trên 20 % tổng diện tíchlạc toàn thế giới Năng suất trung bình là 28,2 tạ/ha, cao gần gấp đôi (98,6%)năng suất lạc trung bình của thế giới Sản lượng lạc hàng năm của TrungQuốc là 14,160 triệu tấn, chiếm gần 40% tổng sản lượng lạc trên toàn thế giới.Sơn Đông là tỉnh có diện tích trồng lạc lớn nhất Trung Quốc, chiếm 23,0%
Trang 18tổng diện tích và 33,3% tổng sản lượng lạc cả nước Năng suất lạc trung bình
ở tỉnh Sơn Đông rất cao, đạt gần 40,0 tạ/ha, điển hình có nơi đạt 96,0 tạ/hatrên hàng chục hécta Đặc biệt, có thí nghiệm năng suất lạc đạt tới 120,0tạ/ha, gấp 9 lần so với năng suất bình quân thế giới [9], [10] Đõy thực sự
là bước đột phá của Trung Quốc về chọn tạo giống và nghiên cứu áp dụngcác tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lạc
Nước Mỹ có diện tích trồng lạc giảm, năng suất lạc khá ổn định trong 3thập kỷ qua Thập kỷ 70, diện tích trồng lạc là 0,605 triệu ha/năm, năng suấttrung bình đạt 26,5 tạ/ha [80], đến thập kỷ 80, 90 diện tích giảm xuống còn0,597 và 0,569 triệu ha/năm, năng suất là 27,9 tạ/ha [71] Năm 2000-2004diện tích là 0,578 triệu ha/năm, năng suất là 31,7 tạ/ha [124], đõy là năngsuất lạc trung bình cả nước cao nhất thế giới Điển hình ở Mỹ là BangGeorgia có diện tích lạc là 0,217 triệu ha, bằng 40,6 % tổng diện tích lạc ở
Mỹ (2003), năng suất đạt 35,8 tạ/ha [124] Bang Texas có diện tích lạc là 0,1triệu ha, năng suất đạt 38,0 tạ/ha, cao nhất nước Mỹ [124], gấp 2,6 lần năngsuất trung bình thế giới
Nigiêria là nước có sản lượng lạc đứng thứ tư trên thế giới Diện tíchlạc của Nigiêria tăng nhanh trong thập kỷ 90, từ 0,609 triệu ha/năm ở thập kỷ
80 lên 1,0 triệu ha/năm ở thập kỷ 90 [71], [80] và vươn lên đứng ở vị trí thứ
3 trên thế giới về diện tích Năng suất lạc ở Nigieria thấp, trung bình thập
kỷ 90 chỉ đạt 8,6 tạ/ha [71] Tám năm gần đõy (2000-2004), Nigiêria có diệntích là 1,23 triệu ha/năm và năng suất là 12,3 tạ/ha [124]
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam
Việt Nam những năm trước đõy, do thiếu lương thực, sản xuất nôngnghiệp chủ yếu tập trung trồng cây lương thực, cây lạc chưa thực sự đượcchú trọng, năng suất lạc thấp Mười năm trở lại đõy, nhờ có sự chuyểnhướng trong nông nghiệp là sản xuất cây trồng hàng hoá, cây lạc được
Trang 19quan tâm hơn và có xu hướng tăng nhanh về diện tích, năng suất và sảnlượng Năm 2005, Việt Nam là nước đứng thứ 12 về diện tích, đứng thứ 9 vềsản lượng lạc trên thế giới, đứng thứ 4 về năng suất trong 15 nước có diệntích trồng lạc lớn [125].
Theo Ngô Thế Dõn và cộng sự (2000) [10 ], sự biến động về diện tích,năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1998 đượcchia làm các giai đoạn:
- Giai đoạn từ 1975 đến 1979: diện tích lạc giảm 5,5 % (từ 97,1 nghìn haxuống còn 91,8 nghìn ha), năng suất giảm 14,6 % (từ 1,03 tấn/ha xuống 0,88tấn/ha) Nguyên nhân chính là do thực trạng phong trào hợp tác xã bị sa sút,
do yêu cầu đủ lương thực được đặt lên hàng đầu, nên sản xuất lạc khôngđược chú trọng đầu tư phát triển
- Giai đoạn từ 1980 đến 1987: diện tích trồng lạc tăng nhanh từ 91,8nghìn ha (năm 1979) lên 237,8 nghìn ha (năm 1987), tốc độ tăng trưởng hàngnăm từ 5,6% đến 24,8%/năm Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so với năm
1980 và sản lượng tăng 2,3 lần Giai đoạn này sản xuất lạc chủ yếu mang tínhquảng canh nên năng suất tăng không đáng kể, từ 8,8- 9,7 tạ/ha
- Giai đoạn từ 1988 đến 1993, diện tích trồng lạc giảm 15,3% Nguyênnhân chủ yếu là do mất thị trường tiêu thụ truyền thống và thị trường mớichưa được tiếp cận
- Giai đoạn 1994 đến 1998, diện tích trồng lạc năm 1998 tăng 8%, năngsuất tăng 20% và sản lượng tăng 25% so với 1994 Giai đoạn này ViệtNam đã tiếp cận được với thị trường quốc tế mới và nhu cầu cho chế biếntrong nước cũng tăng
Trong khoảng những năm gần đõy (1995-2007), sản xuất lạc ở ViệtNam đã có những chuyển biến tích cực, diện tích, năng suất và sản lượng lạcbiến động theo chiều hướng tăng (bảng 2.3) Diện tích, từ năm 1995 đến
Trang 201998 tăng từ 259,8 lên 269,9 nghìn ha; từ năm 1999 đến năm 2001 diệntích lạc giảm, thấp nhất vào năm 2001 là 241,4 nghìn ha Từ năm 2002 đếnnăm 2005, nhờ có thị trường tiêu thụ lạc tương đối ổn định và có một số giốngmới kháng bệnh, cho năng suất cao nên nông dân trồng lạc trở lại Diện tíchlạc hàng năm tăng, từ 246,8 nghìn ha (2002) lên đến 269,9 nghìn ha (2005).Năng suất lạc thấp nhất là năm 1995 và 1999, chỉ đạt 12,8-12,9 tạ/ha Năm
2005 năng suất lạc đạt cao nhất, là 18,0 tạ/ha, tăng so với năm 2000 là24,1 %, so với năm 1995 và 1999 là gần 39,5 % Sản lượng lạc năm 2005 là485,5 nghìn tấn, tăng 44,9 % so với 1995 (335,1 nghìn tấn) [7], [126] Đếnnăm 2006- 2007, diện tích trồng lạc tuy có giảm nhưng năng suất vẫn tăng
12,913,613,914,312,814,514,616,116,617,818,018,719,86
335,1357,4352,4385,2316,9355,1352,4397,3415,0469,0489,3464,8505,0
Trang 21Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (2006) [126], sản xuất lạc ViệtNam được chia theo hai miền Bắc và Nam, với 8 vùng trồng lạc chính.
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của cỏc vựng trồng lạc
chính ở Việt Nam (2000- 2005) Năm
Năm 2000 Năm 2002 Năm 2005 Diện
tích Năng suất lượng Sản Diện tích Năng suất lượng Sản Diện tích Năng suất lượng Sản Miền Bắc 139 14,0 194 144 15,7 226 163 17,0 277
ha, năng suất cao nhất 21,7 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình cả nước là 20,6 %; vùng Bắc Trung bộ có diện tích lạc là 83 nghìn ha, năng suất trung bình là 16,2 tạ/ha; vùng Đông Bắc có diện tích là 37 nghìn ha, năng suất là 15,5 tạ/ha, thấp hơn năng suất trung bình cả nước 16,1 % [126]
Miền Nam diện tích trồng lạc là 107 nghìn ha, năng suất trung bình là19,5 tạ/ha (2005), gồm các vùng: Nam Trung bộ, Tõy Nguyên, Đông Nam
bộ và đồng bằng sông Mê Kụng Trong đó, đồng bằng sông Mê Kông códiện tích trồng lạc là 14 nghìn ha, năng suất cao nhất là 29,1 tạ/ha, cao hơnnăng suất trung bình cả nước là 61,7 %; vùng Đông Nam bộ có diện tíchtrồng lạc là 43 nghìn ha, năng suất đạt khá cao 21,4 tạ/ha, cao hơn năng suất
Trang 22trung bình cả nước; Tõy Nguyờn là vùng có năng suất thấp nhất, chỉ đạt12,9 tạ/ha,thấp hơn năng suất trung bình cả nước là 39,5 % [126].
Một vài năm gần đõy, một số tỉnh ở miền Bắc có năng suất lạc khá cao,như Nam Định đạt 38,0 tạ/ha, Hưng Yờn đạt 28,0 tạ/ha Điển hình cómột số địa phương ở các tỉnh Hà Tõy [38], Bắc Giang [39], Bắc Ninh[40], Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nam Định, Hà Tĩnh, Nghệ An [35] nhờ sử dụnggiống mới, kỹ thuật mới nên năng suất rất cao, đạt 35,0-45,0 tạ/ha Đõy làkhởi đầu đầy khả quan trong khai thác tiềm năng năng suất cây lạc ở ViệtNam
Về tình hình tiêu thụ lạc, trong thập kỷ 90 Việt Nam là nước đứng thứ
tư về xuất khẩu lạc Lượng lạc xuất khẩu trong 5 năm đầu thập kỷ 90 là 127nghìn tấn, chiếm 8,7 % thị phần, 5 năm cuối thập kỷ 90 tăng lên 173 nghìntấn, chiếm 11,6 % thị phần Những năm gần đây (2001-2005), trung bình kimngạch xuất khẩu lạc của Việt Nam đạt khá cao, trên 50 triệu đụla Mỹ Tuynhiên, sản lượng lạc xuất khẩu còn thấp so với tiềm năng, lý do chủ yếu làchất lượng lạc của Việt Nam còn thấp, cùng với thị trường xuất khẩu lạcchưa thực sự ổn định Sản lượng lạc xuất khẩu biến động nhiều qua cácnăm: Năm 2000 sản lượng xuất khẩu là 76 nghìn tấn, năm 2002 tăng lên 105nghìn tấn, sang năm 2003 giảm xuống là 90 nghìn tấn, năm 2005 sản lượngxuất khẩu chỉ đạt khoảng 50 nghìn tấn Giá lạc nhân xuất khẩu ở Việt Namtăng qua các năm: Năm 1998 là 483 đôla/tấn, năm 2000 là 540 đôla/tấn, năm
2003 là 578 đôla/tấn, năm 2005 trung bình là 645 đôla/tấn [86] Song so vớicác nước trong khu vực, giá lạc xuất khẩu của Việt Nam vẫn thấp hơn
Tại thị trường nội địa Việt Nam, giá lạc biến động ở các mùa vụtrong năm hay ở các địa phương khác nhau Miền Bắc giá lạc thường giảmvào các tháng 5, 6 sau khi thu hoạch vụ lạc xuõn, được giá vào cuối tháng
12, đầu tháng 1 sau khi thu hoạch vụ thu đông Giá lạc trờn thị trường biến
Trang 23động lớn, vào tháng 5, 6 giá lạc là 6.000-8.000 đ/kg lạc quả Tháng 1, 2 giálạc là 10.000-12.000 đ/kg lạc quả Giá lạc quả thương phẩm ở các chợ đô thịcao hơn giá ở chợ miền quê, tháng 11 năm 2003 giá lạc quả thương phẩm ở
Hà Nội là 10.000 đ/kg, Thành phố Hồ Chí Minh là 11.500 đ/kg, Nghệ
An là 9.000 đ/kg Tháng 8 năm 2005 giá lạc tại Nghệ An là 9.500 đ/kg,giá cao có lợi cho người trồng lạc [86]
3.Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Bắc Giang
Bắc Giang là tỉnh trung du miền núi, nằm trong vùng trung du miềnnúi Bắc Bộ Sau 6 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chínhtrị, kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng với tốc độ khá, hầu hết các chỉtiêu kinh tế -xã hội đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết đề ra Tốc độ tăngtrưởng GDP bình quân hàng năm là 9,1%, cao hơn mức bình quân của cảnước; GDP bình quân đầu người tăng gấp 2,1 lần Cơ cấu kinh tế chuyểndịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông – lâm nghiệp giảm, tỷ trọng côngnghiệp- xây dựng tăng Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, đãhình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung và có nhiều mô hìnhsản xuất kinh doanh có hiệu quả Trong đó cú vựng chuyên canh cây ănquả và vùng sản xuất lạc lớn nhất các tỉnh phía Bắc (bảng 2.5)[http://www.baomoi.com/Bac-Giang-Tong-ket-6-nam-thuc-hien-Nghi-quyet-so-37NQTW-cua-Bo-Chinh-tri/122/6845855.epi]
Bảng 2.5: Diện tích trồng lạc hàng năm của cả nước
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Cả nước 244,9 244,6 246,7 243,8 263,7 269,6 246,7 254,5 255,3 245,0 231,0 TDMN phía
Bắc 35,9 36,9 36,2 36,3 39,3 42,8 41,6 44,2 50,5 50,5 50,2Bắc Giang 7,3 7,8 8,3 8,1 9,2 10,9 9,7 10,1 12,6 11,2 11,5
Trang 24Nhìn vào bảng 2.5 và bảng 2.6 ta thấy, Bắc Giang là một tỉnh thuộctrung du miền núi phía Bắc, có lịch sử trồng lạc từ lâu, từ năm 2000 đếnnăm 2005 diện tích lạc của tỉnh liên tục tăng, từ 7,3 nghỡn hộcta lên đến10,9 nghỡn hộcta Sản lượng lạc của tỉnh cũng tăng rất cao, từ 8,7 nghìntấn (2000) lên 20,6 nghìn tấn (2005) Nhưng đến năm 2006, 2007 thì diệntích trồng lạc của tỉnh lại có dấu hiệu giảm sút so với năm 2005 là do tỉnhchưa thực sự quan tâm đầu tư đúng mực đến phát triển cây lạc, chưa có
bộ giống tốt cho năng suất cao, chống chịu tốt, chưa có hệ thống cungứng và quản lý giống lạc Lạc sử dụng làm giống chủ yếu do dân tự để từ
vụ xuân năm trước, rất dễ mất sức nảy mầm, gieo trồng tỷ lệ mọc thấpnên mật độ trồng không đảm bảo Do thiếu giống có khả năng kháng bệnhnên tỷ lệ nhiễm bệnh chết xanh cao, năng suất lạc thấp và không ổn định
Do đó nông dân bỏ trồng lạc, chuyển sang trồng ngô và đậu tương có tính
ổn định cao hơn Cùng với vấn đề về giống là thị trường tiêu thụ chưathực sự ổn định, mạng lưới thu mua chưa phát triển, sản phẩm của nôngdân còn nặng về tự cung tự cấp
Bảng 2.6: Sản lượng lạc hàng năm của cả nước
Trang 25Cho đến những năm gần đây (2008-2010), diện tích trồng lạc củatỉnh Bắc Giang lại tăng lên so với những năm về trước 2008 (12,6 nghìnha), 2009 (11,2 nghìn ha) và năm 2010 (11,5 nghìn ha) Điều này cũngđồng nghĩa với việc sản lượng lạc của tỉnh cũng tăng cao, đỉnh điểm lànăm 2008 đạt 25,8 nghìn tấn Để đạt được kết quả như trên, cán bộ vànông dân trong tỉnh đã không ngừng học hỏi để cải tiến kỹ thuật canh tác
và mở rộng diện tích trồng lạc Song song với việc mở rộng diện tíchtrồng lạc thỡ cỏc cán bộ và nông dân trong tỉnh đã chú trọng đến công tácchọn tạo giống mới có năng suất cao hơn, phẩm chất tốt, giống phải phùhợp với từng điều kiện sinh thái, hình thành vùng sản xuất hàng hóa và sửdụng những loại thuốc trừ sâu, trừ cỏ và bệnh tốt hơn
Trong tương lai, tỉnh sẽ chú trọng đến sự tác động của công nghệsinh học, di truyền học phân tử đối với cây trồng để có thể mở ra một tiềmnăng mới trong tương lai phát triển cây lạc có thể làm tăng năng suất câylạc lên nhiều thông qua các giống năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt.Công nghệ sinh học cũng là yếu tố quan trọng để cải tiến chất lượng lạc.Những tiến bộ kỹ thuật này cũng có thể cải tiến hiệu quả sản xuất và chấtlượng nông sản để đảm bảo đến tay người tiêu dùng những sản phẩm lạc
Trang 26đó nhóm nấm bệnh hại lạc chiếm đa số và gây thiệt hại lớn nhất.
Theo Richardson (1990) [13] có khoảng 29 loài bệnh hại truyền qua hạt lạctrong đó nấm bệnh hại chiếm khoảng 17 loài Các loài nấm hại hạt đầu tiên phải
kể đến: Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Sclerotium rolfsii, Botrytis sp.,
Diplodia sp., Fusarium spp., Macrophoma phaseolina, Rhizoctonia sp.,
Các loại nấm gây hại trên thường kết hợp gây hại trên hạt Có những loàikhông chỉ gây hại trên hạt giống mà còn truyền qua hạt giống gây hại cho câycon Phần lớn các loài nấm bệnh trên hạt giống thuộc cỏc nhúm bỏn kớ sinh
và bán hoại sinh, một số ít trong chúng là kí sinh chuyờn tớnh Cỏc loài nấmnày khi xâm nhập vào hạt làm biến màu, biến dạng, thối hạt làm giảm chấtlượng và gây độc cho người sử dụng
Trong số nấm bệnh hại hạt lạc có 2 loài nguy hiểm nhất là Aspergillus
flavus Link và Aspergillus paraciticus Speare gây hiện tượng mốc vàng lạc.
Bệnh được phát hiện đầu tiên tại nước Anh vào năm 1960 và trở nên phổbiến ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới (Kokalis-Burelle, 1997) [36]
Cho đến nay, bệnh được tất cả các nước trồng lạc trên thế giới cũng nhưcác nước tiêu thụ lạc quan tâm do nấm gây hại chủ yếu trên hạt và tiết ra độc
tố aflatoxin có khả năng gây ung thư và nhiều bệnh khác cho người và độngvật
Aspergillus flavus xâm nhiễm và phát triển sớm trên cây lạc còn non,
trên củ và hạt lạc ở trong đất trước và sau thu hoạch, ở trong kho bảo quảnlàm cho lạc bị mốc vàng và thối, hạt lạc bị biến màu và giảm trọng lượng so
với hạt khoẻ Là loại nấm hoại sinh, tồn tại trong đất, trên tàn dư cây trồng, A.
flavus có khả năng cạnh tranh với các sinh vật rất khác và tấn công vào củ lạc
khi độ ẩm trong đất thấp (Kokalis-Burelle, 1997) [36]
Trang 27Mặt khác, lạc và các sản phẩm từ lạc là nguồn dinh dưỡng ưa thích nhất
của Aspergillus flavus Jackson khi nghiên cứu nhân lạc lấy từ những củ mà
bên ngoài còn nguyên vẹn đã nhận thấy trên vỏ lụa của chúng có một hệ nấm
phong phú, loài Aspergillus flavus hầu như bao giờ cũng có mặt Trong những
năm 1973, nghiên cứu về lạc bóc vỏ ở Mỹ cho thấy 15% của 361 mẫu cóaflatoxin giới hạn từ vết đến 50 àg/kg Stoloff, Krof và Hard [14] đã tìm thấyaflatoxin ở 86,5% của 52 mẫu trong các sản phẩm lạc nhập vào Đan Mạch làthức ăn gia súc, một mẫu có 3,465 àg/kg
4.2 Tình hình nhiễm bệnh hại và độc tố aflatoxin trên lạc sau thu hoạch ở Việt Nam
Nước ta là nước nhiệt đới gió mùa có khí hậu nóng ẩm, là điều kiệnthuận lợi cho bênh hại đặc biệt là nấm mốc phát triển Do các hoạt động hếtsức mạnh mẽ của các vi sinh vật có hại đã gây ra tổn thất lớn cho nông sản ởgiai đoạn sau thu hoạch, trong đó tổn thất gây nên do nấm mốc chiếm mộtphần đáng kể Ngoài việc gây tổn thất về khối lượng cho nông sản, nấm mốccòn sinh ra các độc tố đặc biệt nguy hiểm với sức khỏe con người và độngvật Vi sinh vật trong khối đậu, lạc chủ yếu là nấm mốc (68- 98%) trong đó
chủ yếu là Aspergillus và Penicillium, ngoài ra cũn cú Cephalosporium và
Cladosporium Nấm mốc phát triển trên lương thực không những sử dụng các
chất dinh dưỡng của hạt: protein, glucid, lipid và các vitamin, chỳng cũn tiết
ra các độc tố Độc tố aflatoxin do Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus
và Aspergillus nominus tạo ra là độc tố nguy hiểm nhất và thường nhiễm trên
nông sản
Ở Việt Nam, năm 1988 Viện dinh dưỡng đã thông báo kết quả thăm dòaflatoxin trong lạc và kết quả có 7/55 số mẫu lạc nhõn cú aflatoxin B1(13%)[19] Gần đây, Trung tâm y tế dự phòng TP Hồ Chí Minh đã kiểm nghiệm 40mẫu hạt có dầu và các sản phẩm có liên quan như lạc, vừng, cà phê hạt kết
Trang 28quả cho thấy hàm lượng aflatoxin trong lạc cao hơn tiêu chuẩn 263 lần, còntrong kẹo lạc thì vượt tiêu chuẩn 138 lần Một số nghiên cứu của Viện nghiêncứu dầu thực vật cũng cho thấy trong số 89 mẫu lạc từ đồng ruộng của nôngdân có 11 mẫu nhiễm aflatoxin B1, 4 trong số những mẫu này nhiễm aflatoxin
từ vừa phải đến cao (31,1- 125 àg/kg) Cũn trong số 11 mẫu lạc lấy từ chợ và
cơ sở chế biến thỡ cú 5 mẫu nhiễm aflatoxin 20- 112,2 àg/kg[http://vnmedia.Vietnam/print.asp?newsid=58086]
5 Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc do nấm mốc gây ra trong bảo quản
Do lượng protein và hàm lượng chất béo trong hạt lạc cao nên tạo điềukiện tốt cho vi sinh vật gây bệnh tấn công Hạt lạc bị rất nhiều loại nấm bệnh
gây hại trong đó nhiều hơn cả là A flavus, A parasiticus và A niger Đặc biệt
là A flavus còn sản sinh ra độc tố aflatoxin gây bệnh ung thư gan cho người.
Trong khi nhu cầu của con người ngày càng cao thì việc tạo ra các nông sảnsạch là một vấn đề rất được quan tâm Bệnh hại do nấm gây ra trên nông sảnnói chung và trên lạc nói riêng không những làm giảm năng suất mà còn làmgiảm giá trị dinh dưỡng và thương phẩm, gây thiệt hại về kinh tế cho ngườisản xuất Chính vì vậy việc tìm ra các phương pháp phòng trừ bệnh hại donấm gây ra có ý nghĩa rất quan trọng
5.1 Biện pháp phòng chống bệnh hại lạc trong bảo quản trên thế giới
5.1.1 Biện pháp hóa học
Để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc cũng như để khử độc tốaflatoxin trong các nguyên liệu đã có rất nhiều hóa chất được sử dụng như:chlorin, ozon, axit hydrochloric, peroxit bezoic, amoniac, natri hydrochlorit
và etanolamin.[ Coker R.D., Jewers K., Jones B.D The destruction ofaflatoxin by amonia: practical posibilities Tropical science 25: 139- 154;Hetmaski MT, Scudamore KA, A simple quantitative HPLC method for
Trang 29determination of aflatoxins in cereals and animal feedstuffs using gelpermeation chromatography clean – up, Food Addit Contam, 1989 Jan- Mar,
6 (1): 35- 48] Các hóa chất dùng để phòng chống phải thỏa mãn các tiêuchuẩn sau:
Phải hạn chế sự phát triển của bệnh hại do nấm mốc gây ra;
Phải phá hủy hay khử aflatoxin;
Nó phải không tạo ra hay giải phóng ra bất kỳ các dư lượng độc tố gâyung thư ở sản phẩm cuối cùng;
Phải phá hủy các bào tử và sợi nấm mà dưới điều kiện thuận lợi chúng
có thể tái nhiễm lại sản phẩm;
Phải giữ được giá trị dinh dưỡng và tính ăn được của nguyên liệu banđầu
Tuy nhiên, nhiều hóa chất khảo sát đã không thỏa mãn tất cả những tiêuchuẩn trên Mặc dù chúng phá hủy các aflatoxin nhưng lại làm giảm đáng kểgiá trị dinh dưỡng của nguyên liệu xử lý và tạo nên các sản phẩm độc hay cácsản phẩm có tác dụng phụ không mong muốn
Một số quá trình xử lý bằng hóa chất có hiệu quả trong việc phá hủyaflatoxin cũng như hạn chế sự phát triển của nấm mốc thỏa mãn những tiêuchuẩn trên Những hóa chất này bao gồm: hydrogen peroxit hay những hóachất tương tự, hypochlorit, dimetylamin hay metylamin và amoniac Trong sốnày, hydrogen peroxit, natri hydrixit và natri hydrochlorit dường như có khảnăng trong việc khử aflatoxin từ các sản phẩm giàu protein hay các sản phẩmdùng cho người ăn Trong khi đó, dimetylamin và các amoniac có thể áp dụngcho việc khử độc tố ở các hạt có dầu đặc biệt là ở lạc hay ngô
Việc xử lý aflatoxin trờn ngụ và khô lạc bằng amoniac đã được áp dụngrộng rãi trong việc xử lý các thức ăn gia súc nhiễm nấm mốc sinh độc tốaflatoxin ở nhiều nước Về cơ chế, ở nhiệt độ cao, có thể trong điều kiện ápsuất xảy ra sự biến thoái aflatoxin B1 bởi amoniac
Trang 305.1.2 Biện pháp sinh học
Mặc dù các biện pháp phòng chống nấm mốc sinh độc tố đã đượckhuyến cáo áp dụng nhưng sự nhiễm aflatoxin trên lạc ở mức độ cao quá giớihạn là không thể tránh được trong những điều kiện bảo quản bất lợi Hiệnnay, vấn đề khử nhiễm aflatoxin bằng con đường sinh học nhằm thay thế chobiện pháp khử nhiễm aflatoxin bằng các hóa chất có giá thành cao và làm biếnđổi phẩm chất, chất lượng lương thực nờn khú áp dụng vào thực tiễn bảo quản
do đó khử nhiễm aflatoxin bằng con đường sinh học được coi là con đườnghứa hẹn nhất
Để hạn chế sự phát triển của nấm mốc cũng như khử nhiễm độc tốaflatoxin do nấm sinh ra bằng con đường sinh học có thể được định nghĩa nhưquá trình hấp phụ aflatoxin, sự phân giải bằng enzyme hay chuyển hóa sinhhọc của các độc tố nấm mốc nhằm giảm thiểu hàm lượng aflatoxin trong cơchất xử lý
Gần đây, các nghiên cứu về khử nhiễm aflatoxin đã được nghiên cứungày càng sâu hơn Theo Shu Guan và cộng sự, một số chủng nấm nghiên cứucho thấy chúng có khả năng chuyển hóa các độc tố thành dạng không độc như
Pleurotus ostreatus, Trametes versicolor, Rhizopus sp., Mucor sp., và một số
nấm men như Trichosporon mycotoxinivorans, Saccharomyces cerevisiae,
Trichoderma strains và Armillariella tabescens Hoạt tính chuyển hóa của các
chủng nấm này chủ yếu trong dich chiết tế bào của chúng Kết quả khử
aflatoxin khi nghiên cứu trên một số chủng vi khuẩn lactic như Lactobacillus,
Bifidobacterium, Propionibacterium và Lactococcus cũng cho kết quả khả
quan Tuy nhiên, các chủng vi khuẩn chủ yếu khử aflatoxin bằng con đườnghấp phụ của tế bào hơn là chuyển hóa hoặc phân giải độc tố.[Đặng ThựyChõu]
Trang 315.2 Biện pháp phòng chống bệnh hại trên lạc trong bảo quản ở Việt Nam 5.2.1 Biện pháp phòng chống bằng phương pháp hóa học
Ở nước ta, Nguyễn Thựy Chõu đó nghiên cứu công nghệ khử độc tốaflatoxin B1 trờn ngụ và khô lạc bằng hóa chất Kết quả cho thấy NH3 nồng
độ 6% hoặc Ca(OH)2 có tác dụng khử 90% độc tố aflatoxin Nhưng giá xử lýbằng hóa chất này có giá thành cao, đặc biệt việc khử độc tố bằng amoniac đã
để lại mùi khó chịu cho ngô và khô lạc nờn khú áp dụng rộng rãi trong thực tế
ở Việt Nam [Đặng Thựy Chõu] Một số công trình nghiên cứu gần đây, cònchứng minh dư lượng amoniac sau khử nhiễm aflatoxin cũng là tác nhân gâyung thư
Ngoài amoniac có tác dụng diệt nấm ra cũn cú cỏc chất xông hơiphosphin, hỗn hợp phosphin- amoniac và metyl bromit đã được chứng minh
và đã được thử nghiệm ở các kho bảo quản thóc, gạo Trong các chất xônghơi được thử nghiệm đó, metyl bromit liều 40 g/m3 – 48 g/m3 đã cho hiệuquả diệt mốc trờn thúc cao, từ 94.2% đến 96.2% đối với hệ mốc bên trong hạt
và từ 99.94% đến 99.99% đối với hệ mốc bên ngoài hạt Metyl bromit liều 32g/m3 – 40 g/m3 đã cho hiệu quả diệt mốc trên gạo từ 92.6% đến 99.85% đốivới hệ mốc bên trong hạt và từ 82% đến 92% đối với hệ mốc bên ngoài hạt.[đặng thựy chõu]
5.2.2 Biện pháp phòng chống bằng phương pháp sinh học
Để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc đã có rất nhiều hóa chất được
sử dụng như chất diệt nấm, chất khử trựng… Nhưng đây đều là những hoáchất độc hại nếu liều lượng vượt quá có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêudùng Đặc biệt các sản phẩm xử lý bằng hoá chất gặp phải rào cản rất nghiêmngặt khi xuất khẩu sang các nước như EU, Mỹ, Nhật Vì vậy việc nghiên cứutheo hướng sản xuất nông sản sạch nên thực hiện bằng phương pháp phòngtrừ sinh học trước và sau thu hoạch Các hóa chất độc hại cần hạn chế sử
Trang 32dụng, thay vào đó là các chất không độc hại Và gần đây một xu hướng đangphát triển trên thế giới là sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên haysinh học.
Ở nước ta, Nguyễn Hồng Hà, Đào Thị Hương, Nguyễn Thựy Chõu đó
nghiên cứu khả năng ức chế sự phát triển của chủng A flavus sinh độc tố bằng chủng A flavus không sinh độc tố Kết quả cho thấy, chủng A flavus GL
không sinh aflatoxin được phân lập từ ngô của Gia Lâm, Hà Nội đã có khả
năng giảm sản lượng aflatoxin của chủng A flavus NN2 sinh độc tố từ 331
xuống còn 5 ppb, hiệu quả giảm là 98% Hiệu quả giảm độc tố aflatoxin của
chủng sinh độc tố tăng tỷ lệ thuận với số bào tử A flavus không sinh độc tố
cho vào môi trường có cơ chất là ngô Đây là kết quả vô cùng quan trọng
trong việc nghiên cứu ứng dụng chủng A flavus không sinh aflatoxin để phòng trừ các nấm A flavus sinh độc tố thường nhiễm trên đất trồng ngô, lạc
và từ đó nhiễm nội sinh trong cây và hạt ngô, lạc ở Việt Nam.[Đặng thựychõu]
Những năm gần đây, việc sử dụng chế phẩm sinh học để phòng chốngbệnh hại cây trồng đã và đang được nghiên cứu ngày càng sâu hơn Còn việc
sử dụng chế phẩm sinh học để phòng chống bệnh hại nông sản trong kho bảoquản vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Do đó, việc nghiên cứu ứng dụng cácchế phẩm sinh học an toàn để phòng chống bệnh hại do nấm gây ra góp phầnkhử nhiễm độc tố nấm trên lạc nói riêng và các nông sản khác nói chung là rấtcần thiết
5.3 Một số hóa chất và chế phẩm vi sinh dùng trong bảo quản lạc
5.3.1 Hóa chất Endox C Dry
Hóa chất này được sản xuất tại Thái Lan Thành phần của nó bao gồm:Ethoxyquin, Butylated hydroxytoluene, Citric acid, Calcium carbonate andsilica
Trang 33Ethoxyquin: là quinoline - chất chống oxy hóa được sử dụng như mộtchất bảo quản thực phẩm (E324) và thuốc trừ sâu (dưới tên thương mại như
"Stop-bỏng") Nó thường được sử dụng như một chất bảo quản trong thức ănvật nuôi để ngăn chặn rancidification của chất béo Ethoxyquin thường được
sử dụng trong gia vị để ngăn chặn sự mất màu do quá trình oxy hóa của cácsắc tố carotenoid tự nhiên [http://en.wikipedia.org/wiki/Ethoxyquin ] Nóicách khác, Ethoxyquin được sử dụng để giữ cho các chất béo trong thực phẩm
sẽ không bị oxy hóa Nó cũng được sử dụng để ngăn chặn những ảnh hưởngcủa sự biến đổi màu và phân hủy của vỏ trên trái cây và giữ màu sắc trong gia
vị như bột ớt Tổ chức FDA đã phê duyệt giới hạn cho phép sử dụngEthoxyquin trong thực phẩm của con người (100 ppm) và thức ăn chăn nuôi(150 ppm) Nó dễ dàng được hấp thu, chuyển hóa và bài tiết qua nước tiểu vàphân, với mức độ còn lại trong đường tiêu hóa gan và gan mỡ.[http://www.canine-epilepsy-guardian-angels.com/Ethoxyquin.htm]
Butylated hydroxytoluene (BHT): còn được gọi là butylhydroxytoluene,
là chất rắn kết tinh màu trắng, không hòa tan trong nước nhưng tan trongrượu, propylene glycol và chất béo Nó được sử dụng như một chất chống oxyhóa phụ gia thực phẩm (E số E321) cũng như một chất phụ gia chống oxy hóa
mỹ phẩm, dược phẩm, nhiên liệu máy bay phản lực, cao su, sản phẩm dầu khí
và chất lỏng ướp xác
Acid citric: ở nhiệt độ phòng, acid citric là dạng bột tinh thể màu trắng.Acid citric hòa tan trong ethanol tuyệt đối (khan) tại 150C Acid citric là mộtacid hữu cơ yếu, nó cũng được coi là chất bảo quản và được sử dụng để thờmtớnh axit và tạo hương vị chua cho sản phẩm thực phẩm đặc biệt là nước giảikhát.[ http://en.wikipedia.org/wiki/Citric_acid]
Calcium carbonate: cũng được coi như là một chất bảo quản thực phẩm
và có tác dụng lưu giữ màu cho sản phẩm Calcium carbonate được sử dụng
Trang 34nhiều trong sản xuất kem đánh răng.[
http://en.wikipedia.org/wiki/Calcium_carbonate]
Chất mang silica: Hạt silicagel có khả năng hút nước mạnh, ngoài ra vớiđặc tính xốp còn được dùng làm chất mang xúc tác; chất hấp phụ (pha tĩnh)trong phân tích sắc kí Silicagel là một chất vô cơ bền và không độc
5.3.2 Hóa chất Linqtex
Linqtex được sản xuất tại Thái Lan Thành phần của nó bao gồm: acidpropionic, acid benzoic, acid acetic, acid sorbic, ammonia solution vàpolysorbate
Acid propionic: là một chất lỏng không màu Nó hòa tan trong nước vàrượu, nóng chảy ở -210C và sôi ở 1410C Nó được sử dụng như một chất bảoquản trong thức ăn chăn nuôi và ngành công nghiệp thực phẩm (sử dụng trựctiếp hoặc gián tiếp thông qua các hình thức của amoni propionate, propionate,canxi và natri) Nó được sử dụng để sản xuất propionate khác nhau được sửdụng trong sản xuất dược phẩm, thuốc chống nấm, hóa chất nông nghiệp,nhựa, chất hoá dẻo, hóa chất cao su, thuốc nhuộm, hương vị nhân tạo và sợi
http://www.chemicalland21.com/industrialchem/organic/PROPIONIC
%20ACID.htm Ngoài ra, acid propionic có tác dụng ngăn cản sự phát triểncủa nấm mốc và một số vi khuẩn Do vậy, phần lớn acid propionic được sảnxuất để sử dụng làm chất bảo quản cho cả thực phẩm dành cho con ngườicũng như thức ăn dành cho gia súc Đối với thức ăn gia súc, nó được sử dụngdưới dạng trực tiếp hoặc dưới dạng muối amoni Còn đối với thực phẩm dànhcho con người (bánh mỳ và các sản phẩm nướng khỏc), nú được dùng dướidạng các muối natri và canxi
Trang 35Acid benzoic: Acid benzoic và các muối của nó được sử dụng như mộtchất bảo quản thực phẩm , đại diện bởi E-số E210 , E211 , E212 , E213.Benzoic acid ức chế sự phát triển của nấm mốc , nấm men và một số vi khuẩn Nó được sử dụng trực tiếp hoặc tạo ra từ các phản ứng với natri , kali , canximuối Cơ chế bắt đầu với sự hấp thu của acid benzoic trong các tế bào Nếuthay đổi pH trong tế bào đến 5 hoặc thấp hơn, quá trình lên men kỵ khíglucose qua phosphofructokinase được giảm 95% Hiệu quả của acid benzoic
và muối benzoat phụ thuộc vào độ pH của thực phẩm: nước ép trái cây, nướcgiải khát và dưa chua Mức điển hình sử dụng acid benzoic như một chất bảoquản trong thực phẩm là từ 0,05-0,1% Còn mức tối đa cho các ứng dụng của
nó được quy định trong pháp luật thực phẩm quốc tế
http://en.wikipedia.org/wiki/Benzoic_acid
Acid acetic: có tính ăn mòn, chất lỏng dễ cháy, điểm nóng chảy 16,60C
và điểm sôi ở 1180C Acid acetic cũng được sử dụng như là thuốc diệt nấm và
là một dung môi cho nhiều chất hữu cơ Ngoài ra, nú cũn được sử dụng trong
http://scifun.chem.wisc.edu/chemweek/pdf/aceticacid.pdf
Acid sorbic: ở dạng bột tinh thể màu trắng, dễ hòa tan trong nước Acidsorbic và kali sorbate có tác dụng ức chế nấm mốc và nấm men, ít có tác dụngvới vi khuẩn Acid sorbic ảnh hưởng tới protein trên màng tế bào nấm mốc,gây ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển các ion âm qua màng; làm chuyểnđổi pH bên ngoài tế bào, thay đổi sự vận chuyển của các acid amin; làm giảm
sự sinh tổng hợp protein và thay đổi sự tích lũy nucleotide trong tế bào Nóichung, acid sorbic có tác dụng hạn chế và ngăn chặn nấm mốc Nó được dùnglàm chất bảo quản trong thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm chay
http://www.extension.iastate.edu/NR/rdonlyres/173729E4-C734-486A-AD16-778678B3E1CF/73968/SorbicAcid1.pdf
Trang 36Polysorbate: là một lớp của chất nhũ hoá được sử dụng trong một sốdược phẩm và thực phẩm Nó thường được sử dụng trong mỹ phẩm để hòatan các loại tinh dầu vào các sản phẩm nước.
Ammonia solution: ở điều kiện thường, NH3 khan là một chất khí khôngmàu, nhẹ bằng nửa không khí, có mùi sốc đặc trưng Còn ở áp suất khí quyển,
NH3 hóa lỏng tại -33,340C, hóa rắn tại -77,730C NH3 lỏng là một dung môihòa tan tốt nhiều chất Nó có thể hòa tan các kim loại kiềm, kiềm thô và một
số kim loại hiếm để tạo ra các dung dịch kim loại (có màu), dẫn điện và cóchứa các electron solvat hóa Amoniac được sử dụng cả trong công nghiệp vàtrong đời sống hàng ngày Dung dịch NH3 có nồng độ 25% hoặc thấp hơnthường được dùng trong các phòng thí nghiệm và trong đời sống Dung dịch
NH3 được sử dụng trong nông nghiệp như: tạo môi trường chống đông (nồng
độ NH3 0,03% và acid boric 0,2 – 0,5%) để bảo quản mủ cao su hoặc được sửdụng trực tiếp làm phân bón Dung dịch NH3 hoặc amoniac lỏng được sửdụng trong xử lý môi trường nhằm loại các NOx hoặc SOx trong các khí thảikhi đốt các nguyên liệu hóa thạch (than đá, dầu, ) Quá trình này thường cóthể phải dùng chất xúc tác chứa vanadi Ngoài ra, dung dịch amoniac hoặcamoniac lỏng còn được sử dụng trong công nghiệp sản xuất phân bón, hóachất và hóa dược http://www.vinachem.com.vn/XBP/2008/So2.doc
5.3.3 Chế phẩm vi sinh EM
Ở nước ta việc phòng chống bệnh hại trên nông sản đang được đẩy mạnhnghiên cứu và được coi như là một lĩnh vực quan trọng và cấp thiết trong giaiđoạn hiện nay Nhiều chế phẩm nấm đối kháng (Trichderma, T Hazianum )
và chế phẩm vi sinh vật có ích EM đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnhvực như trồng trọt, chăn nuôi, xử lý môi trường nhằm hạn chế những nấmbệnh gây hại Do có tác dụng tiêu diệt các vi sinh vật gây thối (sinh ra các loại
Trang 37khí H2S, SO3, NH3 ) nên trong các kho bảo quản nông sản chế phẩm EM cótác dụng ngăn chặn được quá trình gây thối mốc [5].
EM (Effective Microorganisms) có nghĩa là các vi sinh vật hữu hiệu.Chế phẩm này do Giáo sư Tiến sĩ Teruo Higa - trường Đại học Tổng hợpRyukyus, Okinawoa, Nhật Bản sáng tạo và áp dụng thực tiễn vào đầu năm
1980 Trong chế phẩm này có khoảng 80 loài vi sinh vật kỵ khí và hiếu khíthuộc cỏc nhúm : vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, xạkhuẩn 80 loài vi sinh vật này được lựa chọn từ hơn 2000 loài được sử dụngphổ biến trong công nghiệp thực phẩm và công nghệ lên men [3]
Hiện nay vẫn chưa có tài liệu nào công bố việc sử dụng chế phẩm vi sinh
có ích EM để phòng chống bệnh hại nông sản trong kho bảo quản Do đó,việc nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học an toàn này để phòng chốngbệnh hại trên lạc nguyên liệu trong kho bảo quản là rất cần thiết
- Tác dụng của EM
EM được thử nghiệm tại nhiều quốc gia: Mỹ, Nam Phi, Thái Lan,Philippin, Trung Quốc, Braxin, Nhật Bản, Singapore, Indonexia, Srilanca,Nepal, Việt Nam, Triều Tiên, Belarus … và cho thấy những kết quả khả quan
T Higa cho rằng, chế phẩm EM giúp sinh ra các chất chống oxy hoá nhưinositol, ubiquinone, saponine, polysaccharide phân tử thấp, polyphenol vàcác muối chelate Các chất này có khả năng hạn chế bệnh, kìm hãm các visinh vật có hại và kích thích các vi sinh vật có lợi Đồng thời các chất nàycũng giải độc các chất có hại do có sự hình thành các enzym phân huỷ Vaitrò của EM còn được phát huy bởi sự cộng hưởng sóng sinh ra bởi các vikhuẩn quang dưỡng [5]
a Trong trồng trọt
Trang 38EM có tác dụng đối với nhiều loại cây trồng (cây lương thực, cây raumàu, cây ăn quả…) ở mọi giai đoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau Nhữngthử nghiệm ở tất cả các châu lục cho thấy rằng EM có tác dụng kích thích sinhtrưởng, làm tăng năng suất và chất lượng cây trồng, cải tạo chất lượng đất Cụthể là :
- Làm tăng sức sống cho cây trồng, tăng khả năng chịu hạn, chịu úng vàchịu nhiệt;
- Kích thích sự nảy mầm, ra hoa, kết quả và làm chín (đẩy mạnh quátrình đường hoá);
- Tăng cường khả năng quang hợp của cây trồng;
- Tăng cường khả năng hấp thụ và hiệu suất sử dụng các chất dinhdưỡng;
- Kéo dài thời gian bảo quản, làm hoa trái tươi lâu, tăng chất lượng bảoquản các loại nông sản tươi sống;
- Cải thiện môi trường đất, làm cho đất trở nên tơi xốp, phì nhiêu;
- Hạn chế sự phát triển của cỏ dại và sâu bệnh
b Trong chăn nuôi
- Làm tăng sức khoẻ vật nuôi, tăng sức đề kháng và khả năng chống
chịu đối với các điều kiện ngoại cảnh;
- Tăng cường khả năng tiờu hoỏ và hấp thụ các loại thức ăn;
- Kích thích khả năng sinh sản;
- Tăng sản lượng và chất lượng trong chăn nuôi;
- Tiờu diệt các vi sinh vật có hại, hạn chế sự ô nhiễm trong chuồng trạichăn nuôi
Trang 39Điều kỳ diệu ở đây là : EM có tác dụng đối với mọi loại vật nuôi, baogồm các loại gia súc, gia cầm và các loài thuỷ, hải sản
c Trong bảo vệ môi trường :
Do có tác dụng tiêu diệt các vi sinh vật gây thối (sinh ra các loại khí H2S,
SO2,NH3…) nên khi phun EM vào rác thải, cống rãnh, toalet, chuồng trại chănnuụi…sẽ khử mùi hôi một cách nhanh chóng Đồng thời số lượng ruồi, muỗi,
ve, các loại côn trùng bay khác giảm hẳn số lượng Rác hữu cơ được xử lý
EM chỉ sau một ngày có thể hết mùi và tốc độ mựn hoỏ diễn ra rất nhanh Các nghiên cứu cho biết chế phẩm EM có thể giúp cho hệ vi sinh vật tiết
ra các enzym phân huỷ như lignin peroxidase Các enzym này có khả năngphân huỷ cỏc hoỏ chất nông nghiệp tồn dư, thậm chí cả dioxin Ở Belarus,việc sử dụng EM liên tục có thể loại trừ ô nhiễm phóng xạ
Như vậy, có thể thấy rằng EM có tác dụng rất tốt ở nhiều lĩnh vực củađời sống và sản xuất Nhiều nhà khoa học cho rằng EM với tính năng đadạng, hiệu quả cao, an toàn với môi trường và giá thành rẻ (mỗi lần phun EMcho 1 sào Bắc Bộ 360 m2 hết khoảng 1000 đồng) - nó có thể làm lên một cuụccách mạng lớn về lương thực, thực phẩm và cải tạo môi sinh
Nguyên lý của công nghệ EM
Một số tài liệu tiếng Việt đã nêu lên vai trò cụ thể của từng nhóm vi sinhvật trong EM GS Teruo Higa cho biết chế phẩm EM giúp cho quá trình sinh
ra các chất chống oxi hoá như inositol, ubiquinone, saponine, polysaccharidephân tử thấp, polyphenol và các muối chelate Các chất này có khả năng hạnchế bệnh, kìm hãm các vi sinh vật có hại và kích thích các vi sinh vật có lợi.Đồng thời các chất này cũng giải độc các chất có hại do có sự hình thành cácenzym phân huỷ Vai trò của EM còn được phát huy bởi sự cộng hưởng sóngtrọng lực (gravity wave) sinh ra bởi các vi khuẩn quang dưỡng Cỏc súng này
Trang 40có tần số cao hơn và có năng lượng thấp hơn so với tia gamma và tia X Dovậy, chúng có khả năng chuyển các dạng năng lượng có hại trong tự nhiênthành dạng năng lượng có lợi thông qua sự cộng hưởng.
Trong các kho bảo quản nông sản, sử dụng EM có tác dụng ngăn chặnđược quá trình gây thối, mốc[5] Do đó, trong đề tài này chúng tôi tiến hànhthử nghiệm khả năng phòng chống mốc hại lạc nguyên liệu trong kho bảoquản
5.3.4 Chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma
Nấm đối kháng là những thành viên phổ biến của hệ vi sinh vật đất.Chúng thường tiết ra các men, kháng sinh gây độc cho nấm gây bệnh hoặcnấm kháng cạnh tranh điều kiện sống với nấm gây bệnh
- Cơ chế tác dụng của nấm đối kháng Trichoderma
Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu cơ chế tác động của nấm Trichoderma
spp đối với nấm gây bệnh cây Những dẫn liệu đầu tiên về tác động đối kháng
của nấm Trichoderma spp được R Falk công bố từ năm 1931 (Seiketov, 1982) Tác động đối kháng của nấm Trichoderma spp với nấm gõy bờnh hại cây trồng
chủ yếu là cơ chế ký sinh, tiêu diệt sợi nấm (Ibar, 1996; Dubey, 1995), hay cơ
chế ký sinh, cơ chế cạnh tranh nhờ tác động của toxcin (trichodermin) do nấm tiết ra Nấm Trichoderma spp sinh ra một số chất kháng sinh như: Gliotoxin,
Viridin, U – 21693, Trichoderlin và Dermalin Các chất kháng sinh bay hơi và
không bay hơi do nấm Trichoderma spp tạo ra đều ức chế sự phát triển sợi nấm
của nấm gây bệnh nhưng với mức độ khác nhau
Các chế phẩm từ nấm Trichoderma spp không độc, có tính chọn lọc cao
và về hiệu quả không thua kém chất hoá học bảo vệ thực vật Nấm
Trichoderma spp có thể sinh ra những loại men gây suy biến thành sợi nấm
gây bệnh cây như: β – (1-3) Glucolaza và Chitinza (Chet et al, 1982)