Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường các nước đang phải đối mứt với những rào cản ngày càng tăng lên trong thương mại quốc tế,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
Giáo viên hướng dẫn ĩ PGS.TS VI
HÀ NỘI, THÁNG l i N Ă M 2005
Trang 2ị T R Ư Ờ N G ĐẠI H Ọ C NGOẠI T H Ư Ơ N G 1
ị KHOA KINH TE NGOẠI THƯƠNG Ị
* m ĩ,
roREIGN TRÍ1DE ŨNlVERSirr
ị sgỀiàử
R À O CẢN T H Ư Ơ N G MẠI QUỐC TẾ ĐÔI VỚI SẢN PHẨM
CÔNG NGHIỆP XUẤT KHAU CỦA VIỆT NAM
ị Giáo viên hướng dẩn : PGS.TS vũ SỸ TUẤN ỉ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẨU 3
CHƯƠNG Ị: LÝ LUẬN CHUNG VÊ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4
ì Khái niệm và lý do ra đòi rào cản thương mại quốc tế 4
2 Lý do ra đời các rào cản thương mại quốc tế 4
li. Phân loại các loại rào cản trong thương mại quốc tế 6
Ì Rào cản thuế quan (Tariff barriers) 7
2 Rào cản phi thuế quan (Non - tariff Barriers) 13
H I Vị trí, vai trố và mục đích sử dụng 19
Ì Vị trí, vai trò của các loại rào cản trong thương mại quốc tế 19
ĩ Mục đích sử dụng rào cản thương mại của các quốc gia trên thế giới 20
CHƯƠNG li: RÀO CẢN THƯƠNG MẠI Quốc TẾ Đối VỚI SẢN PHÀM
CÔNG NGHIỆP XUẤT KHAU CỦA VIỆT NAM 27
ì Thực trạng rào cản thương mại của một số nước đối tác chính đối với
mặt hàng công nghiệp của Việt Nam 27
1 Thị trường Hoa Kỳ 27
2 Thị trường EU 39
3 Thị trường Nhật Bản 49
Nam thòi gian gần đây 57
Ì Vụ tranh chấp thương hiệu Cà phê Trung Nguyên 58
Trang 4CHƯƠNG UI: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CÁC RẢO CẢN TRONG THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÁC SẢN PHÀM CÔNG NGHIỆP
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 64
ỉ Kinh nghiệm vượt rào của một số nưặc trên thế giặi 64
ì Trung Quốc 64
2 Kinh nghiệm của EU 67
3 Kinh nghiệm của Thái Lan 69
li Những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết để vượt rào cản 71
HI Một số giãi pháp vượt rào cẩn 76
1 Các giải pháp vĩ m ô 76
2 Các giải pháp vi m ô (giải pháp đối với doanh nghiệp) 90
3 Các giải pháp khác ( giải pháp đối với Hiệp hội ngành nghề) 96
KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
2
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, khi xu thế toàn cầu hoa, tự do hoa thương mại ngày càng diễn ra mạnh mẽ trên thê giới, vấn đê rào cản trờ thành một nội dung được các nhà kinh tế thảo luận và bàn cãi rất nhiều Đơn giản là vì muốn đẩy mạnh quá trình tự do hoa, toàn cẩu hoa thì trước hết phải tìm ra các giải pháp để loại bỏ, hạn chế hoức vuợt qua những rào cản đó Mức dù Tổ chức Thương mại thế giói (WTO) đã có những
nỗ lực rất lớn trong việc điểu chỉnh các rào cản thương mại quốc tế thông qua việc khuyến khích và buộc các thành viên giảm thuế, xoa bỏ hàng rào phi thuế, nhưng song song với việc xoa bỏ những rào cản thương mại hữu hình, dễ phát hiện, các nước ngày càng có xu thế tạo nên những rào cản vô hình Thực tiên cho thấy rào cản trong thương mại quốc tế xuất hiện ờ hầu hết các lĩnh vực, với các biện pháp rất
đa dạng và tinh vi
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, tham gia AFTA, APEC, ASEM và đang đàm phán gia nhập WTO Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường các nước đang phải đối mứt với những rào cản ngày càng tăng lên trong thương mại quốc tế, đức biệt là đối với các sản phẩm công nghiệp Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách cụ thể hem về vấn đẻ rào cản, đồng thòi cấp thiết phải tìm ra những giải pháp vượt qua các rào cản thương mại nếu muốn đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường thế giới
Để tài này tập trung nghiên cứu các rào cản thương mại quốc tế đối với các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu cùa Việt Nam, trên cơ sở đó, nêu lên một số giải pháp nhằm khắc phục các rào cản đó
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tói Tiến sỹ Vũ Sỹ Tuấn, người đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thục hiện khoa luận này
Mức dù đã có nhiều cố gắng nhưng do những hạn chế về khả năng, cũng như
về thời gian và tài liệu nghiên cứu, khoa luận khó tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và đông đảo ý kiến độc giả Người viết xin trân trọng cảm ơn!
3
Trang 6C H Ư Ơ N G ì
L Ý L U Ậ N C H U N G V Ế R À O C Ả N T H Ư Ơ N G M Ạ I Q U Ố C T Ế
ì K H Á I N I Ệ M V À L Ý DO RA Đ Ờ I R À O C Ả N T H Ư Ơ N G M Ạ I Q U Ố C T Ế
1 Khái niệm
Thuật ngữ "rào cản" hay hàng rào tuy được sử dụng khá phổ biến trong thực
tế nhưng lại không phải là một thuật ngữ chính thống Có thớ dê dàng nhận thấy, trong hệ thống các điều ước hay luật pháp quốc tế, cũng như trong hệ thống pháp luật cùa các quốc gia, khái niệm rào cản thương mại không được định danh một cách chính thức và rõ ràng Thuật ngữ này chì được đề cập chính thức trong tên gọi một hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đó là "Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại" (Agreement ôn Technical Barriers to Trade) nhưng trong toàn bộ nội dung của Hiệp định lại không sử dụng tiếp thuật ngữ này
Có thớ hiớu một cách chung nhất về rào cản thương mại quốc tế như sau: Rào cản thương mại quốc tế là tất cả những gì chủ quan hay khách quan, cụ thế hay trừu tượng có tác động cản trở, ngăn chặn, hạn chế hoạt động thương mại quốc tế
2 Lý do ra đời các rào cản thương mại quốc tế
2.1 Do sự khác biệt giữa các quốc gia
Hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động thương mại có sự tham gia của các quốc gia khác nhau với rất nhiều khác biệt Các quốc gia khác nhau về mọi lĩnh vực: văn hoa, chính trị, luật pháp, trình độ phát triớn, điều kiện tự nhiên, xã hội, vị thế trên thế giới, Nếu như sự khác biệt giữa các quốc gia về tài nguyên, nguồn lực lợi thế là nguyên nhân cơ bản dẫn đến phân công lao động quốc tế và hoạt động thương mại quốc tế thì chính những khác biệt ấy lại trở thành những rào cản
gây trở ngại cho hoạt động thương mại quốc tế Thử xét riêng góc độ ngôn ngữ,
trong quá trình đàm phán ký kết một hợp đồng mua bán giữa các đối tác thuộc các nước khác nhau, do ngôn ngữ bất đổng nên có nhiều vấn đề bên này khó có thớ
4
Trang 7truyền đạt đầy đủ đến bên kia vì trong các ngôn ngữ khác nhau có thể không có cách diễn đạt tương đương, hoặc nếu theo ngôn ngữ này chỉ cần một từ là đủ thì sang ngôn ngữ khác phải giải thích rất dài dòng Đây là một trở ngại không nhỏ khiến các đối tác khó có thể thông hiểu nhau để tiến tới một thoa thuịn chung
Sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các quốc gia cũng là một rào cản
lớn Tại các nước có trình độ phát triển cao như Tây  u và Nhịt Bản, thị trường của
họ thường rất khó tính Hàng hoa muốn nhịp khẩu vào các thị trường này phải đáp ứng được những tiêu chuẩn rất khất khe về chất lượng, vệ sinh, kiểm dịch, Trong khi đó, hàng từ các nước đang phát triển với trình độ sản xuất còn yếu kém, công nghệ lạc hịu khó có thể đảm bảo được những yêu cẩu này
Sự cách biệt về mặt địa lý hay điều kiện tự nhiên khí hậu cũng có thể gây
trở ngại cho hoạt động thương mại quốc tế Mặc dù hiện nay sự phát triển của các phương tiện thông tin liên lạc, giao thông vặn tải đã rút ngắn một cách tương đối khoảng cách tự nhiên giữa các quốc gia song rõ ràng là việc buôn bán với một bạn hàng ờ quá xa còn rất nhiều điểm bất lợi Chẳng hạn như thòi gian vịn chuyển hàng hoa, thời gian lưu chuyển chứng từ kéo dài đồng nghĩa với chi phí và rủi ro nhiều hơn
2.2 Do nhu cầu bảo hộ của từng quốc gia
Bên cạnh những rào cản tổn tại khách quan do sự khác biệt giữa các quốc gia, rào cản tổn tại còn là do nhu cầu bảo hộ của từng quốc gia Bào vệ nền kinh tế nước mình chính là nhu cẩu tất yếu của mỗi quốc gia, dù mạnh hay yếu Và mặc dù hiện nay, các quốc gia trẽn thế giới hầu hết chủ trương tự do hoa thương mại, mở cửa nền kinh tế để thông thương nhưng điểu này không có nghĩa là tự do hoa, mở cửa tràn lan
Trong trường hợp các nước mở cửa, tự do hoa thương mại tràn lan, các tác nhãn xấu sẽ dễ dàng xâm nhịp gây hại cho không chỉ nền kinh tế m à cho mọi mặt của đời sống xã hội nước đó Chẳng hạn như, chiến tranh và khủng bố sẽ leo thang nếu như các nước không có những biện pháp ngăn cấm hay hạn chế hoạt động buôn
5
Trang 8đạn dược Mặt khác, để bảo vệ an ninh trật tự xã hội, các quốc gia phải
có những rào cản nhất định đối với hoạt động buôn bán những mặt hàng có hại như chất kích thích, thuốc nổ, hoa chất độc ; để bảo vệ môi trường, các quốc gia phải duy trì những hạn chế đối với hoạt động buôn bán động vật, thực vật, khoáng sản, Không chứ cấm hay hạn chế các mặt hàng có hại, các nước còn cẩn hạn chế ờ một chừng mực nào đó hoạt động mua bán các mặt hàng được phép xuất nhập khẩu Nguyên nhân là do việc xuất khẩu quá nhiêu một mặt hàng nào đó sẽ khiến hoạt động sản xuất trong nước mất cân đối, nguyên nhiên liệu để sản xuất mặt hàng
đó sẽ bị khai thác quá mức đến không thể phục hồi, Việc một nước nhập khẩu quá nhiều những mặt hàng trong nước có thể sản xuất được sẽ có khả năng bóp nghẹt hoạt động sân xuất nội địa hoặc gây thâm hụt nghiêm trọng cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế của nước đó
Một lí do không thể không để cập đến khi duy trì các biện pháp bảo hộ là giúp các quốc gia duy trì việc làm cho những tổ chức hoặc những nhóm người nhất định và giảm bớt những sức ép về chính trị của các tổ chức đoàn thể
Ngoài ra, các quốc gia còn cần có biện pháp hạn chế nhập khẩu đối vói hàng nhập từ các nước bạn hàng không thực sự thân thiết trong quan hệ thương mại hoặc
đê trả đũa lại những hành vi thương mại không "đẹp" của phía bên kia Đ ố i với các quốc gia có tiềm lực cả về kinh tế và chính trị, các biện pháp bảo hộ còn có thể được duy trì như một công cụ chính trị để đơn phương gây sức ép với các quốc gia khác
Tóm lại, có rất nhiều lý do giải thích sự tồn tại của rào cản trong thương mại quốc tế
l i P H Â N L O Ạ I C Á C L O Ạ I R À O C Ả N TRONG T H Ư Ơ N G M Ạ I Quốc T Ế Hiện nay, chưa có tài liệu nghiên cứu nào đề cập tới phân loại các rào cản trong thương mại quốc tế vì khái niệm và nội hàm của rào cản chứ có tính chất tương đối Theo Diễn đàn về thương mại và phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD), từ năm 1994 hệ thống các biện pháp kiểm soát nhập khẩu được chia làm 2 loại là các biện pháp thuế quan (Tariff) và các biện pháp phi thuế quan (Non
6
Trang 9tariff) Vì vậy, có thể phân loại rào cản trong thương mại quốc tế theo hai nhóm lớn là: rào cản thuế quan và phi thuế quan
1 Rào cản thuế quan (Tariff barriers)
1.1 Khái niệm
Trước hết, ta cần hiểu thuế quan là gì? Thuế quan là một khoản tiền m à người chủ hàng hoa xuất, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho hải quan là cơ quan đại diện của nước chủ nhà
Khái niệm về rào cản trong thương mại quốc tế nói chung, cũng như khái niệm về rào cản thuế quan nói riêng chỉ có tính chất tương đối Thuế quan khổng phải là rào cản nếu mực thuế suất là thấp hoặc rất thấp tới mực không gây cản trở thương mại quốc tế, ngược lại nó sẽ trờ thành rào cản nếu mực thuế suất là cao một cách thực sự hoặc cao hem so với mực thuế suất được áp dụng đối với hàng hoa cùng loại của nước khác
1.2 Phân loại thuế quan
Xét theo các khía cạnh khác nhau, thuế quan được phân thành nhiều loại 1.2.1 Theo múc đích đánh thuế
a) Thuế quan tài chính:
Là loại thuế được sử dụng với mục đích làm tăng thu cho Ngân sách Nhà nước Do đó, nó còn được gọi là thuế quan ngân sách
Các nước đang và chậm phát triển sử dụng loại thuế này phổ biến hơn cả (thu
từ thuế chiếm 2 0 % tổng thu của Ngân sách Nhà nước) Nguyên nhân là do hệ thống thuế nội địa chưa hoàn chỉnh và hiệu lực thực thi chưa cao nên thu từ thuế nội địa không nhiều và khó khăn, còn thuế quan lại có ưu điểm là dễ thu Mặt khác, quá
trình tự do hoa thương mại ở các nước này diễn ra còn chậm chạp Ngược lại, ở các
nước phát triển, do hệ thống thuế nội địa hoàn thiện và tự do hoa thương mại rất mạnh mẽ nên mực thuế thường thấp
7
Trang 10bảo hộ :
Là loại thuế được sử dụng với mục đích bảo hộ nén sản xuất trong nước thông qua việc đánh thuế cao hàng hoa nhập khẩu từ bên ngoài vào thị trường nội địa
Thuế quan bảo hộ sẽ làm cho giá hàng nhập khẩu tăng cao hơn so với mặt hàng tương tự trong nước, dốn đến năng lực cạnh tranh của hàng nhập khẩu kém hơn Mức thuế phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của hàng hoa trong nước, thông thường rất cao
1.2.2 Theo đối tương đánh thuế
a) Thuế quan xuất khẩu
Là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoa xuất khẩu ra nước ngoài Thuế quan xuất khẩu chủ yếu nhằm mục đích làm giảm sự lưu thông của hàng hoa đó ra bên ngoài, nhất là trong thời kỳ chiến tranh, khi hàng hoa khan hiếm
Loại thuế quan này hiện chỉ còn một số ít nước đang phát triển dùng để tạo nguồn thu cho ngân sách và dòng vận động hàng hoa giữa thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, nhất là những hàng hoa dễ đưa đến sự khan hiếm (gạo) hoặc ảnh hưởng đến môi trường sinh thái (gỗ)
b) Thuế quan nhập khẩu
Là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoa nhập khẩu từ nước ngoài vào thị trường nội địa Nó hoàn thành cả chức năng bảo hộ lốn chức năng tài chính
Về mặt lịch sử, thuế quan nhập khẩu xuất hiện sớm hơn các biện pháp của chính sách mậu dịch và ngày nay tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong chính sách ngoại thương của các nước Nó được sử dụng như một công cụ quan trọng trong cuộc đấu tranh chống sự cạnh tranh của nước ngoài và đảm bảo cho tổ chức độc quyền đạt được lợi nhuận tối đa ờ thị trường trong nước
c) Thuế quan quá cành
Là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoa vặn chuyển quá cảnh qua một lãnh thổ hải quan
8
Trang 11Nhằm khuyến khích chuyên chở hàng hoa quá cảnh (mục đích là để thu các loại phí dịch vụ như dịch vụ vận tải, dịch cụ lưu kho lưu bãi ), ngày nay các nước hạn chế sử dụng loại thuế này Chủ yếu sử dụng ờ kênh đào Xuyê và Panama 1.2.3 Theo phương pháp tính thuế
a) Thuế phán trăm (ad- valorem tarìff)
Là một số phẩn trăm nhất định trên tỷng giá trị giao dịch cùa hàng nhập khẩu Do đó còn được gọi là thuế tính theo giá, số tiền thuế nộp tỷ lệ thuận với giá hàng Ví dụ 5%
Hiện nay, đây là loại thuế được sử dụng rộng rãi nhất nhưng nhìn chung còn
ờ mức cao nên WTO kêu gọi tất cả các nước thành viên tiếp tục cam kết cắt giảm
b) Thuế phi phấn trăm (non - ad- valorem tariff): gồm 3 loại sau:
• Thuế tuyệt đối:
Là một khoản tiên cố định được quy định phải nộp trên một đơn vị hàng nhập khẩu Do đó còn được gọi là thuế tính theo lượng Ví dụ: 1000 đỷng/kg Loại thuế này đơn giản trong tính toán nhưng không phản ánh được sự biến động của giá cả hàng hoa trên thị trường thế giới Đây là loại thuế được các nước áp dụng nhiều nhất đối với các mặt hàng nông sản
• Thuế thay thế: Là loại thuế cho phép có thể áp dụng hoặc thuế phần trăm,
hoặc thuế tuyệt đối tuy theo loại thuế nào cao hơn Ví dụ: 5 % hoặc 1000 đồng/kg, tuy loại nào cao hơn trong từng trường hợp
• Thuế kết hợp: Là loại thuế được quy định buộc người nhập khẩu phải trả cả
hai loại thuế phẩn trăm và tuyệt đối Ví dụ: 5 % và 1000 đỷng/kg
Trong các loại thuế quan nói trên, thuế phần trăm là loại thuế mang tính rõ ràng hơn cả nên được WTO khuyến khích dùng hơn các loại thuế khác Trong trường hợp áp dụng các loại thuế khác, các nước cần đưa ra mức thuế tương đương nhằm xác định được mức độ bảo hộ tương ứng
9
Trang 121.2.4 Thuế quan đặc thù
• Han ngạch thuế quan:
Là một biện pháp quản lý nhập khẩu với 2 mức thuế suất nhập khẩu Hàng hoa trong hạn ngạch thuế quan (tức là trong số lượng quy định) thì có mức thuế suất bằng 0 hoặc rất thấp, còn ngoài hạn ngạch thuế quan thì chịu mức thuế suất cao hơn đế bảo hộ sản xuất trong nước Ví dụ: các nước OECD có mức thuế trong hạn ngạch tính trung bình với hàng nông sản là 3 6 % nhưng ngoài hạn ngạch thì mức thuế là 120%
Có thể thấy hạn ngạch thuế quan đảm bảo một cách hài hoa lỏi ích của cả người sản xuất trong nước và người tiêu dùng Đ ể đảm bảo hai mục tiêu trên đòi hỏi Nhà nước phải nghiên cứu kỹ để đưa ra mức hạn ngạch hợp lý
WTO cho phép các nước thành viên áp dụng hạn ngạch thuế quan Theo tư liệu của WTO, các nước có số lượng hạn ngạch nhiều nhất gồm Na Uy (232), Ba Lan (109), EU cũ (90), Bungari (73), Hàn Quốc (67), Colombia (67), Hoa Kỳ (54), Nam Phi (53)
• Thuế đối kháng (Thuế chống trơ cấy xuất khẩu): Đây là một khoản thuế đặc
biệt đánh vào sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp
• Thuế chống bán phá giá: Là một loại thuế quan đặc biệt được áp dụng để
ngăn chặn và đối phó với hàng nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh
• Thuế trà đũa: Là loại thuế quan đặc biệt được áp dụng đối với những hàng
hoa được nhập khẩu từ những nước thực hiện chính sách phân biệt đối xử nặng hơn
về thuế đối với hàng xuất khẩu từ nước áp dụng vào nhữmg nước đó
• Thuế bổ sung: Là một loại thuế được đặt ra để thực hiện biện pháp tự vệ
trong trường hợp khẩn cấp Các Chính phủ có thể áp dụng thuế bổ sung cao hơn mức thuế thông thường nếu như khối lượng hàng nhập khẩu của sản phẩm đó tăng
10
Trang 13lên quá cao gây ảnh hường nghiêm trọng hoặc có nguy cơ làm mất đi một ngành sản xuất nào đó trong nước
• Thuế thời vu: Là loại thuế với mức thuế suất khác nhau cho từng loại sản
phẩm Thông thường được áp dụng cho mặt hàng nông sản, khi vào thời vụ thu hoạch trong nước thì áp dụng mức thuế suất cao nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, khi hết thời vụ thì trở lại mức thuế bình thường
1.2.5 Phân loai theo mức thuế suất
Thuế quan của một nước đánh vào hàng hoa nào và mức độ cao hay thấp được biổu hiện ờ biổu thuế quan (hay còn gọi là biổu thuế xuất nhập khẩu) Biổu thuế quan là một bảng tổng hợp phân loại có hệ thống mức thuế quan đối với tất cả hàng hoa chịu thuế khi đưa vào lãnh thổ thuế quan của một nước
Biổu thuế có thổ cấu tạo từ một cột thuế, gọi là biổu thuế đơn, hoặc nhiều cột thuế, gọi là biổu thuế kép Biổu thuế đơn là biổu thuế trong đó chỉ có một mức thuế cho hàng nhập khẩu từ tất cả các nước Biổu thuế kép là biổu thuế được cấu tạo từ hai mức thuế trở lên cho từng loại hàng hoa Hàng hoa nhập khẩu từ các nước khác nhau có thổ chịu những mức thuế khác nhau Việc sử dụng biổu thuế kép thổ hiện
sự phân biệt đối xử rõ rệt và thường dẫn đến những cuộc chiến tranh thuế quan giữa các nước Mức thuế trong biổu thuế quan có thổ mang tính chất tự định hoặc mang tính chất thương lượng Các mức thuế thương lượng chỉ áp dụng cho hàng hoa trao đổi của các bên tham gia Hiệp định
Hiện nay có một số loại thuế suất cụ thổ được áp dụng trong thương mại quốc tế như sau:
• Thuế phi tối huê QUỐC (Thuế suất thône thường): Đây là mức thuế suất cao
nhất mà các nước áp dụng đối với những nước chưa phải là thành viên của WTO và chưa ký kết Hiệp định song phương với nhau Thuế này có thổ nằm trong khoảng từ 20- 110%
• Thuế tối huê quốc (MFN): Là loại thuế m à các nước thành viên WTO áp
dụng cho những nước thành viên khác hoặc theo các Hiệp định song phương về ưu
l i
Trang 14đãi thuế quan Đây là loại thuế có mức thuế suất thấp hơn nhiều so với thuế suất thông thường
• Thuế Hiệp đinh thương mai tư do: Là loại thuế áp dụng giữa các nước thành
viên với nhau trong các khu vực thương mại tự do (AFTA, EU, NAFTA) Đây là loại thuế có mức thuế suất thấp nhất hoặc có thể bằng không đối với nhiều mặt hàng
• Thuế quan ưu đãi phổ cây (GSP):
Là loại thuế ưu đãi đặc biệt, do các nước công nghiệp phát triển đơn phương dành cho hàng hoa của những nước đang và chậm phát triển khi thâm nhập vào thị trường của nước cho hưảng, mục đích là tạo ra lợi thế cạnh tranh của các nước đang
và chậm phát triển Khác với hai loại thuế trên ( MFN và thuế Hiệp định thương mại tự do) mang tính chất có đi có lại, thuế GSP là loại thuế mang tính chất đơn phương, một chiểu
Mức thuế được tính trên cơ sả thuế tối huệ quốc MFN, thông thường thuế GSP được giảm 5 % so với thuế MFN Một số nước còn miễn thuế hoàn toàn cho hàng hoa được hưảng GSP Hàng hoa được hưảng GSP là hàng nông sản chưa chế biến, nguyên vật liệu cho công nghiệp, hàng hoa mới sơ chế và những hàng hoa không tạo ra sự cạnh tranh gay gắt cho hàng hoa tương tự trong nội địa
Hiện nay, các nước công nghiệp phát triển gạt một số nước không cho hưảng GSP do sợ bị cạnh tranh về kinh tế và chính trị Đ ó là nước và hàng thuộc diện nước trưảng thành như Singapore, Hồng Rông (có GDP bình quân đầu người là 6000 USD/năm) và hàng trường thành (là những hàng xuất khẩu vào các nước công nghiệp phát triển với giá trị rất lớn
• Các loai thuế quan ưu đãi khác : Một số nước tham gia ký kết các Hiệp định
chuyên ngành như Hiệp định thương mại máy bay dân dụng; Hiệp định thương mại các sản phẩm dược, sản phẩm ôtô cũng dành cho nhau các ưu đãi thuế quan đặc biệt đối với các sản phẩm này
Trong biểu thuế xuất nhập khẩu của các nước thường có nhiều loại thuế cụ thể khác nhau cho cùng một loại sản phẩm và sự chênh lệch nhau rất lớn giữa các
12
Trang 15loại thuế Sự chênh lệch giữa các loại thuế là do các quy định về "ưu đãi" quyết định Nếu hàng hoa của một nước nào đó phải chịu thuế suất thông thường hoặc kém ưu đãi hem so với nước khác thì chính điều đó sẽ trở thành rào cản thuế quan
1.3 ưu, nhược điểm khi sử dụng rào cản thuế quan
a) Ưu điếm
• Các biện pháp thuế quan có ưu điểm cơ bản là rõ ràng, ổn định, dễ tính toán
và ít bóp méo thương mại nhất, do đó đưục WTO thừa nhận là công cụ bảo hộ hụp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước
• Tạo nguồn thu chắc chán cho ngân sách nhà nước
• Là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và gây áp lực đối với bạn hàng phải nhưụng bộ trong đàm phán
b) Nhược điểm
• Tuy nhiên, một đặc điểm dê thấy của thuế quan là không tạo ra đưục sự bảo
hộ nhanh chóng
• Làm cho tín hiệu thị trường kém trung thực
• Do đặc tính rõ ràng nên trong các cuộc đàm phán thương mại song phương
và đa phương, thuế quan luôn là đối tưụng dễ đàm phán cắt giảm và tiến tới dẩn loại bỏ để đẩy nhanh quá trình tự do hoa thương mại toàn cẩu
Tuy nhiên, hiện nay, thuế quan vẫn là một trong những rào cản đưục sử dụng phổ biến nhất trong thương mại quốc tế
2 Rào cản phi thuê quan (Non - tariff Barriers)
2.1 Khái niệm
Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp nằm ngoài thuế quan, có liên quan hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến sự luân chuyển hàng hoa giữa các nước
Bản thân biện pháp phi thuế quan không phải là rào cản nếu biện pháp đó
"không đặt ra quá mức cần thiết" và không vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia, nhưng khi một biện pháp phi thuế quan gây cản trở đến thương mại của quốc gia
13
Trang 16khác m à không dựa trên cơ sở pháp lý khoa học hoặc bình đẳng thì bị coi là một hàng rào phi thuế quan
Như vậy, hàng rào phi thuế quan bao hàm nghĩa rộng hơn các biện pháp phi thuế quan Trong một số trường hợp, biện pháp phi thuế quan được gọi là hàng rào phi thuế quan Hiện nay, nhiều biện pháp phi thuế quan đã được biến thái một cách tinh vi nhằm bảo hộ sản xuất trong nước
2.2 Phăn loại
Rào cản phi thuế quan bao gụm nhiều loại khác nhau, có thể được áp dụng ờ biên giới hay nội địa, có thể là biện pháp hành chính và cũng có thể là các biện pháp kỹ thuật, có những biện pháp bắt buộc phải thực hiện và những biện pháp tự nguyện Chính vì vậy, việc phân loại chi tiết theo một tiêu thức thống nhất là rất khó khăn Sau đây là một số biện pháp phi thuế quan chủ yếu:
• Các biên pháp cấm: trong số các biện pháp cấm được sử dụng trong thực
tiễn thương mại quốc tế có các biện pháp như cấm vận toàn diện, cấm vận từng phần, cấm xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một số hàng hoa nào đó, cấm phần lớn các doanh nghiệp mà chỉ cho doanh nghiệp được xác định xuất khẩu, hoặc nhập khẩu (Ví dụ: chất nổ, hoa chất chuyên ngành )
• Han ngách xuất khẩu, nháp khẩu:
Là quy định của Nhà nước về số lượng hoặc trị giá của một mặt hàng nào đó được phép xuất, nhập khẩu nói chung hoặc từ một thị trường nào đó trong một thời
kỳ nhất định (thường là Ì năm) Mục đích của hạn ngạch là dẫn tới sự hạn chế về định lượng của hàng hoa xuất nhập khẩu, tạo ra mức độ bảo hộ cao hơn cả thuế quan Hạn ngạch này có thể do nước nhập khẩu hoặc xuất khẩu tự áp đặt trên cơ sở
tự nguyện của bên thứ hai (hạn ngạch xuất khẩu tự nguyện)
Hiện nay WTO cho rằng hạn ngạch là một biện pháp bảo hộ cứng rắn quá và phản khoa học Vì vậy WTO quy định các nước thành viên không được phép áp dụng, trừ một số trường hợp như tự vệ thương mại, trả đũa thương mại hoặc khi cán
14
Trang 17cân thanh toán bị đe doa Kể từ 1/1/2005, hạn ngạch dệt may đã được WTO dỡ bỏ cho các nước thành viên
• Cấp giấy phép xuất nháy khẩu:
Là một chế độ mà Nhà nước quy định rằng việc kinh doanh hàng hoa xuất nhập khẩu phải được Nhà nước cho phép bằng cách cấp cho nhà xuất nhập khẩu giấy phép xuất nhập khẩu Đây là biện pháp mang tính chất thủ tặc hành chính Các thủ tặc cấp giấy phép xuất nhập khẩu có thể ảnh hưởng tiêu cực đến dòng di chuyến của thương mại, đặc biệt nếu các thủ tặc này không minh bạch hoặc chậm trễ
Có 2 loại giấy phép là giấy phép về quyền hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và giấy phép xuất nhập khẩu đối với một số loại hàng hoa hoặc phương thức kinh doanh xuất nhập khẩu nào đó, chẳng hạn là giấy phép cho phép doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài được phép mua, bán hàng hoa trên thị trường nội địa, giấy phép nhập khẩu thuốc lá điếu và rượu ngoại, giấy phép kinh doanh tạm nhập tái xuất
Ngoài ra, còn có 2 hình thức cấp phép là cấp phép tự động và không tự động Chế độ cấp phép tự động chỉ mang tính chất quản lý để điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu chứ không nhằm cản trở hoạt động thương mại Nhưng việc sử dặng các biện pháp cấp phép không tặ động có thể dẫn tới các rào cản thương mại về thủ tặc hành chính và chi phí tăng
• Các thủ túc hải quan: Nếu các thủ tặc hải quan đơn giản, nhanh chóng thì
đây chỉ là biện pháp quản lý thông thường nhưng nếu thủ tặc quá phức tạp, chậm chạp thì sẽ trở thành các rào cản phi thuế quan Chẳng hạn, các quy định về kiểm tra trước khi xếp hàng, quy định về cửa khẩu thông quan, quy định về trị giá tính thuế hải quan cũng sẽ trở thành rào cản khi m à nó chưa được phù hợp với quy định về hài hoa thủ tặc hải quan
• Các rào cản kỹ thuật trong thương mai quốc tế (TÉT):
Là hình thức bảo hộ mậu dịch thõng qua việc các nước đưa ra tiêu chuẩn đối với hàng hoa nhập khẩu rất cao Đ ó là các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy
15
Trang 18định về phòng thí nghiệm và quy định về công nhận hợp chuẩn Hàng hoa không đáp ứng được những tiêu chuẩn đó sẽ không được nước đó nhập khẩu
Hiện có rất nhiều các quy định về hệ thống tiêu chuẩn được áp dụng trên thế giới mà các nước cho là phù hợp Song lại có rất ít phòng thí nghiệm và tiêu chuẩn quốc tế mà các nước đều công nhận hợp chuẩn Do còn có sự khác biệt như vậy nên
nó đã trở thành rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế WTO đã phải thống nhất các nguyên tộc chung và được cam kết tại "Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại" nhưng cách thức mà nhiều nước đang áp dụng hiện nay, đặc biệt là các nước phát triển mang tính chất bảo hộ hơn là bảo vệ hợp lý Điểu đó tạo ra sự phân biệt đối xử hay hạn chế vô lý đối với thương mại quốc tế
• Các biên pháp vê sinh đông thực vát (SPS): theo Hiệp định về các biện pháp
kiểm dịch động thực vật của WTO thì các biện pháp vệ sinh động thực vật bao gồm tất cả luật, nghị định, quy định, yêu câu và thủ tục, kể cả các tiêu chí sản phẩm cuối cùng, các quá trình và phương pháp sản xuất, thử nghiệm, thanh tra, chứng nhận và làm thú tục chấp thuận, xử lý kiểm dịch kể cả yêu cẩu gần với việc vận chuyển động vật hay thực vặt hay gộn với các nguyên liệu cần thiết cho sự tổn tại cùa chúng trong khi vận chuyển, thủ tục lấy mẫu và đánh giá nguy cơ, các yêu cầu đóng gói và nhãn mác liên quan trực tiếp đến an toàn thực phẩm Vì định nghĩa của WTO về "mức độ bảo vệ động thực vật phù hợp" rất chung chung như "mức bảo vệ được xây dựng" lại được chính nước đó "coi là phù hợp" nên các nước công nghiệp phát triển thường đưa ra các mức quá cao khiến cho hàng hoa của các nước đang phát triển khó thâm nhập Đây là một trong những loại rào cản phổ biến nhất hiện nay và mức độ của nó ngày càng tinh vi
• Các quy đinh vé thương mai đích vu: như quy định về lập cõng ty, chi nhánh
và văn phòng của nước ngoài tại nước sở tại, quy định về xây dựng và phát triển hệ thống phân phối hàng hoa, quy định về quyển được tiếp cận các dịch vụ công một cách bình đẳng, quy định về thanh toán và kiểm soát ngoại tệ, quy định về quảng cáo và xúc tiến thương mại , đều có thể trở thành các rào cản trong thương mại quốc tế nếu các quy định này là không minh bạch và có sự phân biệt đối xử
16
Trang 19• Các quy đinh về đầu tư có liên quan đến thương mai như lĩnh vực không
hoặc chưa cho phép đầu tư nước ngoài, tỷ lệ góp vốn tối thiểu hoặc tối đa cho các lĩnh vực hoặc sản phẩm xác định, tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu của doanh nghiệp có vốn đẩu tư nước ngoài, quy định bắt buộc về phát triển vùng nguyên liệu Các quy định trên nếu có sự phân biệt đối xử giạa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đẩu tư nước ngoài đều được gọi là rào cân và hiện tại đã trờ thành chủ đề của đàm phán dỡ bỏ rào cản nhằm tự do hoa thương mại
• Các quỵ đinh về sỏ hữu trí tuệ trước hết là các quy định về xuất xứ hàng hoa
Nếu các quy định về xuất xứ quá chặt chẽ so với hàng sản xuất trong nước để nhằm xác định xem một hàng hoa có phải là hàng nội địa hay không và có sự phân biệt đối xử giạa các thành viên thì quy định về xuất xứ đó vi phạm Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO và đương nhiên trở thành rào cản trong thương mại quốc tế Ngoài ra, các vấn để về thương hiệu hàng hoa, kiểu dáng công nghiệp, bí mật thương mại cũng có thể trở thành rào cản trong thương mại quốc tế Chẳng hạn, trên thị trường thế giới đã có nhiều thương hiệu và nhãn hiệu nổi tiếng của các công
ty hay tập đoàn xuyên quốc gia, điều đó gây khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới tham gia vào thị trường thế giới
• Các quy đinh chuyên ngành về các điều kiện sản xuất, thử nghiệm, lưu thông
và phân phối các sản phẩm được xác định trong các Hiệp định của WTO như: Hiệp định nông nghiệp, Hiệp định thương mại về hàng dệt và may mặc Hầu hết các nước thành viên của WTO đều có các quy định quốc gia cho một số hàng hoa thuộc diện quản lý theo chuyên ngành Cách thức và biện pháp quản lý của các nước cũng rất khác nhau Đó cũng được xem xét là một trong số các rào cản phi thuế quan
• Các quy đinh về bảo vê môi trường: Gồm quy định vẻ môi trường bên ngoài
lãnh thổ biên giới theo Hiệp ước hoặc công ước quốc tế (Ví dụ Công ước về bảo vệ loài rùa biển và việc cấm nhập khẩu tôm do đánh bắt bằng lưới quét ); các quy định trực tiếp về môi trường trong lãnh thổ quốc- gia (quy định về tiêu chuẩn môi trường, bao bì và tái chế bao bì, nhãn mác sinh thải ) và các quy định có liên quan
17 ụxjfiiỉ
im
Trang 20trực tiếp đến môi trường nhưng thuộc mục tiêu bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm (dư lượng chất kháng sinh và chất bảo vệ thực vật )
• Các rào cán vé văn hoa: Sự khác biệt về văn hoa và cách nhìn nhận, đánh
giá về giá trị đạo đức xã hội cũng trở thành một trong các rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế Trên thế giới có nhiều nén văn hoa khác nhau, vói ngẻn ngữ, chữ viết khác nhau, để hiểu rõ và có thể đáp ứng được các yêu cẩu này phải tốn rất nhiêu thời gian, tri thức và phải trả với giá không rẻ thì mới có thể vượt qua được
• Các rào cản đìa phương: Ở một số nước, luật lệ của Chính phủ Trung ương
cũng có sự khác biệt so với các quy định mang tính địa phương Chẳng hạn nhu quy định về xuất nhập khẩu tiểu ngạch, quy định về phân luẻng đường cho các phương tiện vận chuyến hàng hoa, quy định về các khoản chi và phụ thu Đây là những rào cản địa phương m à trong thực tiễn thương mại quốc tế đã gặp phải
2.3 Ưu, nhược điếm khi sử dạng rào cẩn phi thuế quan:
a) Ưu điềm
• Các biện pháp phi thuế quan có ưu điểm cơ bản là phong phú về hình thức nên khả năng tác động và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng cũng rắt đa dạng
Do đó nếu sử dụng các biện pháp phi thuế quan để phục vụ một mục tiêu cụ thể thì
sẽ có nhiều lựa chọn mà không bị bó hẹp trong khuôn khổ một công cụ duy nhất như thuế quan
• Một biện pháp phi thuế quan có thể đẻng thời phục vụ cho nhiều mục tiêu khác nhau với hiệu quả cao
• Có thể áp dụng linh hoạt vì nhiều biện pháp phi thuế quan chưa bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ
• Có khả năng hạn chế nhập khẩu một cách nhanh chóng
b) Nhược điểm
18
Trang 21• Không mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước m à còn kèm theo là các khoản chi phí quản lý phát sinh, dễ gây ra các tiêu cực
• Không rõ ràng, khó lượng hoa và khó dự đoán
• Làm sai lệch các tín hiệu thị trường dẫn tới phân bổ nguồn lực không đúng
• Gây bất bình đẳng thậm chí dẫn đến độc quyền Ụ một số doanh nghiệp
HI VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ MỤC ĐÍCH SỬDỤNG
1 Vị trí, vai trò của các loại rào cản trong thương mại quốc tế
Rào cản thương mại quốc tế được thể hiện trong các chính sách thương mại
và các chính sách hoặc cơ chế quản lý trong tổng thể hệ thống pháp luật của một
quốc gia Về mặt lý thuyết, rào cản thương mại quốc tế có vai trò chủ yếu trong việc tác động vào các dòng chảy thương mại quốc tế đế điều chinh các dòng chảy này theo hướng có lợi nhất, đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu xác định của mỗi quốc gia
Trước hết, hàng rào bảo hộ sẽ tạo điêu kiện cho nhiều ngành sản xuất có sức cạnh tranh kém hem so với nước ngoài có thể tiếp tục duy trì và phát triển Trong đó
có một số sán phẩm tiếp tục tồn tại với hàng nhập khẩu trên thị trường trong nước
dù năng lực cạnh tranh kém hơn Một số khác sẽ nâng dần khả năng cạnh tranh nhờ nâng cao trình độ quản lý, đổi mới công nghệ
Hơn thế nữa, các mục tiêu ổn định xã hội, tạo công ăn việc làm thông qua các biện pháp hỗ trợ cho một số ngành, một số địa phương cũng được thực hiện nhờ tác động của các biện pháp bảo hộ thuế quan và phi thuế quan
Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm nhiều loại khác nhau và mỗi loại lại có những vị trí và vai trò nhất định Chẳng hạn để bảo hộ sản xuất trong nước người ta có thể sử dụng các biện pháp thuế quan; trước các tình thế khẩn cấp, khi kim ngạch nhập khẩu của một mặt hàng nào đó tăng nhanh gây tổn hại hoặc đe doa gây tổn hại cho ngành sản xuất nội địa thì các biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu không tự động với khả năng chặn
19
Trang 22đứng dòng nhập khẩu ngay lập tức lại tỏ ra hữu hiệu Đ ể phục vụ cho một mục tiêu nhất định (ví dụ để bảo hộ sản xuất thép) có thể đồng thời áp dụng các biện pháp phi thuê quan khác nhau Mặt khác, một biện pháp phi thuế quan có thể đáp ứng nhiều mục tiêu khác nhau Chảng hạn, vựi việc quy định về vệ sinh kiểm dịch đối vựi nông sản nhập khẩu nhằm mục tiêu đảm bảo sức khoe con người và động thực vật thì lại có tác động gián tiếp tựi bảo hộ sản xuất trong nưực Tuy nhiên, do các biện pháp thuế quan và phi thuế quan có những ưu điểm và nhược điểm nhất định nên chúng thường được sử dụng đổng thời
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, rào cản trong thương mại quốc tế không được định danh một cách chính thức và rõ ràng trong hệ thống các điều ưực hay luật pháp quốc tê nhưng lại được Nhà nưực hoặc các Chính phủ vận dụng các quy định trong nhiều Hiệp định và Công ưực quốc tế để ban hành thành hệ thống pháp luật của quốc gia Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng không có quy định chính thức dưựi tên gọi rào cản hoặc một hệ thống luật pháp riêng có liên quan đến rào cản mà nó nằm trong nhiều hệ thống pháp luật khác nhau
Trong xu thê toàn cẩu hoa và tự do hoa thương mại, hầu hết các nưực đều cam kết từng bưực dỡ bỏ các rào cản thương mại quốc tế để thúc đẩy tự do hoa thương mại nhưng các rào cản thương mại quốc tế vẫn được dỡ bỏ rất chậm chạp, thậm chí còn được tạo dựng mựi một cách hết sức tinh vi Việc sử dụng các rào cản
kỹ thuật quá mức cần thiết, hoặc sử dụng các biện pháp gắn vựi môi trường, tiêu chuẩn lao động và các biện pháp mang tính chất quản lý, quy trình đang diên ra khá phổ biến
2 Mục đích sử dụng rào cản thương mại của các quốc gia trên thê giựi Mặc dù ủng hộ tự do hoa thương mại, Chính phủ các quốc gia vẩn cứ dựng lên các rào cản đối vựi thương mại quốc tế, về hình thức có thể thay đổi nhưng phạm vi và mức độ của rào cản ngày càng tăng lên Nếu như trưực khi thành lập Tổ chức Thương mại thế giựi thì rào cản thương mại quốc tế giựi hạn trong phạm vi của thương mại hàng hoa thì ngày nay nó phát triển ở cả thương mại dịch vụ,
20
Trang 23thương mại đầu tư và sở hữu trí tuệ Nếu như trước đây các biện pháp được áp dụng chủ yếu là các biện pháp hành chính (cấm, hạn ngạch và giấy phép) thì ngày nay nó hết sức đa dạng, tinh vi và phức tạp, các biện pháp không chỉ dừng lại ở phạm vi
quốc gia mà có liên quan tới nhiều quốc gia sở đĩ có tình trạng trên vì mục đích sử
dụng rào cản trong thương mại quốc tế rất đa dạng, đó là về chính trỳ, kinh tế và văn hoa Sau đây là phân tích một số mục đích và phạm vi sử dụng rào cản trong thương mại quốc tế:
có nên kinh tế thỳ trường và nước chưa có nền kinh tế thỳ trường
Nguyên tắc dành sự ưu đãi cho các nước đang phát triển và các nước kém phát triển cũng được các quốc gia áp dụng rất khác nhau và thường không phải là tất cả các nước thuộc đối tượng trên đều được ưu đãi như nhau Sự ưu đãi không công bằng đó chính là rào cản với các nước không được ưu đãi (chẳng hạn nhu không được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan GSP) Thực tiễn là Chính phủ các quốc gia lớn trên thế giới có thể đưa ra các ưu đãi thương mại để giành ảnh hưởng tới các
21
Trang 24quốc gia nhỏ hơn Chẳng hạn, Nhật Bản có những ảnh hường lớn ở Châu Á, Nhật Bẳn chiếm một phần lớn nhập khẩu và xuất khẩu ở nhiều nước Châu Á và đã cho khu vực này vay một lượng lớn tiền đủ giúp các nước này khôi phục nền kinh tế sau khùng hoảng Tài chính tiền tệ Không nghi ngờ gì việc Chính phủ Nhật trông đợi tạo ra một triủn vọng tốt với các nước láng giềng này thông qua các hành động như vậy
Tương tự, Hoa Kỳ đã đi những bước đi dài đủ giành và duy trì sự kiủm soát các sự kiện ờ Trung, Bắc và Nam Mỹ cũng như ở vùng vịnh Caribe Đây là một lý
do tại sao tự do thương mại ở Châu Mỹ được sự ủng hộ mạnh mẽ của Hoa Kỳ Nhằm đẩy mạnh ảnh hưởng đến chính trị nội bộ cũng là một lý do quan trọng vì sao Hoa Kỳ cứ tiếp tục duy trì cấm vận đối với Cu Ba và dỡ bỏ cấm vận với một số nước khác ở Á Rập một cách nhanh chóng
2.2 Bảo hộ nền sản xuất trong nước
Bào hộ là công cụ phổ biến được Chính phủ các nước sử dụng đủ nâng đỡ các doanh nghiệp gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp có ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân hoặc các doanh nghiệp tập trung nguồn nhân lực và tài chính lớn
Minh hoa thực tế rõ ràng nhất có thủ nhận thấy ờ các nước đang phát triủn như các
nước Châu Mỹ Latinh, các nước Đông Nam Á, nơi tồn tại số lượng lớn các doanh nghiệp Nhà nước Hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước ở các quốc gia này đều là các doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong vấn đề cạnh tranh trên thị trường nội địa cũng như quốc tế m à nguyên nhân sâu xa có thủ là thiếu vốn, hạn chế trong vấn đề đào tạo nhân lực, thậm chí là yếu kém trong khâu quản lý Mặc dù vậy, việc giải thủ các doanh nghiệp này là vấn đề nan giải bời hâu hết các doanh nghiệp này thu hút một lực lượng lao động lớn hoặc được đẩu tư những nguồn tài chính không nhỏ Hậu quả của việc giải thủ có thủ là những cú sốc lớn cả về kinh tế và chính trị Hơn nữa, nguyên nhân khác khiến Chính phủ khó giải thủ các doanh nghiệp này còn là
do họ vẫn còn đặt niềm tin vào khả năng chuyủn biến tình thế của đội ngũ lãnh đạo
22
Trang 25hoặc đây là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực được ưu tiên phát triển theo chiến lược dài hạn
2.3 Bảo vệ việc làm cho người tao động trong nước
Đ ể ổn định tình hình xã hội, đặc biệt là nhằm đạt được mục tiêu về giảm tỷ
lệ thất nghiệp và tạo việc làm cho người lao động trong nưậc, Chính phủ có thể sử dụng các biện pháp khác nhau để hạn chế nhập khẩu, thậm chí cả hạn chế nhập khẩu lao động (người ta có thể quy định doanh nghiệp có vốn đâu tư nưậc ngoài phải sử dụng một tỷ lệ nhất định là lao động nội địa) Nói chung, để bảo vệ việc làm cho người lao động trong nưậc, các biện pháp được sử dụng có thể là thuế quan nhập kháu rất cao (ở vào mức thuế đỉnh), hạn ngạch cũng được sử dụng bên cạnh thuế thời vụ, thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá Ngoài ra, cũng có thể
sử dụng các biện pháp nội địa như trợ cấp, áp dụng các quy định mua địa phương Nếu thấy vẫn còn chưa đủ, Chính phù có thể áp đặt các quy định về tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội theo SA 8000
2.4 Bảo vệ người tiêu dùng trong nước
Kinh tế càng phát triển thì người tiêu dùng càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng hàng hoa và dịch vụ, người tiêu dùng có sự quan tâm nhiều hơn đến các vấn
để về sức khoe và sự an toàn hơn là vấn đề rẻ hay đất Công nghiệp hoa và toàn cầu hoa làm cho lương thực và thực phẩm có thể được đưa tậi mọi nơi trên thế giậi Các căn bệnh truyền nhiêm cũng có thể từ đó mà lây lan toàn câu Bởi vậy, Chính phủ cần có các biện pháp nhằm tác động tậi các sản phẩm nhập khẩu thông qua các quy định về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, nhãn hiệu và đòi hỏi bao gói Vậi các nưậc công nghiệp phát triển, những quy định trên thường là quá mức cẩn thiết nhưng họ lại cho rằng chưa đủ m à còn đòi hỏi cả quy trình sản xuất và chế biến Tiếp đó là các quy định về hoa chất được sử dụng, về an toàn phòng cháy, về bảo
vệ môi trường Trong kỷ nguyên của sự phát triển mậi của công nghiệp thực phẩm, nhiều sản phẩm biến đổi gen sẽ đưa vào thị trường, mặc dù chưa đủ bằng chứng khoa học về tác hại nhưng vẫn có thể bị cấm Chẳng hạn, thịt bò xử lý hooc môn từ
23
Trang 26Hoa Kỳ bị cấm vào EU mặc dù không vi phạm các quy định của WTO Đ ố i vói các Chính phủ, khi thấy xuất hiện nguy cơ tới sức khoe con người, sự sống của động vật và thực vật thì biện pháp được áp dụng sẽ là cấm nhập khồu từ một quốc gia nào
đó, hoặc đối với một loại sản phồm nào đó
2.5 Khuyến khích các lợi ích quốc gia
Lợi ích quốc gia bao gồm một loạt các quan tâm khác nhau Trước hết, là do yêu cồu của chiến lược phát triển ngành sản xuất nội địa có thể dành cho nhà sản xuất trong nước được ưu tiên hơn nước ngoài và do vậy cần đưa ra các cản trở tạm thời đối với doanh nghiệp nước ngoài, sản xuất nông nghiệp là một ngành được bảo
hộ cao nhất bởi tồm quan trọng của an ninh lương thực, thực phồm an toàn và việc làm trong ngành nông nghiệp Việc sử dụng trợ cấp và hạn chế nhập khồu hàng nông sản là các biện pháp m à các nước công nghiệp phát triển thường áp dụng đối với các nước đang phát triển
Thứ hai, Chính phủ cùa các nước cần phải tạo dung và khai thác các ngành sản xuất m à lợi thế cạnh tranh quốc gia có thể thu được Chính sách thương mại của Chính phủ sẽ phái trợ giúp các công ty của họ trong những ngành nhất định để giành được lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới Các biện pháp trợ cấp xuất khồu sẽ được áp dụng và Chính phủ của nước nhập khồu lại sử dụng các biện pháp
đế hạn chế nhập khồu, thậm chí cả các biện pháp trả đũa
Thứ ba, chính sách thương mại có thể được xây dựng với các mục tiêu nhằm tạo dựng thị trường và đối tác thương mại có tính chất chiến lược Các khoản ưu đãi
có thể dành cho một nước nào đó nhưng lại trở thành rào cản đối với nước khác bất chấp nguyên tắc NT trong khuôn khổ WTO
Thứ tư, vì các lợi ích quốc gia liên quan đến việc duy trì văn hoa và bản sắc dân tộc, qua đó các sản phồm văn hoa như sách, báo, phim, nhạc là rất quan trọng
Sự phát triển của Internet và viễn thông toàn cầu đe doa bản sắc văn hoa dân tộc, buộc các Chính phủ hạn chế nội dung nước ngoài và sở hữu nước ngoài trong các lĩnh vực này
24
Trang 272.6 Đẽ đáp lại các hành động thương mại không bình đẳng
Hầu hết mọi người đều cho rằng sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối vói một quốc gia cho phép tự do thương mại nếu các quốc gia khác bảo vệ một cách tích cực các ngành công nghiệp của chính họ Các Chính phù thường đe doa đóng cửa các cảng đôi với tàu thuyền cùa các quốc gia khác hoặc áp đặt mức thuế rởt cao đối với các hàng hoa của các quốc gia này nếu họ có những bằng chứng thể hiện các hoạt động thương mại không bình đẳng Nói cách khác, nếu một Chính phủ cho rằng một quốc gia khác là "đang chơi không bình đẳng", họ sẽ đe doa "trả đũa" trở lại trừ khi đạt được những nhân nhượng nhởt định Những biện pháp đáp lại này thường được gọi là các biện pháp phòng vệ hoặc trả đũa
2.7 An ninh quốc gia
Vởn đề an ninh quốc gia luôn đòi hỏi phải sử dụng các biện pháp cởm nhập khẩu đối với một số hàng hoa liên quan như vũ khí, chởt nổ (chỉ có Chính phủ mới được nhập khẩu hàng hoa liên quan đến quốc phòng) Ngành công nghiệp máy móc thiết bị chuyên dùng cho in tiền, cho thu và phát các tín hiệu vệ tinh và một số ngành sản xuởt khác cũng phải sử dụng các biện pháp kiểm soát rởt nghiêm ngặt
2.8 Để bảo vệ môi trường
Ngày nay, cùng với vởn đề phát triển thương mại, các quốc gia đều rởt quan tâm đến mục tiêu bảo vệ môi trường, tuy rằng mức độ quan tâm và biện pháp được đưa ra nhầm bảo vệ môi trường cũng có sự khác nhau Chính vì vậy m à các quy định về môi trường cũng có sự khác nhau và đã trở thành rào cản trong thương mại quốc tế Người ta có thể đưa ra nhiều quy định khác nhau nhưng có thể chia ra thành 3 nhóm biện pháp như sau:
• Các quy định vẻ môi trường bên ngoài lãnh thổ biên giới, chẳng hạn đó là quy định cởm nhập khẩu tôm và cá chích được đánh bằng lưới quét để ngăn ngừa nguy cơ làm tuyệt chúng rùa biển
• Các quy đinh liên quan trực tiếp đến môi trường như quy định về bao bì và phế thải bao bì, quy định về tiêu chuẩn tàu biển được cập cảng, quy định về nhãn
25
Trang 28hiệu cho thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ, quy định về sản phẩm từ da và lông của động vật, quy định về chứng chỉ rừng
• Các quy định có liên quan gián tiếp đến môi trường nhưng liên quan trực tiếp đến vệ sinh an toàn thực phẩm như quy định về hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật tối
đa có trong sản phẩm nóng nghiệp (dư lượng thuốc kháng sinh), quy định về kiụm tra thú y đối với thịt gia súc, gia cẩm và thúy sản, các quy định về chất phụ gia trong thực phẩm
Các biện pháp như trên ngày càng được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở các nước nhằm bảo vệ môi trường nhưng nó có thụ trở thành rào cản trong thương mại quốc tế
Trang 29C H Ư Ơ N G l i
R À O CẢN T H Ư Ơ N G MẠI QUỐC T Ế Đ Ố I VỚI
SẢN PHẨM C Ô N G NGHIỆP XUẤT KHAU CỦA VIỆT NAM
ì T H Ự C T R Ạ N G R À O C Ả N T H Ư Ơ N G M Ạ I C Ủ A M Ộ T số N Ư Ớ C Đ ố i T Á C
C H Í N H Đ Ố I V Ớ I M Ặ T H À N G C Ô N G N G H I Ệ P C Ủ A V I Ệ T N A M
1 Thị trường Hoa Kỳ
1.1 Tình hình xuất khẩu mặt hàng công nghiệp Việt Nam sang Hoa Kỳ
1.1.1 Vài nét vé quan hê kinh tế thương mai Việt Nam - Hoa Kỳ trong những năm
gán dây
Thị trường M ỹ là mớt thị trường giàu có bậc nhất thế giới với dung lượng cao cho tất cả các loại hàng hoa nói chung - là mong muốn của bất cứ nhà kinh doanh
nào ở các nước trên thế giới Hàng năm, Hoa Kỳ nhập khẩu khoảng 1438 tỷ USD
bao gồm rất nhiều chủng loại hàng hoa khác nhau, từ hàng máy móc thiết bị đến hàng da giầy, may mặc, thực phẩm chế biến, nông sản
Tuy nhiên, Việt Nam mối chỉ bắt đầu buôn bán với thị trường M ỹ được hơn 10 năm nay, kể từ tháng 7/1995 khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao
Nhưng phải kể từ sau khi ký kết Hiệp định thương mại Việt M ỹ (13/7/2000) thì hoạt đớng thương mại song phương diễn ra sôi đớng hơn, k i m ngạch buôn bán hai
chiều tăng nhanh, năm 2004 đạt 6,44 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam
sang Mỹ đạt 5,28 tỷ Dự kiến năm 2005, ta sẽ xuất khẩu vào Hoa Kỳ trên 6 tỷ USD1 Từ năm 2002 (năm đầu tiên có Tối huệ quốc), k i m ngạch xuất khẩu vào thị
trường Mỹ của Việt Nam đã vượt Nhật Bản và bằng k i m ngạch xuất khẩu sang 25
nước EU cớng lại, M ỹ trờ thành thị trường xuất khẩu lởn nhất của Việt Nam Tỷ
1 Theo ông Nguyễn Văn Bình, P.Vụ Trường, Vụ Châu Mỹ Bộ Thương mại (Tạp chí Thương mại
27
Trang 30trọng của xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ hiện chiếm khoảng 2 0 % kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
(Nguồn: Tạp chí Những vấn đề KINH TỂ THẾ GIỚI SỔ7 {Hì) năm 2005)
i li 2 Xuất khẩu hàng cống nghiệp Việt Nam vào Mỹ
Quá trình thực hiện Hiệp định thương mại trong hơn 4 năm qua đã đưa đến những phát triển ngoạn mục, gội mở những tiềm năng to lớn và triển vọng sáng sủa của quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước Hàng hoa của Việt Nam đã có cơ hội thâm nhập đưộc thị trường Hoa Kỳ rộng lớn, nhờ đó đã tạo việc làm cho nhiều ngành công nghiệp trong nước, mở rộng quy m ô sản xuất, cải tạo cơ cấu xuất khẩu
và đẩy quy m ô xuất khẩu hàng hoa của ta lên hàng tỷ USD mỗi tháng và hàng chục
tỷ USD mỗi năm
Những mặt hàng chúng ta đang xuất khẩu vào thị trường này chủ yếu là các mặt hàng truyền thống như nông sản, dệt may, giày dép, đồ gỗ, dầu khí Trong đó ngày càng có nhiều các mặt hàng công nghiệp với tỷ trọng ngày càng cao đưộc xuất sang thị trường này Chỉ tính riêng các mặt hàng chế tạo (chua kể dầu thô và các sản phẩm công nghiệp khác) thì k i m ngạch xuất khẩu các mặt hàng này đã chiếm trên 7 5 % tổng khối lưộng xuất khẩu sang thị trường Mỹ Có thể nói M ỹ là một thị trường lớn và có nhiều tiềm năng cho mặt hàng công nghiệp của Việt Nam
28
Trang 31Bảng 1: M Ặ T H À N G C Ô N G N G H I Ệ P V I Ệ T N A M X U Ấ T K H A U
SANG HOA K Ỳ C Ó K I M N G Ạ C H L Ớ N N H Ấ T
(Đơn vị: USD) SÍT Tên hàng N ă m 2001 N ă m 2002 N ă m 2003 N ă m 2004
(Nguồn: Niên giám thống kẽ 2004 - Bộ Thương mại, năm 2005)
Việc ký kết và phê chuẩn Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa
Kộ không chỉ tạo ra những cơ hội to lốn để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoa của mình vào thị trường M ỹ m à còn tạo ra những thách thức không nhỏ đối với họ khi thâm nhập thị trường này Thị trưởng M ỹ là thị trường có dung lượng lớn nhưng cũng là thị trường "khó tính", đòi hỏi hàng hoa phải có chất lượng cao, bảo đảm vệ sinh công nghiệp Hơn nữa, đây cũng là một thị trường cạnh tranh gay gắt và nhạy cảm, có hệ thống pháp luật chặt chẽ, chi tiết, hết sức phức tạp và nhiều khi bị chèn ép quá mức, đặc biệt, M ỹ cũng xây dựng hệ thống hàng
29
Trang 32rất khắc nghiệt Đ ể có thể thâm nhập và thành cóng trên thị trường
Mỹ, các doanh nghiệp Việt Nam phải có những giải pháp cụ thể để vượt qua các rào cản đó
1.2 Hệ thống hàng rào thương mại Hoa Kỳ
1.2.1 Hàng rào thuế quan
a) Thuế nhập khẩu
Mọi hàng hóa nhập vào Hoa Kỳ đều bị đánh thuế hoặc được miễn thuế tuy theo chỏng loại cỏa chúng được áp dụng vào hạng mục nào trong biểu thuế suất hài hoa (HTS) Hiện nay, mặc dù tiếp tục thực hiện giảm và loại bỏ thuế theo các cam kết tại vòng đàm phán Uruguay, song Hoa Kỳ vẫn duy trì mức thuế nhập khẩu cao nhất trong khung thuế đã thoa thuận đối với một số mặt hàng, trong đó có những mật hàng xuất khẩu chỏ lực cỏa Việt Nam như: dệt may, giầy dép, hàng da, thực phẩm, hàng gốm sứ Ví dụ, một số loại giầy dép hiện nay vẫn phải chịu thuế kép
là 4 8 % hoặc 37,5% và 90 cent/đôi
Thuế suất cũng còn phụ thuộc vào nước xuất xứ Chính sách thương mại cỏa Hoa Kỳ có quy định về ưu đãi dành cho các nước là khác nhau Một nước khi buôn bán với Hoa Kỳ thì việc giành được các ưu đãi đó là rất quan trọng vì thuế suất nhập khẩu vào Hoa Kỳ theo đó có thể giảm xuống mức thấp hoặc được miễn hoàn toàn
30
Trang 33- Thông qua APEC để đàm phán tự do hoa thương mại vào năm
- Rất ít khả năng Hoa kỳ
sẽ tạo ra một chương trình ưu đãi cho Việt nam như các nước châu
M ỹ la tinh và vịnh Can be
3 Hệ
thống ưu
đãi phổ
cập (GSP)
- Miễn thuế nhập khẩu
đổi với nhiều loại hàng
này đối với mội số sản
phẩm hay quốc gia
- Phán lớn các nước đang phát triển và các nước đang chuyển đổi
Trừ : Việt nam, Trung quốc, Mông cổ;
- Các nước công nghiệp mới ặ châu Á;
- Phần lớn các nước xuất khẩu dâu lừa
- Hiện tại Việt nam chưa được hưặng hệ thống ưu đãi này, nhưng Việt nam
có thể hưặng một trong
số các i m đãi cùa hệ thống đó nếu tổng thống Hoa kỳ quyết định rằng Việt nam đủ điều kiện
- Quan hệ thương mại
được bình thưặng hoa,
các nước được hưặng
mức thuế suất thấp
(được hưởng "không
phân biệt đối xử")
- Háu hết các nước có quan hệ thương mại với
Mỹ dù đã là thành viên cùa WTO hay chưa đều được hưặng chế độ đãi ngộ tối huệ quốc
- Việt Nam được hưởng
M F N cùa M ỹ kể từ khi hai nước ký kết Hiệp định thương mại song phương (13/7/2000), có hiệu lực từ 10/12/2001
31
Trang 34Từ bảng trên ta có thể thấy, Việt Nam tuy đã được hưởng mức thuế tối huệ quốc của Hoa Kỳ, song hàng hoa của Việt Nam vân tiếp tục bị phân biệt đối xử về nhiều mặt do chưa được hưởng quy chế Quan hệ thương mại bình thưẩng vĩnh viễn (PNTR) và nền kinh tế Việt Nam chưa được công nhận là kinh tế thị trưẩng Hàng Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ, trong đó có sản phẩm công nghiệp (như máy móc thiết bị, các sản phẩm công nghiệp chế biến ) vẫn phải chịu mức thuế nhập khẩu cao hem so với nhiều nước khác vì Hoa Kỳ dành ưu đãi GSP, ưu đãi thương mại đơn phương và ký hiệp định thương mại tự do với một số nước Theo đó, mức thuế nhập khẩu của nhiều mặt hàng từ những nước này vào Hoa Kỳ thấp hem mức thuế M F N hoặc thậm chí bằng 0% Ví dụ, mức thuế M F N đối với giầy bảo hộ lao động là 37,5%, trong khi đó nếu nhập từ các nước Châu Phi được hưẩng ưu đãi thương mại của Hoa Kỳ theo Luật Hỗ trợ phát triển Châu Phi thì được miền thuế
b) Hạn ngạch nhập khẩu
Phần lớn hạn ngạch nhập khẩu do Cục hải quan quản lý và chia làm hai loại: hạn ngạch thuế quan và hạn ngạch tuyệt đối Hiện nay, 38 cát hàng dệt may Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ vẫn bị hạn chế bằng hạn ngạch tuyệt đối, trong khi đó hàng nhập từ các nước thành viên WTO kể từ 1/1/2005 không còn bị hạn chế số lượng
c) Luật bổi thường thương mại
Bên cạnh chế độ thuế quan theo Đạo luật thuế quan quy định ở trên, Hải quan Hoa Kỳ còn áp dụng loại thuế thứ hai là các loại thuế không quy định trong biểu thuế m à chỉ đưa ra trong từng trưẩng hợp nhằm thực hiện Luật chế tài thương mại Hoa Kỳ, trong đó chủ yếu là các luật về bồi thưẩng thương mại Đáng chú ý nhất là Luật chống bán phá giá, luật chống trợ giá cả hai luật này đều yêu cầu các hàng nhập khẩu, nếu bị phát hiện là xuất khẩu sang Hoa Kỳ một cách không công bằng sẽ phải chịu thêm một mức thuế nữa Trên danh nghĩa, mục đích của tất cả các luật bồi thương thương mại của Hoa Kỳ là nhằm chống lại sự cạnh tranh không công bằng của hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nước Tuy nhiên, trên thực
tế, tất cả những luật này - được soạn thảo và thông qua dưới sức ép của các doanh
32
Trang 35nghiệp trong nước vì lợi ích của họ - đều nhằm hạn chế cạnh tranh của nước ngoài tại thị trường Hoa Kỳ để bảo vệ các doanh nghiệp trong nước Những đạo luật này
ở các mức đồ khác nhau đều có thể ảnh hưởng đến việc xuất khẩu hàng hoa của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ
Bồi thường thương mại đã trở thành công cụ để các công ty Hoa Kỳ sử dụng thường xuyên phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh của mình Ngoài Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước EU và các nước OECD khác là mục tiêu thường xuyên của các
vụ kiện đòi bồi thường thương mại, còn có rất nhiều vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ giá chống lại các nước đang phát triển Việt Nam tuy mới thực sự buôn bấn với Hoa Kỳ từ năm 2002, song đến nay đã có hai vụ phải chịu thuế chống bán phá giá gồm cá Tra và cá Basa, tôm đông lạnh và dóng hồp
Hơn nữa, hiện nay, Việt Nam vẫn bị Hoa Kỳ coi là nền kinh tế phi thị trường Lý do Hoa Kỳ đưa ra để giải thích cho quyết định này là mặc dù Việt Nam
đã có những bước mờ cửa thị trường đáng kể và cho phép có giới hạn quy luật cung cầu tác đồng tới sự phát triển kinh tế, song mức đồ can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế vẫn còn ở mức làm cho giá cả và chi phí sản xuất không phải là thước đo thực sự đối với giá trị Quy chế kinh tế này sẽ tiếp tục tồn tại và sẽ được áp dụng cho các vụ kiện chống bán phá giá mới và các đạt xem xét lại hàng năm cho đến khi quyết định thay đổi của D Ó C
d) Các loại phụ thu và phí
• Phí người sử dung
Có mồt loạt các loại phí dịch vụ m à người sử dụng dịch vụ phải trả (trước đây không mất tiền) để trang trải các chi phí cung cấp các dịch vụ đó Ví dụ như phí hải quan, phí sử dụng cảng và phương tiện đến khác (chủ yếu do người nhập khẩu sử dụng) làm cho các sản phẩm nước ngoài ở vào thế cạnh tranh bất lợi với hàng nồi địa
Loại phí đáng quan tâm nhất trong các loại phí hải quan là Phí xem xét hàng hoa (Merchandise Processing Fee - MPF) MPF áp đặt đối với tất cả các hàng nhập khẩu trừ hàng nhập khẩu từ các nước kém phát triển nhất, các nước được ưu đãi
33
Trang 36thương mại theo Luật phục hồi vùng chảo Caribe và Luật ưu đãi thương mại Andean, và từ các đảo thuộc sở hữu của Hoa Kỳ Mức phí hiện hành được áp dụng
từ ngày 1/1/1995 là 0,21% trị giá hàng nhập với mức tẩi đa là 485 USD/một lô hàng Theo luật hiện hành, phí MPF sẽ được áp dụng cho đến 30/9/2014
• Thuế bảo dưỡng cảng và phí sử dung đích vu càng:
Hải quan Hoa Kỳ cũng tham gia thu thuế bảo dưỡng cảng (HMT) Loại thuế này được áp dụng ở tất cả các cảng của Hoa Kỳ đẩi với hàng nhập khẩu bằng đường thúy vẩi mức thuế là 0,125% trị giá hàng Toa án Phúc thẩm (tháng 6/1997) cũng như Toa án tẩi cao Hoa Kỳ đã ngừng thu thuế H M T đẩi với hàng xuất khẩu, nhưng vẫn tiếp tục thu đẩi với hàng nhập khẩu Đây là một sự phân biệt đẩi xử giữa hàng nhập khẩu và hàng xuất khẩu
1.2.2 Hàng rào phi thuế quan
a) Rào cản về đăng kí, chứng từ và thủ tục hải quan
• Yêu cẩu đăm kí:
Tại Hoa Kỳ, có nhiều sản phẩm phải đăng ký cơ sở sản xuất hoặc sản phẩm với các cơ quan quản lý nhà nước Ví dụ, các cơ sở sản xuất thực phẩm đóng hộp có hàm lượng axit thấp phải đăng ký cơ sở và quy trình sản xuất với cơ quan quản lý
an toàn thực phẩm và dược phẩm (FDA); các mỹ phẩm và dược phẩm mới phải đăng ký để FDA xem xét và cấp phép đưa hàng vào lưu thông thương mại; các loại
xe có động cơ phải đãng ký và xin phép Bộ Giao thông vận tải
Mặc dù, nhìn chung, những quy định này không có tính chất phân biệt giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa, nhưng sự phức tạp trong hệ thẩng pháp luật của Hoa Kỳ có thể tạo thành trở ngại quan trọng đẩi với việc tiếp cận thị trường của các nhà sản xuất nước ngoài Theo báo cáo của EU về rào cản thương mại của Hoa Kỳ thì thời gian xem xét để cấp phép cho các sản phẩm nước ngoài thường dài hơn so với các sản phẩm sản xuất tại Hoa Kỳ Ví dụ như thuẩc bôi tắm nắng của EU phải chờ 8 năm mới được FDA cho cấp phép cho đưa vào lun thông thương mại tại Hoa
Kỳ
34
Trang 37Các yêu cầu đối với hoa đơn thương mại xuất hàng vào Hoa Kỳ rất nhiều và phức tạp Những thông tin yêu cầu có trong hoa đơn thương mại đối với một số loại hàng hoa vượt quá xa mức bình thường và không cần thiết đối với mục đích khai hải quan và tính thuế nhập khẩu Ví dụ: đối với chuỗi hạt, hoa đơn thương mại phải cho biết chiều dài sợi dây, kích thước hạt bỏng mm, hạt làm bỏng chất liệu gì, thúy tinh hay ngà voi hay ngọc trai Hoa đơn thương mại đối với nhóm hàng dệt may
và giầy dép cũng đòi hỏi rất nhiều thông tin chi tiết Chẳng hạn, đối với loại quần
áo nhiều lớp may bỏng các loại vài khác nhau thì phải cung cấp trọng lượng tương đối, phần trăm giá trị và diện tích bề mặt của từng loại vải đó; đối với từng loại vải nếu có pha trộn nhiêu loại sợi khác nhau thì phải cung cấp trọng lượng tương đối của từng loại sợi đó Đ ố i với giầy dép, hoa đơn thương mại phải cung cấp tỷ lệ phần trăm các nguyên liệu sử dụng tính theo diện tích bề mặt ngoài của mũ và đế giầy dép
Yêu cầu này gây khó khăn và tốn kém đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ
và mới thâm nhập thị trường như hầu hết các doanh nghiệp của Việt Nam Thực tế
có không ít doanh nghiệp Việt Nam đã phải đi làm lại không dưới vài ba lần một hoa đơn thương mại xuất hàng sang Hoa Kỳ
• Thủ túc hải quan:
Luật lệ thương mại và thủ tục hải quan ở Hoa Kỳ rất phức tạp đến mức thông thường các nhà nhập khẩu (nhất là những nhà nhập khẩu chưa có kinh nghiệm) không tự làm được m à phải sử dụng dịch vụ hải quan Phí sử dụng dịch vụ hải quan cũng làm tăng chi phí hàng nhập khẩu Hơn nữa, việc tăng thời hạn thanh lý hải quan cũng là một rào cản thương mại quan trọng Hàng nhập về thông thường phải được đưa vào sản xuất hoặc tiêu thụ trẽn thị trường ngay, nhất là đối với các mặt hàng có chu kỳ sản phẩm ngắn như dệt may và giầy dép Do vậy, các nhà bán lẻ hoặc nhập khẩu thông thường không có khả năng trả lại hàng hoa theo yêu cầu của Hải quan, và hậu quả là phải chịu phạt cao tới 1 0 0 % trị giá hàng nhập khẩu Hải quan có thể gia hạn thời hạn thanh lý hải quan quá 210 ngày m à không cần cho biết
35
Trang 38lý do Đôi khi lý do gia hạn chỉ là những lỗi nhỏ trong hoa đơn thương mại Ngoài ra, trong giai đoạn thanh lý hải quan, Hải quan vẫn có thể yêu cầu cung cấp thêm thõng tin cần thiết để phân loại hàng hoa hoặc xác định xuất xứ hàng hoa
b) Các quy định về nhăn hiệu thương mại và bản quyền
• Nhãn hiệu thương mai: Đạo luật nhãn hiệu 1946 quy định rằng mởi hàng
hoa nhập vào Hoa Kỳ mang một tên hoặc một nhãn bị cấm bởi Luật nhãn hiệu sẽ bị tịch thu và không hoàn trả Hàng hoa mang nhãn hiệu giả hoặc sao chép, bắt chước một nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền của công ty Hoa Kỳ hoặc nước ngoài sẽ bị cấm nhập vào Hoa Kỳ
• Bản quyền: Luật sửa đổi về bản quyền nhãn hiệu năm 1976 quy định rằng
việc nhập khẩu vào Hoa Kỳ các bản sao chép từ nước ngoài m à không được phép của người chủ bản quyền là vi phạm Luật bản quyền sẽ bị bắt giữ và tịch thu
c) Quy định về xuất xứ và kí mã hiệu hàng hoa
M ở i hàng hoa nhập khẩu vào Hoa Kỳ có xuất xứ ngoại quốc thì trên sản phẩm phải ghi nhãn của nước xuất xứ và phải dược ghi rõ ràng, không tẩy xóa được, ở chỗ dễ nhìn thấy trên bao bì xuất nhập khẩu Hàng nhập khẩu của những nước đang phát triển hoặc ở nhũng nước đã ký Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ sẽ được hưởng thuế suất thấp hơn Hàng hoa gốc từ Hoa Kỳ đưa sang nước khác để gia công thêm và đóng gói, khi nhập khẩu trở lại Hoa Kỳ sẽ không phải đóng thuế nhập khẩu cho phần nguyên liệu có nguồn gốc từ Hoa Kỳ Hàng Việt Nam nhận gia công cho các công ty Hoa Kỳ, khi nhập khẩu trở lại sẽ chỉ phải chịu thuế nhập khẩu đối với phấn phí gia công
ả) Rào cẩn tiêu chuẩn và kĩ thuật
• Không sử dúm tiêu chuẩn quốc tế:
Mức độ sử dụng các tiêu chuẩn do các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ban hành ở Hoa Kỳ tương đối thấp, hoặc thậm chí các tiêu chuẩn này không được biết đến tại Hoa Kỳ Tất cả các bên của Hiệp định TBT đều cam kết sử dụng rộng rãi hơn các tiêu chuẩn quốc tế; nhưng mặc dù khá nhiều tiêu chuẩn của Hoa Kỳ được coi
"tương đương về mặt kỹ thuật" với các tiêu chuẩn quốc tế, và một số các tiêu chuẩn
36
Trang 39đó thực tế đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, rất ít các tiêu chuẩn quốc tế được
áp dụng trực tiếp và một số tiêu chuẩn của Hoa Kỳ còn mâu thuẫn trực tiếp với các tiêu chuẩn quốc tế
Tiêu chuẩn các sản phẩm điện và điện tử sử dụng ở Hoa Kỳ rất hay khác với
các tiêu chuẩn quốc tế Hơn nữa, ở Hoa Kỳ không có thỹ trường thống nhất toàn
liên bang đối với hàng điện và điện tử do có sự khác biệt về yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn sản phẩm giữa liên bang và bang, giữa các khu vực hoặc bang với nhau, hoặc thậm chí giữa các quận và thành phố với nhau Do vậy, các nhà sản xuất nước ngoài muốn tiêu thụ những sản phẩm này tại các nơi khác nhau ở Hoa Kỳ phải thay đổi các tiêu chuẩn cho phù hợp không những với tiêu chuẩn liên bang m à còn với các tiêu chuẩn ở các đỹa phương cụ thể Sự thay đổi này dẫn đến sự phát sinh chi phí sản xuất Trong nhiều trường hợp chi phí vượt quá mức có thể thâm nhập thỹ trường
• Các quy đinh khác nhau ở cấp tiếu bang:
Ở Hoa Kỳ có hơn 2700 cơ quan chính quyền cấp bang và thành phố quy đỹnh
cụ thể về các tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn đối với các sản phẩm được bán hay lắp đặt trong phạm vi đỹa hạt của các cơ quan này Những yêu cầu này thường là không đổng nhất hoặc nhất quán với nhau, hoặc thậm chí không minh bạch Sự không thống nhất về yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn sản phẩm điện và điện tử là một thí dụ điển hình về rào cản thương mại đối với hàng nhập khẩu
Mặc dù những quy đỹnh trên áp dụng không phân biệt đối với các sản phẩm nội đỹa hay nhập khẩu từ nước ngoài, song các công ty Hoa Kỳ vẫn có lợi thế hơn
vì họ là công ty bản xứ đã hoạt động trên thỹ trường nhiều năm và nắm được tất cả các yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn Đ ố i với các công ty nước ngoài, thu thập các thông tin cần thiết liên quan và đáp ứng cấc quy đỹnh và thủ tục yêu cầu quả thực là một thách thức lớn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì hiện nay, không có một nguồn thông tin tập trung nào về các tiêu chuẩn và đánh giá tính hợp chuẩn Một công ty ờ EU đã ước tính sự phức tạp của các yêu cầu về tiêu chuẩn và chứng nhận chất lượng đã làm họ mất khoảng 1 5 % tổng doanh số bán hàng Chỉ
37
Trang 40riêng chi phí chứng nhận cũng đã chiếm khoảng 5 % tổng doanh số bán hàng Chi phí bảo hiểm trách nhiệm đối vói sản phẩm theo yêu cầu của luật pháp Hoa Kỳ cũng là một khoản không nhỏ Các chi phí ẩn đối với các sản phẩm nhập khẩu có thể còn lớn hơn vì nếu sử dụng các linh kiện sản xuẵt tại Hoa Kỳ đã được thử nghiệm sẵn có thể tiết kiệm được rẵt nhiều thời gian, chi phí thử nghiệm và chứng nhận chẵt lượng sản phẩm Yếu tố này đặc biệt đúng đối vói các sản phẩm điện Ngoài ra, các tổ chức tư nhân cung cẵp bảo đảm chẵt lượng có thể áp đặt phải sử dụng một số linh kiện sản phẩm cụ thể theo các chương trình của riêng họ không phù hợp với các tiêu chuẩn bảo đảm chẵt luông quốc tế (Ví dụ như ISO 9000) Một số sản phẩm (ví dụ các thiết bị mạng viễn thông) phải qua một quy trình đánh giá đắt tiền nhưng không được cẵp chứng chỉ chẵt lượng và không xem xét đến các yêu cầu của từng người mua
• Lê thuộc quá nhiều vào chứng chỉ bắt buộc:
Trong khi trên thế giới đang có xu hướng hạn chế hoặc giảm thiểu sự can thiệp của bên thứ ba vào việc quản lý chẵt lượng sản phẩm, thì ở Hoa Kỳ vẫn tiếp tục lệ thuộc vào các chứng chỉ chẵt lượng của bên thứ ba đối với rẵt nhiều sản phẩm công nghiệp (nhu các sản phẩm thiết bị điện và đồ gia dụng) Yêu cầu này đã làm phát sinh các chi phí cao không hợp lý đối với các nhà cung cẵp nước ngoài Hơn nữa, thời gian chờ kiểm nghiệm và cẵp chứng nhận chẵt lượng cũng có thể làm mẵt
cơ hội thâm nhập thị trường Ví dụ, sẽ không có nhà nhập khẩu nào chịu ký hợp đồng nhập khẩu bàn là của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ nếu như sản phẩm này chưa được kiểm nghiệm và cẵp chứng chỉ chẵt lượng bởi một tổ chức kiểm nghiệm
và cẵp chứng chỉ chẵt lượng được Hoa Kỳ công nhận ( U L chảng hạn)
e) Hạn chế nhập khẩu liên quan đến an ninh quốc gia
• Sáng kiến an ninh container:
Sáng kiến an ninh container (Container Security Initiative - CSI) xuẵt phát từ
lý do lo sợ nguy cơ khủng bố bằng container đường biển dùng trong thương mại quốc tế Sáng kiến này làm phát sinh chi phí đối với các cảng tham gia chương trình, và cuối cùng chi phí này cũng được tính vào hàng hoa xuẵt khẩu sang Hoa
38