Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
Trang 1Với tốc độ tăng trưởng và khả năng mở rộng xuất khẩu của ngành,Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy cần thúc đẩy hơn nữa xuất khẩu dệt may vàcác mặt hàng khác vì đó là giải pháp tốt nhất cho nền kinh tế của nước ta Nhànước đã kịp thời có những quy định nhằm tạo thuận lợi cho sản xuất hàng xuấtkhẩu, cụ thể là chiến lược phát triển kinh tế theo hướng thị trường mở, chuyểnđổi cơ cấu kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước Chínhnhờ những chính sách và những quy định mới đó đã đưa lại cho ngành dệt maynhững động lực và định hướng phát triển mới.
Với xu hướng phát triển không ngừng của ngành dệt may Việt Namtrong môi trường kinh tế thế giới nhiều biến động thì đây chính là một sự kiệnđáng mừng Trước những thành quả to lớn đáng tự hào đó, tác giả đã chọn đềtài: "Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển ngành dệt may xuất khẩuViệt Nam" với mục đích phân tích thực trạng của ngành dệt may Việt Nam, xuhướng của thị trường dệt may thế giới đánh giá những thuận lơị khó khăn củangành dệt may trong tình hình hiện nay từ đó đưa ra các biện pháp thích hợp đểnâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng này
Trang 2II.nội dung.
Chương IKhái quát về ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
I Vài nét về ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
1.Tầm quan trọng của ngành dệt may:Dệt may Việt Nam – mũi nhọn xuất khẩu
Kinh tế đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu ăn mặc không chỉdừng lại ở chỗ chỉ để phục vụ cho việc bảo vệ cơ thể, sức khoẻ con người màcòn để làm đẹp thêm cho cuộc sống Thêm nữa,dệt may là ngành “tiên phong”trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa Việt Nam ra thị trường thế giới, thu về chođất nước một lượng ngoại tệ khá lớn.Nhiều năm qua đã cho thấy đây là ngành cóđóng góp lớn và ổn định vào mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của cả nước
Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốnnhanh, thu hút nhiều lao động và có nhiều điều kiện mở rộng thị trường trong vàngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau
Trong hơn 10 năm qua ngành dệt may xuất khẩu đã trở thành một ngànhcông nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, có những bước tiến bộ vượtbậc trong lĩnh vực xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng bình quân là 24,8%/năm,vượt lên đứng ở vị trí thứ nhất trong cả nước về kim ngạch xuất khẩu, vượt cảqua ngành dầu khí Mặt hàng dệt may đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế, góp phần thúcđẩy nhanh tự do hoá thương mại Hơn 10 năm qua ngành đã thu hút hơn nửatriệu lao động trong cả nước Mặt khác nhờ có sự tăng trưởng mạnh của xuấtkhẩu nên đã đem lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, đồng thời góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 3Vị trí của ngành dệt may xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
6 Tổng giá trị XK Triệu USD 5.449 11.540 14.308 15.810
Nguồn: Theo thống kê của Hiệp hội VITAS, năm 2001
2.Quá trình hình thành và phát triển của ngành
a.Lịch sử hình thành dệt may ở Việt Nam
Mốc lịch sử đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của ngành dệt may là vào thế
kỉ 18 khi máy dệt ra đời ở nước Anh và từ đó sức lao động đã được thay bằngmáy móc nên năng suất dệt vải tăng chưa từng thấy trong lịch sử loài người
ở Việt Nam,trước đây, vào thời phong kiến ngành dệt may đã hình thành
từ ươm tơ, dệt vải với hình thức đơn giản thô sơ nhưng mang đầy kĩ thuật tinhsảo và có giá trị rất cao Sau đó ươm tơ dệt vải đã trở thành một nghề truyềnthống của Việt Nam được truyền từ đời này qua đời khác nhờ vào những đôi bàntay khéo léo của người phụ nữ Việt Nam Dù những công việc đó rất giản đơnnhưng đã tạo ra một phong cách rất riêng cho ngành dệt may Việt Nam ta màkhông một nước nào có được
Ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam bắt đầu phát triển từ nhữngnăm 1958 ở miền Bắc và đến năm 1970 ở miền Nam, nhưng mãi tới năm 1975khi đất nước thống nhất, ngành dệt may mới được ổn định Nhà máy được hìnhthành ở 3 miền: miền Bắc, miền Trung và miền Nam
Lúc đầu, các nhà máy chỉ sản xuất hàng hoá để phục vụ nhu cầu trongnước Sản lượng sản xuất ra không nhiều vì lúc đó máy móc, thiết bị còn lạc hậunhập từ các nước xã hội chủ nghĩa,trình độ quản lý cũng còn rất hạn chế,không
Trang 4đáp ứng đủ yêu cầu về chất lượng, mẫu mã mà còn nghèo nàn ít ỏi
Thời kì từ năm 1975 đến năm 1985,xuất khẩu trong giai đoạn này chỉthực hiện trong khuôn khổ Hiệp định và Nghị định thư của nước ta kí kết vớikhu vực Đông Âu - Liên Xô trước đây Do đó ngành dệt may Việt Nam xuấtkhẩu đi nước ngoài chủ yếu là sang thị trường Liên Xô và thị trường Đông Âu
Đến cuối năm 1990, khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa bị tan rã,nước ta rơi vào thế hoàn toàn cô lập Nền kinh tế nước ta trở nên đình trệ, thấtnghiệp tăng, nhiều xí nghiệp bị đóng cửa, ngành dệt may cũng không thoát khỏitình trạng này
Cùng thời gian đó Đảng và Nhà nước ta bắt đầu chính sách đổi mớinền kinh tế, chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang cơ chế quản lý tự hạch toán kinhdoanh xã hội chủ nghĩa Thời kì này, ngành dệt may gặp nhiều khó khăn phảiđối mặt với việc: thiếu vốn, thiếu công nghệ, đặc biệt thiếu đối tác đầu mối tiêuthụ hàng hoá
b.Sự phát triển
Giai đoạn 1990 - 1995 nhờ có chính sách phát triển kinh tế hàng hoánhiều thành phần đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành dệt mayViệt Nam Mặc dù phát triển chậm hơn so với các nước láng giềng Châu á,nhưng ngành đã tự đứng dậy vươn lên, phát triển một cách đầy ấn tượng Bướcđầu năm 1993 kim ngạch xuất khẩu đạt 350 triệu USD và đến cuối năm 1997xuất khẩu đạt 1,35 tỷ USD Không dừng lại ở con số này, hàng dệt may xuấtkhẩu đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam nằmtrong chiến lược phát triển CNH, HĐH của đất nước trong thời gian tới
Đặc biệt ngày 23 tháng 4 năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã phêduyệt chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm 2010 theo QĐ số55/2001/QĐ-TTg Với chiến lược này ngành dệt may có nhiều cơ hội mới đểphát triển đó là: Chính phủ có nhiều chính sách đầu tư hỗ trợ, khuyến khích pháttriển hoạt động sản xuất kinh doanh như được hưởng ưu đãi về tín dụng đầu tư,được Ngân hàng đầu tư và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh
Trang 5bảo lãnh hoặc cho vay tín dụng xuất khẩu, cho vay đầu tư mở rộng sản xuất kinhdoanh với lãi suất ưu đãi, được hưởng thuế thu nhập ưu đãi 25% Hiện nay,ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam đang từng bước đổi mới để hội nhập vào xuthế toàn cầu hoá của cả thế giới
Trang 6Chương II hoạt động sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam.
I.thực trạng về ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam.
không thoi hiện đại để nâng cấp mặt hàng dệt trên tổng số máy hiện có là 10.500máy, thì cũng chỉ đáp ứng khoảng 15% công suất dệt
Hình thức tổ chức sản xuất hàng dệt may xuất khẩu
Số doanh nghiệp dệt may trong toàn quốc
Khu vực Tổng doanhQuốc Tư nhân Đầu tư nớcngoài Hội viênVitas
Nguồn: Thống kê của VITAS năm 2002
Doanh nghiệp dệt may toàn quốc(theo loại hình sở hữu)
Loại hình sở hữu Tổng Dệt May Thương mại &dịch vụ
FDI & Liên doanh 345 114 215 25
Trang 7Nguồn: Theo số liệu của Hiệp hội VITAS năm 2002
Doanh nghiệp dệt may toàn quốc(theo ngành sản xuất)
Ngành sản xuất Tổng Quốc doanh Tư nhân FDI
- Hình thức gia công xuất khẩu: Đây là hình thức phổ biến nhất hiện
nay đối với ngành dệt may xuất khẩu, 80% hàng may mặc xuất khẩu là gia côngcho các nước Nhật, EU…Thực chất đây là hình thức nhập nguyên phụ liệu,thậm chí cả kỹ thuật của nước ngoài, thực hiện sản xuất trong nước và sau đó táixuất khẩu thành phẩm
Ưu điểm là huy động được đội ngũ lao động nhàn rỗi, sử dụng đượcngành nghề truyền thống, không cần huy động vốn lớn, tiết kiệm được các chiphí đào tạo, thiết kế mẫu, quảng cáo, tiêu thụ và tìm kiếm thị trường, không phảichịu rủi ro về tiêu thụ sản phẩm
Tuy nhiên, có nhược điểm lớn: Giá gia công rẻ mạt do vậy lợi nhuậnthu được từ gia công hàng cho nước ngoài là rất ít (giá gia công + chi phí quảnlý) so với sức lực bỏ ra
- Hình thức mua nguyên liệu bán thành phẩm: Hình thức này càng
được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam Các doanhnghiệp nhập khẩu nguyên liệu như vải, sợi, phụ liệu cho hàng may mặc từ nướcngoài, sau đó tự tổ chức sản xuất trên cơ sở nguyên liệu nhập khẩu về Khi hoàn
Trang 8thành sản phẩm sẽ tìm thị trường tiêu thụ Hàng sản xuất ra sẽ được mang nhãnhiệu sản xuất tại Việt Nam
Hình thức này khắc phục được một số nhược điểm chủ yếu của giacông sản xuất như: sản phẩm đưa ra thị trường, nếu gặp thuận lợi, giá cả hànghoá cao sẽ thu được lợi nhuận lớn, phát huy được năng lực sáng tạo của cán bộ,tạo được tên tuổi uy tín trên thị trường thế giới
Nhược điểm là việc nhập khẩu nguyên, phụ liệu từ nước ngoài chi phírất tốn kém,giá cả của các loại nguyên phụ liệu này thường xuyên biến độngkhông ổn định và so với những mặt hàng cùng loại mà chúng ta có thể sản xuấtđược ở trong nước thì tương đối đắt hơn
- Hình thức sử dụng nguyên liệu sản xuất trong nước dành cho sản xuất hàng xuất khẩu: So với 2 hình thức trên, hình thức tự cung này có ưu điểm
nhiều hơn vì tiết kiệm ngoại tệ, sử dụng nguồn nguyên phụ liệu trong nước sẽkéo theo rất nhiều ngành nghề khác phát triển tạo đà phát triển ngành côngnghiệp đất nước và thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Tuy nhiên để đạt được kết quả thì đòi hỏi có sự kết hợp của các bộ ngành và sựđoàn kết của các doanh nghiệp trong nước
Ba hình thức trên đều có ý nghĩa nhất định đối với ngành dệt may ViệtNam Gia công xuất khẩu qua nhiều giai đoạn vẫn trở thành hoạt động chủ yếucủa ngành may mặc Hiện tại khi đất nước còn đang nghèo, các ngành sản xuấtnói chung và ngành dệt may nói riêng vẫn còn lạc hậu thì phương thức gia côngvẫn còn có ý nghĩa rất to lớn, là bàn đạp để chúng ta thực hiện mục tiêu đến năm
2010 Nếu biết kết hợp một cách nhịp nhàng khéo léo và có hiệu quả cả 3phương thức trên thì chắc chắn trong thời gian gần ngành dệt may Việt Namchúng ta sẽ đạt được mục tiêu đề ra
Ngành may tuy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị và dây chuyền đồng bộ chuyên sản xuất một mặt hàng như dây chuyền may sơ mi, may quần
Trang 9âu, quần Jean, complet, hệ thống giặt là nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ngày càng cao Xuất khẩu hàng dệt may tuy đạt kim ngạch cao, nhưng chủ yếu làm gia công, ngành dệt vẫn nhập khẩu nhiều và nguyên liệu chosản xuất của ngành dệt hầu như hoàn toàn nhập khẩu từ nước ngoài
Vấn đề cần quan tâm hiện nay là khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào Eu được thực hiện qua các khâu trung gian như Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc Vì vậy, làm sao Việt Nam có thể tiếp cận và bán hàng trực tiếp sản phẩm dệt may, giảm bớt phụ thuộc vào các nhà đặt hàng trung gian, nâng cao hiệu quả xuất khẩu
Trong các mặt hàng may mặc xuất khẩu vào Eu, mới chỉ tập trung vào các mặt hàng dễ làm như áo jacket, sơ mi còn các mặt hàng có giá trị, đòi hỏi kỹ thuật cao hơn như bộ complet hay các loại áo sơ mi cao cấp thì ít doanh nghiệp có thể sản xuất được.Lại thêm việc có nhiều ý kiến lạc quan về xuất khẩu hàng dệt mayvào thị trường Mỹ sau khi có Hiệp định thương mại Việt Mỹ
Hiệp hội Dệt May Việt Nam với vai trò trao đổi và cung cấp thông tin; tư vấn và xúc tiến thương mại; thay mặt các hội viên khuyến nghị với Chính phủ
về những chính sách vĩ mô liên quan đến ngành đã và đang góp phần phát triển nền công nghiệp dệt may Việt Nam trong tiến trình hội nhập
Trong nhiều năm qua Chính phủ luôn quan tâm và hỗ trợ cho các doanh nghiệpxuất khẩu nói chung và ngành Dệt may nói riêng thông qua các chính sách vềthuế, tín dụng, xúc tiến xuất khẩu, ưu đãi đầu tư, chính sách tỷ giá và ngoại hối Chính nhờ có những chính sách đó của Nhà nước mà hoạt động xuất khẩu củanước ta trong những năm gần đây có bước phát triển mạnh mẽ Đặc biệt năm
2008, cả nước đã xuất khẩu được 63 tỷ USD, tăng 29%; trong đó ngành Dệt may
đã có đóng góp đáng kể Ngày 10 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã
Trang 10có Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành côngnghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có uy tín trên thị trường quốc tế, đượckhách hàng trong và ngoài nước biết đến như Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông,May Sài Gòn 3, May Sài Gòn 2, Dệt Phong Phú, Dệt Thành Công, Dệt sợi HàNội, May Scavi, May An Phước, May 10, May 28 sẽ có cơ hội tiếp nhận cácđơn hàng lớn
Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam làm ăn, góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Mặc dù vậy,ngành may mặc xuất khẩu Việt Nam vẫn có khoản lép vế trước các đối thủ cạnh tranh do nguyên phụ liệu trong nước chưa chủ động được bao nhiêu Vải nguyên liệu trong nước sản xuất mới đáp ứng được chưa đến 30% nhu cầu sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, nhiều loại phụ liệu thời trang chưa được đầu tư sản xuất và khả năng thiết kế thời trang công nghiệp chưa được khách hàng chú ý
Từ thực tế này cho thấy, các doanh nghiệp nhỏ cần có sự liên kết để cùng khai thác thiết bị các công đoạn đầu vào và hoàn tất sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Từ
đó, sẽ hình thành tam giác xuất khẩu: doanh nghiệp dệt thuê doanh nghiệp có hệ thống mắc hồ tốt, sản xuất vải mộc xong đưa đến cơ sở nhuộm và hoàn tất để gia công
2.một số thị trường xuất khẩu triển vọng vào thời điểm hiện tại của việt nam.
a.Thị trường Mỹ
thị trường Mỹ là một thị trường lớn và năng động nhất thế giới Nhucầu tiêu dùng ở thị trường này là rất lớn Với dân số hơn 280 triệu người, vàonăm 2001 người dân ở Mỹ tiêu thụ tới 272 tỷ USD cho quần áo, bình quân mộtngười Mỹ mua khoảng 54 bộ quần áo
Trang 11Những hàng hiệu nổi tiếng là những sản phẩm dễ dàng được chấpnhận ở thị trường này Tiêu chuẩn nhập khẩu của thị trường Hoa Kỳ đặt ra cũngtương đối khắt khe Các công ty dệt may xuất khẩu cần đạt tiêu chuẩn ISO9.000, ISO 14.000, SA 8000, WRPA…Đây là một yêu cầu hoàn toàn mới đốivới phía Việt Nam
Hiện nay, hàng may mặc Việt Nam còn đang ở mức thang điểm thấptrong đánh giá chất lượng của người tiêu dùng Mỹ - theo đánh giá của hiệp hộidệt may và da giầy Mỹ (AAFA).Hơn nữa, doanh nghiệp Mỹ cũng nhìn vào khảnăng cung cấp hạn ngạch xuất khẩu, các chương trình ưu đãi thuế quan, nguồncung cấp nguyên liệu, chất lượng lao động, sự ổn định của đồng tiền, năng lựcxuất khẩu, mức độ tuân thủ các thủ tục hải quan Mỹ, môi trường lao động
b.Thị trường EU
EU là một thị trường lớn với 378,5 triệu dân, tổng sản phẩm quốc nội(GDP) đạt trên 8.400 tỷ euro, sức tiêu thụ vải tương đối cao 17kg/ người, mỗinăm EU nhập khẩu bình quân 63 tỷ USD quần áo, trong đó có khoảng 35% lànhập khẩu từ Châu á, do vậy thị trường EU là thị trường không thể bỏ qua củacác doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Lúng túng của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn là thôngtin: nên xuất gì, xuất như thế nào? Hàng Việt Nam vào thị trường này không chỉphải cạnh tranh về chất lượng mà còn phải cạnh tranh bằng giá cả Vì vậy, hàngmuốn bán được, phải có những ưu điểm hơn sản phẩm cùng loại
EU là thị trường lớn và truyền thống của hàng dệt may Việt Nam Kimngạch xuất khẩu vào thị trường này thường chiếm 45 - 50% tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp ở Việt Nam Do đó chúng ta phải cónhững biện pháp để không bị giảm kim ngạch xuất khẩu vào thị trường nàytrong những năm tới
c.Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường truyền thống của Việt Nam đối với mặt hàng
Trang 12dệt may xuất khẩu Vốn là một thị trường Châu á nên có nhiều điểm tương đồngvới thị trường Việt Nam
Thị trường Nhật Bản có yêu cầu riêng về chất lượng của hàng hoá đó
là Japan indutrial standard (JIS) Hàng hoá có đáp ứng được tiêu chuẩn của JIS
đề ra sẽ dễ tiêu thụ trên thị trường Nhật Bản, bởi người Nhật Bản rất tin tưởnghàng hoá có đóng dấu JIS, nếu hàng hoá mà không có đóng dấu này thì khó màtiêu thụ được ở Nhật Bản
Các hoạt động xúc tiến thương mại vào thị trường Nhật Bản của cácdoanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế do chi phí khảo sát thị trường hết sứctốn kém Chính vì thế doanh nghiệp Việt Nam không nắm bắt được nhu cầuhàng hoá, thị hiếu tiêu dùng cũng như quy định về quản lý nhập khẩu của thịtrường Nhật Bản Với một thị trường hết sức năng động, mang nhiều nét đặc thùriêng như thị trường Nhật Bản thì việc thiếu thông tin sẽ hạn chế khả năng thâmnhập vào thị trường này
II.lợi thế phát triển
Với số dân trên 83 triệu người, tỷ lệ nữ giới lại rất lớn, đó là đội ngũ
lao động rất phù hợp cho ngành dệt may, một ngành đòi hỏi sự tỉ mỉ khéo léo,cần mẫn Người dân Việt Nam đặc biệt là phụ nữ Việt Nam nổi tiếng là nhữngngười siêng năng chuyên cần, thông minh, nhanh nhẹn tháo vát, là điều kiệnthuận lợi cho ngành dệt may Việt Nam ở Việt Nam giá nhân công thấp ở mứcdưới 2,5 USD/giờ (thuộc loại thấp nhất trong khu vực) Chi phí đầu tư thấp nhờ
có sẵn nhà xưởng cho thuê với giá rẻ của các tổ chức Nhà nước và tiếp cận đượcnhiều chủng loại thiết bị cơ bản không đắt tiền mới cũng như đã qua sử dụng củamột số nước thì chi phí sản xuất dệt may của Việt Nam thấp chỉ là 0,08 USD
Trang 13Bảng giá thành sản xuất tính theo các nước
Nước (không gồm chi phí vận chuyển) Chi phí sản xuất (USD) Xu hướng
Nguồn: Phân tích chi phí sản xuất SECO, 2001
Ngành dệt may là ngành không đòi hỏi phải có nhiều vốn đầu tư lớn
Để có thể xây dựng chỗ làm việc cho ngành dệt may thì vốn bỏ ra không nhiều
và thu hồi vốn cũng khá nhanh
Ngoài ra, các công ty trong khu vực đóng một vai trò quan trọng trongviệc cung cấp các mối liên kết marketing thiết yếu với thị trường tiêu thụ vàcung cấp gần như toàn bộ nguyên liệu cần thiết Các đối tác thương mại khu vựcChâu á và liên minh Châu Âu (EU) đã đem đến cho Việt Nam những cơ hội rấtlớn trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài, điều này ý nghĩa rất quan trọngđối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Một điều cần nói đến là khi Việt Nam gia nhập WTO ,ngành Dệt May
có đủ sức cạnh tranh và phát triển nếu trong môi trường cạnh tranh lành mạnh,không cần ưu đãi Với những điều kiện đó thì chắc chắn ngành Dệt May sẽ có 3cái lợi là xuất khẩu không bị khống chế quota; một số thị trường đang đối xửphân biệt về thuế, sẽ đưa thuế nhập khẩu xuống bình thường; được hưởng nhữnglợi ích từ môi trường đầu tư Nhưng xét cho cùng thì nguy cơ cạnh tranh trongmột sân chơi không bình đẳng của doanh nghiệp dệt may thời hội nhập là cóthật Bởi hàng rào bảo vệ thị trường nội địa bằng thuế thu nhập sẽ giảm xuốngtới mức tối đa (thuế nhập khẩu hiện hành 40% với vải và 50% với hàng may