Việc tìm hiểu về văn hoá tộc người, cụ thể là các nghi lễ trong vòng đời và việc bảo tồn, phát huy những giá trị của các nghi lễ đó là những việc làm rất cần thiết trong tiến trình xây d
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ HOÀNG MINH TÂM
CÁC NGHI LỄ TRONG VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI CƠ-TU Ở XÃ BHALÊÊ, HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Đà Nẵng - Năm 2022
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ HOÀNG MINH TÂM
CÁC NGHI LỄ TRONG VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI CƠ-TU Ở XÃ BHALÊÊ, HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 8310630
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ MAI AN
Đà Nẵng - Năm 2022
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TRANG THÔNG TIN TIẾNG VIỆT iii
TRANG THÔNG TIN TIẾNG ANH iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1 1.1 Cơ sở lý luận 1
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 1
1.1.2 Các lý thuyết nghiên cứu 4
1.2 Tổng quan về huyện Tây Giang và xã BhaLêê 6
1.2.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên 6
1.2.2 Điều kiện lịch sử - dân cư 9
1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 12
1.3 Khái quát về người Cơ-tu ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 14
1.3.1 Nguồn gốc và quá trình định cư, phát triển của tộc người 14
1.3.2 Tên gọi tộc người (tộc danh) 16
1.3.3 Đời sống văn hóa, xã hội 17
Tiểu kết Chương 1 21
CHƯƠNG 2 CÁC NGHI LỄ VÒNG ĐỜI VÀ GIÁ TRỊ NGHI LỄ TRONG VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI CƠ-TU Ở XÃ BHALÊÊ HUYỆN TÂY GIANG 23
2.1 Một số quan niệm của người Cơ-tu 23
2.1.1 Quan niệm về vũ trụ của người Cơ-tu 23
2.1.2 Quan niệm về cõi sống, cõi chết 25
Trang 82.2 Nghi lễ trong sinh đẻ 26
2.2.1 Quan niệm về sinh đẻ và nuôi dạy con cái 26
2.2.2 Các nghi lễ, tập quán trong sinh đẻ và giai đoạn trưởng thành 27
2.3 Nghi lễ trong hôn nhân 31
2.3.1 Quan niệm về hôn nhân, gia đình 31
2.3.2 Các nghi lễ, tập quán trong hôn nhân 33
2.4 Nghi lễ trong tang ma 42
2.4.1 Quan niệm về linh hồn và cái chết 42
2.4.2 Các nghi lễ trong tang ma 43
2.5 Các giá trị của nghi lễ 49
2.5.1 Giá trị nhân sinh 49
2.5.2 Giá trị nhân văn 50
2.5.3 Giá trị giáo dục 51
2.5.4 Giá trị tín ngưỡng 51
2.5.5 Giá trị cố kết cộng đồng 52
2.5.6 Giá trị văn hoá 52
2.5.7 Giá trị đạo đức 53
2.5.8 Giá trị nghệ thuật 54
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC NGHI LỄ TRONG VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI CƠ-TU Ở XÃ BHALÊÊ, HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 56
3.1 Biến đổi các nghi lễ trong vòng đời của người Cơ-tu 56
3.1.1 Thực trạng 56
3.1.2 Nguyên nhân 64
3.1.3 Các xu hướng biến đổi NLVĐ của người Cơ-tu 69
3.2 Giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người Cơ-tu thông qua các nghi lễ trong vòng đời 72
3.2.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 72
3.2.2 Quan điểm và giải pháp bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc Cơ-tu 75
Tiểu kết Chương 3 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 9UBND : Ủy ban nhân dân
UBMTTQVN : Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế như hiện nay, văn hoá các dân tộc nói chung, phong tục tập quán và các NLVĐ của các tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam nói riêng đã có những biến đổi nhất định do nhiều nguyên nhân khác nhau Việc tìm hiểu về văn hoá tộc người, cụ thể là các nghi lễ trong vòng đời và việc bảo tồn, phát huy những giá trị của các nghi lễ đó là những việc làm rất cần thiết trong tiến trình xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Dân tộc Cơ-tu cư trú chủ yếu tại các huyện như Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang tỉnh Quảng Nam; Nam Đông và A Lưới của Thừa Thiên Huế; xã Hoà Bắc và Hoà Phú, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng Riêng tại Quảng Nam, Cơ-tu là tộc người có dân số đứng thứ hai sau người Kinh Trong lịch sử, người Cơ-tu đã cùng với các dân tộc anh em trong các vùng cư trú đoàn kết đấu tranh chống thắng giặc ngoại xâm và cùng xây dựng đất nước Có nhiều mối quan hệ giao lưu trên các thành tố văn hóa diễn ra giữa những tộc người cận cư ấy Xuất phát từ điều kiện cư trú, hoạt động sản xuất và trình độ nhận thức tộc người, người Cơ-tu đã tôn thờ và có niềm tin vững chắc vào các thế lực siêu nhiên, các Yang… để từ đó có một đời sống tâm linh, tín ngưỡng rất đa dạng và phong phú Điều này thể hiện rất rõ nét thông qua các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Cơ-tu NLVĐ được xem là một môi trường khá bền vững trong việc bảo lưu vốn văn hóa truyền thống, bởi chính những nghi lễ ấy chứa đựng mọi yếu tố của bản sắc văn hóa Chính vì vậy, NLVĐ người là một môi trường tốt nhất để bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi tộc người Thông qua các nghi lễ, đặc trưng văn hoá tộc người được tái hiện, làm nên những sự khác biệt giữa họ với những cộng đồng người khác, giữa nhóm địa phương này với nhóm địa phương khác
Nghiên cứu NLVĐ chính là nghiên cứu giá trị văn hoá tinh thần cốt lõi của một dân tộc, từ đó tìm ra những luận điểm quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống trong thời đại ngày nay
Tìm hiểu giá trị văn hóa thông qua NLVĐ của tộc người Cơ-tu, một mặt giúp chúng ta thấy được đặc trưng văn hóa trong đời sống của tộc người này, mặt khác góp phần khẳng định sự phong phú, đa dạng trong bức tranh nhiều màu sắc về văn hóa tộc người thiểu số ở Việt Nam hiện nay Ngày nay, dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau như sự thay đổi về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giao lưu văn hóa,… NLVĐ đối mặt với rất nhiều nhiều biến đổi theo hai xu hướng tích cực và tiêu cực
Trang 12Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào có tính hệ thống, toàn diện, khẳng định những giá trị của NLVĐ trong văn hóa Cơ-tu tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam Tác giả được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Nam, bản thân mong muốn tìm hiểu về văn hoá của các cư dân đang cư trú trên quê hương mình, nhằm góp phần nhỏ bé vào việc khám phá, giới thiệu, gìn giữ và phát huy những nét độc đáo trong văn hoá tỉnh nhà
Từ những lý do trên, tác giả chọn “Các nghi lễ trong vòng đời của người Cơ-tu
ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn thạc sĩ ngành Việt Nam học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Giá trị văn hóa của người Cơ-tu luôn là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, chú ý Một số công trình tiêu biểu như sau:
- Tác phẩm “Những kẻ săn máu” của Le Pichon [33]: Đây là nghiên cứu đầu tiên
về người Cơ-tu ở Việt Nam của một đồn trưởng người Pháp Nội dung cuốn sách là những tư liệu phản ánh khá chân thực về con người Cơ-tu, văn hoá Cơ-tu vào những năm 30 của thế kỷ XX Với cách viết theo lối văn ký sự, Le Pichon đã đưa công trình này trở thành một trong những công trình sơ khảo dân tộc học Việt Nam ấn tượng ở thời điểm đó Sách được trình bày theo nhóm các vấn đề sau: làng, nhà và nghệ thuật Katu, những bài hát Katu, cái chết - sự thờ cúng người chết, những cuộc săn máu, các tập tục mê tín, lễ hội, vũ điệu Katu
- Công trình “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam)” của Viện
Dân tộc học [60]: Nội dung cuốn sách tập trung nói về các dân tộc ít người vốn sinh sống lâu đời, được quan niệm là những cộng đồng người bản địa tại những tỉnh phía Nam Trong đó có nêu ngắn gọn về điều kiện tự nhiên, dân cư, ngôn ngữ, tên gọi, kinh
tế, xã hội, văn hoá,… của người Cơ-tu
- Công trình “Tìm hiểu văn hoá Katu” của Tạ Đức [19]: Cuốn sách đưa ra một số
câu hỏi và một số câu trả lời, cùng với một số chủ đề về văn hoá Cơ-tu Thông qua đó, người đọc có thể khám phá được một trong những nền văn hoá người Cơ-tu ở Việt Nam trong cái nhìn so sánh với các nền văn hoá tộc người khác ở Việt Nam và Đông Nam Á
- Công trình “Katu kẻ sống đầu ngọn nước”, Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) [48]:
Trong công trình này, ngoài sự kế thừa những thành quả của người đi trước, các tác giả đã đặt lại vấn đề về sự hiện diện và diễn trình di trú, cũng như vai trò của nhóm Cơtuic và tộc người Cơ-tu trong lịch sử - văn hóa của cư dân miền Trung
- Công trình “Tìm hiểu con người miền núi Quảng Nam”, GS Đặng Nghiêm Vạn
(chủ biên) [57]: Tập sách tập hợp gần 30 bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh, nhằm giới thiệu những đặc trưng và cung cấp cho người đọc những hiểu
Trang 13biết ban đầu về con người, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán và truyền thống bất khuất trong kháng chiến của đồng bào các dân tộc anh em ở miền núi Quảng Nam
- Công trình “Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơ-tu” của Lưu Hùng [24]: Trong
công trình này, tác giả quan tâm nhiều tới việc nghiên cứu văn hóa, tín ngưỡng, phong tục, tập quán và đời sống vật chất nói chung của tộc người Cơ-tu Cụ thể, tác giả tập trung khai thác những nét cơ bản về văn hóa của người Cơ-tu ở từng khía cạnh khác nhau như nguồn gốc xuất xứ, kinh tế - xã hội, kiến trúc, nghề dệt, luật tục, hôn nhân, tang ma
- Công trình “Góp phần tìm hiểu văn hoá Quảng Nam”, Phạm Ngọc Sinh (chủ
biên) [40]: Ấn phẩm này là tập hợp các bài báo cáo khoa học đăng ở địa phương, các báo Trung ương, những bài viết tìm hiểu về văn hoá Quảng Nam Dưới nhiều góc độ khác nhau, các tác giả tập trung nghiên cứu truyền thống mở cõi, yêu nước và giá trị văn hoá đặc trưng của vùng đất - con người Quảng Nam Trong đó có khá nhiều bài nghiên cứu về đặc trưng văn hoá Cơ-tu như Gươl, hôn nhân truyền thống, truyện kể dân gian, tín ngưỡng,…
- Công trình “Văn hoá người Cơ-tu” của Bh’riu Liếc [5]: Đây là công trình nghiên
cứu của một người Cơ-tu Tác giả đã dành nhiều tâm huyết, tái hiện lại không chỉ đời sống văn hoá vật chất mà cả văn hoá tinh thần rất phong phú của tộc người mình
- Công trình “Người Cơ-tu ở Việt Nam” của Trần Tấn Vịnh [59]: Đây là cuốn
sách ảnh, tư liệu mang tính khái quát về tộc người Cơ-tu ở Việt Nam Tác giả đã trình bày theo từng chủ đề với những khuôn hình sinh động, bài viết ngắn gọn, súc tích giúp người đọc có thể hiểu biết thêm về cội nguồn, quá trình phát triển, đặc biệt là vốn văn hoá truyền thống lâu đời và đặc sắc của dân tộc Cơ-tu như kiến trúc Gươl, điệu múa Tâng tung - Da dá, những món ăn dân gian,…
- Công trình “Tổ chức xã hội truyền thống của người Cơ-tu ở huyện Nam Đông,
tỉnh Thừa Thiên Huế” của TS Trần Thị Mai An [1]: Công trình tuy có điểm nghiên
cứu là địa bàn huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế nhưng bức tranh tộc người
Cơ-tu ở Việt Nam nói chung vẫn được đề cập một cách tổng thể với các đặc điểm cơ bản của tổ chức xã hội, từ đơn vị thấp nhất là gia đình, dòng họ đến làng Công trình cũng chỉ rõ các xu hướng biến đổi đang diễn ra trong cơ cấu tổ chức và sự vận hành của các đơn vị tổ chức xã hội truyền thống của tộc người
- Các công trình đã được công bố của các tác giả Phan Hữu Dật [11], Nguyễn Hữu Thấu [43], Phan Thị Xuân Bốn [8], Nguyễn Xuân Hồng [23], …: Đây là những khảo cứu chuyên sâu về hôn nhân và gia đình các dân tộc Bắc Trường Sơn nói chung
và ở người Cơ-tu nói riêng Các tác giả đã giới thiệu và phân tích một cách hệ thống đặc điểm hình thái hôn nhân và gia đình của tộc người, các tàn tích liên minh hôn nhân
Trang 14ba thị tộc, khái niệm dòng họ, các đặc tính cơ bản của dòng họ - đơn vị có vai trò rất quan trọng trong đời sống hôn nhân và gia đình của người Cơ-tu
Ngoài ra, chúng ta còn có một số nghiên cứu riêng lẻ về ăn uống, nhà cửa, trang phục, nghề thủ công, tín ngưỡng, lễ hội, ngôn ngữ, văn học và tranh ảnh về tộc người Cơ-tu dưới dạng sách, luận án, báo, bài viết của các tác giả Đinh Hồng Hải [21], Trần Đức Sáng [38], Lê Anh Tuấn [54], Trần Tấn Vịnh [58], …
Nhìn chung, bằng nhiều phương pháp tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau, các tác giả đã giới thiệu khái quát văn hóa người Cơ-tu ở Việt Nam trên các phương diện đời sống văn hóa xã hội tộc người Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đề cập tới NLVĐ của tộc người Cơ-tu là rất khiêm tốn, nếu có đề cập thì chỉ dừng lại ở khía cạnh “miêu thuật”, khái quát chung chứ chưa có công trình nào mang tính hệ thống, toàn diện, đi sâu khai thác giá trị văn hóa của người Cơ-tu thông qua NLVĐ người
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nghi lễ trong vòng đời của người Cơ-tu
ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
4.2 Về phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện thành công đề tài này, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp chính sau:
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Đây là phương pháp mang tính xuyên suốt, giúp tác giả cập nhật thông tin về đối tượng nghiên cứu, tăng tính chính xác, khách quan và thuyết phục hơn cho các kết quả nghiên cứu Đồng thời, qua đó chúng ta có điều kiện kiểm tra lại tính chính xác của các nguồn tài liệu khác Phương pháp điền dã dân tộc học bao gồm các bộ công cụ của phương pháp như: quan sát, khảo tả, ghi
Trang 15chép, phỏng vấn, đối chiếu, so sánh…
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, trên cơ sở thu thập và chọn lọc trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu để sắp xếp và xử lý có hệ thống, nhằm phục vụ quá trình nghiên cứu của đề tài
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm các mục đích sau:
- Tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện về các nghi lễ trong vòng đời của người Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
- Làm rõ những yếu tố biến đổi hiện nay trong NLVĐ của người Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
- Đề xuất các giải pháp cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị nghi lễ trong vòng đời của người Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm sáng tỏ các nghi lễ trong vòng đời của người Cơ-tu hiện nay bao gồm nghi lễ trong lúc mang thai và sinh đẻ, khi trưởng thành, hôn nhân, tang
ma Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn chỉ ra đặc trưng văn hoá tộc người, giá trị của các nghi lễ trong chu kỳ đời người của cộng đồng Cơ-tu
Luận văn bước đầu dự báo xu hướng biến đổi của các nghi lễ trong vòng đời của tộc người, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người bền vững hơn
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo cùng phần phụ lục, đề tài được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu
- Chương 2: Các nghi lễ vòng đời và giá trị nghi lễ trong vòng đời của người
Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
- Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy các nghi lễ trong vòng đời của người Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
Trang 16Theo Từ điển Tiếng Việt [53], nghi lễ là nghi thức và trình tự tiến hành một cuộc lễ
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nghi lễ là những hoạt động mang tính truyền
thống được thực hiện tại những thời điểm quan trọng trong đời sống và trong hoạt
động sản xuất của con người Có thể phân biệt hai loại: nghi lễ chính là loại gắn với
chu kỳ đời người (sinh đẻ, cưới xin, ma chay) gọi là nghi lễ gia đình; còn một loại liên
quan đến sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác gọi là nghi lễ theo lịch
[35, tr 20]
Về mặt từ nguyên, từ “nghi lễ” bắt nguồn từ tiếng Latin là Ritus - nghĩa là hành
vi có trật tự Về mặt ý nghĩa của từ này các nhà nhân học đã đưa nhiều định nghĩa khác nhau Durkheim (1912) cho rằng nghi lễ “là hoạt động chỉ ra những quy định (rule) con người biết để tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình trước những đối tượng thiêng” Nghi lễ theo Tylor là phương tiện giao tiếp với những thực thể linh hồn” là
“cầu nguyện, hiến tế, nhịn ăn, định hướng và tẩy uế” Theo Victor Turner, nghi lễ (ritual) “là hành vi được quy định có tính chất nghi thức dành cho những dịp, không liên quan đến công việc có tính chất kỹ thuật hàng ngày, mà có quan hệ với các niềm tin vào đấng tối cao hay các sức mạnh thần bí”,… [56, tr 23]
Như vậy, có thể hiểu, nghi lễ là những hành vi được tổ chức vào những dịp nhất
định, có tính chất nghi thức, trang trọng và mang ý nghĩa biểu tượng, được lặp đi lặp lại, diễn ra trong thời gian và không gian xác định [56]
- Vòng đời (chu kỳ đời người)
Vòng đời là một trình tự sắp xếp các giai đoạn và thời kỳ mà mỗi người phải trải qua trong cuộc đời của một con người bình thường, và là một cách thức thuộc văn hóa
để quy định sự trưởng thành và thay đổi của con người [56, tr 23]
Theo Từ điển Tiếng Việt, thứ nhất, chu kỳ là khoảng thời gian nhất định để một quá trình tuần hoàn lặp lại sự diễn biến của nó một cách đều đặn; thứ hai, chu kỳ là khoảng thời gian tương đối không đổi giữa hai lần diễn ra kế tiếp nhau của một hiện tượng thường xuyên lặp đi lặp lại [53]
Nói một cách khác, vòng đời (chu kỳ đời người) là sinh - lão - bệnh - tử Ở đây, sinh là con người được sinh ra; lão là con người lớn lên, trưởng thành và già đi; bệnh
Trang 17là những loại bệnh tật xuất hiện trong cuộc đời con người đặc biệt là lúc con người chuyển sang giai đoạn tuổi già thì các bệnh tật thường xuất hiện nhiều hơn; tử là lúc con người chết Đó là một quá trình mà con người sinh ra, lớn lên, già đi và chết [35,
tr 20]
Từ các khái niệm trên, trong luận văn này xác định khái niệm vòng đời (chu kỳ đời người) là quá trình sống của một con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết
- NLVĐ (nghi lễ chu kỳ đời người)
GS Ngô Đức Thịnh cho rằng, NLVĐ “là những nghi lễ liên quan đến cá nhân từ
khi sinh ra đến khi chết” [45, tr 23]
Có thể hiểu, NLVĐ (nghi lễ chu kỳ đời người) là những hành động có tính khuôn mẫu, gắn với ba sự kiện quan trọng của cuộc đời là sinh đẻ, hôn nhân và tang ma Những hành động này được thực hiện theo một trật tự nhất định, lặp đi lặp lại trong cuộc đời của một con người Nó được truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác [35, tr 21]
Như vậy, mỗi vòng đời của con người bắt đầu từ khi được sinh ra, lớn lên, trưởng thành, thay thế ông bà, cha mẹ trong những công việc gia đình, xã hội và nhiều công việc khác như hiếu, hỉ, thờ cúng tổ tiên, tiến hành lễ tết, hội hè đình đám, rồi già và chết đi Với mỗi giai đoạn đó con người thường được tổ chức các nghi lễ chứa đựng đầy đủ ý nghĩa nhân văn Những nghi lễ này chính là mốc để đánh dấu con người bước sang một giai đoạn mới, có một địa vị mới trong gia đình và xã hội
NLVĐ thuộc về mỗi cá nhân nhưng nó được gia đình, dòng họ, cộng đồng thực hiện Vì vậy, NLVĐ không chỉ liên quan đến một con người, mà liên quan đến cả cộng đồng Nó là sự thừa nhận của cộng đồng với mỗi cá nhân trong những bước ngoặt quan trọng Thông qua nghi lễ, con người cá nhân hòa nhập với gia đình, dòng họ và cộng đồng
- Nghi lễ sinh đẻ
Từ điển Nhân học định nghĩa: Sinh đẻ là công việc của phụ nữ trong khi họ cố gắng và dùng cơ dạ con của họ để đẩy những đứa con từ thế giới riêng bên trong tử cung ra một xã hội và văn hóa rộng lớn hơn [56, tr 24]
Sinh đẻ để có thêm người lao động, có người nối dõi tổ tông và nương tựa lúc về già Có con cũng là niềm hạnh phúc của các cặp vợ chồng, gia đình và dòng họ Tuy nhiên, trong truyền thống, khi mạng lưới y tế còn khó khăn, người phụ nữ mang thai phải chịu nhiều nguy hiểm Vì vậy, ngoài những tri thức dân gian được áp dụng thì
việc thực hành nghi lễ cũng rất được xem trọng
Như vậy nghi lễ sinh đẻ là những nghi lễ được thực hiện trong quá trình từ khi người mẹ mang thai cho đến khi đứa trẻ sinh ra, được công nhận là thành viên chính
Trang 18thức của gia đình Các nghi lễ này nhằm mục đích bảo vệ cho đứa trẻ và người mẹ được mạnh khỏe, bình an
- Nghi lễ hôn nhân
Hôn nhân theo Từ điển Nhân học là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ gia đình mới [35, tr 22]
Tác giả Đỗ Thúy Bình cho rằng: “Hôn nhân là sự liên kết giữa một nam và nữ được hợp thức hóa bởi tập quán và luật pháp tạo thành một gia đình Sau hôn nhân là những gia đình với tổng thể các mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên và các nghi lễ trong gia đình và cộng đồng” [35, tr 22]
Như vậy, nghi lễ hôn nhân được hiểu là các nghi lễ diễn ra theo tập quán hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân Nghi lễ hôn nhân là một thủ tục để khẳng định cuộc hôn nhân đó là hợp pháp, được cộng đồng và luật pháp công nhận, nó làm thay đổi địa vị xã hội của con người Nghi lễ hôn nhân nhằm mục đích đảm bảo cho sự chứng kiến và sự công nhận từ phía cộng đồng, ngoài ra nó còn thực hiện một số yếu tố tâm linh gắn với cuộc hôn nhân Qua nghi lễ hôn nhân chúng ta thấy được bản sắc văn hóa tộc người [35, tr 23]
- Nghi lễ tang ma
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tang ma hay còn gọi là tang lễ là những nghi
lễ, hành động ứng xử đối với người chết… Tang lễ thường gắn với những quy định, nghi thức thờ cúng, kiêng cữ nhất định và cả việc chu cấp thức ăn, nước uống cho người chết [35, tr 23]
Trong luận văn này, khái niệm tang ma được xác định là những hành động ứng
xử đối với người đã chết Tang ma thường gắn với những quy định, nghi thức thờ cúng, kiêng cữ nhất định Vậy nghi lễ tang ma là nghi thức và trình tự tiến hành hành
động ứng xử đối với người đã chết
- Biến đổi văn hoá
Theo từ điển Tiếng Việt, biến đổi là “thay đổi hoặc làm cho thay đổi thành khác trước”
Như vậy, biến đổi có thể xảy ra trong nhiều lĩnh vực như tự nhiên, xã hội, văn hóa,… nó là thuật ngữ dùng để chỉ những điều khác so với trước đó Biến đổi văn hóa chính là sự thay đổi của các yếu tố trong văn hóa khác với những giai đoạn trước đó Văn hóa sản sinh phục vụ nhu cầu của con người, vì vậy nó cũng biến đổi để phù hợp với hoàn cảnh và thực tiễn Biến đổi văn hóa thường diễn ra khi có sự tác động, tiếp xúc, giao lưu giữa các tộc người và chịu sự chi phối của các yếu tố kinh tế, chính trị,
Trang 19văn hóa
Tại Khoản 1 và 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định, tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng
1.1.2 Các lý thuyết nghiên cứu
- Lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi
Nghi lễ chuyển đổi được nhà nhân học người Pháp gốc Bỉ Arnold Van Gennep
(1873 - 1975) phân tích có hệ thống trong tác phẩm The rite of passage (1909) Ông phân tích khá sâu sắc các nghi lễ liên quan đến những thời kỳ chuyển tiếp, có tính quyết định đời sống xã hội của một con người Ông đã khái quát một cách đầy đủ và khoa học về NLVĐ người, trong đó ông nhấn mạnh đến những giai đoạn quan trọng như sự chào đời và thời thơ ấu, nghi lễ thành đinh, lễ đính hôn và kết hôn, tang lễ Ông cho rằng những thay đổi trạng thái của con người làm khuấy động cuộc sống cá nhân,
và để giảm thiểu các tác động có hại đó, một số nghi thức chuyển tiếp ra đời Tất cả
các hoạt động liên quan đến nghi lễ có thể chia làm ba giai đoạn chính: Nghi thức phân
ly (trước ngưỡng), nghi thức chuyển tiếp (trong ngưỡng), nghi thức hội nhập (sau
ngưỡng) [56, tr 28]
Giai đoạn phân ly bao gồm hành vi tượng trưng báo hiệu sự tách rời của một cá nhân hay một nhóm người khỏi vị trí cố định trước đó trong cấu trúc xã hội hoặc khỏi một hệ thống các điều kiện văn hóa (một trạng thái) Trong giai đoạn giữa (giai đoạn ngoài lề), trạng thái của đối tượng thụ hưởng nghi lễ (người được chuyển tiếp) là rất
mơ hồ, người đó trải qua một địa hạt mà ở đó hầu như không có hoặc hoàn toàn không
có những thuộc tính của trạng thái đã qua hay trạng thái sắp đến Ở giai đoạn cuối cùng người được chuyển tiếp hoàn thành nghi thức Tuy nhiên, không phải ba giai đoạn này diễn ra như nhau ở tất cả các nghi lễ, nghi lễ của sự phân ly thường được thể hiện trong lễ tang, nghi lễ của sự hội nhập ở lễ cưới và nghi lễ của sự chuyển tiếp trong
lễ đính hôn, lễ thành đinh Mỗi nghi lễ Arnold Van Gennep quan tâm đến khía cạnh
“cái gì”, “như thế nào”, “tại sao”, “cấu trúc” và “diễn tiến” [66]
Điều mà Van Gennep quan tâm không phải là các nghi thức xét về mặt chi tiết
mà là ý nghĩa chủ đạo và những tình huống tương đối, trình tự nghi lễ, chỉ ra các nghi thức phân ly, bên lề và sum họp, sự tồn tại của các mép lề, lý do các lớp nghi lễ [56, tr 28-29]
Như vậy, có thể thấy rằng, nghi lễ chuyển đổi biểu thị sự chuyển đổi về mặt
không gian, thời gian, từ vị thế xã hội này sang vị thế xã hội khác của một cá thể hay
Trang 20một nhóm xã hội Nghi lễ chuyển tiếp phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa và chịu ảnh hưởng của văn hóa tộc người, bởi vậy ở mỗi nền văn hóa khác nhau, nghi lễ chuyển tiếp sẽ được tiến hành dưới những hình thức khác nhau Đây cũng chính là cơ sở lý thuyết để tác giả vận dụng vào nghiên cứu, luận giải về các nghi lễ trong vòng đời của người Cơ-tu nói chung và người Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang nói riêng
- Lý thuyết về bản sắc văn hoá tộc người
Lý thuyết về bản sắc văn hóa tộc người được F Boas đưa ra để chỉ tính đặc thù
của văn hóa tộc người Theo quan điểm này, các nhà nghiên cứu, trong đó có các nhà Dân tộc học và Nhân học nhấn mạnh đến những bản sắc riêng, có tính riêng biệt trong văn hóa của mỗi cộng đồng tộc người Bản sắc văn hóa tộc người là những nét đẹp, những tinh hoa đã được chắt lọc từ trong cuộc sống của cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận, là sự kết nối, gắn bó giữa con người với nhau, là tài sản vô giá hết sức quý báu của cả cộng đồng, dân tộc, tạo nên sức sống diệu kỳ và sức mạnh tinh thần để vượt
qua những khó khăn, thử thách, những trở ngại trong cuộc sống [35, tr 27]
Bản sắc văn hóa tộc người là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần mang tính đặc trưng và đặc thù của tộc người, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác Bản sắc văn hóa tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử gắn liền với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường địa lý tự nhiên trong đời sống của từng tộc người và chúng có sức sống lâu bền, thậm chí ngay cả khi đời sống của tộc người có những biến đổi mạnh mẽ Bản sắc văn hóa tộc người cũng thể hiện rõ rệt sức sống của một tộc người, được lưu giữ trong những thành tố văn hóa khác nhau, đặc biệt là ở ý
thức tộc người hay nhóm tộc người (nhóm địa phương) [35, tr 27]
Trong luận văn này, tác giả vận dụng lý thuyết về Bản sắc văn hóa tộc người để
nghiên cứu, nhận diện những sắc thái riêng trong các NLVĐ của người Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang đặt trong bối cảnh phát triển và hội nhập của đất nước nói
chung, đặc biệt là trong điều kiện biến đổi ở địa phương hiện nay
- Lý thuyết về biến đổi và tiếp biến văn hoá
Biến đổi và tiếp biến văn hóa được trường phái Nhân học Anglo - Saxon khởi
xướng vào cuối thế kỷ XIX Biến đổi văn hóa là một quá trình tất yếu diễn ra trong tất
cả các xã hội và ở tất cả các tộc người trong xã hội phát triển, đang phát triển hay chậm phát triển Thuộc tính biến đổi thể hiện ngay trong chính nội hàm của khái niệm văn hóa; văn hóa biến đổi do tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh Tiền đề của biến đổi là sự lựa chọn của các tộc người Văn hóa các tộc người luôn biến đổi để thích nghi với những biến đổi đã và đang diễn ra xung quanh tộc người và có tác động đến đời sống tộc người Khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa, các nhà nhân học thường
lý giải dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau như Tiếp biến văn hóa, Tiến hóa
Trang 21luận, Truyền bá văn hóa, Thuyết sinh thái văn hóa [35, tr 28] Để lý giải sự biến đổi
của các nghi lễ trong vòng đời của người Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang, trong
luận văn này, tác giả thiên về cách tiếp cận Tiếp biến văn hóa
Tiếp biến văn hóa dùng để diễn giải quá trình thay đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp
xúc của hai hệ thống văn hóa độc lập; sự tiếp xúc đó làm tăng đặc tính của nền văn hóa này trong nền văn hóa kia Tiếp biến văn hóa bao gồm nhiều quá trình khác nhau như truyền bá, thích nghi, phản ứng lại, với nhiều kiểu tái tổ chức văn hóa xã hội sau quá trình tiếp xúc và sau cùng là “tan rã văn hóa” Phạm vi điều chỉnh trong đó có giữ lại đặc điểm văn hóa chủ đạo (thuyết đa nguyên bền vững) hay đặc trưng hơn là nhóm tiếp xúc có ảnh hưởng lớn đồng hóa nhóm yếu hơn và có sự hợp nhất về văn hóa (mặc
dù hiếm xảy ra), do đó hai nền văn hóa có thể trao đổi các yếu tố để tạo nên một nền văn hóa kế cận đặc biệt Vì tiếp biến văn hóa bao hàm sự tương tác của hai hay nhiều nhóm văn hóa riêng biệt nên sự tương tác xã hội giữa các nhóm sẽ quyết định kết quả thu được [35, tr.28]
Tiếp biến văn hóa được tác giả vận dụng trong luận văn để lý giải sự biến đổi của
các NLVĐ của người Cơ-tu tại điểm nghiên cứu Sự biến đổi của các nghi lễ trong vòng đời người Cơ-tu được nghiên cứu dưới sự ảnh hưởng của chủ trương, chính sách Nhà nước, sự biến đổi môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội, cũng như sự biến đổi xuất phát từ chính trong nội bộ tộc người Cơ-tu hay còn gọi là biến đổi nội sinh - là sự tự nhận thức về biến đổi Văn hóa tộc người, trong đó có NLVĐ của người Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang không phải là bất biến mà luôn vận động, biến đổi theo thời gian và trong không gian cảnh quan tộc người Sự biến đổi đó ngày càng rộng lớn về quy mô và nhanh, mạnh về cường độ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mà không một dân tộc nào, đất nước nào có thể đứng ngoài sự giao lưu, hội nhập trên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, thương mại và văn hóa [35]
1.2 Tổng quan về huyện Tây Giang và xã BhaLêê
1.2.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên
* Vị trí địa lý
Huyện Tây Giang là một huyện miền núi cao nằm phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 180 km, cách thành phố Đà Nẵng 125 km Ở vị trí địa lí theo tọa độ từ 15o45’ đến 16o05’ vĩ độ Bắc, từ 107o05’ đến 107o35’ kinh độ Đông Toàn huyện có 10 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó, 08/10 xã trên địa bàn huyện có đường biên giới với nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào1 và 21 km tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua Huyện giáp giới với các đơn vị hành chính khác như sau:
1 Gồm: A Nông, A Tiêng, A Xan, BhaLêê, Ch'ơm, Ga Ri, Lăng và Tr'Hy
Trang 22phía Đông giáp huyện Đông Giang; phía Tây giáp huyện Kàlừm và huyện Đắc Chưng, tỉnh Sê Kông, Lào; phía Nam giáp huyện Nam Giang; phía Bắc giáp huyện Alưới và Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế Huyện Tây Giang có tổng diện tích 931,7 km2, chiếm tỷ lệ khoảng gần 9,0% diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Nam2; trong đó, tổng diện tích rừng của địa phương này hơn 900 km2 với trên 70% là diện tích rừng tự nhiên [63]
Cũng như các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Giang nằm trên dãy Trường Sơn Đông với địa hình khá phức tạp, hiểm trở, nằm giữa những dãy núi cao che chắn, bị chia cắt bởi nhiều sông, suối chằng chịt, có độ dốc lớn và chảy xiết Địa hình huyện Tây Giang cao dần từ Đông sang Tây với các cấp độ khác nhau Theo điều kiện địa hình, huyện Tây Giang chia thành các vùng sau:
- Vùng đồi núi cao: Tập trung chủ yếu tại các xã: Ga Ri, Ch’ơm A Xan, Tr’hy Tại đây có nhiều loại lâm sản quý như thông, dỗi, sến, pơmu và nhiều loại động như khỉ, vượn, gấu, nai, lợn rừng, rùa, trăn, rắn,
- Vùng địa hình đồi núi thấp: Tập trung chủ yếu tại các xã A Tiêng, A Vương, BhaLêê
- Vùng địa hình thung lũng gò đồi: Tập trung chủ yếu ở các xã A Nông, A Vương và xã Dang
* Địa chất, thổ nhưỡng
Thổ nhưỡng kết hợp với kiểu dạng địa hình đặc trưng nên địa bàn huyện Tây Giang rất phù hợp với ngành sản xuất lâm nghiệp và cây dược liệu Đất trên chủ yếu là đất đỏ vàng trên đá sét (Hs), đá biến chất (Fj), đất phù sa… Trong đó, đất vàng trên đá sét (Hs) phân bố chủ yếu ở vùng có độ cao từ 700m - 1.300m nên xói mòn mạnh, tầng đất mỏng, hàm lượng mùn cao, màu vàng; loại đá biến chất (Fj) phân bố tập trung vùng gò đồi; loại đất phù sa chủ yếu ở ven các con sông, suối lớn và một số ít ở chân
gò đồi, thành phần cơ giới thịt trung bình, có đá lộ đầu rải rác đến tập trung, thích hợp trồng cây lâu năm và cây lâm nghiệp, cây hoa màu, lúa nước Bên cạnh đó, huyện Tây Giang có một số loại khoáng sản mang lại giá trị kinh tế cao như: vàng, đá granit, đá vôi, đất sét, …
Hệ sinh thái núi rừng huyện Tây Giang có sự đa dạng sinh học cao, hệ động thực vật rất phong phú, đa dạng với các loại động vật quý hiếm như sơn dương, sao la, chồn bay, mèo rừng, hổ, gấu, nai, mang…; nhiều loài thực vật đặc hữu, có giá trị lớn về sinh học, khoa học và văn hoá, lịch sử như lim xanh, pơ mu, đỗ quyên, sến, chò, dổi…; nhiều loại dược liệu quý như: thạch sương bồ, thiên niên kiện, ba kích, đảng sâm, …
2 Tây Giang là một trong 3 đơn vị hành chính có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh Quảng Nam, bên cạnh huyện Nam Giang (1.846,6km 2 ) và Phước Sơn (1.153,3km 2 )
Trang 23Do sự tàn phá của chiến tranh và sự khai thác bừa bãi của con người nên một số rừng
gỗ và động vật quý hiếm ngày một giảm dần, trong đó có một số loài tuyệt chủng cần được bảo tồn
Hiện nay, trên địa bàn huyện có Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam và quần thể rừng nguyên sinh gồm 1.146 hơn 1000 cây pơ-mu đã được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận là cây di sản Việt Nam vào các năm 2015 và 2018
* Khí hậu - thời tiết
Huyện Tây Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa thuộc Đông Trường Sơn, đặc trưng với kiểu khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình hằng năm là 220C, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm là 100C-150C, lúc cao nhất là 380C
và thấp nhất là khoảng 80C Lượng mưa trung bình năm khoảng 2.650mm; có 02 mùa
rõ rệt, mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa ít nhất thường xảy ra vào tháng 6, tháng 7 và mưa nhiều vào các tháng 10, 11; độ ẩm trung bình năm 86% Trên địa bàn chịu ảnh hưởng bởi 02 hướng gió chính: gió Tây Nam (gió Lào) từ tháng 6 đến tháng 7 và gió mùa Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 02 năm sau Hàng năm có trên 1.000 giờ nắng, sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày
và đêm khá cao Những yếu tố về khí hậu tạo điều kiện cho cây trồng phát triển Bão thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 10 hằng năm Hệ thống sông ngòi, suối, khe trên địa bàn mật độ dày đặc, lòng sông, suối hẹp và dốc, khả năng bào mòn, rửa trôi, sạt lở lớn Hiện tượng lũ quét thường xảy ra mỗi khi có đợt mưa lớn từ đầu nguồn các khe, suối
* Nguồn nước
Huyện Tây Giang có mật độ sông, suối dày; có 3 con sông tương đối lớn là sông
A Vương, sông Lăng và sông Mơ Rông:
- Sông A Vương: Sông A Vương là hệ thống sông chính của huyện, có thượng nguồn từ biên giới Việt - Lào chảy qua địa phận huyện Tây Giang, đi qua các xã Lăng,
A Tiêng, BhaLêê và A Vương rồi sau đó đổ vào địa phận huyện Đông Giang, thuộc tỉnh Quảng Nam Đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của Nhân dân trên địa bàn
- Sông Lăng bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào qua địa phận xã Lăng, huyện Tây Giang rồi đổ về sông Bung qua huyện Nam Giang, thuộc tỉnh Quảng Nam
- Sông Mơ Rông bắt nguồn từ huyện Nam Đông, thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế đi qua địa phận xã A Vương đổ về huyện Đông Giang, thuộc tỉnh Quảng Nam
Nhờ cảnh quan tự nhiên có sự phân bố sông, suối tương đối nhiều và rộng đã góp phần cân bằng cho hệ sinh thái môi trường trên địa bàn huyện, cung cấp một lượng phù sa đáng kể, nhất là vào các mùa lũ; đồng thời góp phần điều tiết lưu lượng dòng
Trang 24chảy về sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam
A Tiêng và phía Bắc giáp địa phận huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế và nước Cộng
hoà Dân chủ nhân dân Lào
Môi trường tự nhiên xã BhaLêê phản ảnh các điều kiện sinh thái, tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của huyện Tây Giang với kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Trường Sơn; hệ động thực vật phong phú, đa dạng về chủng loại; tài nguyên rừng, tài nguyên đất, khoáng sản khá phong phú; địa hình chủ yếu là rừng núi, bị chia cắt mạnh
và thấp dần theo hướng từ Tây sang Đông Trên địa bàn BhaLêê, dòng sông Chơr Lang có chiều dài hơn 21 km, là một trong những phụ lưu của hệ thống sông Thu Bồn, bắt nguồn từ sườn Nam dãy núi ở rìa phía Bắc xã, giáp ranh với huyện A Lưới và biên giới Việt Lào; chảy qua các làng A Tép, R'Cung rồi xuôi về hướng Nam đổ vào dòng
sông A Vương tại làng A Dích
Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của xã BhaLêê, huyện Tây Giang thuận lợi để phát triển nhiều ngành nghề kinh tế khác nhau, đặc biệt là nghề khai thác lâm thổ sản, trồng rừng, trồng dược liệu, các nghề thủ công cần thiết phục vụ nhu cầu đời sống, sinh hoạt của người dân Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên nơi đây cũng mang lại nhiều điều bất lợi, địa hình bị chia cắt mạnh, sông suối, đèo dốc nên đi lại khó khăn, làm hạn chế trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, mạng lưới điện cũng như tổ chức đời sống xã hội và sản xuất; các hiện tượng tự nhiên cực đoan như hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất diễn ra thường xuyên, ảnh hưởng lớn đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân
1.2.2 Điều kiện lịch sử - dân cư
Trước khi có danh xưng Quảng Nam, Tây Giang ngày nay là một phần lãnh thổ nằm dưới quyền quản lý của vương quốc Chăm Pa Đến năm 1306, khi công chúa Huyền Trân nhà Trần về làm vợ vua Chiêm là Chế Mân, phần đất phía Nam đèo Hải Vân cho đến bờ Bắc sông Thu Bồn đã thuộc chủ quyền Đại Việt Năm
1402, miền Tây Quảng Nam - vùng thượng nguồn các sông Thu Bồn, Vu Gia, Tam
Kỳ (địa bàn các huyện miền núi Quảng Nam ngày nay, trong đó có Tây Giang) được đặt trên là Trấn Tân Ninh
Trang 25Vào năm 1471, sau khi bình Chiêm thắng lợi, vua Lê Thánh Tông lập ra Đạo thừa tuyên Quảng Nam gồm 03 phủ: Thăng Hoa (Quảng Nam), Tư Nghĩa (Quãng Ngãi) và Hòai Nhơn (Bình Định), huyện Tây Giang ngày nay thuộc phủ Thăng Hoa Đến thế kỉ XVI, vùng đất Tây Giang thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa Năm 1602, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đặt ra dinh Quảng Nam, đến năm
1604, huyện Điện Bàn đổi tên thành phủ Điện Bàn thuộc dinh Quảng Nam, vùng đất Tây Giang ngày nay thuộc phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam Đến năm 1832, vua Minh Mạng đổi tên dinh Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam, vùng đất Tây Giang ngày nay trực thuộc phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Năm Thành Thái thứ 11 (1900), Nam triều cắt hai tổng Đại An, Hoài Mỹ của huyện Tiên Phước và 3 tổng của huyện Đức Hòa,
An Phước, Phú Khê của huyện Hòa Vang để thành lập huyện Đại Lộc với 5 tổng, 109
xã, thôn, phường, châu Huyện Hiên nay là huyện Tây Giang nói chung thuộc huyện Đại Lộc lúc bấy giờ
Đến năm 1948, theo quyết định của Ủy ban kháng chiến tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, toàn tỉnh tiến hành đợt hợp xã lần thứ 2 Tại lần hợp xã này, vùng núi Bến Giằng được tách khỏi huyện Đại Lộc để thành lập châu Bến Giằng, đến cuối năm
1948, châu Bến Giằng được đổi thành huyện Bến Giằng (nay là huyện Đông Giang); Tây Giang về mặt hành chính vẫn thuộc về huyện Đại Lộc Đến ngày 01 tháng 10 năm
1950, vùng núi Tây Bắc huyện Đại Lộc được tách ra khỏi huyện Đại Lộc để thành lập huyện Bến Hiên
Tháng 01 năm 1959, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, huyện Hải Nam được thành lập, gồm các xã biên giới Lào thuộc huyện Bến Hiên, Bến Giằng, lúc này Tây Giang trực thuộc huyện Hải Nam Đến năm 1960, tiếp tục sát nhập huyện Hải Nam, Bến Hiên, Bến Giằng và miền Tây huyện Hòa Vang thành huyện Thống Nhất; Tây Giang ngày nay trực thuộc huyện Thống Nhất
Cuối năm 1962, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được tách thành hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà, Tây Giang ngày nay thuộc tỉnh Quảng Đà Sau khi tách tỉnh, tháng
3 năm 1963, huyện Thống Nhất giải thể, chia thành 3 huyện là Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang
Cuối năm 1974, theo chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Đà, Đông Giang và Tây Giang được hợp nhất thành huyện Hiên Ngày 01/01/1997, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được chia tách thành hai đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương; huyện Hiên trực thuộc tỉnh Quảng Nam Sau khi tách tỉnh, huyện Hiên gồm có 16 xã: Ch’ơm, A Xan, Tr’hy, A Tiêng, BhaLêê, A Vương, Tà Lu, Dang, Mà Cooih, A Rooi, Za Hung, Ka Dăng, Sông Kôn, A Ting, Ba, Tư và thị trấn P’rao
Ngày 20/6/2003, Tây Giang được thành lập trên cơ sở chia tách, điều chỉnh địa
Trang 26giới hành chính của huyện Hiên tỉnh Quảng Nam thành huyện Đông Giang và Tây Giang theo Nghị định số 72/2003/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ Huyện Tây Giang
có 10 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: A Nông, A Tiêng, A Vương, A Xan, BhaLêê, Ch'ơm, Dang, Ga Ri, Lăng, Tr'Hy Tháng 9/2003, trung tâm hành chính huyện tạm đóng tại thôn Arơh, xã Lăng Ngày 07/9/2005, trung tâm hành chính huyện đặt tại thôn Agrồng, xã A Tiêng cho đến ngày nay [7, tr 16]
Về dân cư, tổng dân số của huyện thống kê đến năm 2020 là 20.140 người, mật
độ trung bình 22,04 người/km2; trong đó, 10.433 nam (chiếm tỷ lên 49,2%), 100% dân
số của huyện đang sinh sống ở khu vực nông thôn [2, tr.121] Về thành phần dân tộc, trên địa bàn huyện có các thành phần tộc người định cư sinh sống như: Kinh, Cơ-tu, Mường, Thái, Tày, Mnông, Ve, Xơ-Đăng, Chăm, Hrê và Tà-ôi; trong đó, có đến 92,21% dân số trong huyện là người dân tộc Cơ-tu [2, tr.162] Dân cư trên địa bàn huyện Tây Giang nói chung, xã BhaLêê nói riêng sinh sống rất phân tán, phần lớn định
cư tập trung men theo các con sông, suối hoặc chân đồi, sườn núi
Bảng 1.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số tại huyện Tây Giang
Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện Tây Giang [2, tr 121], [7, tr 75]
Lịch sử xã BhaLêê gắn liền với quá trình lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất Tây Giang, Quảng Nam Tên gọi, địa giới hành chính của xã ổn định với tư cách đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam kể từ sau Nghị định số 72/2003/NĐ-CP ngày 20/6/2003 của Chính phủ về chia tách huyện Hiên thành các huyện Đông Giang và Tây Giang
Ngày nay, xã BhaLêê có tổng cộng 07 thôn trực thuộc, gồm thôn Bhloóc, thôn Azứt, thôn R'cung, thôn Ta Lang, thôn Atêếp, thôn Đang và thôn Adzốc; hiện nay
Trang 27trung tâm hành chính xã đặt tại thôn Azứt
Năm 2020, tổng dân số trên địa bàn xã BhaLêê là 2.720 người, mật độ dân số 38 người/km2, là địa phương xã có dân số và mật độ dân số đứng thứ hai, sau xã A Tiêng Hiện nay trên địa bàn xã có 06 thành phần tộc người định cư sinh sống, gồm: Cơ-tu, Mường, Tà-ôi, Chăm, Mnông và Gié Triêng Trong đó, Cơ-tu là tộc người có lịch sử định cư lâu đời trên địa bàn xã và có số dân đông nhất, chiếm tỷ lệ trên 90% tổng dân
số của địa phương
1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Từ khi được chia tách theo Nghị định số 72/2003/NĐ-CP của Chính phủ, xuất phát điểm về kinh tế, xã hội huyện Tây Giang nói chung, xã BhaLêê nói riêng còn rất thấp, các điều kiện về điện, đường, trường, trạm, sóng thông tin liên lạc hầu như không
có, đời sống Nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ đói nghèo
cao, mức độ hưởng thụ của người dân đối với các dịch vụ xã hội còn nhiều hạn chế
Sau gần 20 năm tái lập huyện (2003-2022), được sự quan tâm của Trung ương, tỉnh, toàn thể Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Tây Giang đã nỗ lực vượt khó, quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đạt được những thành tựu quan trọng Kinh tế tăng trưởng nhanh, văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, quốc phòng - an ninh được tăng
cường, giữ vững ổn định chính trị, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt
Về kinh tế, nếu năm 2003, nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 54,65%; công
nghiệp, xây dựng 2,53%; dịch vụ 36,24% thì đến năm 2013, nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 57,58%; công nghiệp xây dựng 32.02%; dịch vụ 40,39% Thu nhập bình quân đầu người năm 2003 là 1,4 triệu đồng và đến năm 2013 đạt 10.20 triệu đồng
Về y tế, trên địa bàn huyện có 12 cơ sở y tế, bao gồm: 01 bệnh viên, 01 phòng
khám và 10 trạm y tế xã với tổng số giường bệnh 130 giường và 104 nhân lực y tế là bác sĩ, y sĩ [10, tr 612]
Về giáo dục, năm 2006, Tây Giang hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi;
năm 2008 hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở Cơ sở vật chất giáo dục được tăng cường, tỷ lệ phòng học được kiên cố đạt trên 70% Đến nay, huyện Tây Giang có 23 cơ sở trường học công lập các cấp với tổng cộng 249 lớp; gồm 07 Trường mầm non công lập với 74 lớp, 16 trường phổ thông với 175 lớp và 300 giáo viên [10, tr 567-568-572]
Về nông nghiệp, huyện chủ trương tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng, con
vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của từng vùng, hướng dẫn, chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho Nhân dân áp dụng vào sản xuất, năng suất khiến chất lượng sản phẩm cây trồng, con vật nuôi ngày càng tăng lên; có điều kiện thực hiện nhiều mô hình thử nghiệm giống cây trồng, con vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao như:
Trang 28sâm Ngọc linh, táo mèo, thảo quả, cá tầm Nga… Đặc biệt, huyện đã triển khai trồng cây cao su đại diện tại các xã vùng thấp góp phần tăng thu nhập, sớm xóa đói, giảm nghèo cho người dân
Về văn hóa - văn nghệ, thông tin - thể dục thể thao, lĩnh vực này cũng đạt được
nhiều kết quả khả quan, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ của Nhân dân Đặc biệt, huyện đã bám sát các nhiệm vụ chính trị để tập trung tuyên truyền, nhất là Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu; 54/63 thôn công nhận thôn văn hóa; 55/63 thôn có Gươl3 Công tác phát thanh, truyền hình, thông tin tăng về số lượng, chất lượng từng bước được nâng lên Phong trào thể dục, thể thao được duy trì
và phát triển
Về quốc phòng - an ninh, huyện đã củng cố, tăng cường, xây dựng lực lượng,
làm tốt vai trò tham mưu, góp phần chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn và xử
lý có hiệu quả các loại tội phạm, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, trật tự
an toàn xã hội trên địa bàn huyện
Đồng thời, huyện đã tập trung quy hoạch sắp xếp, bố trí tái định cư, ổn định đời sống người dân; gắn việc phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; lồng ghép nhiều nguồn vốn đầu tư để xây dựng hệ thống mạng lưới giao thông trên địa bàn các
xã, thực hiện bê tông hóa giao thông nông thôn với phương châm “ở đâu có đường ở
đó phát triển”; hệ thống giao thông nội đồng được đầu tư, góp phần phục vụ đi lại và sản xuất cho Nhân dân Ngoài ra, huyện cũng chú trọng đầu tư hệ thống điện phục vụ sinh hoạt sản xuất cho Nhân dân Tập trung đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm hành chính huyện, bộ mặt đô thị dần được hình thành, nông thôn miền núi ngày một khởi sắc
Tuy nhiên, mặc dù chính quyền và Nhân dân Tây Giang đã có nhiều nỗ lực nhưng kinh tế phát triển chưa nhanh, thiếu bền vững, quy mô nhỏ và giá trị tuyệt đối thấp; các tiềm năng và thế mạnh địa phương vẫn chưa được tận dụng và phát huy tối đa; sự huy động và sử dụng các nguồn lực đầu tư cho phát triển còn hạn chế; chất lượng giáo dục vẫn còn nhiều trăn trở; công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tộc người Cơ-tu chưa hiệu quả; các tệ nạn xã hội vẫn còn tồn tại
Do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, đến nay, Tây Giang vẫn còn là huyện nghèo Theo Quyết định 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, tỉnh Quảng Nam có
3 Số liệu tính đến hết năm 2021, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam cung cấp
Trang 2970 xã đặc biệt khó khăn thì huyện Tây Giang có 10/10 xã nằm trong danh sách được Chính phủ phê duyệt4 Đây là những xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cần được đầu tư, hỗ trợ nguồn lực để phát triển trong thời gian đến Trong đó, xã BhaLêê là một trong 07 xã khu vực III của huyện Tây Giang
Năm 2019, tổng doanh thu thuần sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Tây Giang đạt 248 tỷ đồng, chỉ đứng trên huyện Nam Trà My (173 tỷ đồng) trong tổng số 18 đơn vị hành chính cấp huyện tỉnh Quảng Nam [10, tr 257] Diện tích cây lương thực có hạt năm 2020 là 1.656 ha với tổng sản lượng 4.342 tấn (thấp nhất tỉnh) [10, tr 388-389]; tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người năm
2020 là 216 kg, trong khi đó sản lượng bình quân của tỉnh Quảng Nam là 338 kg/người/năm [10, tr 390]
Hiện nay, số lượng hộ nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn huyện Tây Giang còn khá cao, với 3.581 hộ nghèo/5.415 hộ dân, chiếm tỷ
lệ 66,13%; số hộ cận nghèo 61 hộ, chiếm tỷ lệ 1,13% Trong đó, số hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số 3.572 hộ, chiếm tỷ lệ 99,749% trên tổng số hộ nghèo trên địa bàn huyện Năm 2021, xã BhaLêê có 493 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 71,35% tổng số hộ dân trên địa bàn xã; là xã xếp vị thứ 13 theo số hộ nghèo và thứ 18 theo tỷ lệ hộ nghèo trong tổng số 241 xã, phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh [70] Trong khi đó, đa phần người dân sinh sống bằng nghề nông lâm nghiệp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường tự nhiên Không những thế, hằng năm, người dân còn chịu ảnh hưởng nặng
nề do thiên tai, bão lũ, sạt lở đất và dịch bệnh gây ra, dẫn đến tình trạng thiếu đói lương thực kéo dài, nhất là giữa thời điểm giáp hạt sau Tết Nguyên đán, gây khó khăn cho đời sống Nhân dân và sự ổn định, phát triển của địa phương
1.3 Khái quát về người Cơ-tu ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam
1.3.1 Nguồn gốc và quá trình định cư, phát triển của tộc người
Về nguồn gốc lịch sử, cho đến ngày nay chưa có công trình nghiên cứu xác định thời điểm cụ thể dân tộc Cơ-tu nói riêng, các dân tộc thiểu số bản địa nói chung đến định cư trên vùng đất tỉnh Quảng Nam Những cứ liệu lịch sử để lại rất ít và đa phần bằng các ngôn ngữ khác như tiếng Việt (chữ Hán- Nôm), Chăm, Lào bởi các dân tộc thiểu số vùng miền núi tỉnh Quảng Nam trước đây đều không có chữ viết Tuy nhiên, qua kết quả khảo cứu của các chuyên ngành dân tộc học, nhân học, ngôn ngữ và văn hóa học, nhất là nghiên cứu các di sản văn học dân gian (folklore), ngôn ngữ cho phép xác định dân tộc Cơ-tu cùng với các dân tộc khác định cư trên địa bàn như Tà-ôi, Gié Triêng, Mnông, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme, hệ Nam Á, có địa bàn phân bố
4 Gồm: 07 xã khu vực III (Ch’Ơm, Ga Ri, A Xan, Tr’Hy, BhaLêê, A Vương, Dang); 02 xã khu vực I (xã Lăng, A Nông) và 01 xã khu vực II (A Tiêng)
Trang 30phía Bắc dãy Trường Sơn
Về địa bàn cư trú, “xét trong khu vực thì vùng ven biển, duyên hải đồng bằng dọc với vùng cư trú của người Cơ-tu là vùng thuộc nền văn hoá Sa Huỳnh, thế nhưng các cư dân thuộc nền văn hoá Sa Huỳnh nằm trong ngữ hệ Mã lai đa đảo (Malayô Pôlinediên)” [31, tr 22] Sự khác biệt về ngữ hệ này là một tồn tại khó khăn để xác định rõ nguồn gốc của họ
R.Mole - một nhà nhân học Mỹ, viết: “…Người Cơ-tu có thể đã đến vùng cư trú hiện nay của họ hoặc bằng cách di cư từ vùng thung lũng sông Mekong xuống, sau đó lên vùng núi, hoặc tới vùng ven biển Nam Trung Hoa rồi bị đẩy lên vùng cao” [19, tr 6]
Một số nhà ngôn ngữ học khác cho rằng: ngành ngôn ngữ Cơ-tu gần gũi nhất với các ngành ngôn ngữ Việt và Bana Có thể cách đây khoảng 4000 năm đã có một ngôn ngữ tổ tiên chung cho các ngành trên Các bằng chứng khảo cổ học, dân tộc học cũng cho phép đoán định rằng: cách đây hơn 4000 năm, tổ tiên chung của người Việt, Mường, Cơ-tu, Bana, những người trồng lúa đã cư trú và dần lan toả khắp vùng lưu vực sông Hồng (bao gồm Vân Nam và miền Bắc Việt Nam ngày nay) Tiếp đó, họ đã trở thành những chủ nhân của nền văn hoá Đông Sơn Từ hơn 2000 năm trước, do sự tăng dân số và các cuộc chiến tranh, nhiều nhóm nhỏ của cư dân Đông Sơn từ miền Bắc đã di cư sang phía Tây và về phía Nam Con cháu của họ giờ đây trở thành nhiều tộc người khác nhau về tên gọi và ngôn ngữ ở Việt Nam và Đông Nam Á [19, tr 7] Ngoài ra, một số giả thuyết khác nhận định, cách đây khoảng 300 năm, những biến động do sự bành trướng của cư dân Lào xuống phía Nam, cùng với thời kỳ hưng thịnh của tập đoàn phong kiến Lào, các cư dân Lào trong đó có tổ tiên người Cơ-tu bị chèn ép, phải mở rộng lãnh thổ của mình sang phía Đông Họ đã chiếm cứ vùng núi Bắc Trường Sơn, từ Thừa Thiên Huế, Quảng Trị cho đến phía Tây Bắc tỉnh Quảng Nam [31, tr 23]
Riêng với người Cơ-tu, trong truyền thuyết của các dòng họ như Hiên, Bhriu, đồng bào kể rằng tổ tiên họ có thời đã ở khu vực Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Sau đó, trong quá trình đi tìm đất để trồng trọt đã thiên di vào phía Nam
Khi nghiên cứu về sự hình thành các dân tộc ít người tỉnh Quảng Nam, bao gồm cả dân tộc Cơ-tu, cố giáo sư Đặng Nghiêm Vạn đã dẫn ra nhiều minh chứng về
sự tương đồng trong đời sống văn hóa giữa cư dân vùng cao Quảng Nam (gồm dân tộc Cơ-tu) với người Việt (người Kinh), “các dân tộc miền núi Quảng Nam hiện nay là cư dân bản địa của miền trung Đông Dương, có quan hệ nguồn gốc với nhóm Việt- Mường Tổ tiên họ cư trú ở một địa bàn rộng hơn Sự có mặt của người Chàm (Chăm) đã tách tổ tiên họ với tổ tiên người Việt, thu hẹp lãnh thổ của họ về phía
Trang 31Suốt nhiều thế kỷ qua, có thể xảy ra những sự biến đổi, xáo trộn, di chuyển một
bộ phận dân cư từ Bắc vào Nam, từ Nam sang Tây Nguyên nhân của việc này hoặc
do tác động của thiên nhiên, phương thức sản xuất, hoặc do sự lấn chiếm, chèn ép của các dân tộc cận cư… để rồi cuối cùng họ đã có mặt tại khu vực cư trú như ngày nay Trải qua quá trình lịch sử hình thành và phát triển, cộng đồng tộc người này có mối quan hệ mật thiết về nguồn gốc và văn hoá với cộng đồng người Việt-Mường cổ
và được biểu hiện tập trung, sâu sắc qua nhiều khía cạnh của đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng, như: văn hóa tâm linh- tín ngưỡng (tục thờ thần hộ mệnh, thờ thần sông, thần núi, thần đá, thần cây; tục lệ đâm trâu, tục dựng cây nêu ), quan niệm về thời gian, mùa vụ trong năm; trong các tục lệ thăm viếng, hôn nhân, tang ma; trang phục truyền thống, ngôn ngữ, kiến trúc nhà sàn, lễ hội cầu mùa, các trò chơi và nghệ thuật dân gian
1.3.2 Tên gọi tộc người (tộc danh)
Cơ-tu là một tộc người mà khi lý giải tộc danh đã gợi lên nhiều điều khá lý thú
Họ được nhắc đến với các tên và cách viết khác nhau như: Ca Tu, Ka Tu, Kan Tu, Tou, C’tu, Khatu, Càtu, Katu, Cơtu, Teu, Kaoto, Cơ Tu,… Riêng số lượng tên gọi cũng đã cho ta thấy sự phức tạp trong việc định danh ở tộc người này
Trong các bài viết xuất hiện trên báo chí và một số sách báo, tham khảo, công trình nghiên cứu, giới thiệu… một số học giả không dùng tên Cơ-tu mà thường sử dụng từ “Katu” để nói về dân tộc Cơ-tu và giải thích tên gọi đó Le Pichon cho rằng Katu thực sự không nhằm để chỉ tộc danh mà đó là từ gọi chung những người hoang
dã Vài học giả phương Tây khác (Mole, Parkin) lại quan niệm Katu là tên gọi của các tộc người láng giềng gọi người Katu, có nghĩa là “người dã man” điều này có liên quan tới tục săn đầu hay “săn máu” của họ Hay G.Hickey đã ghi nhận rằng tên Katu nhằm chỉ định những người sống trong vùng liên quan đến đầu nguồn [48, tr 30] Cũng có nhiều ý kiến cho rằng, Katu đã là tên tự gọi lâu đời của người Cơ-tu
Trước đây, rất có thể do người Cơ-tu chưa có được một hệ thống chữ viết riêng, hoàn chỉnh nên sự đa dạng trong tên gọi đó là do có sự khác nhau trong quá trình tìm hiểu tộc dân, nghiên cứu cách phát âm và phiên âm để viết nên
Trang 32Ta có thể dễ dàng nhận thấy, trong các cách viết trên thì hầu hết danh từ nào cũng đều đi với từ “Tu” Tuy nhiên, tựu trung lại thì Cơ-tu và Katu vẫn xuất hiện nhiều hơn cả và dường như chúng là một Sở dĩ ghi “Katu” thay vì gọi “Cơ-tu” bởi một vài nhà nghiên cứu muốn thiên về cách phát âm (Theo Nguyễn Hữu Thông, từ
“Coh” khi phát âm nghiêng về âm “a” hơn là âm “ơ” [48, tr 32]) Xét về mặt ngữ nghĩa, Cơ-tu có nghĩa đen là người ở đầu nguồn, trên cao (Tu = đầu nguồn nước); nghĩa là tên gọi này xuất phát từ tập quán cư trú lâu đời của họ Trong thực tế, các làng Cơ-tu thường được lập ở đầu sông ngọn suối Thiết nghĩ, cách tự gọi cộng đồng mình gắn với đặc điểm nơi cư trú cũng là một hiện tượng thường gặp Qua khảo sát, tìm hiểu, thu thập ý kiến thì cách gọi và cách lý giải này cũng đã được đông đảo người dân Cơ-tu đồng tình
Ngày 02/3/1979, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ký Quyết định số TCTK/PPCĐ ban hành Danh mục các dân tộc Việt Nam gồm 54 dân tộc Từ đó đến nay, thành phần, tên gọi của các dân tộc, trong đó có dân tộc Cơ-tu được sử dụng
121-chính thức trong các văn bản của Đảng và Nhà nước cũng như ở các địa phương Tuy
nhiên, thực tế hiện nay, trên các văn bản của Nhà nước hoặc tài liệu của các nhà
nghiên cứu, chúng ta thường bắt gặp cách viết Cơ Tu hoặc Cơtu (Theo Kết quả nghiên
cứu của các nhà dân tộc thuộc Học viện dân tộc học - Uỷ ban Khoa học - Xã hội (nay
là trung tâm KHXH & Nhân văn Quốc gia) [31, tr 21]) Trong luận văn này, tác giả
sử dụng thống nhất cách viết là Cơ-tu theo quy định tại Quyết định số TCTK/PPCĐ của Tổng cục Thống kê [62]
121-Bên cạnh đó, người Cơ-tu còn có một số tên gọi để phân biệt nhau tuỳ theo vùng sinh sống như Cơ-tu Cao hay Cơ-tu Driu (sống ở vùng núi cao), Cơ-tu Chalây hay Cơ-tu Phương (sống ở vùng lưng chừng núi) và Cơ-tu Hạ hay Cơ-tu Nal (sống
ở vùng thấp)
1.3.3 Đời sống văn hóa, xã hội
Đặc trưng văn hóa - xã hội truyền thống của người Cơ-tu được biểu hiện sinh động qua hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng; trong đó, tập trung ở thiết chế văn hóa - xã hội làng truyền thống mà trong ngôn ngữ Cơ-tu được
gọi là vêêl, bươl hay krnon Mỗi vêêl thường quần cư từ 20 đến 30 nóc nhà, số lượng
thành viên từ 150 đến 250, mỗi nóc nhà là nơi cư trú của một gia đình truyền thống từ
3 đến 4 thế hệ Mỗi vêêl đều có một ranh giới phân chia với nhau, ranh giới ấy có thể
là ngọn núi, con suối, thác nước, rừng cây,… Làng của người Cơ-tu được xây dựng tại những nơi cao ráo, gần nguồn nước và thường phân bố dọc theo các con sông, khe suối, có đất canh tác và nghĩa địa riêng Trong một làng, các hộ gia đình đều bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ Ý kiến của các thành viên trong làng đều được tôn
Trang 33trọng Cùng với đó là ở các lễ hội mang tính chất toàn làng, các tín ngưỡng thuộc lĩnh vực “hội mừng, hội chia buồn, đau thương” mọi thành viên trong làng đều có nghĩa vụ bày tỏ tâm trạng, chung sức, xem đó như là việc của mình và có trách nhiệm cùng xử
lý, giải quyết Trong làng của người Cơ-tu tự hình thành nên một Hội đồng già làng trên cơ sở các hộ gia đình cử lên thành viên để Hội đồng này trao đổi, bàn bạc, điều hành giải quyết công việc chung của làng Người đứng đầu Hội đồng già làng là chủ làng (già làng) - là người có kinh nghiệm, kiến thức trong đời sống và sản xuất; có vai trò, uy tín và tiếng nói quan trọng nhất trong cộng đồng, đưa ra quyết định trong những công việc có tính hệ trọng của dân làng Mỗi làng đều có luật tục riêng có tính quy chuẩn, ràng buộc đối với các thành viên trong làng cũng như các vấn đề đối ngoại, ứng
xử của làng đối với các cộng đồng làng khác Trong tổ chức xã hội ấy, mỗi thành viên trong cộng đồng làng đều có ý thức cao về nguồn gốc tộc người, tinh thần đoàn kết, không gian sinh tồn, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mình đối với làng
Trong xã hội cổ truyền, một làng được hình thành từ một hoặc hai dòng họ gọi là Cabhu, về sau do quan hệ hôn nhân ngoại tộc và sự đổi thay trong quá trình du canh du
cư nên dần dần hình thành nhiều dòng họ trong một làng Những người cùng Cabhu có cùng một ông tổ, một dấu hiệu để nhận nhau và liên quan đến một truyền thuyết hay một tập tục kiêng kỵ nhất định Nói cách khác, Cabhu là những bộ phận người có chung tín ngưỡng tôtem giáo Đồng bào Cơ-tu ở Quảng Nam hiện nay có khoảng 30 dòng họ truyền thống như: Alăng, Abiing, Arất, Arâl, Atiing, Bh’riu, Bh’nướch, Bluúp Cêr, Cơlâu, Hiêng, Pơlong, Zơrâm,… Mỗi họ lưu truyền một huyền thoại về gốc tích họ mình và thường có điều kiêng cữ nhất định
Ở giữa mỗi vêêl thường có sự hiện diện của nhà làng (Gươl) Trong kiến trúc truyền thống, ngôi nhà làng (Gươl) với biểu tượng đôi chim grooc, chim tring được khắc trên đầu hồi đóng vai trò quan trọng, vừa là không gian sinh hoạt chung của dân làng, có chức năng lưu giữ truyền thống văn hóa, đồng thời là nơi tổ chức các hoạt động chung của cộng đồng như lễ hội, các sự kiện tâm linh, tín ngưỡng của dân làng Nhà ở truyền thống của người Cơ-tu theo kiểu kiến trúc nhà sàn phổ biến của các dân tộc Trường Sơn
- Tây Nguyên Trong mỗi Gươl chứa đựng nhiều tác phẩm điêu khắc, hội họa, trang trí dân gian Người Cơ-tu chú trọng trang trí Gươl cho đẹp theo thẩm mỹ và quan niệm cổ truyền của họ Gươl càng to càng đẹp thì càng chứng tỏ sức mạnh, tài năng, uy tín của cộng đồng làng, vì thế Gươl còn là niềm tự hào của dân làng Bên cạnh kiến trúc Gươl, người Cơ-tu có những công trình kiến trúc khác như nhà ở (đông), nhà nghỉ ngơi (moong), chòi rẫy (zơng) kho lúa (ki xấp), nhà mồ (ping)…
Về trang phục, trang sức, đàn ông Cơ-tu đóng khố cởi trần, đàn bà mặc váy Trang phục của họ rất phong phú, đa dạng bao gồm khố, váy, áo, tấm choàng, dây
Trang 34buộc đầu, dây thắt lưng, tấm địu con,… Trên các trang phục của người Cơ-tu có trang trí nhiều hoa văn khác nhau được tạo ra chủ yếu bằng hạt cườm chì và cườm nhựa màu trắng cùng với những môtip hoa văn đặc trưng Trang sức của họ cũng khá phong phú
và đặc sắc Nếu trong trang phục người Cơ-tu có sự phân biệt về giới tính thì trong trang sức lại có sự tương đồng giữa nam và nữ Tất cả mọi người dân Cơ-tu đều thích đeo trang sức và họ còn bảo lưu nhiều loại hình trang sức như vòng cổ, vòng tay, vòng chân, khuyên tai, nhẫn… Chất liệu được sử dụng làm đồ trang sức gồm bạc, đồng, gỗ, xương, đồng xu, mã não, thuỷ tinh màu, hạt cườm ngũ sắc… đôi khi có loại trang sức bằng nanh, vuốt thú rừng và một số vật nuôi
Trong sinh hoạt hàng ngày, ngoài nghề dệt vải, đồng bào còn một số nghề thủ công như đan lát các dụng cụ sinh hoạt gia đình như gùi, nong bia, chiếu, nghề làm đồ gốm Cuộc sống của đồng bào vẫn mang nặng tính tự túc tự cấp Người Cơ-tu là cư dân nông nghiệp trồng trọt, có truyền thống canh tác rẫy lâu đời Lúa rẫy là cây lương thực thực chính bao gồm cả lúa tẻ và lúa nếp, mỗi loại đều có hàng chục giống khác nhau Bên cạnh lúa, trên rẫy trồng nhiều thứ hoa màu, lương thực khác như: ngô, sắn, chuối, mía, dưa, bí, bầu, rau cải, …Cũng như các dân tộc khác, đồng bào làm rẫy theo lối đa canh, xen canh và luân canh
Văn hóa ăn uống của đồng bào cũng rất phong phú, đa dạng Là một cư dân nông nghiệp nương rẫy, lương thực chính của họ là sản phẩm làm ra từ nương rẫy như lúa, sắn, bắp Thức ăn của người Cơ-tu ngoài các loại rau trái lấy từ rừng chế biến thành món ăn hàng ngày còn có các loại thịt gia súc chăn thả trong của gia đình, các loại động vật trên cạn và dưới nước do họ săn bắt được Phương thức chế biến thức ăn của người dân nơi đây chủ yếu là luộc, nấu thành canh hoặc nướng Các món ăn truyền thống như bánh sừng trâu, cá suối nấu ống tre, cơm lam, zará (gồm rau, măng, thịt rừng cho vào ống nứa tươi đun chín), thịt ống, thịt nướng… Ngoài rượu cần là thứ đồng bào tự chế biến, còn phần lớn đều dựa vào thiên nhiên, như rượu tà vạt, rượu tà đin… đây là thức uống thơm ngon, bổ dưỡng, hấp dẫn, được dùng trong các lễ hội truyền thống
Trong văn hóa tâm linh, người Cơ-tu có tín ngưỡng đa thần với quan niệm vạn vật hữu linh Họ tin rằng thế giới xung quanh mình đều có thần linh, ma quỷ; rất nhiều hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, gió…, các vật thể trong thiên nhiên như núi, sông, rừng… đến các loại đồ vật trong nhà như chiêng, ché… tất cả đều có linh hồn hay còn
gọi là thần (abhuy), con người và các loài động vật khi chết đi cũng biến thành ma Họ
quan niệm thần linh và ma quỷ với sức mạnh siêu nhiên, có thể giúp đỡ, đem lại điều tốt lành hay gây hại cho con người Trong đó, Yang là quan trọng nhất, có vai trò bảo
vệ dân làng bình an, mạnh khoẻ, mùa màng bội thu và mỗi người dân Cơ-tu đều có
Trang 35trách nhiệm sùng bái, tôn thờ Yang
Với niềm tin tín ngưỡng của mình, người Cơ-tu đã hình thành nên một hệ thống các phong tục, tập quán mang bản sắc văn hoá riêng từ các tập quán trong việc canh tác, sản xuất đến những nghi lễ trong vòng đời Đồng bào còn bảo lưu nhiều lễ hội liên quan đến tập quán canh tác nương rẫy; lễ nghi vòng đời người; lễ hội cộng đồng… Trong lễ nghi nông nghiệp, đáng chú ý nhất là lễ ăn mừng lúa mới (cha haroo têmê); lễ mừng Gươl mới Lễ hội tổ chức lớn nhất tức là lễ hội ấy có đâm trâu Lễ hội đâm trâu thường diễn ra trong hai đến ba ngày
Về nhạc cụ, cồng chiêng là loại nhạc cụ độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá trong đời sống cộng đồng của người Cơ-tu Mỗi loại cồng chiêng đều có âm thanh tiêu biểu (nếu đánh riêng lẻ) và cồng chiêng nào cũng có chức năng, được định vị rõ ràng (nếu đánh chung cả dàn) Nói cách khác, cồng chiêng có tiếng nói, tâm sự riêng của từng loại và sinh hoạt cồng chiêng cho ta thấy rõ tính tổ chức cộng đồng, nó là biểu tượng mang tính cộng đồng Cùng với cồng chiêng, người Cơ-tu còn có nhiều loại nhạc cụ khác như trống, tù và, sáo, khèn, đàn abel, đàn tưl,…
Cùng với âm nhạc, múa là loại hình biểu diễn có đầy đủ tính nghệ thuật, phản ánh được nhận thức, vẻ đẹp của thể chất, trang phục và thể hiện cả những đặc trưng văn hoá của cộng đồng Múa của người Cơ-tu luôn gắn với âm nhạc cồng chiêng và nằm trong không gian của lễ hội Múa Cơ-tu được chia làm hai loại: Múa nam gọi là Tâng tung, múa nữ gọi là Da dá Vũ điệu Tâng tung - Da dá được thể hiện ở tất cả các lễ hội cộng đồng của người Cơ-tu Đây có thể được ví như một điệu dân vũ mà
cả hình tượng lẫn nhịp điệu là “Bám đất, dâng trời” Đàn ông múa Tâng tung đôi bàn chân không bao giờ rời khỏi mặt đất, rầm rập từng bước nhún nhảy theo điệu chiêng trống, thân người thẳng như cây rừng, đôi tay vung mạnh bạo Người phụ nữ múa Da
dá đôi chân cũng không rời mặt đất, di chuyển nhịp múa theo vòng tròn, đặc biệt là đôi bàn tay vươn lên trời, xoè ra tạo hình tượng người phụ nữa có bàn tay nâng đỡ cả trời đất Tất cả các làng của người Cơ-tu đều có những người biết múa điệu múa truyền thống của mình Điệu múa này là nét riêng của dân tộc Cơ-tu, chứa đựng những tinh túy của đời sống văn hóa tộc người và đó là điều làm cho dân tộc Cơ-tu khác với các tộc người khác
Kho tàng văn học dân gian Cơ-tu rất phong phú với nhiều thể loại như: cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn, ca dao, tục ngữ… Có một loại hình truyện dài, khi
kể sử dụng cả nhạc điệu (vừa kể vừa ngâm) mà các nhà nghiên cứu cho rằng có thể xem nó như trường ca Việc lưu truyền vốn văn học dân gian này thông qua hình thức truyền miệng Nghệ thuật diễn xướng dân gian cũng khá phong phú với nghệ thuật nói
lý, hát lý, những làn điệu dân ca ba booch, bhơ nooch trữ tình, đằm thắm
Trang 36Tiểu kết Chương 1
Việc nghiên cứu về người Cơ-tu đã được các học giả trong và ngoài nước quan tâm từ rất sớm, nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố Mỗi công trình là một phát hiện mới những đặc điểm về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Cơ-
tu Tuy nhiên, NLVĐ của người Cơ-tu ở xã BhaLêê, huyện Tây Giang vẫn là đề tài còn bỏ ngỏ Chính vì vậy, luận văn này nhằm xác định và làm rõ những nghi lễ trong chu kỳ đời người, sinh đẻ, hôn nhân, tang ma, của người Cơ-tu tại địa bàn nghiên cứu Việc tổng quan các công trình nghiên cứu đã giúp tác giả có được những kiến thức tổng hợp về văn hóa của người Cơ-tu nói chung và của người Cơ-tu cư trú tại xã BhaLêê nói riêng, kế thừa được những kết quả nghiên cứu của các công trình đã công
bố trước đó Đây là nguồn tư liệu phong phú để tác giả tham khảo
Qua phân tích các khái niệm có liên quan đến đề tài giúp tác giả có cơ sở khoa học để xác định và giới hạn đối tượng, phạm vi và những phạm trù nghiên cứu của luận văn NLVĐ được hiểu là những nghi lễ gắn với mỗi cá nhân từ khi sinh ra tới khi chết
Trên cơ sở làm rõ một số khái niệm then chốt cũng như vận dụng các lý thuyết nghiên cứu như lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa, lý thuyết biến đổi văn hóa, lý thuyết nghi lễ chuyển đổi, luận văn đã coi đó là “nền tảng” để đánh giá, xem xét diễn trình của các nghi lễ cũng như sự thích ứng biến đổi trong NLVĐ của người Cơ-tu ở
xã BhaLêê, huyện Tây Giang
Vùng miền núi phía Tây Quảng Nam là nơi sinh sống của người Cơ-tu Từ bao đời nay, họ đã dựng bản làng, làm rẫy, làm nhà và sống hoà hợp với thiên nhiên Tuy vẫn còn nhiều thách thức nhưng với tình cảm gắn bó, ý chí kiên trì của mình họ vẫn bám trụ và hình thành nên cho mình những giá trị văn hoá đặc sắc, đa dạng, mang dấu
ấn riêng của dân tộc Cơ-tu Văn hoá của cộng đồng dân tộc Cơ-tu được biểu hiện qua
hệ giá trị truyền thống như ngôn ngữ tộc người; trang phục truyền thống với chiếc khố, váy nhiều màu sắc; ẩm thực nổi tiếng với món cơm lam và rượu cần; lễ hội mừng lúa mới (lễ hội cầu mùa) với nghi thức lễ đâm trâu thể hiện đậm nét nhân sinh quan, vũ trụ quan của cộng đồng cư dân; nghệ thuật truyền thống với điệu Tâng tung - Da dá độc đáo và điệu hát lý đậm chất dân gian; kinh nghiệm sản xuất và nhiều nghề truyền thống nổi tiếng như dệt thổ cẩm, rèn, gốm, khai thác và chế biến rượu tà vạt… Đặc biệt, xã hội tộc người Cơ-tu tỉnh Quảng Nam còn đặc trưng bởi các phong tục, tập
quán truyền thống, thể hiện ở hầu hết các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội
Xã BhaLêê, huyện Tây Giang dưới sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, đời sống của người Cơ-tu nơi đây đã có những bước thay
Trang 37đổi không ngừng Văn hóa vật chất, tinh thần biến đổi mạnh mẽ theo xu hướng gần với văn hóa người Kinh Tuy nhiên, dẫu cuộc sống có bộn bề, dù hoàn cảnh có đổi thay như thế nào đi nữa thì họ vẫn giữ cho mình hương rượu tà vạt - tà đin, tiếng cồng chiêng âm vang rừng núi, nhịp bước của vũ điệu Tâng tung - Da dá, dáng Gươl ẩn mình trong sương, những tên làng, tên suối, tên những dòng họ,… hay đó là những
NLVĐ đã theo tộc người tồn tại đến hôm nay
Trang 38CHƯƠNG 2 CÁC NGHI LỄ VÒNG ĐỜI VÀ GIÁ TRỊ NGHI LỄ TRONG VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI CƠ-TU Ở XÃ BHALÊÊ HUYỆN TÂY GIANG
2.1 Một số quan niệm của người Cơ-tu
2.1.1 Quan niệm về vũ trụ của người Cơ-tu
Từ rất lâu trong lịch sử phát triển của mình, người Cơ-tu đã tìm cách lý giải sự ra đời và hình thành vũ trụ trên cơ sở niềm tin vạn vật hữu linh Họ còn lưu giữ và sử dụng những câu chuyện truyền miệng giải thích sự hình thành vũ trụ và các hiện tượng
tự nhiên mà vai trò của các Yang/thần mang tính quyết định trên cơ sở phá hủy cái cũ, đổi thay để có cái mới; có thể thông qua những chuyện kể về các dòng họ người Cơ-tu, hay một số chuyện cổ của người Cơ-tu… Vũ trụ ban đầu trong trạng thái hỗn mang Mọi thuyết về nguồn gốc vũ trụ đều xoay quanh sự cống hiến và hy sinh: thần sẽ đem lại vật chất cho con người, tham gia vào hoạt động khởi nguyên để biến đổi nó thành
vũ trụ ban đầu Những huyền thoại về nguồn gốc phát sinh vũ trụ luôn gắn với các thần và về các cuộc quyết đấu của các thần, hay giữa những người khổng lồ để giành thắng lợi và dựng nên từng dãy núi, từng con sông, khe suối, nước non cuốn trôi đi những trở lực, để con người tồn tại ở đó [7]
Thực tế, người Cơ-tu sống dựa vào rừng núi nên đã hình thành ở tộc người cái nhìn về thế giới tự nhiên, con người và các lực lượng siêu nhiên khác một cách gần gũi
và có mối quan hệ dựa trên tín ngưỡng dân gian mang màu sắc tâm linh Dù định canh định cư ở vùng nào, quan niệm về vũ trụ của người Cơ-tu vẫn theo hệ thống: Trời (vị thần thống lĩnh bầu trời, cũng đồng nhất với Trời) - Đất (người) - dưới Đất (cõi âm) và
họ luôn mang khát vọng gửi đến các đấng siêu nhiên - các Yang - tổ tiên ông bà hoặc các hồn ma giúp cho con người có cuộc sống yên bình, no đủ, không ốm đau bệnh tật, mùa rẫy nào cũng được mùa, đời sống của họ, gia đình họ và cộng đồng luôn phát triển bền vững trên cõi đời Những biểu tượng thể hiện vũ trụ quan thường xuất hiện nhiều trong nghệ thuật tạo hình của người Cơ-tu như biểu tượng mặt trời, cây nêu, con
gà trống, đầu trâu, và thể hiện rõ nét trong trang trí Gươl Trên hai đầu nóc Gươl luôn tuân thủ trang trí đối xứng, thường gặp là đôi chim tring với hai con rồng, hoặc hai chim tring, hai sừng trâu, đầu trâu và hình người mà một trụ gỗ như là biểu tượng kết nối, giao tiếp giữa Người - Thần - Đất nhô cao lên trời Mô hình tạo cho đầu nóc
có hình trang trí như chiếc thuyền (nhìn từ phía Gươl) Thông qua biểu tượng trang trí thể hiện quan niệm về vũ trụ của ngươi Cơ-tu, con người luôn muốn được giao lưu, truyền đạt nguyện vọng của mình với lực lượng siêu nhiên, với Yang; đồng thời tiếp
Trang 39nhận ý muốn của Yang Không chỉ ở Gươl mà nhà của mỗi gia đình Cơ-tu cũng được trang trí như thế, nhưng hình dáng nhỏ hơn tại Gươl
Theo tác giả Võ Văn Hòe [65], trời được cho là nơi diễn ra sự vĩnh hằng, nơi tạo
ra ánh sáng soi xuống trần gian (tức soi xuống Đất), tỏa một nguồn năng lượng cần thiết cho sự sinh sôi phát triển Ở đó có sự sống, có những phúc lộc mà Yang đang nắm giữ và có quyền năng ban phát cho Đất (tại đây con người trần gian hưởng lộc) Thế nên, Trời được xem là vị thần tối cao trong quan niệm của họ Khi đêm xuống, một phần ánh sáng của Trời tồn tại phía bên kia và ngược lại Đó là sự đối lập Như thế, thế giới quan của người Cơ-tu coi Yang là bất biến và tồn tại cả ngày và đêm Yang có thể hóa thân thành nhiều vị thần khác nhau, thường là thần ma lai hay thần partar: Trong không gian đó luôn gắn chặt sinh mệnh của mỗi người trong cộng đồng, tức gắn chặt với Đất
Đất đối lập với Trời một cách tương đối Trời luôn phả nguồn năng lượng xuống cho đất sinh sôi nảy nở, con người từ đó sinh ra Đất được ví như người mẹ, hay còn được hiểu như đàn bà, là phụ nữ, nên đất có tính nữ, chịu đựng, dẻo dai và bền bỉ, chịu
sự chi phối của Trời Người Cơ-tu cho rằng đất sinh ra muôn loài và rồi đến lượt đất lại nhận sự trở về của muôn loài Đất mang tính nữ, thế nên, ta có thể thấy trong lễ khai mở một vụ mùa, người đàn bà cao tuổi Cơ-tu được ưu tiên gieo hạt lúa đầu tiên xuống đất rẫy của làng, rồi sau đó, cả làng bắt đầu cho một chu kỳ mới
Dưới Đất là bước chuyển tiếp, ở đó thể hiện sự không mãi mãi vĩnh hằng, thường
là ngắn ngủi (như một đời người) và rất dễ bị hủy diệt Trong các lễ tế, người Cơ-tu luôn đa tạ thần Yang để mong tìm kiếm sự bình an, tránh đi tội lỗi trong cuộc sống trần gian; còn dưới Đất là cõi âm đầy tội lỗi và ma xấu ám ảnh, đó luôn là nơi đáng sợ
và nên xa lánh Trên cây cột lễ x’nur (cây nêu), người Cơ-tu chia thành ba phần, cả ba phần đều có mâu thuẫn giữa cái vĩnh hằng, nơi ánh sáng và điều chốc lát, nơi u tối mê muội với cõi chết, tức gần với tầng dưới Đất Dưới Đất là sự trái ngược lại tất cả, là thế giới của âm phủ, của sự hủy diệt mục nát [65]
Thế giới quan người Cơ-tu xuất phát từ quan niệm thế giới ba tầng của họ, họ coi trần gian chính là vực sâu so với thiên đường, âm phủ là vực sâu so với trần gian Như vậy, đời sống trần gian này giống như cõi chết chóc, đối lập với sự vĩnh hằng của Trời - nơi phát ra ánh sáng Bởi chung quanh họ có quá nhiều lực lượng siêu nhiên, có cả ma quỷ xấu nên người Cơ-tu dựng nêu và dâng lễ cúng Yang Trời, xin vị thần tối cao Yang Trời hãy cho họ có được sự no đủ, bình yên và hạnh phúc, không bệnh tật, chết chóc…
Có thể thấy, quan niệm về vũ trụ của người Cơ-tu là hệ thống các Yang/thần từ Trời - Đất - dưới Đất Theo đó, hệ thống Yang (tín ngưỡng đa thần) đã hình thành nên
Trang 40nhân sinh quan của người Cơ-tu, thể hiện qua đời sống luôn vì cộng đồng, nương tựa vào cộng đồng, cộng đồng quyết định mọi hoạt động của các thành viên trong làng Và mỗi thành viên đều phải kính trọng các Yang, bởi các Yang là đấng tối cao, phán quyết mọi chuyện trần gian Trong cuộc sống, họ luôn muốn tìm đến sự ấm no, hạnh phúc và
vì cộng đồng, bởi tầng trên - tầng mặt đất - tầng dưới đất đều có Yang che đỡ và quán xuyến Đó là tín ngưỡng vật linh của người Cơ-tu, họ tin rằng mọi vật đều có linh hồn
2.1.2 Quan niệm về cõi sống, cõi chết
Người Cơ-tu có quan niệm vạn vật hữu linh, tức trong các vật đó đều có thần
(Abhuy) Người và vật khi chết đi sẽ biến thành ma quỷ Theo quan niệm của người Cơ-tu, có hai vị thần họ phải thường xuyên đối mặt hằng ngày là thần Mặt trời (Abhuy-
Plêếng) và thần Đất (Abhuy-Catiếc) Sự sống, cái chết, đói nghèo, no đủ, bệnh tật
phần lớn phụ thuộc vào hai vị thần lớn đó Vì thế, những gì đồng bào không giải thích được đều quy do hai thần trên và ma quỷ gây ra
Từ quan niệm về thế giới vô hình và hữu hình, người Cơ-tu cho rằng có một thế giới của người chết tồn tại song song và đối nghịch với thế giới thực tại Hai thế giới, khởi đầu chỉ cách nhau bởi một màn sương mỏng mà người sống vẫn có thể nhìn thấy được người thân ở thế giới bên kia Từ đó, giữa họ nảy sinh những tình cảm luyến tiếc
thương nhớ nhau quên cả mọi việc Yang trời (Yang pơlanh) thấy thế lấy làm tức giận
liền giáng phép làm hai thế giới tách xa nhau vĩnh viễn như ngày nay để hình ảnh
người chết không gây nỗi nhớ thương cho kẻ sống yên tâm làm việc tốt hơn (Theo lời
Nghệ nhân ưu tú Bh’riu Pố (73 tuổi), thôn Arớh, xã Lăng, huyện Tây Giang)
“Cõi sống” và “cõi chết” luận văn đề cập ở đây không phải là những thành phần của một học thuyết trừu tượng về vũ trụ và nhân sinh, mà nói đến thế giới của người sống và thế giới dành cho tinh linh trong quan niệm dân gian của người Cơ-tu trước đây Từ đó, tìm hiểu số phận của linh hồn khi con người đã tắt thở, những bước đường của linh hồn từ “cõi sống” đến “cõi chết”
Với người Cơ-tu, linh hồn luôn luôn gắn bó với nhau giữa cõi sống, cõi chết Người Cơ-tu tin mỗi người đều có “hồn” (rơvai) Nhưng khái niệm “hồn” mơ hồ, chung chung, không rõ ràng “Hồn” tồn tại vô hình, có lẽ là ở đầu, nhưng có khi cũng lại như cái bóng của người ta Cho nên, khi trong tai như có tiếng “ti ti ” thì họ cho rằng hồn đang ra đi đâu đó Nếu cảm nhận như thoáng thấy bóng của một người rồi biến mất, đó là hồn người ấy, ít lâu sau người ấy sẽ chết Nghe tiếng vọng nói cười của một ai, đó chính là hồn của họ Nghe tiếng động mà không thấy ai thì đó cũng là hồn Khi ngủ nếu mơ gặp người khác nghĩa là hồn hai người gặp nhau, nếu mơ gặp người
đã chết nghĩa là gặp hồn ma người đó Ban đêm, tiếng giun dế hay tiếng chim quanh quẩn nhà được người Cơ-tu quan niệm là hồn ma người chết hiện về vì quyến luyến