Phòng Giáo dục và Đào tạo Đề thi Giữa học kì 2 Môn Ngữ văn 10 Thời gian làm bài 90 phút (Đề 1) PHẦN I – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu CHÂN QUÊ Hôm qua em đi tỉnh về Đ[.]
Trang 1Phòng Giáo dục và Đào tạo
Đề thi Giữa học kì 2 Môn: Ngữ văn 10
Thời gian làm bài: 90 phút
(Đề 1) PHẦN I – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
CHÂN QUÊ
Hôm qua em đi tỉnh về Đợi em ở mãi con đê đầu làng Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi! Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng chũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Nói ra sợ mất lòng em Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê
Trang 2Hôm qua em đi tỉnh về Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều
(Dẫn theo Nguyễn Bính – Thơ và đời, NXB Văn học)
Câu 1 (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích
là gì?
Câu 2 (0,75 điểm): Xác định và nêu hiệu quả biểu đạt của hai biện pháp tu từ
được tác giả sử dụng trong các câu thơ sau:
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng chũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Câu 3 (0,75 điểm): Anh/chị có đồng tình với quan điểm của nhân vật trữ tình
trong những câu thơ sau không? Vì sao? (Trả lời trong khoảng 5 - 7 dòng)
Nói ra sợ mất lòng em Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh
Câu 4 (1,0 điểm): Từ bài thơ, nêu suy nghĩ của anh/chị về việc giữ gìn bản
sắc văn hoá dân tộc
Trang 3HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT ĐỀ SỐ 1 PHẦN I – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
Câu 2:
- Học sinh nêu hai biện pháp trong những biện pháp sau: Câu hỏi tu từ; điệp
ngữ Nào đâu; liệt kê (các loại trang phục)
- Tác dụng: góp phần thể hiện tâm trạng nhân vật trữ tình: bất ngờ, ngỡ ngàng; xót xa, đau khổ và tiếc nuối trước sự thay đổi trong cách ăn mặc của người con gái mình yêu
Câu 3: Học sinh bày tỏ sự đồng tình hoặc phản đối quan điểm của nhân vật
trữ tình và có lí giải hợp lí Nội dung câu trả lời phải thể hiện sự trân trọng với cách nói ý tứ, tế nhị và tình yêu tha thiết, chân thành, mộc mạc của chàng trai dành cho người mình yêu và sự trân trọng, giữ gìn truyền thống cha ông
Câu 4: Học sinh đưa ra quan điểm cá nhân Câu trả lời phải hợp lí, có sức
- Muốn giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, cần phải có bản lĩnh văn hoá, tiếp thu
có chọn lọc tinh hoa văn hoá nước ngoài và phát huy những giá trị văn hoá của dân tộc
PHẦN II – LÀM VĂN(7,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Ngô Tử Văn trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (trích Truyền kỳ mạn lục) của Nguyễn Dữ
1 Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Đủ ba phần mở bài, thân bài, kết luận
Mở bài nêu được vấn đề Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết
Trang 4chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề Kết bài thể hiện được ấn tượng, cảm xúc cá nhân
2 Xác định đúng vấn đề nghị luận: hình tượng nhân vật Ngô Tử Văn
trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (trích Truyền kỳ mạn lục) của
Nguyễn Dữ
3 Nội dung: Có thể trình bày theo định hướng sau:
a Giới thiệu chung:
- Tác giả Nguyễn Dữ là “cây đại thụ của văn học Việt Nam thế kỉ XVI”
- Giới thiệu về Truyền kì mạn lục: Được xem là “áng thiên cổ kì bút” trong
nền văn học nước nhà, ghi chép những câu chuyện kì lạ trong dân gian
- Giới thiệu về Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và hình tượng nhân vật Ngô Tử Văn
b Hình tượng Ngô Tử Văn
- Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, tính cách nhân vật Ngô Tử Văn được khắc họa thông qua lời giới thiệu của tác giả và việc kể lại các hành động của nhân vật Người đọc nhận ra phẩm chất khảng khái, cứng cỏi, giàu tinh thần dân tộc ở chàng
* Phẩm chất cương trực, khảng khái, giàu tinh thần dân tộc:
- Nhân vật Ngô Tử Văn xuất hiện qua lời giới thiệu trực tiếp và ngắn gọn của người kể chuyện về tên tuổi, quê quán, tính tình và phẩm chất
- Ngô Tử Văn được miêu tả là người “nóng nảy, khẳng khái, thấy sự gian tà thì không chịu được” đến mức “cả vùng Bắc vẫn khen anh là người cương trực”
=> Lời giới thiệu ngắn gọn, có giọng điệu ngợi khen tạo cảm giác chân thực cho tác phẩm và có vai trò định hướng cho người đọc về tính cách nhân vật
- Tính cách khảng khái, cương trực của Tử Văn được thể hiện rõ nét nhất qua hành động đốt đền tên Bách hộ họ Thôi (Lý do đốt đền; trước khi đốt đền Tử
Trang 5Văn “rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền”; sau khi đốt đền Tử Văn “vung tay không sợ gì cả”; ý nghĩa của hành động đốt đền…)
=> Hành động đốt đền của Tử Văn đã khẳng định tính cách khẳng khái, chính trực, căm ghét sự gian tà và thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ qua việc diệt trừ hồn ma tướng giặc, bảo vệ thổ thần nước Việt, người từng có công giúp
Lý Nam Đế chống giặc ngoại xâm
- Cuộc đấu tranh với hồn ma tên tướng giặc
- Bản lĩnh của Tử Văn còn được thể hiện rõ nét qua cuộc trò chuyện với thổ công
=> Tử Văn đã dám làm những việc mà đến cả thánh thần cũng không làm được, hành động vượt qua sự tưởng tượng của người thường, thể hiện tính cách cương trực, thẳng thắn, trọng nghĩa khí, bất bình và dám đấu tranh trước mọi phi lí ở đời
* Sự dũng cảm, tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với cái ác:
- Một lần nữa, thủ pháp tương phản đối lập lại được nhà văn sử dụng để miêu
tả cuộc đấu tranh của Tử Văn dưới âm ty với hồn ma tướng giặc, qua đó mài sắc thêm bản lĩnh cương trực, thẳng thắn của nhân vật
=> Qua cuộc chiến chốn công đường, Tử Văn một lần nữa khẳng định tính cách bộc trực, khảng khái, quyết tâm đấu tranh đến cùng vì chính nghĩa, không nao núng trước khó khăn Từng bước Ngô Tử Văn đánh lui tất cả sự phản công, kháng cự của kẻ thù, đánh gục hoàn toàn tên tướng giặc Kết quả, Tử Văn giành chiến thắng, nhận chức phán sự đền Tản Viên Chiến thắng của Tử Văn đã trừng trị thích đáng hồn ma tướng giặc, làm sáng tỏ nỗi oan khuất, bảo
vệ thổ thần nước Việt, giải trừ tai họa cho nhân dân
* Chi tiết kì ảo ở cuối tác phẩm: Tử Văn nhận chức phán sự đền Tản Viên
- Phần thưởng xứng đáng cho những đấu tranh không khoan nhượng của Tử Văn với cái ác
Trang 6- Tạo ra một kết thúc có hậu rất quen thuộc trong văn học dân gian Đây là lời khẳng định niềm tin của Nguyễn Dữ về sự chiến thắng của chính nghĩa trước cái phi nghĩa Tử Văn đại diện cho chính nghĩa, thể hiện quan niệm của dân gian cái thiện tất thắng cái ác, những con người dũng cảm luôn chiến thắng mọi gian tà trong xã hội
- Bộc lộ niềm tin và ước mơ của nhân dân và tác giả về xã hội công bằng, về
sự chiến thắng của chính nghĩa trong xã hội Đó là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm
c Nghệ thuật miêu tả nhân vật :
- Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố thực và ảo tạo nên câu chuyện đầy li
kì với sự xuất hiện của hồn ma, thế giới âm cung, những sự việc khác thường (nhân vật chết đi sống lại) Nguyễn Dữ đã lấy cái kì để nói cái thực, dùng chuyện xưa nói chuyện nay, tạo nên giá trị muôn đời cho tác phẩm
- Nhân vật có tính cách riêng và được khắc họa qua nhiều mối quan hệ tạo tính chân thật sâu sắc cho hình tượng nhân vật
- Cốt truyện được xây dựng đầy kịch tính: có thắt nút (Tử Văn đốt đền), có phát triển, có cao trào và giai đoạn cởi nút
=> Sự hòa quyện của những đặc sắc nghệ thuật trên khiến cho Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên trở thành tác phẩm tiêu biểu cho thể loại truyền kì
trong văn học Việt Nam
Trang 7Phòng Giáo dục và Đào tạo
Đề thi Giữa học kì 2 Môn: Ngữ văn 10
Thời gian làm bài: 90 phút
(Đề 2)
PHẦN I – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Việc theo đuổi đam mê có thể sẽ mang lại nhiều phần thưởng, nhưng điều đó không có nghĩa là cuộc sống của bạn không có nhiều thách thức hoặc những đấu tranh Bất cứ một người tận tụy nào dù là một y tá, họa
sĩ, nhà xây dựng, linh mục hay diễn viên đều có thể nói với bạn rằng, sự chăm chỉ, sự hi sinh và nỗ lực to lớn là những điều cần thiết, ngay cả với những người yêu thích công việc họ làm [ ] Hầu hết những người được niềm đam mê thúc đẩy đều chấp nhận sự hi sinh và tranh đấu Helen Keller đã vượt lên khuyết tật mù và điếc để trở thành niềm cảm hứng, nguồn khích lệ đối với triệu người trên thế giới Bà đã từng nói: “Trong
sự dễ dàng và bình lặng, tính cách không thể phát triển được Chỉ qua khó khăn thử thách, tâm hồn mới trở nên mạnh mẽ, khát vọng mới được khơi nguồn và thành công mới được gặt hái” “Thành công bất ngờ” thường là kết quả của nhiều năm lao động chăm chỉ và âm thầm Ỷ vào
Trang 8vinh quang thoáng chốc thường không phải là một sự lựa chọn Tuy nhiên có lẽ không có phần thưởng nào lớn hơn được làm việc mà bạn sinh ra để làm trong khi phục vụ một mục đích lớn lao hơn bản thân bạn Trong chuyến đi của mình, tôi gặp rất nhiều người, cả đàn ông và phụ
nữ, đang thực hiện sứ mệnh tạo ra sự thay đổi tích cực bằng chia sẻ tài năng và sự hiểu biết của họ Chúng ta chia sẻ về những cuộc đấu tranh vượt qua nghịch cảnh và khích lệ người khác vượt lên nghịch cảnh mà
họ đang đối mặt
(Trích Đừng bao giờ từ bỏ khát vọng – Nick Vuijic, NXB Tổng hợp
TP.HCM)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích
Câu 2 (0,5 điểm): Nêu nội dung chính của văn bản?
Câu 3 (1,0 điểm): Theo anh/chị vì sao bà Helen Keller cho rằng: “Thành công
bất ngờ” thường là kết quả của nhiều năm lao động chăm chỉ và âm thầm
Ỷ vào vinh quang thoáng chốc thường không phải là một sự lựa chọn?
Câu 4 (1,0 điểm): Thông điệp nào trong đoạn trích có ý nghĩa nhất với anh/chị
?
PHẦN II – LÀM VĂN(7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của
anh/chị về ý kiến được nêu trong phần Đọc hiểu: Trong sự dễ dàng và bình lặng, tính cách không thể phát triển được Chỉ qua khó khăn thử thách, tâm hồn mới trở nên mạnh mẽ, khát vọng mới được khơi nguồn và thành công mới được gặt hái
Trang 9HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT ĐỀ SỐ 2 PHẦN I – ĐỌC HIỂU(3,0 điểm)
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính nghị luận
Câu 2: Nội dung chính: Việc theo đuổi đam mê có thể sẽ mang lại nhiều phần
thưởng, nhưng điều đó không có nghĩa là cuộc sống của bạn không có nhiều thách thức hoặc những đấu tranh
Câu 3: Bà Helen Keller cho rằng: “Thành công bất ngờ” thường là kết quả
của nhiều năm lao động chăm chỉ và âm thầm Ỷ vào vinh quang thoáng chốc thường không phải là một sự lựa chọn: Vì có lao động cần cù, chăm
chỉ thì mới có thể thành công Còn nếu ỷ lại vào vinh quang thoáng chốc cũng đồng nghĩa với việc ta bằng lòng với thành công hiện tại và không còn mục tiêu phấn đấu
Câu 4: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ cá nhân, lí giải hợp lí Có thể chọn
một trong số gợi ý sau:
- Đừng bao giờ từ bỏ khát vọng Vì nó là sẽ giúp bản thân mỗi chúng ta vượt qua khó khăn, nghịch cảnh, vươn lên và thành công
- Thành công là quá trình lao động miệt mài, chăm chỉ và phải trải qua nhiều khó khăn, thất bại
- Đừng hài lòng, ỷ lại vào vinh quang thoáng chốc
PHẦN II – LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1: Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về
ý kiến được nêu trong phần Đọc hiểu: Trong sự dễ dàng và bình lặng, tính cách không thể phát triển được Chỉ qua khó khăn thử thách, tâm hồn mới trở nên mạnh mẽ, khát vọng mới được khơi nguồn và thành công mới được gặt hái
- Yêu cầu chung: HS phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ thái độ và chính kiến của mình để làm bài
Trang 10- Yêu cầu cụ thể:
+ Hình thức:
• Viết đúng 01 đoạn văn, khoảng 200 từ
• Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, + Nội dung
• Giải thích: Có thể hiểu “sự dễ dàng và bình lặng” là môi trường êm đềm, không có va chạm, không khó khăn, thử thách
=> Ý kiến trên khẳng định rằng qua những thử thách tính cách con người mới phát triển, từ đó mới có thể chạm tay tới thành công
• Bàn luận
‣ Cuộc sống “dễ dàng và bình lặng” ta sẽ không có nhu cầu trang bị những điều cần thiết để đối diện với khó khăn, thử thách Chính vì thế mà khi bước ra khỏi nơi bình yên ấy ta dễ bị vấp ngã, cám dỗ và khó đứng dậy được;
ta sẽ không biết giá trị của đấu tranh và niềm hạnh phúc
‣ Nếu chúng ta can đảm thoát ra khỏi cuộc đời bình lặng, đối diện với gió to, sóng lớn, có thể vấp ngã nhưng sẽ rút ra được kinh nghiệm, bài học cho mình
‣ Có trải qua những thử thách ta mới hiểu được giá trị của hạnh phúc, thành công đắt như thế nào
‣ Cần phê phán những người có lối sống “thu mình vào vỏ ốc”, ngại thử thách, ngại đấu tranh
• Bài học nhận và hành động: Cuộc sống là vô vàn những điều biến động
Vì vậy, ta phải biết dấn thân vào khó nhăn thì mới thành công; sự dấn thân ấy
sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn, tự tin hơn
Câu 2: Phân tích nhân vật “khách” trong tác phẩm Phú sông Bạch Đằng của
Trương Hán Siêu
Trang 11- Yêu cầu chung:
+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản
+ Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết, không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
+ Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo nhiều cách khác nhau nhưng phải
có lí lẽ và căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm
- Yêu cầu cụ thể:
+ Giới thiệu vài nét về tác phẩm
• Giới thiệu tác giả Trương Hán siêu, tác phẩm Phú sông Bạch
Đằng (hoàn cảnh ra đời của bài phú)
• Khái quát chung về nhân vật “khách”: Là hình tượng sáng tạo nghệ thuật của tác giả để gửi gắm tình cảm, cảm xúc, tư tưởng
+ Phân tích hình tượng nhân vật “khách” (3,0 điểm)
• Khách có tâm hồn tự do, phóng khoáng: Giương buồm, giong gió, lướt
bể chơi trăng mải miết
‣ Khách dạo chơi phong cảnh không chỉ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên mà còn nghiên cứu cảnh trí của đất nước, bồi bổ tri thức
‣ Có hoài bão lớn lao: Nơi có chẳng biết; Đầm Vân Mộng vẫn còn tha thiết
‣ Tráng chí của “khách” được gợi lên qua hai loại địa danh:
º Các địa danh của Trung quốc: Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, đầm Vân Mộng g Những vùng đất nổi tiếng, đều được khách đi qua bằng sách vở và trí tưởng tượng phong phú
Trang 12º Một loạt các danh lam thắng cảnh của Đại Việt: cửa Đại Than, bến Đông Triều và nhân vật khách dừng chân ở Bạch Đằng, dòng sông của chiến công lịch sử vẻ vang của dân tộc
=> Tâm hồn say mê, chủ động đến với thiên nhiên, hành trình dài được khách thực hiện trong một ngày Không gian, thời gian của cuộc hành trình đã nâng cao tầm vóc của khách
• Hình tượng “khách” qua những cảm xúc trước cảnh sông Bạch Đằng ‣ Cảnh sắc thiên nhiên trên sông Bạch Đằng: hùng vĩ, thơ mộng, trữ tình: Bát ngát sóng kình muôn dặm, thướt tha đuôi trĩ một màu, nước trời một sắc, phong cảnh ba thu
‣ Tâm trạng của “khách”:
º Vui mừng trước cảnh đẹp của sông nước, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng
º Niềm tự hào trước dòng sông ghi dấu những chiến công lịch sử
º Buồn thương, tiếc nuối trước cảnh vật đổi thay, chiến trường xưa oanh liệt nay chỉ còn trơ trọi, hoang vu, hiu quạnh
→ Tư thế đứng lặng giờ lâu cho thấy tâm thế đắm chìm vào cảm xúc buồn thương, tiếc nuối của khách
→ Khách có những phát hiện tinh tế, cụ thể vẻ đẹp cảnh sắc phong phú, đa dạng của sông Bạch Đằng
=> Là con người yêu thiên nhiên, tự hào về những cảnh sắc hào hùng gắn với lịch sử dân tộc
• Hình tượng “khách” qua niềm tự hào về những chiến công lịch sử
‣ Khách không trực tiếp tham gia vào câu chuyện của các vị bô lão nhưng câu chuyện về những chiến công vẻ vang của một thời lịch sử oanh liệt gắn với con sông Bạch Đằng đã gieo vào lòng khách niềm tự hào, kiêu hãnh
về quá khứ hào hùng của dân tộc