1 Họ và tên Nguyễn Thủy Tiên Lớp Luật sự L 23 2 Số báo danh 618 Ngày kiểm tra 04032022 Học phần Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ việc hành chính Đề bài Anhchị hãy nêu và phân tích nội dung những điểm bất lợi của người bị kiện
Trang 1Họ và tên: Nguyễn Thủy Tiên Lớp: Luật sự L 23.2
Học phần:Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ việc hành chính
Đề bài: Anh/chị hãy nêu và phân tích nội dung những chứng cứ bất lợi cho phía
người bị kiện.
Bài làm
1 Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai của bà Ngợi, các con bà Ngợi (Bút lục 22, 23; Bút lục từ 28 đến 35), tất cả lời khai trong đó có cả ông Phong đều thừa nhận đất có nguồn gốc từ ông Nguyễn Hữu Đặt và bà Ngợi
2 Trong quan điểm của Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) TP Hải Dương
ngày 22/8/2016 (Bút lục 42, 43) thể hiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, nguồn gốc thửa đất của ông Phong và bà Nghiệm: theo sổ đăng ký ruộng đất và bản đồ địa chính lập theo chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng chính phủ thì thửa đất này được đăng ký tên bố đẻ của ông Nguyễn Hữu Phong
là ông Nguyễn Hữu Đặt
Thứ hai, căn cứ vào Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật Dân sự thì UBND khẳng
định hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) cho ông
Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm chưa đầy đủ theo quy định pháp luật
Thứ ba, nếu Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương (viết tắt là TP Hải Dương)
ra Bản án về yêu cầu thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho ông Phong và bà Nghiệm thì UBND thành phố Hải Dương có thể căn cứ vào Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP để thực hiện thủ tục thu hồi GCNQSDĐ đã cấp
3 Trong biên bản đối thoại ngày 23/8/2016 (Bút lục 53 đến Bút lục 57) có nội dung sau:
Thứ nhất, các bên bao gồm đại diện theo ủy quyền bà Ngợi, đại diện UBND TP Hải Dương, ông Phong và bà Nghiệm xác nhận nguồn gốc đất là của ông Đặt và bà Ngợi
Thứ hai, ý kiến của UBND TP Hải Dương Khẳng định không có giấy tờ nào thể hiện ông Đặt và bà Ngợi chuyển quyền sử dụng đất cho ông Phong và bà Nghiệm
Thứ ba, Đại diện UBND TP Hải Dương đồng ý với các yêu cầu của Nguyên đơn
4 Tại GCNQSDĐ (Bút lục 9, 10) không thể hiện được các thông tin về thửa đất
mà chỉ có trang bìa và trong hồ sơ vụ án cũng không có quyết định cấp
GCNQSDĐ cho ông Phong và bà Nghiệm Do đó, hình thức của GCNQSDĐ này không đúng theo quy định pháp luật
5 Trong các Bản lời khai của ông Phong (Bút lục 24 đến Bút lục 27) ông có trình bày ông là con trai trong gia đình bà Ngợi nên có quyền hưởng phần đất do cha
Trang 2mẹ để lại tuy nhiên theo quy định pháp luật điều này là không phù hợp, theo quy định của pháp luật dân sự các con đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với di sản thừa kế
6 Trong thông báo tự kiểm tra đất sử dụng làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/12/2002 (Bút lục 11) chỉ gửi cho ông Phong, trong ký xác nhận thì chỉ có bà Nghiệm ký thì đây là cơ sở chứng minh cho việc bà Ngợi không biết việc UBND cấp GCNQSDĐ cho ông Phong và bà Nghiệm
7 Tại đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ ngày 01/12/2002 ( Bút lục 7, 8) không có
căn cứ nào xác nhận tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất mà chỉ xác nhận về diện tích thực tế của thửa đất Căn cứ Điều 123 Luật Đất đai năm 2003; Điều 135 Nghị định 181/2004; điểm d, khoản 3 Mục I Chương III của Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 thì UBND xã có trách nhiệm thẩm tra xác nhận vào đơn xin cấp
GCNQSDĐ về tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất, hiện trạng sử dụng đất, tên người sử dụng đất, vị trí, diện tích, loại đất và ranh giới sử dụng đất; nguồn gốc sử dụng đất… Do đó việc người bị kiện không xác nhận tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất vào đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ này là sai quy định Ngoài ra UBND xã phải gửi hồ sơ đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để kiểm tra hồ sơ và xác nhận vào đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với trường hợp đủ điều kiện được cấp
GCNQSDĐ … và ghi ý kiến đối với trường hợp không đủ điều kiện Tuy nhiên đối với hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của ông Phong và bà Nghiệm không thể hiện nội dung trên do đó đây cũng là chứng cứ bất lợi với người bị kiện