1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn " “Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” " pptx

119 688 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển Nguồn lực Con người Trong Sự Nghiệp Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Ở Tỉnh Bến Tre
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Bến Tre
Chuyên ngành Quản trị nhân lực và Phát triển nguồn nhân lực
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bến Tre
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 610 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GS.VS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người, trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực… làm cho co

Trang 1

- -ĐỀ TÀI

“Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở

tỉnh Bến Tre”

Trang 2

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH BẾN TRE 9Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở TỈNH BẾN TRE VÀ NHỮNG XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NÓ 42

Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM

PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH BẾN TRE 84

KẾT LUẬN 111

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, cuộc cạnh tranh giữa các nước có nền kinh tế phát triển đangdiễn ra gay gắt Trong cuộc cạnh tranh này, phần chiến thắng sẽ thuộc vềquốc gia có nguồn lực con người chất lượng cao, có khả năng sáng tạo vàchiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức khoa học tiên tiến Vì vậy, phát triển NLCNluôn được đặt ở vị trí trung tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển củanhiều quốc gia, nhất là những quốc gia đang tiến hành công nghiệp hóa

Quá trình phát triển kinh tế-xã hội nước ta diễn ra khi cuộc cách mạngkhoa học-công nghệ trên thế giới đã đạt tới đỉnh cao Điều kiện lịch sử nàycho phép chúng ta có thể và cần phải vận dụng tiến bộ KH-CN để có cơ hộiphát triển nhanh CNH, HĐH đất nước theo con đường rút ngắn Từ thực tế

đó, khi bước vào thời kỳ CNH, HĐH, Đảng ta xác định: “Lấy việc phát huynguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”[17, tr.85] Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta không đơn giản chỉ là công cuộcxây dựng kinh tế, mà chính là quá trình biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội, nhằm đưa xã hội phát triển lên một trạng thái mới vềchất, do đó, đòi hỏi phải có NLCN mạnh về số lượng, phát triển cao về chấtlượng, thật sự là động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững Từ nhận thức

đó, Đảng ta khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực

to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộccông nghiệp hóa, hiện đại hóa” [17, tr.21] Hiện nay, phát triển NLCN, đặcbiệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đang là một trong những hướng ưu tiên

và là khâu đột phá để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH và đổi mớiđất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Bến Tre là tỉnh đồng bằng cuối nguồn sông Cửu Long, được hợp thànhbởi ba cù lao lớn Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, người Bến Tre đã

Trang 4

“Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ, diệt Ngụy” Nhưng trong công cuộc xâydựng quê hương, mặc dù tiềm năng kinh tế, xã hội có thể nói không thua kémcác tỉnh bạn bao nhiêu, nhưng nhiều mặt đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa củaBến Tre vẫn chưa vươn lên ngang bằng với các tỉnh trong khu vực Nhận thứcsâu sắc vấn đề này, Đại hội đại biểu lần thứ VI Đảng bộ tỉnh Bến Tre chỉ rõ:

“Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế đối với tỉnh ta so với các tỉnh trong khuvực đồng bằng sông Cửu Long là điều mà chúng ta quan tâm nhất” [22, tr.44]

Trong những năm gần đây, nhờ biết khai thác thế mạnh kinh tế thuỷsản và kinh tế vườn, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bến Tre đã đạt mức tăngtrưởng khá (giai đoạn 2000-2004, bình quân tăng 8,7%/năm) Tuy nhiên, sovới các tỉnh trong khu vực và cả nước, Bến Tre vẫn là tỉnh có tốc độ phát triểnchậm, đặc biệt là quá trình CNH, HĐH diễn ra với quy mô nhỏ bé và chậmchạp Để khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của mình, gần đây,Bến Tre đã bắt đầu quan tâm phát triển NLCN của tỉnh và đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng bước đầu Nhưng đến nay, nhiều tiềm năng to lớn, nhất

là tiềm năng con người của Bến Tre, vẫn chưa được khai thác có hiệu quả vàchưa chuyển hóa thành nội lực cho sự phát triển nhanh và bền vững, chưa đápứng yêu cầu thực tiễn của quá trình CNH, HĐH ở Bến Tre Đây là một trongnhững nguyên nhân chính cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Do đó,

việc nghiên cứu khoa học nhằm “Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” là vấn đề đang đặt ra

cấp thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với tiến trình phát triển của Bến Tretrong những năm tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, NLCN và phát triển NLCN là vấn đề đãđược đề cập nghiên cứu ở nhiều mức độ và góc độ khác nhau Nhiều côngtrình đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề về NLCN, về GD-ĐT,

về nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả NLCN, đáng chú ý là nhữngcông trình sau:

Trang 5

- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PTS Mai Quốc Chánh chủ biên, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực

và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất nhữnggiải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta đáp ứngyêu cầu CNH, HĐH đất nước

- “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta”

của PGS Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Viện Kinh tế thế giới), Nxb Chính trị quốcgia, Hà Nội, 1996 Quyển sách đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhânlực ở một số nước trên thế giới dưới tác động của GD-ĐT, đồng thời nêu bật vaitrò của GD-ĐT trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam

- “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, của TS Bùi

Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Tác giả đã phân tích rõ

vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ - bộ phận trung tâm, làm nênchất lượng và sức mạnh ngày càng tăng của NLCN và là tài sản vô giá củamỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại Trên cơ sở đó, tác giả đưa ranhững phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí tuệViệt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa

- “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS.

Nguyễn Hữu Dũng, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội, 2003 Tác giả đã trình bày

có tính hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển,phân bố, sử dụng NLCN trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướngXHCN ở nước ta; đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm pháttriển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả NLCN trong phát triển kinh tế-

xã hội ở nước ta

Vấn đề con người và NLCN cũng là đề tài nghiên cứu của một số luận

văn, luận án, đáng chú ý như: Luận án tiến sĩ: “Nguồn lực con người trong quá

Trang 6

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Đoàn Văn Khái (2000); Luận án tiến sĩ: “Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Tú Oanh (1999); Luận văn thạc sĩ: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay” của tác giả

Vũ Thị Phương Mai (2004) Nhìn chung, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu làm

rõ các vấn đề về NLCN, nguồn lực thanh niên, nguồn nhân lực chất lượng cao

và vai trò của những nguồn lực này trong sự nghiệp CNH, HĐH Qua phân tíchthực trạng, các tác giả đã đề xuất nhiều giải pháp để phát huy, phát triển nhữngnguồn lực này trong thời gian tới

Ngoài ra, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã có những công trình, bàiviết về vấn đề NLCN và đã được đăng tải trên các tạp chí, các kỷ yếu khoahọc… Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình khoa học nàonghiên cứu trực tiếp về phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre Việc đánh giá đúngthực trạng NLCN làm cơ sở thực tiễn quan trọng để tìm ra những phươnghướng, giải pháp phát triển và sử dụng hữu hiệu NLCN vẫn là một đề tài cầntiếp tục nghiên cứu, nhất là từ góc độ chính trị - xã hội và từ thực tiễn của mộttỉnh như Bến Tre

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Mục tiêu

Trên cơ sở làm rõ thực trạng NLCN của tỉnh Bến Tre và xu hướng vậnđộng cơ bản của nó, luận văn xây dựng hệ thống những quan điểm cơ bản vàgiải pháp chủ yếu nhằm phát triển NLCN trong sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnhBến Tre trong thời gian tới

Nhiệm vụ

- Làm rõ quan niệm về NLCN và tính tất yếu của việc phát triển NLCNtrong quá trình CNH, HĐH đất nước

Trang 7

- Khảo sát và phân tích thực trạng NLCN và phát triển NLCN ở BếnTre hiện nay, trên cơ sở đó dự báo một số xu hướng vận động cơ bản củanguồn lực này trong thời gian tới.

- Xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triểnNLCN ở Bến Tre trong thời kỳ CNH, HĐH

Phạm vi nghiên cứu

Từ góc độ chính trị-xã hội, đề tài nghiên cứu quá trình phát triểnNLCN ở tỉnh Bến Tre từ năm 1996 đến nay và tập trung chủ yếu ở lực lượnglao động (hay dân số hoạt động kinh tế thường xuyên) của tỉnh

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài

Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta vềcon người và NLCN, kết hợp với chủ trương, chính sách của Đảng bộ và Ủyban nhân dân tỉnh Bến Tre… về các vấn đề có liên quan đến đề tài Ngoài ra,những công trình nghiên cứu gần đây về vấn đề này được tác giả quan tâm,coi trọng nghiên cứu và kế thừa

-Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, lôgic lịch sử, kết hợpvới các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê… để nghiên cứuvấn đề phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre dưới góc độ chính trị - xã hội

5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng NLCN và phát triển NLCN ởtỉnh Bến Tre trong sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay

- Luận văn đề xuất một hệ thống những giải pháp chủ yếu nhằm phát triểnNLCN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở Bến Tre trong những năm tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận của luận văn

Những quan điểm, những kết luận và những kiến nghị của luận văn cóthể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về

Trang 8

vấn đề NLCN nói chung, cũng như vấn đề phát triển NLCN ở tỉnh Bến Trenói riêng

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Những kết quả đạt được của luận văn có thể là cơ sở thực tiễn đáng tincậy để các cấp lãnh đạo, các ngành của tỉnh Bến Tre tham khảo trong quátrình hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển NLCN của tỉnh trong

sự nghiệp CNH, HĐH

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 9

Chương 1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH BẾN TRE

1.1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

1.1.1 Quan niệm về nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người

Quan niệm về nguồn lực con người

“Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” là một khái niệm đượchình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét nhân tố con người với tư cách

là nguồn lực cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội

Ngày nay, để phát triển nhanh và bền vững, bất cứ quốc gia nào cũngcần phải xác định đúng đắn và huy động có hiệu quả tất cả các nguồn lực.Những thành tựu to lớn mà loài người đạt được trong quá trình phát triểnchính là do con người biết khơi dậy và phát huy tổng hợp các nguồn lực.Trong toàn bộ các nguồn lực của phát triển thì NLCN được xác định là quantrọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực

Trong vài thập kỷ trở lại đây, vấn đề NLCN đã trở thành mối quan tâmhàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Vì vậy, những nghiên cứu vềNLCN đã đạt những thành tựu đáng kể, đưa lại những quan niệm ngày càngđầy đủ và đúng đắn về NLCN

Tìm hiểu các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy, quan niệm vềNLCN khá đa dạng, được đề cập trên nhiều góc độ, theo nhiều nghĩa rộng,hẹp khác nhau

Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượngsản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và pháttriển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyếtđịnh năng suất lao động và tiến bộ xã hội

Trong lý luận về “vốn”, con người được đề cập đến như một loại vốn(“vốn người”, “tư bản người”), một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản

Trang 10

xuất và kinh doanh Từ cách tiếp cận này, Ngân hàng Thế giới cho rằng:NLCN được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp)

mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinhdoanh hay một hoạt động nào đó Ở đây, NLCN được coi như một nguồn vốnbên cạnh các loại vốn vật chất khác như tiền, tài nguyên thiên nhiên… Đầu tưcho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sởchắc chắn cho sự phát triển bền vững

Dựa trên cách tiếp cận này, Liên hợp quốc cho rằng NLCN là tất cảnhững kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự pháttriển của đất nước NLCN ở đây được xem xét chủ yếu ở chất lượng conngười và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội

Ở nước ta khái niệm NLCN được sử dụng tương đối rộng rãi kể từ đầuthập niên 90 của thế kỷ XX Tuy nhiên, trong Từ điển Bách khoa Việt Namcũng như các Từ điển Tiếng Việt chưa thấy đưa ra định nghĩa “Nguồn lực conngười” Dù vậy, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đưa ra nhiều quan niệmkhác nhau khi bàn về NLCN, về nguồn nhân lực

Giáo sư Viện sĩ TS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn lực con người

là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe

và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [25, tr.328] Giáo sư TS Hoàng Chí Bảocũng cho rằng: “Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấykhả năng sáng tạo, chất lượng hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triểncủa con người” [4, tr.14] Ngoài thể lực và trí lực, theo tác giả "cái làm nênnguồn lực con người là kinh nghiệm sống, đặc biệt là những kinh nghiệmnếm trải trực tiếp của con người, là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợptri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào việc tìm tòi, sáng tạo” [4,tr.15] Xét theo ý nghĩa đó, NLCN bao hàm trong đó toàn bộ sự phong phú, sựsâu sắc, đổi mới thường xuyên các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức

và quản lý… Trong quan niệm này, tác giả nhấn mạnh đến kết cấu bên trongcủa NLCN

Trang 11

Trong lời phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hànhTrung ương Đảng (khóa VIII), nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định:

Nguồn lực con người là quý báu nhất Nguồn lực đó là ngườilao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp,được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiếngắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại [18, tr.9]

Quan niệm này nêu lên một cách toàn diện những yếu tố cần có củangười lao động với tư cách là nguồn lao động - nguồn lực quan trọng nhất củaquốc gia

Trong dịp gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà KH-CN các tỉnh,thành phố phía Bắc, Thủ tướng Phan Văn Khải đã khẳng định: “Nguồn lựccon người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thốngcủa dân tộc ta” [32, tr.2]

Từ một số cách tiếp cận và những nội dung đã dẫn trên, có thể hiểu:

Nguồn lực con người là phạm trù dùng để chỉ số dân, cơ cấu dân số, đặc biệt

là chất lượng người với tất cả những tiềm năng, năng lực và phẩm chất làm nên sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội.

Với cách hiểu này, khái niệm “nguồn lực con người” có nội dung rộng,

đề cập đến những mặt cơ bản sau:

Thứ nhất, “nguồn lực con người” được biểu hiện ra là người lao động,

là lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động, có khả năng laođộng), là nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ có) Nói đến NLCNcòn nói đến quy mô dân số và tốc độ tăng dân số trong một thời kỳ nhất địnhcủa một quốc gia, một địa phương

Thứ hai, “nguồn lực con người” phản ánh cơ cấu dân cư, nhất là cơ cấu

lao động trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế…

Trang 12

Thứ ba, “nguồn lực con người” chủ yếu nói lên chất lượng dân số, đặc

biệt là chất lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và tiềm năng trongtương lai

Thứ tư, “nguồn lực con người” còn bao hàm cả sự liên hệ tác động lẫn

nhau giữa các yếu tố nội tại cấu thành nó cũng như sự tác động qua lại giữaNLCN với các nguồn lực khác và với môi trường xung quanh Đồng thời, nócòn nói lên sự biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu dân cư và lực lượnglao động

Thứ năm, “nguồn lực con người” còn chỉ ra rằng: con người được xem

xét với tư cách là một nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ bản trong hệ thống cácnguồn lực của sự phát triển xã hội Sức mạnh của NLCN thể hiện ở sức mạnhcủa thể lực, trí lực, niềm tin, ý chí… ở sự thống nhất biện chứng giữa sứcmạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng,không chỉ có trong hiện tại mà còn ở dạng tiềm năng

Như vậy, nói đến NLCN và vai trò của nó phải xem xét con người với

tư cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình phát triển kinh tế-xãhội Là chủ thể bởi con người khai thác, sử dụng các nguồn lực khác, hơn nữacòn tạo ra nguồn lực mới cho sự tồn tại và phát triển xã hội Là khách thể, conngười trở thành đối tượng được khai thác, cả về trí lực và thể lực cho mục tiêuphát triển xã hội Với ý nghĩa đó, con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể,vừa là động lực, vừa là mục tiêu của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội

Bên cạnh khái niệm “nguồn lực con người”, các khái niệm “nguồnnhân lực”, “tài nguyên con người” cũng được sử dụng phổ biến Theo một sốtác giả thì đây là những khái niệm đều được dịch từ cụm từ HumanResources Theo TS Đoàn Văn Khái thì trong thực tế, khái niệm “nguồn nhânlực” ngoài nghĩa rộng được hiểu như “nguồn lực con người”, thường còn hiểutheo nghĩa hẹp là nguồn lao động, có khi còn được hiểu là lực lượng lao động.Khái niệm “tài nguyên con người” được sử dụng với ý nhấn mạnh phươngdiện khách thể của con người, coi con người như một nguồn tài nguyên, một

Trang 13

loại của cải quý giá, cần được khai thác triệt để, hợp lý, có hiệu quả, nhất lànguồn tiềm năng trí tuệ trong đó [10, tr.253]

Ngoài ra, còn có thể hiểu một cách đầy đủ hơn về NLCN thông quaviệc tìm hiểu mối quan hệ giữa NLCN với các nguồn lực khác và cấu trúc củanguồn lực này

Mối quan hệ giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác

Trong mối quan hệ với các nguồn lực khác, NLCN được xem như nguồnlực cơ bản và quyết định các nguồn lực khác cũng như quyết định đối với sựphát triển kinh tế-xã hội NLCN là nguồn lực của mọi nguồn lực

Khẳng định vai trò quyết định của NLCN đối với sự phát triển kinh

tế-xã hội, điều đó không có nghĩa là tách NLCN một cách biệt lập với các nguồnlực khác Ngược lại, khi khẳng định NLCN đóng vai trò quyết định thì điều

đó có nghĩa là đã đặt trên cơ sở và trong mối quan hệ với các nguồn lực khác

Sự phát triển nhanh chóng của mỗi quốc gia, dân tộc, nhất là sự thànhcông của quá trình CNH, HĐH đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, cầnphải có nhiều nguồn lực Các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn,

cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý thuận lợi… đều vô cùng quan trọng, thiếuchúng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình pháttriển kinh tế-xã hội Song, các nguồn lực này dù phong phú, đa dạng và giàu cóđến mấy cũng chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng và tự nó không thể phát huy tác dụng.Chúng chỉ thực sự có ý nghĩa và phát huy tác dụng thông qua hoạt động có ýthức, sáng tạo của con người, nghĩa là được con người sử dụng Như vậy, chỉ cóNLCN mới có khả năng khởi động và phát huy tác dụng của các nguồn lực khác

Sở dĩ như vậy là vì con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ýchí, biết cải tạo, lợi dụng, khai thác các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại vớinhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của conngười Tất nhiên, quá trình đó phải phù hợp với quy luật khách quan Với ýnghĩa đó, con người trở thành yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố cấu thành

Trang 14

lực lượng sản xuất, là "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại"[37,tr.430].

Hơn nữa, các nguồn lực khác đều là hữu hạn và dần dần sẽ bị cạn kiệttrong quá trình khai thác và sử dụng, thậm chí nếu khai thác bừa bãi sẽ gâyhậu quả nghiêm trọng, đe doạ sự sống còn của loài người Trong khi đó,NLCN mà bộ phận cốt lõi là trí tuệ, lại có tiềm năng vô tận, không bao giờ bịcạn kiệt trong quá trình khai thác, sử dụng Thậm chí, nó còn có khả năngphục hồi và tái sinh, tự đổi mới, phát triển không ngừng nếu biết chăm lo, bồidưỡng và khai thác hợp lý

Trong thời đại ngày nay, việc khẳng định vai trò quyết định của NLCN sovới các nguồn lực khác và xem nó là động lực quan trọng nhất thúc đẩy xã hộiphát triển là hoàn toàn đúng đắn Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu không thấy vai tròquan trọng của các nguồn lực khác đối với sự phát triển NLCN Điều đó cónghĩa là NLCN luôn bị quy định bởi các nguồn lực khác Bởi lẽ, con người làmột thực thể tự nhiên - xã hội Để tồn tại và phát triển, con người phải quan hệvới tự nhiên, khai thác tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với sức lao động và trí tuệcủa mình nhằm cải tạo tự nhiên tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người Mặtkhác, chính từ thực tiễn cuộc sống và hoạt động lao động sản xuất, con ngườikhông ngừng phát triển trí tuệ cũng như hoàn thiện về thể chất Như vậy, trongmối quan hệ với các nguồn lực khác, NLCN giữ vai trò quyết định Các nguồnlực khác chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợpvới NLCN Xét đến cùng, nếu thiếu sự hiện diện của NLCN với trí tuệ và laođộng của họ, thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa, thậm chí, khái niệm nguồnlực cũng không còn ý nghĩa

Cấu trúc của nguồn lực con người

Việc xác định cấu trúc của NLCN là quá trình xem xét từng bộ phậncấu thành NLCN theo một hệ thống chỉnh thể, từ đó phát hiện ra cơ cấu vàmối quan hệ giữa chúng tạo thành hệ thống, cấu trúc của NLCN

Trang 15

Nói đến NLCN là nói đến số lượng và chất lượng con người, là sự kết

hợp giữa trí lực, thể lực, đạo đức và những năng lực, phẩm chất khác của conngười như ý chí, tình cảm… Mỗi yếu tố có vị trí và vai trò nhất định trong cấutrúc NLCN, song giữa chúng có mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại vớinhau, tạo nên sự phát triển toàn diện của NLCN

Trước hết, NLCN được xem xét ở mặt số lượng Số lượng NLCN chính

là lực lượng lao động và khả năng cung cấp sức lao động cho xã hội Các chỉ

số về số lượng NLCN của một quốc gia, một địa phương được xác định trênqui mô dân số thông qua số lượng dân cư, tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân cư,

cơ cấu lao động trong các ngành, các khu vực kinh tế… Trong đó, số dântrong độ tuổi lao động là chỉ số phản ánh một cách rõ nhất về số lượngNLCN Số lượng NLCN đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-

xã hội Nếu số lượng không tương xứng với tốc độ phát triển (hoặc thừa hoăcthiếu) đều tác động xấu tới sự phát triển kinh tế-xã hội

Yếu tố quan trọng nhất trong NLCN của một quốc gia được thể hiện ở

chất lượng của nó Trước đây, có lúc chúng ta hiểu NLCN có phần đơn giản,

thường cho rằng: có nguồn lao động dồi dào, người lao động cần cù, chịu khó,thông minh và sáng tạo là có thể tạo ra nhiều của cải vật chất, tăng năng suấtlao động xã hội Từ thực tiễn công cuộc xây dựng đất nước ở Việt Nam, cũngnhư sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại cho thấy, sự dồi dào nguồn lao động và sự cần cù của con người làyếu tố quan trọng nhưng chưa thể tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự pháttriển kinh tế-xã hội, nhất là trong thời kỳ CNH, HĐH Vì vậy, hiểu một cáchđúng đắn và toàn diện về NLCN, không chỉ nói đến mặt số lượng mà chủ yếu

là nhấn mạnh mặt chất lượng của nó Đây mới là yếu tố quyết định, nói lên sức mạnh và tiềm năng to lớn của NLCN trong phát triển Chất lượng NLCN

là một khái niệm tổng hợp bao gồm những yếu tố về thể lực, trí lực, trình độhọc vấn, chuyên môn kỹ thuật, năng lực, phẩm chất, về tâm lý, đạo đức… củangười lao động Trong các yếu tố đó thì phẩm chất đạo đức và trình độ học

Trang 16

vấn, chuyên môn kỹ thuật là quan trọng nhất, nó phản ánh mức độ trưởngthành của con người Có thể nói, chất lượng NLCN được phản ánh ở hàmlượng trí tuệ kết tinh trong sản phẩm làm ra trong quá trình sản xuất và năngsuất lao động xã hội Giữa số lượng và chất lượng của NLCN có quan hệ chặtchẽ với nhau Nếu số lượng nguồn nhân lực quá ít sẽ gây khó khăn cho quátrình phân công lao động xã hội và do vậy chất lượng lao động sẽ bị hạn chế.Chất lượng NLCN nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người lao độngtrong một đơn vị sản xuất, kinh doanh hay trong một tổ chức xã hội, và nhưvậy là năng suất lao động xã hội sẽ được nâng cao Ngược lại, nguồn nhân lựcđông nhưng không mạnh, chất lượng thấp, sẽ là gánh nặng cho xã hội và kìmhãm xã hội phát triển

Trong số các yếu tố làm nên chất lượng của NLCN, nguồn lực trí tuệđược xem bộ phận sáng giá nhất, vì nó “bao gồm những tiềm năng, năng lực

và tập hợp các giá trị sáng tạo về tinh thần của mỗi cá nhân, của các tập thể,của các cộng đồng người… trong một xã hội nhất định” và “có khả năng tạo

ra sức mạnh tổng hợp của quá trình phát triển tự nhiên, xã hội và bản thân conngười” [33, tr.35] Thực vậy, xét ở cả phương diện cá thể cũng như xã hội, trítuệ đóng vai trò trung tâm chỉ đạo mọi hành vi và quyết định phần lớn khảnăng sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn cũng nhưtrong việc lựa chọn phương pháp, giải pháp thích hợp nhằm phát huy tác dụngcủa các yếu tố khác trong cấu trúc NLCN

Cuộc cách mạng KH-CN hiện nay đang đặt ra những yêu cầu rất cao ởtrí tuệ của con người - những người lao động Họ không chỉ có khả năng tiếpthu tri thức mới, vận dụng có hiệu quả vào sản xuất mà còn phải biết thườngxuyên tự bổ sung, bồi dưỡng tri thức để không bị lạc hậu trước sự phát triểnnhư vũ bão của cuộc cách mạng KH-CN Vì vậy, NLCN đáp ứng yêu cầuCNH, HĐH phải bao gồm những người lao động có sự phát triển cao về nănglực trí tuệ, đủ sức làm chủ và tiếp thu công nghệ mới, có khả năng làm việcchủ động sáng tạo, có khả năng sử dụng các công cụ, phương tiện tiên tiến,

Trang 17

hiện đại Nói cách khác, ngày nay tri thức trở thành yếu tố không thể thiếucủa người lao động.

Theo Tổng Bí thư Đỗ Mười: “Trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong mọitài sản, nhưng chính sức khỏe là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó”[42, tr.92] Thực vậy, sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người Vì vậy,nói đến chất lượng NLCN, ngoài trí tuệ, sức khỏe (thể lực) là yếu tố hết sứccần thiết Sức khỏe là điều kiện để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện

để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnhvật chất

Với tư cách là một yếu tố cấu thành NLCN, sức khỏe là sự phát triểnhài hòa của con người cả về thể chất lẫn tinh thần.Vì vậy, yếu tố này bao gồmsức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng,phát triển cân đối hài hòa các cơ quan trong cơ thể theo quy luật “tạo hóa” của

tự nhiên, đồng thời, còn là sự hoạt động dẻo dai của cơ bắp, sự nhạy bén củacác giác quan Các chỉ số sinh học biểu hiện trạng thái sức khỏe thể chất củamỗi người như chiều cao, cân nặng, khả năng hoạt động của cơ bắp, của cácgiác quan…

Tục ngữ Nga có câu: “Một tinh thần lành mạnh trong một cơ thể khoẻmạnh” Sự khoẻ mạnh của cơ thể là tiền đề cho một tinh thần minh mẫn, sángsuốt Sức khỏe tinh thần là sự linh hoạt, khoẻ mạnh của hệ thống thần kinh, làsức mạnh của sự sáng tạo, của niềm tin và ý chí Như vậy, điều kiện vật chất

để hoạt động trí tuệ của con người nhạy bén, sâu sắc và hoạt động thực tiễnhiệu quả đó chính là sự khoẻ mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần Chính vì vậy,chăm sóc sức khỏe cho con người là nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chấtlượng NLCN, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng trí tuệ của conngười

Bên cạnh trí tuệ và sức khỏe, yếu tố góp phần quan trọng tạo ra chấtlượng toàn diện của NLCN chính là nhân cách Xét ở phương diện cá thể,trong cấu trúc nhân cách thì đạo đức và năng lực (đức và tài) là hai thành tố

Trang 18

cốt yếu tạo nên nhân cách một con người Trong đó, đạo đức là cái gốc rấtquan trọng, là cơ sở hình thành và phát triển thế giới quan, nhân sinh quan củamỗi người Đức là sự nỗ lực cống hiến to lớn cho xã hội, là sự trung thành tậntuỵ với chế độ xã hội mà họ phục vụ, trách nhiệm công dân, lương tâm nghềnghiệp của mỗi người… Đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH còn đòi hỏi ở ngườilao động những phẩm chất lao động và nghề nghiệp như: kỷ luật tự giác, tinhthần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, tiết kiệm nguyên liệu và thờigian… Tất cả những phẩm chất này được sử dụng trong một tiêu chí tổng hợp

là yếu tố văn hóa lao động công nghiệp Đây cũng được xem là một yếu tố

quan trọng để đánh giá chất lượng NLCN Như vậy, nhân cách đạo đức cùngnhững phẩm chất lao động và nghề nghiệp góp phần tạo nên chất lượng toàndiện của NLCN

Việc xem xét cấu trúc NLCN một cách toàn diện gồm trí lực, thể lực và

nhân cách đã đặt ra yêu cầu đối với GD-ĐT là phải phát triển cân đối giữa dạy chữ - dạy nghề - dạy người Trong đó, dạy người phải xem là mục tiêu cuối cùng

nhằm “tạo ra những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” [15, tr.5] đủ sức thực hiệnthành công sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta

Quan niệm về phát triển nguồn lực con người

Cho đến nay, do xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nên khi bàn

về phát triển NLCN đã có nhiều cách hiểu khác nhau

Phát triển NLCN hay phát triển nguồn nhân lực, hoặc phát triển nguồntài nguyên người là những cách dịch khác nhau từ cụm từ Human ResourcesDevelopment - HRD Khái niệm này hình thành và phát triển từ những năm

70 của thế kỷ trước, dựa trên quan niệm mới của Liên hợp quốc về phát triển

và vị trí con người trong phát triển

Liên hợp quốc sử dụng khái niệm “phát triển nguồn lực con người”theo nghĩa rộng bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con ngườinhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống

Trang 19

UNESCO sử dụng khái niệm “phát triển nguồn lực con người” theo nghĩahẹp, đó là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trongmối quan hệ với sự phát triển của đất nước Còn tổ chức Lao động Quốc tế(ILO) lại cho rằng phát triển nguồn nhân lực không chỉ là có sự chiếm lĩnhtrình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực

và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả,cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân

Nhìn chung, cách hiểu của Liên hợp quốc bao quát hơn và nhấn mạnhkhía cạnh xã hội của vấn đề: NLCN vừa là yếu tố của sản xuất, của tăngtrưởng kinh tế vừa là mục tiêu của phát triển Cách tiếp cận này xuất phát từ

lý thuyết mới về phát triển con người, trong đó phát triển NLCN thuộc phạmtrù phát triển con người

Thuật ngữ “phát triển con người” được sử dụng từ lâu trong các ngônngữ khác nhau Nhưng phải đến năm 1990, khái niệm “phát triển con người”(Human Development) mới xuất hiện trong báo cáo về phát triển con người(HDR) được Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) công bố TheoUNDP “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó Vàmục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép conngười được hưởng cuộc sống lâu dài, khoẻ mạnh và sáng tạo” [26, tr.140]

Phát triển con người - là quan điểm về phát triển, trong đó lấy con người làm trung tâm Đó là phát triển của con người, vì con người và do con người Phát triển của con người có nghĩa là đầu tư vào phát triển tiềm năng

của con người như giáo dục, y tế, kỹ năng… để con người có thể làm việc

một cách sáng tạo và có năng suất cao nhất Phát triển vì con người là bảo

đảm sự tăng trưởng kinh tế mà con người tạo ra phải được phân phối rộng rãi

và công bằng Phát triển do con người là hướng vào việc tạo cho con người

có cơ hội tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội )

Trang 20

Như vậy, theo quan điểm của Liên hợp quốc, khái niệm “phát triển con

người” nhấn mạnh đến mục tiêu hơn là phương tiện của sự phát triển Mục tiêu của sự phát triển không chỉ là phát triển xã hội mà chính là phát triển con người Bởi vì, trong xã hội hiện đại, sự phát triển xã hội chưa hẳn đã đồng nghĩa

với sự phát triển con người Thực tế cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, xã hộiphát triển cao nhưng con người lại bị quên lãng, không được quan tâm Ở nhữngnước này diễn ra nghịch lý: GDP tăng nhưng thất nghiệp và đói nghèo cũngtăng, khoa học và công nghệ tiến bộ nhưng thất học và dốt nát lại trở nên phổbiến, tiện nghi vật chất xã hội hiện đại hơn nhưng quyền con người lại bị viphạm nhiều hơn, nhiều người không được chăm sóc tối thiểu về y tế… Điều nàycách đây 2 thế kỷ, Sáclơ Phuriê (1772-1837) đã chỉ ra: trong xã hội tư bản “sựnghèo khổ được sinh ra từ chính sự thừa thãi”

Như vậy, mục đích thật sự của sự phát triển là cần phải tạo ra mộtmôi trường đảm bảo cho con người phát huy khả năng sáng tạo, đượchưởng một cuộc sống khoẻ mạnh, được học hành và trường thọ, các quyền

tự do chính trị, quyền con người và cá nhân được bảo đảm Quan điểm pháttriển con người như vậy hoàn toàn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa

Mác-Lênin về phát triển con người toàn diện mà cách đây hơn 150 năm

C.Mác đã nói tới

Ở nước ta, cho đến nay, thuật ngữ “Phát triển nguồn lực con người”hay “Phát triển nguồn nhân lực” được các nhà khoa học Việt Nam nêu khánhiều trong các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

GS.VS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng:

Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người, trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm

hồn, thể lực… làm cho con người trở thành những người lao động

có những năng lực phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêucầu to lớn của sự phát triển kinh tế-xã hội, của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [25, tr.285]

Trang 21

TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng: phát triển NLCN được coi là “quátrình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngàycàng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của phát triển kinh tế-xã hội” [14, tr.13] Theotác giả, quá trình này bao gồm sự phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhậnthức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo củacon người Trong đó, nền văn hóa truyền thống, lịch sử dân tộc góp phầnquan trọng hun đúc nên bản lĩnh, ý chí của mỗi người

Như vậy, phát triển NLCN không phải là một khái niệm trừu tượng mà

nó gắn với phát triển con người cụ thể Theo C.Mác, con người là yếu tố quantrọng nhất, cách mạng nhất trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất.Người lao động trong lực lượng sản xuất phải là con người ngày càng đượcphát triển cao về trí tuệ, khoẻ mạnh về thể chất, trong sáng về đạo đức, linhhoạt và văn minh trong ứng xử, có kinh nghiệm sản xuất và kỹ năng lao độngnhất định Do đó phát triển NLCN có mối quan hệ biện chứng với phát triểncon người Phát triển NLCN phải được hiểu là quá trình phát triển toàn diệncon người cả thể lực, trí lực, cả khai thác, sử dụng, tái tạo và phát triển tiềmnăng, năng lực của mỗi người, của cả cộng đồng người nhằm đóng góp nhiềunhất vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, bởi lẽ, NLCN được cấu thành từnguồn nhân lực của mỗi cá nhân cũng như nguồn nhân lực của cả cộng đồng

Vì vậy, nếu cho rằng, phát triển NLCN chỉ là quá trình làm gia tăng tri thức,

kỹ năng và năng lực của mỗi người là chưa đầy đủ, mới chỉ đề cập ở khíacạnh khai thác năng lực của con người mà thiếu đi quá trình tái tạo, phát triển

và sử dụng lâu dài tiềm năng con người, cũng như tạo ra giá trị đích thực chocuộc sống của con người

Tóm lại, có thể hiểu: Phát triển nguồn lực con người là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực, đồng thời làm gia tăng các giá trị tinh thần, đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, thể chất… cho con người nhằm đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội

Mỗi một giai đoạn lịch sử đều có nhu cầu về NLCN phù hợp giai đoạnlịch sử đó Quá trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay đang đặt ra yêu cầu

Trang 22

khách quan về sự phát triển số lượng, cơ cấu, chất lượng, cũng như nhữngnăng lực, phẩm chất cần thiết của NLCN Do đó, phát triển NLCN là một đòihỏi tất yếu hiện nay ở nước ta.

1.1.2 Tính tất yếu của việc phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong điều kiện cuộc cách mạng KH-CN hiện đại đang diễn ra như vũbão, CNH, HĐH được coi là phương thức cơ bản, con đường tất yếu để cảibiến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp văn minh.CNH, HĐH là quá trình tạo ra những biến đổi về chất trong toàn bộ các hoạtđộng của đời sống xã hội, trước hết là hoạt động sản xuất vật chất Hội nghị lầnthứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1994) đã thông qua đườnglối CNH, HĐH đất nước, trong đó Đảng ta xác định:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản,toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lýkinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụngmột cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện

và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của côngnghiệp và tiến bộ khoa học-công nghệ, tạo ra năng suất lao động xãhội cao [16, tr.65]

Quan điểm này, về cơ bản, đã phản ánh được phạm vi rộng lớn, lâu dài,phức tạp cũng như chỉ ra cốt lõi của quá trình CNH, HĐH ở nước ta là cảibiến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiệnđại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao Trên cơ sở quan điểm này, Đảng

ta chỉ rõ, sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay là một cuộc cách mạngtoàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội,nhằm mục tiêu:

Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất

- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật

Trang 23

chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, văn minh [17, tr.80]

Như vậy, đặc điểm của quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam là hướng tớimục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính điều này đã quy định sự khác biệt

cả về nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành CNH, HĐH ở nước ta

so với nhiều nước tư bản chủ nghĩa đã tiến hành trước đây Sự khác biệt này

đã làm nên đặc trưng của CNH, HĐH ở nước ta, đồng thời tự nó cũng đặt ranhững yêu cầu khách quan về số lượng và chất lượng đối với NLCN ViệtNam - nhân tố quyết định thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trong mối quan hệ tác động qua lại với quá trình CNH, HĐH, NLCNluôn giữ vị trí, vai trò quyết định Mặt khác, NLCN cũng không ngừng biếnđổi, phát triển dưới tác động của quá trình CNH, HĐH đất nước Phát triểnNLCN Việt Nam là một yêu cầu khách quan trong quá trình CNH, HĐH

Thứ nhất, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đảng ta đã khẳng định: đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm hướng tới mụctiêu “tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiệnđời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xãhội” [19, tr.89] Như vậy, trong quá trình phát triển đất nước theo định hướngXHCN, CNH, HĐH là phương tiện, phương thức để đạt đến mục tiêu cao cả, đó

là vì cuộc sống hạnh phúc ngày càng tốt đẹp của con người, vì sự giải phóng vàphát triển toàn diện của con người

Trong sự nghiệp đổi mới và thực hiện CNH, HĐH đất nước, quan niệmcoi con người là “vừa là mục tiêu,vừa là động lực” của sự phát triển kinh tế-

xã hội đã trở thành quan niệm phổ biến Phát triển NLCN được coi là một bộphận quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đấtnước Bởi vì, con người là động lực cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước

ta hiện nay

Trang 24

Động lực của sự nghiệp CNH, HĐH được hiểu là những gì thúc đẩyquá trình này vận động và phát triển Khi nói con người là động lực của quátrình CNH, HĐH là chủ yếu nói đến sức mạnh, năng lực sáng tạo to lớn củacon người trong việc thực hiện CNH, HĐH và thúc đẩy quá trình này pháttriển

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ không thể thành công nếu thiếu vaitrò động lực của con người Chính con người với tri thức, trí tuệ, có khả nănghoạch định chiến lược, đề ra mục tiêu, lựa chọn phương thức tiến hành CNH,HĐH cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình Con người còn sángtạo ra những thành tựu KH-CN hiện đại và ứng dụng chúng vào quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế, sản xuất vật chất, quản lý kinh tế, xã hội Trongquá trình CNH, HĐH, những giải pháp do con người đề ra cho phép điềuchỉnh và giải quyết các mâu thuẫn phát sinh, cũng như dự báo những nguy cơ,hậu quả có thể xảy ra và khuynh hướng phát triển trong tương lai để từ đóthúc đẩy quá trình CNH, HĐH tiến lên

Bài học kinh nghiệm rút ra từ những thành công trong quá trình pháttriển của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới (NICs) ở châu Á cho thấy,người ta không chỉ chú trọng ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, côngnghệ mới hoặc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, mà vấn đề then chốt hơn cả làbiết khơi dậy và phát huy năng lực trí tuệ và sức sáng tạo to lớn của conngười Trong xu thế toàn cầu hóa và mở rộng giao lưu quốc tế như hiện nay,các quốc gia có thể khắc phục sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ thông quacon đường chuyển giao, nhập khẩu Nhưng người ta không thể nhập khẩu hayvay mượn được khả năng sáng tạo của con người Vì thế, có thể khẳng địnhrằng, năng lực sáng tạo nói riêng và chất lượng NLCN nói chung là yếu tố nộisinh, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển xã hội, đưa sự nghiệp CNH,HĐH đến thành công

Nếu con người là động lực, là phương tiện để tiến hành CNH, HĐH, thìnhững thành quả do CNH, HĐH tạo ra phải nhằm phục vụ cho nhu cầu con

Trang 25

người Nói cách khác, con người có quyền thụ hưởng những thành quả dochính tài năng và sức sáng tạo của mình tạo ra Vì vậy, phát triển NLCN phảinhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để con người được thụ hưởng những thànhquả của mỗi bước CNH, HĐH Nghĩa là con người có được đời sống vật chất

và tinh thần ngày càng cao, môi trường và điều kiện làm việc thuận lợi, cóđiều kiện học tập, lao động sáng tạo và cống hiến tài năng cho sự phát triểncủa xã hội và hạnh phúc của con người

Thứ hai, con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Giữa CNH, HĐH và phát triển NLCN có mối quan hệ gắn bó chặt chẽnhau, trong đó NLCN luôn giữ vị trí, vai trò quyết định trình độ, tốc độ pháttriển của tiến trình CNH, HĐH Đến lượt mình, NLCN cũng không ngừngbiến đổi và phát triển dưới tác động của quá trình CNH, HĐH Nói cách khác,CNH, HĐH đặt ra yêu cầu khách quan đối với việc phát triển NLCN ở trình

độ ngày càng cao, bởi vì con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, của xã hộivừa là chủ thể cải biến tự nhiên và xã hội, đồng thời, là chủ thể của các quátrình phát triển kinh tế-xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn, con người đã

để lại dấu ấn sâu đậm trong tiến trình phát triển và sáng tạo ra lịch sử củamình

Xét dưới gốc độ kinh tế, xã hội hay kỹ thuật, công nghệ, yếu tố conngười vẫn luôn là chủ thể của quá trình CNH, HĐH Từ thực tế cho thấy, quátrình CNH, HĐH sẽ không thể thành công nếu thiếu NLCN với số lượng vàchất lượng ngày càng cao, cơ cấu hợp lý Bởi vì, chính con người là lực lượngduy nhất có khả năng phát hiện, xác định mục tiêu, nội dung, hình thức, bước

đi và những giải pháp thích hợp để tiến hành CNH, HĐH Từ thực tiễn củacác nước đi trước cũng như ở nước ta đã cho thấy, quá trình CNH, HĐH diễn

ra với tốc độ nhanh hay chậm, đạt hiệu quả cao hay thấp là do sự quy định củanhiều yếu tố, trong đó, trước hết và chủ yếu tuỳ thuộc vào năng lực của conngười, vào chất lượng của NLCN Vì vậy, phát triển NLCN trở thành yếu tố

Trang 26

quan trọng nhất có tính chất quyết định đối với sự thành bại của sự nghiệpCNH, HĐH ở nước ta hiện nay

Trong khi nhấn mạnh vai trò và sự tác động có tính chất quyết định củaphát triển NLCN đối với tiến trình CNH, HĐH, cần khẳng định rằng CNH,HĐH cũng tác động trở lại đối với mục tiêu phát triển NLCN

Thực tế cho thấy, mặc dù nước ta hiện nay không còn là một nướcthuần nông, nhưng có lẽ còn khá xa so với những tiêu chí, đặc trưng của một

xã hội công nghiệp hiện đại Trong điều kiện ấy con người Việt Nam còn chịuảnh hưởng nặng nề bởi tư duy, thói quen của người sản xuất nhỏ tiểu nông Vìthế, tiến hành CNH, HĐH là tiền đề, điều kiện vật chất cần thiết để từng bướccải biến nếp nghĩ, cách làm vốn còn mang nặng dấu ấn tiểu nông, sản xuấtnhỏ của một bộ phận đáng kể trong lực lượng lao động xã hội Chính sự hìnhthành và phát triển của các yếu tố hiện đại trong các lĩnh vực của đời sống xãhội, trước hết là trong sản xuất do đẩy mạnh CNH, HĐH, sẽ tạo nên một cuộccách mạng đối với lực lượng lao động xã hội Hơn nữa, trong mỗi giai đoạncũng như trong suốt tiến trình, CNH, HĐH vừa tạo ra điều kiện và cơ hội pháttriển, vừa đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động, trướchết là ở trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng lao động công nghiệphiện đại Điều này thể hiện ở chỗ, quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH sẽ tạo ranhững điều kiện, cơ hội thuận lợi cho người lao động được tiếp cận với nhữngdịch vụ xã hội ngày càng đầy đủ và hoàn thiện như giáo dục, đào tạo, chăm sócsức khỏe, nâng cao mức sống… đồng thời, CNH, HĐH lại đặt ra những yêu cầumới về phương thức lao động, kỹ năng lao động, buộc người lao động phảithường xuyên, không ngừng học tập, bồi dưỡng cả về trình độ học vấn, chuyênmôn kỹ thuật, nhân cách đạo đức, năng lực sáng tạo và khả năng thích nghi vớinhững điều kiện lao động mới Như vậy, CNH, HĐH tạo ra môi trường mà ở đócon người được phát triển toàn diện, thể hiện năng lực sáng tạo cũng như khẳngđịnh vai trò quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội của mình

Trang 27

Thứ ba, phát triển NLCN là vấn đề chiến lược hàng đầu của Đảng

và Nhà nước ta nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trong lịch sử dân tộc, nhất là trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoạixâm, ông cha ta luôn thực hiện phương châm “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địchnhiều” Sức mạnh của Việt Nam là con người, do đó khâu then chốt là phảibiết phát huy trí tuệ con người Chính tài năng trí tuệ, sự thông minh và sứcsáng tạo to lớn của con người Việt Nam đã làm nên những thắng lợi vẻ vangtrong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ngày nay là trong sự nghiệpđổi mới Vì vậy, ngay khi khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nhấnmạnh tầm quan trọng đặc biệt của nhân tố con người và xác định: “Con ngườivừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội” Ngày nay,

để đẩy mạnh CNH, HĐH, đi vào kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế,Việt Nam càng phải đi lên chủ yếu bằng con đường phát triển NLCN, bằng trítuệ của con người Việt Nam

Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò có ý nghĩa quyết định của NLCN vàtiềm năng to lớn của con người Việt Nam, tại các kỳ Đại hội VIII, IX và cácHội nghị Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định: “Côngnghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân” [17, tr.85], “Nâng cao dântrí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tốquyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [17, tr.21].Tổng kết thực tiễn 15 năm đổi mới và nghiên cứu lý luận, một lần nữa trongNghị quyết Đại hội IX, Đảng ta khẳng định: “Con người và nguồn nhân lực lànhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa” [19, tr.201] Vì vậy, “Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Namvới yêu cầu ngày càng cao” [19, tr.165] là vấn đề có tính chiến lược trongcông cuộc đổi mới và là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước

ta hiện nay

Thực hiện vai trò chủ thể, động lực của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐHtheo định hướng XHCN, NLCN nước ta phải đủ về số lượng, hợp lý về cơ

Trang 28

cấu, đảm bảo về chất lượng Muốn vậy, phát triển NLCN phải được xác định

là vấn đề chiến lược và tập trung mọi nguồn lực để đầu tư mạnh vào “vốn conngười” Phải xem đây là bước chuẩn bị quan trọng và là khâu đột phá để thựchiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội và thực hiện mục tiêu: dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Như vậy, phát triển NLCN là vấn đề có tính chiến lược, điều đó khôngchỉ xác định trên phạm vi cả nước mà phải được nhận thức và chủ động thựchiện ở từng địa phương, đơn vị cụ thể Đối với Bến Tre, để xây dựng chiếnlược phát triển NLCN phù hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐHcủa tỉnh trong những năm tới, trước hết cần phải xác định rõ đặc điểm củaCNH, HĐH cũng như chỉ ra những yêu cầu cơ bản về phát triển NLCN ở tỉnhBến Tre hiện nay

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH BẾN TRE VÀ NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI BẾN TRE

1.2.1 Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre

Cũng như nhiều địa phương trong vùng, Bến Tre bắt tay xây dựng lạiquê hương từ sau ngày thống nhất đất nước, thực hiện CNH, HĐH theo chủtrương của Đảng Ngoài những điểm chung như CNH, HĐH ở các tỉnh trongvùng, do vị trí địa lý, điều kiện kinh tế-xã hội có nhiều đặc thù, điều đó đãlàm cho nội dung, hình thức, quy mô, tốc độ CNH, HĐH ở Bến Tre có nhiềuđiểm khác biệt Sự khác biệt này đã nói lên đặc điểm CNH, HĐH ở Bến Tre

Trên thực tế, CNH, HĐH ở Bến Tre tiến hành trong điều kiện nền kinh

tế chậm phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, côngnghiệp chưa phát triển, đầu tư nước ngoài còn hạn chế… Vì vậy, CNH, HĐH

ở Bến Tre mà trọng tâm là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là yêu cầu cấpbách để giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiep trong

cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp - dịch vụ đang phát triển theo hướng CNH,

Trang 29

HĐH Từ thực tế đó, có thể thấy CNH, HĐH ở Bến Tre có những đặc điểmsau:

Thứ nhất, CNH, HĐH ở Bến Tre tập trung chủ yếu vào CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Trước yêu cầu phải rút ngắn thời gian tiến hành CNH, HĐH, phấn đấuđến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướnghiện đại, Đại hội IX của Đảng chủ trương: "Tăng cường sự chỉ đạo và huyđộng các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn" [19, tr.86]

Trên cơ sở vận dụng quan điểm, mục tiêu, nội dung Nghị quyết củaĐảng, Tỉnh ủy Bến Tre đã đề ra Chương trình hành động nhằm xác địnhnhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn ở Bến Tre thời kỳ 2001-2010 Trong đó chỉ rõ nhiệm vụ CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre là:

Xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp sản xuất hànghóa, hiệu quả, bền vững có sức cạnh tranh trên cơ sở ứng dụng cácthành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất; xây dựngnông thôn giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh

tế hợp lý, lực lượng sản xuất năng động, quan hệ sản xuất phù hợp,kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phát triển và an ninh nông thôn đượcbảo đảm [53, tr.2]

Tỉnh Bến Tre là vùng đất hẹp, người đông, sản xuất nông nghiệp là chủyếu, diện tích đất nông nghiệp chiếm 70%, do đó việc khai thác tiềm năng đấtđai và lao động nông thôn là vấn đề có tính chiến lược trong quá trình pháttriển CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là con đường ngắn nhất để “đưa BếnTre đi lên từ kinh tế nông nghiệp toàn diện thành một trong những tỉnh sản xuấthàng hóa có tỷ trọng cao trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long” [22, tr.45]

Trang 30

Thứ hai, so với các tỉnh trong khu vực và cả nước, CNH, HĐH ở Bến Tre diễn ra với tốc độ chậm, quy mô nhỏ bé, công nghệ, trang thiết bị còn lạc hậu

Năm 1996, cùng với cả nước, theo chủ trương của Đảng, Bến Tre thựchiện CNH, HĐH trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn Cùng vớichủ trương coi trọng phát triển nông nghiệp toàn diện, lãnh đạo tỉnh luôn xácđịnh công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là lĩnh vực phải được tập trung đầu tư

để Bến Tre vươn lên sánh vai với các tỉnh bạn trong khu vực Sau hơn 7 nămthực hiện Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy Bến Tre “Về phát triển công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh 1996-2000-2010”, đến nay, côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở Bến Tre có bước phát triển đáng kể, góp phầnquan trọng đưa nền kinh tế của tỉnh phát trien, tạo động lực thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Từ chỗ chưa có gì, đến nay (2004)toàn tỉnh có 14 doanh nghiệp Nhà nước, 4 công ty đầu tư nước ngoài, 39 hợp tác

xã, 94 doanh nghiệp tư nhân và 7182 hộ sản xuất cá thể, giải quyết việc làm chotrên 31.000 lao động [13] Năng lực chế biến thủy, hải sản hiện tăng gấp 3 lần

so với năm 1996 với một hệ thống các nhà máy chế biến thủy sản trang thiết

bị khá hiện đại Công nghiệp ở Bến Tre phát triển đã tác động tích cực đếnCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhiều làng nghề được sắp xếp, củng cố

và không ngừng phát triển; đã cơ giới hóa 90% khâu làm đất, 80% khâu tướitiêu trong sản xuất nông nghiệp Việc sử dụng máy móc thay thế lao độngchân tay trong kinh tế vườn khá phổ biến Đến năm 2000, 160/160 xã,phường trong tỉnh đều có lưới điện quốc gia về đến trung tâm xã, nâng số hộ

sử dụng điện lên 81% vào cuối năm 2004 [54, tr.4]

Tuy nhiên, so với mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp theo hướng hiện đại, thì CNH, HĐH ở Bến tre cần phải đẩynhanh với tốc độ và quy mô rộng lớn hơn Hiện nay, tỷ trọng công nghiệptrong GDP toàn tỉnh còn nhỏ và chuyển biến chậm, chưa đủ sức đóng vai tròđộng lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế.Năm 1996, tỷ trọng công nghiệp chiếm 7,66% trong GDP; năm 2000 là 12,09%

Trang 31

và năm 2004 là 15,65 % [13] Ngoài ra, do kết cấu hạ tầng phục vụ phát triểncông nghiệp đầu tư chưa đồng bộ, nguồn nhân lực yếu và thiếu chưa đáp ứngyêu cầu các nhà đầu tư trong và ngoài nước, do đó, nhiều dự án khu, cụm côngnghiệp đã được xác định nhưng chỉ dừng lại ở quy hoạch.

Thực trạng trên phần nào cho thấy CNH, HĐH ở Bến Tre hiện còn nhỏ

bé và tốc độ khá chậm, vì vậy đang rất cần sự tác động tích cực của nhiềunhân tố nhằm tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình này diễn ra nhanhhơn Một trong những nhân tố quyết định đó là Bến Tre cần gấp rút chuẩn bịNLCN, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng làm cuộc “bứtphá” đưa Bến Tre phát triển nhanh và bền vững hơn, tiến tới thực hiện thắnglợi mục tiêu CNH, HĐH ở tỉnh

Thứ ba, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở gắn bó chặt chẽ giữa nông nghiệp với công nghiệp, phát triển mạnh công nghiệp chế biến

Xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa hiệuquả, bền vững, có sức cạnh tranh là một nội dung và cũng là nhiệm vụ quantrọng của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre Nông nghiệp cómột vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế, hiện chiếm trên 60% trongtổng sản phẩm toàn tỉnh Thế nhưng, tự bản thân nông nghiệp cũng không thểphát triển nhanh được nếu thiếu sự tác động tích cực của công nghiệp Địa vịcủa nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế tùy thuộc vào trình độ phát triển và tốc

độ CNH, HĐH Với tư cách là một bộ phận hợp thành trong cơ cấu kinh tếthống nhất, sự phát triển của nông nghiệp có mối quan hệ tương hỗ với sựphát triển của công nghiệp và dịch vụ Trong mối quan hệ đó, công nghiệp hỗtrợ đắc lực và phục vụ cho nông nghiệp phát triển theo hướng CNH, HĐH.Đảng ta đã chỉ rõ: “Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợđắc lực và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn” [20, tr.94]

Trong những năm gần đây, Bến Tre đã chọn và đầu tư đúng hướng cho lĩnh vực công nghiệp chế biến, nâng cao năng lực chế biến hàng nông sản,

Trang 32

đưa công nghiệp chế biến dừa và thủy sản lên trình độ tiên tiến Việc pháttriển công nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ trên địa bàn nông thôn đãtạo điều kiện cho trồng trọt, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản đạt năng suấtchất lượng cao và phát triển mạnh, tăng nhanh sản phẩm và thu nhập cho nềnkinh tế Trạng thái khép kín, trì trệ, lạc hậu vốn có của nền nông nghiệp nhỏtừng bước bị phá vỡ Hơn nữa, đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến,ngoài việc tạo ra giá trị gia tăng cho nông sản hàng hóa, còn tạo thêm nhiềuviệc làm tại chỗ và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn Song song với quátrình đó, các hoạt động dịch vụ ở nông thôn, bao gồm cả các hoạt động dịch

vụ cho sản xuất và dịch vụ đời sống cũng phát triển, tạo điều kiện đáp ứng tốtyêu cầu phát triển kinh tế hàng hóa, đồng thời là điều kiện để từng bước giảmdần tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng sản xuất công nghiệp vàdịch vụ ở Bến Tre

Như vậy, sự gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau giữa nông nghiệp vớicông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến trong quá trình phát triển làđiều kiện bảo đảm tính ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế nóichung, cũng như kinh tế nông nghiệp nói riêng, đặc biệt là phát triển mạnhmột nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa như ở Bến Tre hiện nay

Thứ tư, phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, người dân Bến Tre tiến hành CNH, HĐH trong khí thế của phong trào “Đồng khởi mới”

Tháng 1 năm 1960, phong trào Đồng khởi của quân và dân Bến tre nổ

ra và nhanh chóng trở thành phong trào đấu tranh cách mạng lan rộng khắpcác tỉnh Nam Bộ “Đồng khởi” đã trở thành dấu ấn lịch sử, tạo mốc quantrọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, được nhân dân

cả nước khâm phục Chiến tranh đã đi qua, phát huy phong trào Đồng khởi

“huyền thoại” với ý nghĩa và tinh thần mới, cuối năm 1999, Tỉnh ủy Bến Tre

đã ra Nghị quyết 08 phát động phong trào "Đồng khởi mới" đẩy mạnh côngcuộc CNH, HĐH, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hộicủa tỉnh

Trang 33

Như luồng gió mới, phong trào "Đồng khởi mới" đã khơi dậy truyềnthống Đồng khởi năm xưa, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, vươn lênkhông cam chịu đói nghèo lạc hậu, người dân Bến tre đã làm bật dậy nhữngtiềm năng của một miền quê ven biển còn nghèo khó này.

Kết quả từ phong trào Đồng khởi mới đã làm thay đổi bộ mặt nôngthôn Bến Tre với hơn 1.500 km (chiếm 46%) đường giao thông nông thônđược nhựa hóa, bê tông hóa với phương thức “Nhà nước và nhân dân cùnglàm” Xây dựng mới 1.240 cây cầu (trong tổng số 2.495 cầu toàn tỉnh) tạođiều kiện giao thông thuận lợi trên địa bàn của tỉnh Tỉnh đã hình thành đượccác vùng kinh tế trọng điểm gắn với điều kiện tự nhiên và tiềm năng từngvùng như đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy sản và vườn cây ăn quả Cáchuyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản,đánh bắt xa bờ và chế biến thủy sản xuất khẩu; các huyện Mỏ Cày, ChâuThành và Chợ Lách nổi trội với những vườn chuyên cây ăn quả chất lượngcao và du lịch sinh thái, làng nghề thủ công, mỹ nghệ Năm 2004, cũng lànăm đầu tiên tỉnh Bến Tre đạt tỷ lệ tăng trưởng vượt hai con số: 10,08%, xuấtkhẩu đạt 80 triệu đôla (tăng 44,9% so với năm 2003), nuôi hơn 42.000 ha thủysản, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 5% (theo chuẩn cũ)

Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, những thành tựu đó chính là kếtquả của tinh thần cách mạng tiến công, ý chí vươn lên của người dân “quêhương Đồng khởi” quyết tâm tiến kịp và hội nhập với xu thế phát triển chungcủa khu vực và cả nước trong sự nghiệp CNH, HĐH

Tóm lại, công cuộc CNH, HĐH ở một tỉnh nông nghiệp giàu tiềm năng

nhưng cũng lắm khó khăn, dẫu còn chậm phát triển, nhưng đang trên đà tăngtrưởng kinh tế như hiện nay, cùng với việc chuẩn bị một nguồn nhân lực đủ

về số lượng, mạnh về chất lượng, Bến Tre sẽ tiến nhanh hơn trong sự nghiệpCNH, HĐH, xây dựng Bến Tre văn minh, giàu mạnh hơn

1.2.2 Những yêu cầu cơ bản về phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre

Trang 34

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tự bản thân nó luôn đặt ra những đòi hỏikhách quan về số lượng, cơ cấu và chất lượng NLCN với những năng lực vàphẩm chất cần thiết Sự nghiệp CNH, HĐH ở Bến Tre trong điều kiện cònnhiều khó khăn, trình độ công nghệ lạc hậu, quy mô, tốc độ nhỏ bé, chậmchạp, vì thế, phát triển NLCN ở Bến Tre càng là yêu cầu cấp thiết, nhằm tạođộng lực mạnh mẽ thúc đẩy nhanh quá trình này Quá trình phát triển NLCNphục vụ CNH, HĐH ở một tỉnh như Bến Tre cần phải đáp ứng những yêu cầu

cơ bản sau:

Thứ nhất, phát triển mạnh NLCN của Bến Tre cả về số lượng và chất lượng, đủ sức đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH với quy mô, tốc độ nhanh và rộng lớn hơn

Nguồn lực con người Bến Tre chính là nhân tố quyết định thắng lợi sựnghiệp CNH, HĐH ở Bến Tre Nhưng nếu chỉ với một lực lượng lao độngđông, đầy lòng nhiệt tình và ý chí cách mạng thì chưa đủ để người Bến Trethành công trong công cuộc CNH, HĐH Trước yêu cầu ngày càng cao củanhiệm vụ CNH, HĐH, đòi hỏi Bến Tre phải gấp rút đào tạo ngay lực lượng laođộng có tri thức khoa học, nắm vững chuyên môn kỹ thuật, năng động sáng tạo,

có phẩm chất đạo đức tốt Bến Tre có nguồn lao động khá dồi dào (trên 60%dân số), nhưng nguồn nhân lực - với tư cách là động lực của CNH, HĐH, xét ở

số lượng, cơ cấu nghề nghiệp và cả chất lượng đều chưa đáp ứng được yêu cầucủa quá trình này Tình trạng thiếu và yếu trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán

bộ quản lý kinh tế, sản xuất kinh doanh và nhất là cán bộ KH-CN là một thực

tế Đây lại là lực lượng nòng cốt tham gia vào quá trình hoạch định chiến lược,

đề ra mục tiêu, phương hướng, giải pháp cũng như tổ chức, triển khai quá trìnhCNH, HĐH Có thể nói, CNH, HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệuquả cao hay thấp là do sự quy định của nhiều yếu tố, trong đó trước hết tùythuộc vào năng lực của đội ngũ cán bộ này Trong tổng số lực lượng lao độngcủa toàn tỉnh, đến nay chỉ có 22,12% lao động qua đào tạo Trong đó, lực lượnglao động có trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cao phần lớn tập trung ở các

Trang 35

ngành y tế, GD-ĐT, quản lý nhà nước Trong các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnhnhư nông - ngư nghiệp, đội ngũ lao động có trình độ còn rất hạn chế, đa số làlao động phổ thông, chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật.

Trong những năm tới, tỉnh Bến Tre phấn đấu: “Đẩy mạnh tốc độ pháttriển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, tạo sự chuyển động mới mạnh mẽ trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [23, tr.108] Để đạt được mục tiêu đề

ra, vấn đề cấp bách là phải nhanh chóng đào tạo nguồn nhân lực mạnh cả về sốlượng và chất lượng, hợp lý về cơ cấu đủ khả năng đưa Bến Tre vượt ra khỏitình trạng "tụt hậu", vươn lên sánh vai cùng các tỉnh bạn, góp phần cùng cảnước thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH

Thứ hai, yêu cầu thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH

Trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-2010), Đảng

ta chỉ rõ: “Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơcấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [19,tr.92] Hiện nay, nước ta đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng CNH, HĐH Đó là quá trình tăng dần tỷ trọng của các ngành côngnghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu nềnkinh tế

Bến Tre hiện đang phát triển toàn diện kinh tế-xã hội theo cơ cấu nông

- công nghiệp - dịch vụ, trong đó kinh tế thủy sản và kinh tế vườn là hai ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Trong những năm gần đây, mặc dù còn

chậm, song, cơ cấu kinh tế của Bến Tre đang dần chuyển dịch theo hướngCNH, HĐH Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một tỉnh có cơ cấu nông - côngnghiệp - dịch vụ theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, thựcchất là quá trình chuyển từ nền kinh tế truyền thống, trình độ thấp dựa vàonông nghiệp là chủ yếu, sang nền kinh tế hiện đại, trình độ cao Sự chuyểndịch này đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tạo ra mốiquan hệ tác động giữa chúng với nhau Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình

Trang 36

giảm dần số lượng lao động nông nghiệp, tăng số lượng lao động công nghiệp vàdịch vụ, theo hướng nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật, kỹ nănglao động của lực lượng lao động Nói cách khác, đó là quá trình phân công lạilao động trong toàn xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế đang chuyển đổi theohướng CNH, HĐH Thực tế đó đặt ra yêu cầu phát triển NLCN ở Bến Tre phảihướng tới đào tạo lực lượng lao động lành nghề, nắm vững chuyên môn kỹthuật, đồng bộ về cơ cấu, thích ứng với nghề nghiệp, phục vụ tốt yêu cầu phâncông lại lao động trong toàn tỉnh.

Bến Tre là tỉnh có ngành công nghiệp chưa phát triển, tốc độ đô thị hóachậm, do đó không thể hy vọng giải quyết hết lao động trong nông nghiệp bằngcách chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ Vấn đề này cũng đặt ra yêucầu trong phát triển NLCN của tỉnh cần chú trọng đào tạo ngành nghề phù hợp,nhằm cung cấp lao động cho các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàdịch vụ ngay tại địa bàn nông thôn Ngoài ra, Bến Tre còn là vùng đất giàungành nghề truyền thống, đặc biệt những nghề chế biến các sản phẩm từ dừa vàhàng thủ công mỹ nghệ Do đó, khôi phục và phát triển các làng nghề truyềnthống, kết hợp với việc "cấy ghép" nghề mới trong nông thôn là một hướng điquan trọng và là cơ sở để đi vào CNH, HĐH Từ đây mở ra hướng mới cho việcphát triển NLCN trong lĩnh vực mở rộng hình thức truyền nghề, bồi dưỡng, kèmcặp nghề nhằm nâng cao tay nghề và giải quyết việc làm cho lao động ở nôngthôn trong các làng nghề

Nằm trong khu vực ĐBSCL, Bến Tre có thế mạnh về kinh tế thuỷ sản

và kinh tế vườn Những năm gần dây, phong trào nuôi thuỷ sản và cải tạovườn tạp để trồng cây ăn quả ở Bến Tre phát triển mạnh, hình thành nhữngvùng kinh tế trọng điểm về đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thuỷ hải sản vàvườn cây ăn quả tập trung chất lượng cao Hiện nay, thuỷ sản đang là mặthàng xuất khẩu chủ lực, đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho tỉnh và góp phần xoáđói giảm nghèo cho một bộ phận đông đảo dân cư các huyện vùng biển Kinh

tế vườn với mô hình trồng cây ăn quả và sản xuất cây giống đem lại hiệu quả

Trang 37

kinh tế cao cho các nhà vườn Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường do

mở rộng diện tích nuôi thuỷ sản, nhất là nuôi tôm công nghiệp đã làm chongành này trở nên kém bền vững do phụ thuộc nhiều vào điều kiện sinh thái.Các mặt hàng trái cây của Bến Tre mặc dù được thị trường trong nước ưachuộng, nhưng do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao và chất lượng trái câychưa cao làm hạn chế năng lực cạnh tranh, nên chưa tìm được chỗ đứng vữngchắc trên thị trường các nước

Để tiếp tục khẳng định là những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh vàphát triển bền vững, việc nâng cao chất lượng hàng nông, thuỷ sản nhằm tăngnăng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế là nhu cầu cấp thiếtđặt ra Đáp ứng nhu cầu này, ngoài việc đầu tư công nghệ mới, vấn đề quantrọng nhất trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh là nhanh chóngđào tạo một đội ngũ chuyên gia KH-CN trong các lĩnh vực công nghệ thôngtin, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến đủ khả năng nắm vững, ứng dụng

và sáng tạo những thành tựu khoa học tiên tiến để cải tiến kỹ thuật, nâng caonăng suất, chất lượng, bảo đảm nông sản "sạch" đáp ứng yêu cầu thị trườngtrong và ngoài nước Mặt khác, phải nâng cao trình độ, kiến thức cho ngườisản xuất để họ nắm vững kỹ thuật nuôi, trồng, bảo vệ, chăm sóc cây trồng vậtnuôi, nhằm bảo đảm qui trình nuôi thuỷ sản sạch, trái cây sạch có giá trị xuấtkhẩu cao

Tóm lại, phát triển NLCN cho CNH, HĐH một mặt phải đáp ứng yêu

cầu chuyển đổi cơ cấu lao động, mặt khác phải thúc đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Điều đó đòi hỏi trong chiếnlược phát triển NLCN cần phải có quy hoạch trong đào tạo, định hướng ngành,nghề phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, trong

đó, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực nói chung, đào tạo lao đong kỹ thuật, côngnhân lành nghề nói riêng phải đi trước một bước

Thứ ba, quá trình CNH, HĐH đặt ra yêu cầu phải tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - bộ phận quan trọng nhất, tinh túy nhất trong NLCN của tỉnh Bến Tre

Trang 38

Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một lực lượng laođộng có học vấn, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động vànhất là có khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của công nghệsản xuất Có thể hiểu nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm: đội ngũ côngnhân kỹ thuật lành nghề; những nông dân được trang bị tri thức khoa học - kỹthuật và có khả năng ứng dụng những tri thức đó vào sản xuất nông nghiệp,giàu kinh nghiệm trong sản xuất; nòng cốt là đội ngũ trí thức khoa học và côngnghệ, quản lý kinh tế-xã hội, văn hóa - văn nghệ

Hiện nay, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua conđường phát triển GD-ĐT, khoa học và công nghệ được xem là khâu then chốt

để đưa nước ta vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, đạt mụctiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Điều này được khẳng định bởi vai trò to lớn của nguồn nhân lực này đối với

sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trước yêu cầu phải “rút ngắn thời gian” tiếnhành CNH, HĐH so với các nước đi trước, nguồn nhân lực chất lượng cao ởnước ta có vai trò xung kích đi đầu trong việc tiếp nhận, chuyển giao côngnghệ tiên tiến; lựa chọn hướng đi cho những lĩnh vực KH-CN then chốt; đặcbiệt họ là hạt nhân trong việc ứng dụng các thành tựu KH-CN hiện đại vàocác lĩnh vực kinh tế-xã hội Có thể nói, nguồn nhân lực chất lượng cao ởnước ta là lực lượng trực tiếp thực hiện “đi tắt” “đón đầu” trong quá trình CNH,HĐH, rút ngắn dần khoảng cách tụt hậu của nước ta so với các nước tiên tiến.Hơn nữa, chính nguồn nhân lực tinh hoa này góp phần cực kỳ quan trọng vàoquá trình đào tạo, bồi dưỡng, thu hút các tài năng khoa học trẻ, tạo ra lực lượngchuyên gia, các nhà khoa học giỏi, bổ sung vào đội ngũ kế cận, cung cấp cho yêucầu CNH, HĐH

Như các tỉnh ở vùng ĐBSCL, Bến Tre tiến hành CNH, HĐH ở một vùngđất giàu tiềm năng kinh tế, nhưng vẫn còn nghèo và chậm phát triển Điều đó cónhiều nguyên nhân, mà một trong những nguyên nhân chính là thiếu một nguồnnhân lực chất lượng cao đủ sức làm bật dậy những tiềm năng to lớn để đưa vàophát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Vì vậy, Bến Tre đang rất cần tài năng và trí tuệ

Trang 39

của những cán bộ KH-CN giỏi, cán bộ lãnh đạo, quản lý tài năng và một lựclượng lao động có trình độ lành nghề Nhu cầu đó đang đặt ra cho chiến lượcphát triển NLCN của tỉnh phải chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao và coi đó là chính sách ưu tiên hàng đầu, bởi chính nguồn nhân lực này sẽtạo ra động lực to lớn thúc đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH ở Bến Tre trongnhững năm tới.

Như vậy, thực tiễn đang đặt ra nhu cầu cấp bách đối với Bến Tre trongviệc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với điềukiện của tỉnh, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và đẩy nhanh CNH,HĐH lên quy mô và tốc độ mới cao hơn

Thứ tư, phát triển NLCN ở Bến Tre trên nền tảng kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, giá trị đạo đức tốt đẹp của con người vùng ĐBSCL nói chung, người dân Bến Tre nói riêng

Đảng ta khẳng định: văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy

sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội Với tư cách là động lực, văn hóa là yếu tốtinh thần tạo nên chất lượng nguồn nhân lực Sự thành công của Nhật Bản làkết quả của sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống dân tộc với việc khơi dậy vàphát huy có hiệu quả NLCN

Ở nước ta, văn hóa truyền thống dân tộc có sức sống mãnh liệt, nuôidưỡng ý chí và sức mạnh con người Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữnước Ngày nay, coi trọng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, gắn với tinh hoavăn hóa nhân loại, đó chính là môi trường văn hóa lành mạnh của quá trìnhCNH, HĐH đất nước Môi trường văn hóa là cơ sở phát triển con người, pháttriển NLCN đúng hướng, hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thịtrường đối với NLCN

Cũng như con người vùng ĐBSCL, con người Bến Tre vốn có truyềnthống quý báu, từng được thử thách trong lịch sử khai phá và chiến đấu chốngngoại xâm Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất kiên cường, không khuất phụctrước mọi kẻ thù đã được con người Bến Tre chứng thực qua những chiến côngoanh liệt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc Sự khắc nghiệt

Trang 40

của điều kiện tự nhiên trong những ngày đầu đi khai phá vùng đất mới cùng vớinhững gian khổ trong chiến tranh ác liệt đã hình thành trong mỗi con người nơiđây tính sáng tạo, ý chí tự lực tự cường và tinh thần đoàn kết gắn bó, tương trợnhau để vượt qua muôn vàn thử thách Một đặc tính văn hóa nổi trội của conngười vùng đất này là tinh thần tự chủ, phong cách giao lưu cởi mở, nhạy cảmvới cái mới và không bị gò bó trong những khuôn mẫu giáo điều khô cứng Cóthể nói, ngoài kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của con ngườiViệt Nam, con người Bến Tre nói riêng, con người vùng ĐBSCL nói chung, còn

có những nét văn hóa truyền thống và đức tính tốt đẹp được hình thành từ chínhđiều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của vùng đất đồng bằng sông nướcphương Nam này

Bước vào thời kỳ CNH, HĐH, sức mạnh NLCN Bến tre không chỉ ởlực lượng lao động dồi dào, mà còn ở sức mạnh tinh thần, sức mạnh củatruyền thống văn hóa được hình thành và củng cố qua chiều dài lịch sử Sựnghiệp CNH, HĐH đang rất cần ở con người Bến Tre tinh thần dũng cảm,dám nghĩ dám làm, ý chí quyết tâm vượt khó vươn lên nắm lấy những cơ hội

để đưa nền kinh tế vượt qua nguy cơ tụt hậu Trong điều kiện địa lý, kinh

tế-xã hội không thuận lợi, đòi hỏi con người Bến Tre càng phải năng động sángtạo, tìm tòi ra những thế mạnh, cách đi và mô hình phù hợp với hoàn cảnh đặcthù của địa phương Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu khách quan phải biết kế thừa

và phát huy những giá trị truyền thống quý báu của con người Bến Tre trongquá trình phát triển NLCN của tỉnh Phát triển NLCN Bến Tre ngày naykhông chỉ là gia tăng về số lượng, đồng bộ về cơ cấu lực lượng lao động, màtrong chất lượng NLCN phải bao hàm cả việc khơi dậy, vun bồi và phát triểnnhững giá trị truyền thống tốt đẹp trong mỗi con người và cả cộng đồng ngườiBến Tre cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và CNH, HĐH tỉnh nhà.NLCN Bến Tre hôm nay chỉ có thể và phải phát triển trên nền tảng truyềnthống quý báu ấy, chính đó là nguồn sức mạnh tinh thần vượt lên mọi khókhăn, thử thách, thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH

Ngày đăng: 28/03/2014, 11:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Khoa giáo Trung ương (2001), Triển khai Nghị quyết Đại hội IX trong lĩnh vực khoa giáo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai Nghị quyết Đại hội IX trong lĩnh vực khoa giáo
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
2. Báo Đồng Khởi (2005), số đặc biệt kỷ niệm 30 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975 – 30/4/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Đồng Khởi
Tác giả: Báo Đồng Khởi
Năm: 2005
4. Hoàng Chí Bảo (1993), “Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn lực con người”, Tạp chí Triết học (1), tr.13-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn lực con người"”, Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1993
5. Đặng Quốc Bảo-Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo-Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
6. Huỳnh Văn Be (2005), "Phát huy tinh thần Đồng khởi, Bến Tre đổi mới công tác xây dựng Đảng để thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển", Tạp chí Cộng sản, (7), tr.7-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tinh thần Đồng khởi, Bến Tre đổi mới công tác xây dựng Đảng để thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển
Tác giả: Huỳnh Văn Be
Năm: 2005
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Đại học và Sau đại học (2005), Báo cáo tổng kết công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2004 và báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện đề án cải tiến tuyển sinh đại học, cao đẳng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2004 và báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện đề án cải tiến tuyển sinh đại học, cao đẳng
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Đại học và Sau đại học
Năm: 2005
8. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2004), Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam 2003, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam 2003
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
9. Mai Quốc Chánh (chủ biên) (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Mai Quốc Chánh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
10. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên) (2002), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Cục Thống kê Bến Tre (2004), Báo cáo khoa học: Tăng trưởng kinh tế và chỉ số mức sống dân cư tỉnh Bến Tre giai đoạn 2000-2004, Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học: Tăng trưởng kinh tế và chỉ số mức sống dân cư tỉnh Bến Tre giai đoạn 2000-2004
Tác giả: Cục Thống kê Bến Tre
Năm: 2004
14. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2003
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (Lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (Lưu hành nội bộ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
24. Nguyễn Thị Như Hà (2005), "Đầu tư nước ngoài với việc phát triển và khai thác nguồn nhân lực Việt Nam", Tạp chí Lý luận chính trị, (4), tr.80- 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư nước ngoài với việc phát triển và khai thác nguồn nhân lực Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Như Hà
Năm: 2005
25. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w