Những điểm mới của luật doanh nghiệp năm 2005 và một số kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả luật
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
KHOA: QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH: KINH DOANH QUỐC TẾ
Đe tài:
NHỮNG DIÊM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP N Ă M 2005
VÀ MỘT SÒ KIÊN NGHỊ NHAM THỰC THI có HIỆU QUẢ LUẬT
Trang 3M Ụ C L Ụ C
L Ờ I N Ó I Đ Ầ U Ì
C H Ư Ơ N G 1 K H Á I Q U Á T C H U N G V Ề L U Ậ T D O A N H NGHIỆP N Ă M 1999
V À S ự RA Đ Ờ I C Ủ A L U Ậ T D O A N H NGHIỆP N Ă M 2005 4
ì Khái quát chung về Luật Doanh nghiệp năm 1999 4
Ì Hoàn cảnh ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999 4
2 Thực tiễn sáu năm thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 6
2.1 Những tác động tích cực của Luật Doanh nghiệp năm 1999 6
2.2 Những vấn đề còn tổn tại của Luật Doanh nghiệp năm 1999 và quá trình
thực thi Luật 8 2.2.1 Tồn tại sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành
2.2.3 Hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh chưa đưẫc tổ chức một cách rõ
ràng, độc lập và chuyên nghiệp 10
2.2.4 Các tổn tại vé vấn đề quản trị doanh nghiệp l i
2.2.5 Vẫn còn tình trạng lúng túng trong công tác hậu kiểm 12
2.3 Kinh nghiệm qua sáu năm thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 12
l i Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 14
Ì Hoàn cảnh ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 14
2 Tư tưởng và quan điểm chỉ đạo trong việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm
2005 15
3 Mục đích của việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 16
2.1 Tạo lập khung pháp lý chung cho doanh nghiệp và tạo điều kiện thuận lẫi
2.2 Khai thác mạnh mẽ tiềm lực của mọi thành phần kinh tế 17
2.4 Góp phần nâng cao sức cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp 19
Trang 4C H Ư Ơ N G 2 N H Ữ N G Đ I Ể M M Ớ I C Ủ A L U Ậ T D O A N H NGHIỆP N Ă M 2005 20
ì Những điểm mói của Luật Doanh nghiệp năm 2005 20
Ì Tạo lập khung pháp lý bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi
1.2 Đ ố i với doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập 23
2 Mở rộng quyển tự do kinh doanh cho doanh nghiệp 24
3 Đơn giản hoa thủ tục, giảm rào cản gia nhập thị trưởng, đặc biệt đối với các
nhà đầu tư nước ngoài 26
4 Các loại hình doanh nghiệp 28
4 Ì Ghi nhận thêm loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá
nhân làm chủ sở hữu 28
4.2 Hoàn thiện m ô hình công ty hợp danh 30
4.3 Quy định chi tiết và hợp lý hơn về công ty cổ phần 31
4.4 Bổ sung quy định về nhóm công ty 32
5 Luật Doanh nghiệp năm 2005 hoàn thiện cơ chế quản trị doanh nghiệp theo
hướng minh bạch và hiệu quả 35
5.1 Thiết lập cơ chế thích hợp bảo vệ quyền và lợi ích của thành viên, cổ đông
thiểu số 35 5.2 Quy định rõ tiêu chuẩn, đồng thởi xác định rõ hơn nghĩa vụ của ngưởi quản
lý doanh nghiệp 36 5.3 Tăng cưởng vị trí, vai trò của Ban Kiểm soát, đáp ứng mục tiêu thực hiện
giám sát một cách có hiệu quả đối với hoạt động của doanh nghiệp 37
6 Tăng cưởng quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp 38
7 Một số điểm mới khác 41
l i Ý nghĩa của việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 43
1 Luật Doanh nghiệp năm 2005 góp phân cải thiện môi trưởng kinh doanh ở
nước ta 44
2 Luật Doanh nghiệp năm 2005 góp phần hoàn thiện thể chế thị trưởng định
Trang 53 Luật Doanh nghiệp năm 2005 góp phần thể chế hoa những cam kết trong quá
4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 góp phẩn hoàn thiện hệ thống pháp luật của
nước ta 47
C H Ư Ơ N G 3 M Ộ T S Ố KIẾN NGHỊ V À GIẢI P H Á P N H Ằ M T H Ự C THI C Ó
HIỆU Q U Ả L U Ậ T D O A N H NGHIỆP N Ă M 2005 48
ì Một sô tồn tại trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 và trong các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật 48
Ì Một số tồn tại trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 48
Khoản Ì Điều 66 quy định về quyển rút vốn của chủ công ty trách nhiệm
1.2. Luật quy định chưa rõ ràng và chưa bao quát hết các hình thức tẫ chức lại
doanh nghiệp 48 1.2.1 Công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể được chia thành các công
ty T N H H một thành viên ? 49
1.2.2 Công ty T N H H hay công ty cẫ phần có thể chuyển đẫi sang công ty
hợp danh, hoặc công ty TNHH một thành viên là cá nhân có thể chuyển đẫi
thành doanh nghiệp tư nhân? 50
1.2.3 Công ty hợp danh có thể được phép chia, tách không? 51
2 Một số tẫn tại trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp năm
2005 52
2.1 Bất cập vế vấn đề đặt tên của doanh nghiệp 52
2.2 Bất cập trong trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh 54
n Một sự kiên nghị và giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả Luật Doanh
nghiệp năm 2005 56
1 Đ ẫ i mới trong công tác đãng ký kinh doanh 56
2 Nhanh chóng đưa các cõng ty Nhà nước vào diện điều chỉnh của Luật Doanh
nghiệp năm 2005 58
3 Cần sớm củng cô m ô hình hậu kiểm cho phù hợp 60
Trang 63.1 Hậu kiểm doanh nghiệp thông qua sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà
3.2 Hậu kiểm doanh nghiệp thông qua sự kiểm tra, giám sát trong nội bộ doanh
nghiệp 61 3.3 Hậu kiểm doanh nghiệp thông qua sự kiểm tra, giám sát của đối tác đối với
doanh nghiệp 61 3.4 Hậu kiểm doanh nghiệp thông qua sự kiểm tra, giám sát của khách hàng 62
3.5 Hậu kiểm doanh nghiệp thông qua sự kiểm tra, giám sát của các đối thủ cạnh
tranh 63 3.6 Hậu kiểm doanh nghiệp thông qua sự kiểm tra, giám sát của công luận 63
4 Rà soát một cách toàn diện các vãn bản pháp luật liên quan để sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm 2005 64
5 Tăng cường năng lực quản lý của bộ máy hành chính thực thi Luật Doanh
nghiệp năm 2005 64
6 Tổ chức tuyên truyền về Luật Doanh nghiệp năm 2005 65
PHỤ LỤC: THỰC TRẠNG GIẤY PHÉP V À ĐIỀU KIỆN KINH DOANH 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo của trường Dại học Ngoại Thương Hà Nội, đặc biệt là các thầy có giáo trong Khoa Quản trị kinh doanh đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình em học tễp tại Trường Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Nguyễn Minh Hẵng - Giảng viên Luễt kinh doanh, Trường Đại học Ngoại Thương, đã tễn tình chỉ bảo em trong quá trình viết khoa luễn Em cũng mong muốn gửi lời cảm ơn tới các cô chít cán bộ Thư viện quốc gia, Thư viện trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội, gia đình
và bạn bè thăn yêu đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình tìm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, cũng như luôn hết sức động viên, tạo điều kiện cho em trong quá trình viết bài
Khoa luễn này là kết quả nghiên cứu ban đầu của em, do vễy chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Em kinh mong nhễn được sự chỉ bảo của các thầy cô cùng với ý kiến đóng góp của các bạn sinh viên và tất cả những ai quan tâm tới đề tài này
Sinh viên Trần Thị Việt Hà
Trang 8M Ộ T S Ố T H U Ậ T N G Ữ Đ Ư Ợ C V I Ế T T Ắ T T R O N G K H O A L U Ậ N
STT Thuật ngữ viết tắt Thuật ngữ viết đầy đủ
Trang 91 L ý do chọn Đ ề tài
Điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2005 là đề tài được khá nhiều các luật gia, các doanh nghiệp và những người quan tâm đề cập trên các diễn đàn nhu: www.vibonline.com.vn, Diễn đàn doanh nghiệp; và trên rất nhiều tạp chí như: Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Vì vậy, có thể nói đây không còn là một dề tài mới Tuy nhiên, hầu hết các bài bình luận tại các trang web và các tạp chí nói trên chỉ là ý kiến cá nhân về một vài khía cạnh mới của Luật Doanh nghiệp năm 2005 so với Luật Doanh nghiệp năm 1999
Do đó, em đã chọn để tài "Những điểm mói của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và một sự kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả Luật" với mong muựn rằng có thể "góp, nhặt" một cách tương đựi các ý kiến, các bài bình luận của các tác già để tổng hợp vào trong Khoa luận này Từ đó, giúp những người quan tâm có được cái nhìn bao quát hơn về các điểm mới có tính chất quan trọng của Luật Doanh nghiệp năm 2005 hiểu rõ hơn về phương hướng và mục tiêu của việc ban hành Luật Doanh nghiệp mới này cũng như góp phẩn đưa ra những giải pháp nhằm thực thi Luật này một cách có
hiệu quả trong thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Có thể nói điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2005 là một để tài khá rộng
Do đó, với độ dày khoảng 70 trang, Khoa luận chỉ mong muựn:
Khái quát chung về hai luật doanh nghiệp, cụ thể đi sâu vào tình hình thực hiện, kinh nghiệm rút ra sau sáu năm thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999
và hoàn cảnh, tư tưởng và quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cùa việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005;
So sánh hai luật doanh nghiệp để tìm ra những điểm mới cơ bản của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và rút ra ý nghĩa của việc ban hành Luật;
- Nghiên cứu tìm ra những tồn tại trong hệ thựng văn bản Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; dựa trên việc phán tích
Trang 10những tồn tại cũng như một số bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực thi Luật Doanh nghiệp năm 1999 để để xuất một số kiến nghị và giải pháp góp phần thực thi có hiệu quả Luật Doanh nghiệp năm 2005
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sừ dụng trong Khoa luận là phương pháp so sánh và phương pháp phân tích Phương pháp so sánh giúp chỉ ra những điểm giống
và khác nhau giữa Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 1999
Từ đó rút ra những điểm mới quan trọng có tính chất thực sự "mới" làm nổi bật được mục tiêu cải cách hệ thống pháp luật nhằm phù hợp với yêu cẩu của thực tiễn đặt ra cho đất nước ta trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, phương pháp phân tích giúp
có được cái nhìn lôgic, hiểu rõ han về mục tiêu, phương hướng, tác động cũng như ý nghĩa của việc cải cách hệ thống pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Ngoài hai phương pháp trên, Khoa luận còn sừ dụng một số các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp thống kê, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sừ
4 Phạm vi nghiên cứu và đôi tượng nghiên cứu
Như đã đề cập ở trên thì điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2005 là một đề tài rộng, do vậy Khoa luận chỉ mong muốn nghiên cứu khái quát, gần như là "liệt kê", "chỉ ra" những vấn đề cơ bản của để tài, m à không có tham vọng dìmg lại nghiên cứu sâu về một vấn đề cụ thể Đ ố i tượng nghiên cứu chủ yếu của Khoa luận
là Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cùng ba văn bản hướng dẫn thi hành Luật là Nghị định của Chính phủ số 88/2006/NĐ-CP ban hành ngày 29 tháng 8 năm 2006 quy định về đăng ký kinh doanh, Nghị định của Chính phủ số 95/2006/NĐ-CP ban hành ngày 08 tháng 9 năm 2006 quy định quv định về chuyển đổi công ty Nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, và Nghị định cùa Chính phủ số 101/2006/NĐ-CP ban hành ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định về việc đăng ký lại chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư cùa các doanh nghiệp có vốn đẩu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanh nghiệp và
2
Trang 11Luật Đẩu tư Ngoài ra, Khoa luận còn nghiên cứu một vài điều khoản của Luật Đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam nám 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000, Luật Đẩu tư năm 2005 cùng một số văn bản hướng dẫn chi tiết
5 Kết câu của Khoa luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận, Khoa luận được chia làm ba phẩn chính sau đây:
• Chương ì Khái quát chung về Luật Doanh nghiệp năm 1999 và sị ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005
• Chương n Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2005
• Chương IU Một số kiến nghị và giải pháp nhằm thịc thi có hiệu quả Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 12C H Ư Ơ N G 1 K H Á I Q U Á T C H U N G V Ề L U Ậ T D O A N H NGHIỆP N Ă M 1999
V À S ự RA Đ Ờ I C Ủ A L U Ậ T D O A N H NGHIỆP N Ă M 2005
ì Khái quát chung về Luật Doanh nghiệp năm 1999
1 Hoàn cảnh ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999
Trong điều kiện Việt Nam trước năm 1986, vẫn còn tồn tại cơ chế bao cấp và nền
kinh tế phi thị trường thì sự hình thành và phát triển của công ty và pháp luật về
công ty tương đối chậm Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lổn thứ V I
(năm 1986), với chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoa nhiều thành phẩn vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN, nền
kinh tế nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Điều này cũng tạo ra một sự chuyển
hướng đổi mới sâu sắc và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có sự
thay đổi về nhận thức trong công tác lập pháp Ngày 21 tháng 12 năm 1990, Luật
Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã được Quốc hội khóa vu, kỳ họp thứ 8
thông qua Đây là hai đạo luật đẩu tiên của nước ta điểu chỉnh việc thành lập, tổ
chức quản lý và hoạt động của các loại hình DN ngoài quốc doanh
Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã tạo cơ sở pháp lý cho sự phát
triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, là điểm mốc quan trọng trong quá trình
đổi mới hoạt động kinh tế ở nước ta Hai đạo luật này đã góp phổn giải phóng lực
lượng sản xuất, phát huy nội lục, thúc đẩy nhanh thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch hoa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng XHCN Sau gổn 10 năm thi
hành đã có hơn 50.000 DN1
được cấp phép và đăng ký thành lập Tuy nhiên, do được xây dựng trong giai đoạn đổu của thời kỳ đổi mới nên trước sự phát triển của
nền kinh tế thị trường, nhiều vấn đề và nội dung của hai đạo luật này đã tỏ ra bất
cập, không đáp ứng được yêu cổu điều chỉnh hoạt động của các loại hình DN trong
giai đoạn công nghiệp hoa - hiện đại hoa Điều đó thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân không còn tương thích với
các luật có liên quan
' GTZ-CIEM, 6 năm thi hành Luật Doanh nghiệp: Những vấn đề nổi bật và Bài học kinh nghiệm, 2006
4
Trang 13Trong giai đoạn từ 1986 đến 1999, khung pháp lý nói chung và khung pháp lý về
D N nói riêng đã không ngừng được cải thiện và phát triển Luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại năm 1997, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995, Luật Hợp tác xã đã được ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 cũng được sửa đổi, bổ sung vào năm 1996 theo hướng từng bước thu hẹp sự khác biệt, tiến tới hình thành một khung pháp lý bình đẳng đối với DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài Điểu này cũng phù hợp với các cam kết quốc tế cẫa nước ta khi tham gia ASEAN, AFTA, APEC, ký kết hiệp định Thương mại Việt - Mỹ về đối xử quốc gia, và đang đàm phán để gia nhập WTO
Vì vậy, một số quy định trong Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã không còn tương thích với nội dung cẫa một số luật có liên quan Điều đó đã dẫn đến sự thiếu nhất quán trong cách hiểu và thi hành luật, hạn chế hiệu lực cẫa các quy định pháp luật có liên quan
Thứ hai, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân không còn đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tê đã phát triển sau mười năm đổi mới
Sau mười năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển nhất định Số lượng DN tham gia thị trường đã tăng lên đáng kể, cơ chế thị trường đã hoạt động với quy m õ và cường độ lớn hơn, mức độ mở cửa cẫa nền kinh tế nước ta ngày càng tăng Do đó, hoạt động sản xuất kinh doanh đã phát triển mạnh với quy m õ tăng gấp nhiều lân và loại hình cũng đa dạng và phức tạp hơn rất nhiều Trong khi đó, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành trong những năm đầu cẫa thời
kỳ đổi mới, khi chúng ta chưa nhận thức đây đẫ và còn thiếu kinh nghiệm thực tế về kinh tế thị trường Vì vậy, một số nội dung cẫa hai đạo luật nói trên đã không còn phù hợp với mức độ phát triển mới và thực tiễn
Những thiếu sót và hạn chế cẫa Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã khiến cho khung pháp lý cẫa nước ta chưa tạo điều kiện phát huy tối đa nguồn lực cho phát triển kinh tế đất nước Những thiếu sót và hạn chế này thực sự đã làm giảm tính linh hoạt cẫa các nhà đẩu tư Đây cũng chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực quản lý Nhà nước đối với DN
Trang 14Luật Doanh nghiệp năm 1999 gồm 10 Chương, 124 Điều thay thế Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty, là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thành lập và hoạt động của các loại hình DN như còng ty TNHH, CTCP, CTHD và D N tư nhân Với nhiều nội dung đổi mới, Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã cải thiện một bước môi trường kinh doanh ở Việt Nam, cải cách thủ tục hành chính, giúp cho các nhà đẩu tư yên tâm hơn trong việc thành lập DN Tại lời nói đầu của Luật Doanh nghiệp
năm 1999 ghi rõ: sự ra đời của Luật là "đề góp phần phát huy nội lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa — hiện đại hoa đất nước; đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế; bảo đảm quyền tự do, bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh của các DN thuộc mọi thành phần kinh tế, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; tăng cưững hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh " Như
vậy, có thợ nói sứ mệnh của Luật Doanh nghiệp năm 1999 là tạo điều kiện cho mọi
người dân hoạt động kinh doanh một cách công bằng, bình đẳng, được tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, phát huy khả năng sáng kiến và tận dụng mọi cơ hội trong hoạt động kinh doanh
Tóm lại, việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 với phạm vi điợu chỉnh được mở rộng, nội dung tương đối đầy đủ, bao quát hơn, phù hợp với yêu cầu tăng cường quản lý Nhà nước, yêu cầu đa dạng của các nhà kinh doanh và xu thế hội nhập, huy động tối ưu nguồn lực cho sự phát triợn kinh tế đất nước
2 Thực tiễn sáu năm thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999
Sau sáu năm thi hành, Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã đạt được nhiều thành tựu đáng kợ Song bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũng bộc lộ các tồn tại và những điợm không phù hợp Tổng kết thực tiễn sáu năm thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 nhằm khẳng định những tác động tích cực, tìm ra những hạn chế từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm đợ góp phân nâng cao hiệu quả của quá trình thực thi Luật Doanh nghiệp năm 2005
2.1 Nhũng tác động tích cực của Luật Doanh nghiệp năm 1999
Trong sáu năm qua, cùng với nhiều chính sách đổi mới khác Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã góp phân mang lại những thay đổi quan trọng của nền kinh tế nước ta
Đó là:
6
Trang 15Công dân được quyến tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm: Đây được coi là một tác động tích cực và nổi trội nhất của Luật Doanh nghiệp
1999, góp phần mở rộng tự do cho việc tổ chức kinh doanh, khai thác tiềm năng và
dỡ bỏ những hạn chế cản trở tư duy sáng tạo trong kinh doanh, tạo ra sự thay đổi tích cực trong quan niệm xã hội về D N và doanh nhân Nhố đó, địa vị xã hội của doanh nhân ngày càng được nâng cao Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã khuyên khích và cổ vũ được tinh thần kinh doanh, củng cố được lòng tin của ngưối đẩu tư vào đưống lối đổi mới và chính sách của Nhà nước
Góp phẩn giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy tăng trường kình tế: Luật Doanh
nghiệp năm 1999 đã đóng vai trò quan trọng trong việc giải phóng sức sản xuất, huy động và phát huy được nội lực vào xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Qua đó, góp phẩn đáng kể vào việc phục hổi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo và giải quyết các vấn đề
xã hội khác
Theo số liệu thống kê2 của Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch - Đầu tư), đã có 160.672 DN đăng ký kinh doanh trong giai đoạn 2000-2005, gấp 3,3 lần so với tổng số DN đăng ký thành lập giai đoạn 1991-1999 Số DN đăng
ký trung bình hàng năm giai đoạn 2000-2005 bằng khoảng 6 lần so với số trung bình hàng năm giai đoạn 1991-1999 Số vốn đăng ký mới đạt khoảng 321,2 tỷ đổng (khoảng 20 tỷ USD), chưa kể số vốn D N đăng ký bổ sung trong quá trình hoạt động (do mở rộng kinh doanh) ước tính khoảng 103,4 nghìn tỷ đồng hay khoảng 6,3 tỷ USD Số vốn đăng ký của các DN cao gấp nhiều lần so với giai đoạn 1990 - 1999 và cao hơn số vốn FDI trong cùng thối kỳ
Nhố mức tăng trưởng đáng kể của khu vực DN, tỷ trọng đâu tư của dân cư và D N trong nước trong tổng đầu tư của cả nước đã tăng từ 22,6% năm 2000 lên 32,2% năm 2005, tỷ trọng đầu tư của các D N tư nhân trong nước liên tục tâng và đã vượt lên hơn hẳn tỷ trọng đầu tư của DNNN và đạt gần bằng tổng vốn đầu tư của D N N N
và tín dụng Nhà nước
Vốn đầu tư của các DN dân doanh đã đóng vai trò quan trọng, thậm chí là
Trang 16các DN dân doanh năm 2002 ờ Thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm 3 8 % tổng số vốn đẩu tư toàn thành phố, cao hơn tỷ trọng vốn đầu tư của D N N N và ngân sách Nhà nước gộp lại (36,5%)
Điểu đáng nói thêm là, trong khi FDI thường đến với các địa phương có điều kiện thuận lữi và lữi thế cạnh tranh tốt hem, thì đầu tư tư nhân trong nước xuất hiện ờ tất cả các vùng với nhiều hoàn cảnh khác nhau, kể cả những vùng nghèo với điều kiện kinh tế- xã hội còn khó khăn Vốn đãng ký của các DN ở hầu hết các tỉnh trong thời kỳ 2000- 2005 đều cao hơn số vốn đăng ký thời kỳ 1991-1999 Nhiều tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng cao về vốn đăng ký Ngay cả ở các địa phương tập trung vốn đầu
tư nước ngoài thì vốn đầu tư của tư nhân trong nước cũng lớn hơn vốn FDI Thực tế nói trẽn cho thấy đối với hầu hết các tỉnh, thì thu hút đầu tư tư nhân trong nước khả thi hơn so với thu hút FDI
Thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Bằng việc đơn giản hoa thủ tục thành lập DN, bãi bỏ hàng trăm giấy phép và qui định pháp luật không còn phù hữp về điều kiện kinh doanh và thiết lập một hệ thống văn bản mới hướng dẫn thi hành, Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã thực sự tạo
ra bước đột phá trong cải cách hành chính, góp phần hạn chế tham nhũng, nâng cao đáng kể tính thống nhất, minh bạch và bình đẳng của khuôn khổ pháp luật về kinh doanh ờ nước ta
Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã làm tăng đáng kể mức độ cạnh tranh, một nhân
tố cơ bản không thể thiếu của nén kinh tế thị trường Đồng thời, nó đang đặt ra yêu cầu thúc đẩy phát triển không chỉ thị trường sản phẩm, dịch vụ m à cả thị trường vốn, thị trường lao động và thị trường bất động sản Những thay đổi tích cực của hệ thống pháp luật cho DN và việc thừa nhận quyền tự do kinh doanh đã tạo điểu kiện tích cực để Việt Nam chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới
2.2 Nhũng vấn đề còn tổn tại của Luật Doanh nghiệp năm 1999 và quá trình thực thi Luật
phần kinh tếkhác nhau
1 GTX-CIEM, 6
8
Trang 17Trước thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực, có tới ba luật được áp dụng điều chình cho các loại hình DN ở Việt Nam, dựa trên tính chất thành phần sờ hữu Trong khi các loại hình DN có sở hữu tư nhân được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp năm 1999, thì các DNNN được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003, và các DN có vốn đẩu tư nước ngoài được điều chỉnh bởi Luật Đâu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sủa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 Thực tế cho thấy hệ thống pháp luật về
D N khi đó vẫn còn tồn tại nhiều điểm thiếu nhất quán do còn sự phàn biệt đối xủ bất hợp lý đối với các nhà đầu tư và các loại hình DN khác nhau, từ đó gây hạn chế cho việc phát huy các nguồn lực, hạn chế sự liên kết giữa các DN, đổng thời gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước đối với DN
Rõ ràng hệ thống pháp luật về DN trước ngày Ì tháng 7 năm 2006 đã không còn phù hợp với nguyên tấc và nội dung của các hiệp định đầu tư và thương mại đã ký hoặc trong giai đoạn chuẩn bị ký kết, đạc biệt là MFN (chế độ đối xủ tối huệ quốc)
và NT (chế độ đối xủ quốc gia) và mở của thị trường trong nước Chính điều này cũng đã cản trở không nhỏ tới tiến trình Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
2.2.2 Hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp
Quyền tự do kinh doanh là quyền của DN được tự quyết định các vấn đề trong hoạt động kinh doanh Các hạn chế đối với quá trình hoạt động của DN đều là biểu hiện của việc không tôn trọng quyền tự do kinh doanh của DN Tuy nhiên không phải hạn chế nào cũng là bất hợp lý, nó chỉ bất hợp lý khi mức độ hạn chế không tương ứng với lợi ích cần bảo vệ Luật Doanh nghiệp năm 1999 vẫn còn tổn tại các hạn chế sau:
Hạn chế dưới dạng các giấy phép, chứng chỉ hành nghề: tính đến thời điểm ngày 7 tháng 10 năm 2005 có khoảng 2713 loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề còn hiệu lực Số giấy phép đó được phân bổ vào 22 ngành, nghề, trong đó nhiều nhất là ngành văn hoa thông tin với 41 loại giấy phép, tiếp đến là nông nghiệp và phát triển
3 \ỵwwjìcaj}rgynfĩiti tứcíĩhời sựlNâm 2005íĩiứmg lõ/ Giám sái giây phép và diếu kiện kinh doanh ỏ Việt Nam - Hội thào TP Hổ Chi Minh do \ re/ tổ chức ngày 7 tháng lo nam 2005
Trang 18nông thôn với 37 loại giấy phép Các DN tư nhân hiện còn bị cấm kinh doanh trong một số ngành nghề m à chỉ dành cho các D N N N hay DN của các tổ chức chính trị xã hội, ví dụ kinh doanh như điện, nước sạch
- Hạn chế về thành lập, tổ chức, hoạt động của DN dưới các vãn bản pháp luật kinh doanh chuyên ngành: trước khi Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực thì có khoảng 21 lĩnh vực với các quy định đặc thù về thành lập, tổ chức và hoạt động của
DN theo hướng hạn chế quyền tự do kinh doanh, bao gễm các ngành tín dụng, ngân hàng, dầu khí, hàng không, bảo hiểm, báo chí, xuất bản, bưu chính viễn thông, quảng cáo, tư vấn pháp lý, hàng hải, kiểm toán, chứng khoán, thuốc lá, thăm dò khoáng sản, xuất khẩu lao động Hơn nữa, nếu có sự khác biệt giữa Luật Doanh nghiệp năm 1999 và các Luật chuyên ngành thì quy định tương ứng của Luật chuyên ngành được áp dụng, và các quy định này có phần trái với nguyên tắc áp dụng pháp luật trong Luật Ban hành vãn bản quy phạm pháp luật (Luật ban hành sau được ưu tiên áp dụng) Vì thế, mức độ ảnh hưởng của Luật Doanh nghiệp năm 1999
về tự do hoa trong kinh doanh bị giảm sút đối với các DN trong các lĩnh vực nói trên
- Việc không cho phép cá nhân thành lập công ty T N H H một thành viên đã hạn chế các nhà đẩu tư cá nhân trong việc chọn lựa loại hình DN, không tạo điều kiện thuận lợi cho người không muốn kinh doanh chung với người khác, không tạo điều kiện cho việc hạn chế và phân bổ rủi ro hợp lý trong kinh doanh
2.2.3 Hệ thống cơ quan đăng kỷ kinh doanh chưa được tố chức một cách rõ ràng, độc lập và chuyên nghiệp
Mối quan hệ giữa các cơ quan trong hệ thống Đ K K D chưa rõ ràng Phòng
Đ K K D cấp tỉnh mới chỉ là một bộ phận trong sở Kế hoạch và Đầu tư Ở cấp huyện
chưa có phòng Đ K K D Cách thức tổ chức như trên đã làm cho sự phối hợp giữa các phòng Đ K K D cấp tỉnh và cấp huyện kém hiệu quả Quan hệ giữa phòng Đ K K D cấp tỉnh và Bộ Kế hoạch và Đầu tư vẫn chủ yếu thõng qua quan hệ ngành dọc giữa Bộ
Kế hoạch và Đẩu tư và Sở Kế hoạch và Đâu tư Quan hệ giữa các cơ quan trong "hệ thống cơ quan Đ K K D " vẫn chỉ là gián tiếp, ít hiệu quả và không thường xuyên Các
4 Tham khảo Phụ lục Thực trạng giấy phép và điều kiện kinh doanh trang 67 Khoa luận
10
Trang 19cơ quan Đ K K D còn phân tán, cắt khúc và thiếu tính chuyên nghiệp, do vậy gây cản trở lớn đến việc tra cứu, thống kê về DN của công chúng, cộng đổng DN và cơ quan Nhà nước
Ớ hầu hết các phòng Đ K K D , quy trình cấp giấy phép kinh doanh vẫn thực hiện theo lối thủ công và theo phương thức truyền thống, nghĩa là ngưằi Đ K K D vẫn phải trực tiếp giao dịch với cán bộ phụ trách Đ K K D với bộ hổ sơ bằng giấy
Một thực tế nữa là hoạt động của 64 phòng Đ K K D ở các tỉnh không đổng nhất Quy trình cấp Đ K K D không được thực hiện thống nhất giữa các tỉnh ở nhiều nơi, quy trình cấp Đ K K D bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự áp dụng cứng nhắc cơ chế "một cửa" Chưa xây dựng được một hệ thống thông tin về DN đầy đủ, cập nhật và có thể truy cập, kể cả ở cấp quốc gia và địa phương Đây là một hạn chế lớn nhất đối với môi trưằng kinh doanh, hạn chế tính minh bạch, tăng rủi ro cho thị trưằng, đi ngược lại với nguyên tắc "tiền đăng, hậu kiểm"
2.2.4 Các tồn tại về vấn đề quản trị doanh nghiệp
M ô hình quản trị và cơ chế vận hành của DN theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 hiện tại được xây dựng trên cơ sở các m ô hình truyền thống và được sử dụng rộng rãi trên thế giới nên có thể xem là khá chuẩn mực Tuy nhiên vẫn còn một số điểm bất cập như sau:
- Công ty cổ phẩn: Một số quyển và cơ chế thực hiện quyền của cổ đông còn chưa rõ ràng Cơ chế cung cấp thông tin, minh bạch hoa còn quy định sơ sài Các cổ đòng vẫn còn chưa được đảm bảo quyền tiếp cận tất cả các thông tin, hồ sơ, tài liệu của cõng ty Nhiều quy định còn chưa công bằng, đã ngăn chặn các cổ đông nhỏ, thiểu số bàn bạc, trao đổi, tập hợp thành nhóm để biểu quyết và cùng nhau bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Cơ chế kiểm soát giao dịch với những ngưằi có liên quan chưa rõ ràng Cơ cấu và hoạt động của BKS chưa hiệu quả Cơ chế triệu tập đại hội cổ đông không rõ ràng, thiếu các cơ chế đầy đủ về uy quyền biểu quyết
- Công ty TNHH: M ô hình quản trị trong công ty TNHH còn những điểm hạn chế cụ thể Quyền lợi cho các thành viên thiểu số (sở him nhỏ hơn 3 5 % ) còn chua được bảo vệ hiệu quả Chưa có giá thị trưằng để tham khảo cho việc định giá mua lại cổ phẩn vốn góp và các điều lệ công ty thưằng cũng không quy định
Trang 20nguyên tắc định giá này Các quy định về khởi kiện G Đ cũng ít được thực hiện một phán do "vãn hoa tránh thưa kiện" và một phần do chưa có quy định tố tụng tương ứng để thực hiện
Quản trị DN yếu kém là một trong những yếu tố hạn chế phát triển bền vững, hạn chế năng lực cạnh tranh của tẩng DN và cả nền kinh tế
2.2.5 vẫn còn tình trạng lúng túng trong công tác hậu kiểm
Các cơ quan quản lý chưa tìm ra cách thức phù hợp để quản lý cho nên trong công tác hậu kiểm (kiểm tra, thanh tra, giám sát DN sau khi đăng ký kinh doanh) còn nhiều tồn tại Các DN phàn nàn có quá nhiều cơ quan có thẩm quyển kiểm tra, thanh tra Cường độ thanh tra quá nhiều gây khó khăn, thiệt hại thậm chí còn cản trở cho hoạt động của DN Việc chưa phân biệt được tính hợp pháp và không hợp pháp của công tác thanh tra, kiểm tra đã làm cho các DN thường xuyên lo âu, bất ổn Còn
về phía các cơ quan Nhà nước lại cho rằng hiện nay số DN ngày càng gia tăng, quyển tự chủ kinh doanh không hạn chế về quy m õ và địa bàn, hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng và phức tạp, do vậy nếu không đủ số lượng cán bộ, phương tiện và thời gian thanh tra, kiểm tra thì không thể quản lý DN một cách hiệu quả được
2.3 Kinh nghiệm qua sáu năm thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999
Qua thực tiễn sáu năm thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999, có thể rút ra một
số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là, thực tế thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 trong hơn sáu năm qua
một lấn nữa khẳng định không phải chính sách ưu đãi, bao cấp và bảo hộ, m à là "cởi trói", trao quyền cho người dân, theo đúng quy luật và phù hợp với yêu cẩu của người dân, thì tự nó sẽ phát huy được tác dụng trong huy động nguồn lực, sáng kiến
và trí tuệ của dân để phát triển Thực tế khẳng định phải tách biệt và phân biệt rõ việc đẩu tư, tổ chức sản xuất kinh doanh và việc quản lý Nhà nước Cụ thể là, việc đầu tư kinh doanh và quản lý sản xuất kinh doanh là của DN của người đầu tư không phải của cơ quan và công chức Nhà nước Tất cả những điều kể trên chứng tỏ việc nhất quán đối mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là vấn đề thời sự ờ nước ta
Trang 21của Chính p h ủ trong tổ chức thực hiện kết hợp v ớ i sự ủng h ộ r ộ n g rãi c ủ a các tầng lớp có liên quan T h ự c t ế hơn sáu n ă m q u a cũng cho thấy việc đưa m ộ t chính sách lớn vào cuộc sống, ngay cả k h i chính sách đó phù hợp v ớ i q u y luật, v ớ i thực tế, v ớ i yêu cầu phát t r i ể n c ủ a đất nước là không đem giản Đ ó là cuộc đấu tranh khá gay go giỉa cái m ớ i và cái cũ, g i ỉ a c ả i cách và bảo thủ, g i ỉ a x u t h ế t ừ b ỏ cơ c h ế " x i n - c h o " với k h u y n h hướng d u y trì cơ c h ế đó Chính p h ủ chỉ đạo thực h i ệ n m ộ t cách nhất quán, g i ả i quyết kịp thời đúng theo q u y định của pháp luật nhỉng vướng mắc, nhỉng bất hợp lý trong tổ chức thực h i ệ n Luật D o a n h nghiệp n ă m 1999
Ba là, đảm bảo tính đổng bộ c ủ a hệ thống pháp luật là m ộ t nhân t ố m a n g tính
chất quyết định T h ự c t ế hơn sáu n ă m q u a cho thấy đ ổ i m ớ i và hoàn thiện pháp luật
về D N chưa đủ để g i ả i quyết hết các rào cản đ ố i v ớ i việc hình thành và phát t r i ể n của DN H i ệ u lực c ủ a L u ậ t D o a n h nghiệp n ă m 1999 đã bị hạn c h ế đáng kể b ở i sự không đổng bộ, không thống nhất, bởi các q u y định không còn phù hợp, nhất là các văn bản liên quan trực tiếp đến quá trình hoạt động sản xuất k i n h doanh của các D N , như q u y định về giấy phép, điều k i ệ n k i n h doanh, q u y ề n sử dụng đất, pháp luật về
h u y động vốn, pháp luật về thuế Chính vì vậy, nhỉng vướng mắc, rào cản đ ố i v ớ i
D N sau Đ K K D v ẫ n t ổ n tại khá p h ố biển, ảnh hưởng không n h ỏ đến n i ề m t i n đầu tư, thành lập D N cùa nhà đầu tư và c h ủ D N t i ề m năng
Bốn là, tạo lập môi trường pháp lý thuận l ợ i phải đi cùng v ớ i các điêu k i ệ n trợ
giúp D N , nhất là đối v ớ i D N n h ỏ và vừa Phải t r ợ giúp đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho c h ủ sở h ỉ u và người quản lý DN Các chương trình t r ợ giúp phải đảm bảo được các nguyên tắc thị trường và có tính chuyên m ô n , chuyên n g h i ệ p cao
Năm là, năng lực của b ộ m á y N h à nước v ẫ n là khâu yếu, n h i ề u "sức ỳ" và c h ậ m
thay đ ổ i nhất, thể h i ệ n trên n h i ề u mặt N h ậ n thức c ủ a b ộ m á y N h à nước nói c h u n g
c h u y ể n biến không đồng đều giỉa T r u n g ương và địa phương, g i ỉ a các cơ quan cùng cấp có liên quan và c h ậ m hơn n h i ề u so v ớ i nhỉng thay đ ổ i c ủ a hệ thống văn bản q u y phạm pháp luật và thực t i ễ n p h o n g phú năng động trong n h ỉ n s n ă m qua Thái độ và tâm lý làm việc, phương thức và công cụ quản lý c ủ a các cơ quan có liên quan chưa
có thay đ ổ i m ộ t cách rõ nét để phù hợp v ớ i cơ chế, chính sách mới N h ỉ n g b ộ phận
và công cụ cần thiết đối v ớ i thực h i ệ n Luật D o a n h n g h i ệ p n ă m 1999 nói riêng, h ỗ t r ợ
Trang 22và quản lý phát triển DN nói chung chưa được xây dựng, củng cố và tăng cường đúng như quy định Trong một số cơ quan chức năng, vẫn còn không ít công chức vừa kém năng lực vừa kém đạo đức, đã gây nhiều cản trở đến hoạt động của DN
n Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005
1 Hoàn cảnh ra đòi của Luật Doanh nghiệp n ă m 2005
Trong thời kọ đổi mới, hệ thống pháp luật về DN ở nước ta đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện, tạo cơ sơ pháp lý cho hoạt động của các loại hình DN thuộc mọi thành phần kinh tế, góp phẩn hoàn thiện mòi trường kinh doanh, giải phóng sức sản xuất, huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội
Những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiêu đạo luật điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các DN, trong đó có Luật Doanh nghiệp năm
1999, Luật đẩu tư nước ngoài năm 2000, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 Tuy các đạo luật đó có nhiều đổi mới, khuyến khích, tạo thuận lợi cho các DN, nhưng vẫn còn nhiều mạt hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với kinh tế thị trường m à
cụ thể là chưa thực hiện được mặt bằng pháp lý và điều kiện kinh doanh cho các loại hình D N khác nhau Việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty TNHH, CTCP, CTHD và DN tư nhân trong nước được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 1999 Trong khi đó, DNNN lại chịu sự điều chỉnh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 Nhà đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập công ty TNHH theo quy định của Luật Đẩu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 Nói tóm lại, việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động còn có sự khác biệt giữa các loại hình DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, giữa DN trong nước và D N có vốn đẩu tư nước ngoài Những phân biệt đó thể hiện trên các mặt sau:
- Thủ tục, điểu kiện gia nhập và rút khỏi thị trường
- Cơ cấu, thẩm quyền và cách thức tổ chức quản lý nội bộ
- Phạm vi kinh doanh, các quyền và mức độ tự chù thực hiện các quyền kinh doanh
- Mức độ và phương thức quản lý Nhà nước đối vói DN
14
Trang 23Bản thân từng luật riêng rẽ cũng đã bộc lộ hạn chế, gây ảnh hưởng đến năng lực
cạnh tranh của các DN, chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế của đất
nước và hội nhập kinh tế quốc tế, chưa đảm bảo được yêu cầu của kinh tế thị trưằng
là cạnh tranh bình đẳng
Từ ngày Ì tháng 7 năm 2006, Luật Doanh nghiệp năm 1999 được thay thế bằng
Luật Doanh nghiệp năm 2005 Có thể nói, Luật Doanh nghiệp năm 2005 là một
trong những cải cách cơ bản trong hệ thống pháp luật về D N ở Việt Nam, dựa trên
sự thành công đã được thừa nhận rộng rãi của Luật Doanh nghiệp năm 1999 v ề mặt
nội dung, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã kế thừa và phát triển những nội dung và
tinh thần đổi mới đã được thực hiện thành công của Luật Doanh nghiệp năm 1999
2 Tư tưởng và quan điểm chỉ đạo trong việc ban hành Luật Doanh nghiệp
năm 2005
Luật Doanh nghiệp năm 2005 được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng và
quan điểm chỉ đạo sau đây:
Một là, thể chế hoa sâu sắc đường lôi đổi mới và các chủ trương chính sách đã được khẳng định tại Đại hội lẩn thứ IX của Đảng và các Nghị quyết hội nghị Bơn chấp hành Trung ương Đảng, nhất là chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, coi các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế thị trưằng định hướng XHCN; chính sách phát huy tối đa nội lực và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế
Hai là, đẩy mạnh thực hiữn nhất quán chủ trương cổ phẩn hoa và sắp xếp lại DNNN; đổi mới một cách căn bản chức năng, nhiệm vụ và phương thức quản lý
DNNN, tạo điều kiện và động lực để DNNN huy động thêm được vốn đầu tư từ bên
ngoài, tiếp thu và đổi mới công nghệ, kỹ năng quản trị hiện đại, qua đó, cải thiện và
nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của từng D N N N nói riêng và của khu vực
kinh tế tư nhân nói chung
Ba là, kê thừa có chọn lọc những quy định tiến bộ, tích cực của Luật Doanh nghiữp năm 1999 và Luật Doanh nghiữp Nhà nước năm 2003; khác phục những tồn tại, khiếm khuyết, thiến nhất quán, thiếu minh bạch, còn phân biữt đổi xử, thiếu bình đẳng đôi với các loại hình DN llmộc các hình tìiừc sỏ hữu trong và ngoài nước
Trang 24Bốn là, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền tự quyết định trong quản lý của mọi chủ thề DN
D N phải được quyển quyết định ngành, nghề, lĩnh vực thị trường kinh doanh
m à pháp luật không cấm, quyết định quy m ô kinh doanh, cơ cấu ngành hàng, sản phẩm, quyết định hình thức tổ chức kinh doanh và phương thức quản trị, điều hành
DN Nhà nước thừa nhận quyền tự do kinh doanh, thành lập DN của mọi tổ chức, cá nhân thông qua cơ chế đãng ký thành lập DN Luật cạn có quy định về việc hỗ trợ
DN trong việc tạo lập, vận hành hệ thống quản trị DN có hiệu quả, đúng pháp luật
N ă m là, đổi mới một cách căn bản chức năng, nhiệm vụ và phương thức quản
lý Nhà nước đối với DN
Thay đổi tư duy quản lý, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của
DN m à chỉ hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi thông qua cơ chế, chính sách để DN hoạt động và phát triển lành mạnh Các quy định trong luật phải rõ ràng, công khai, minh bạch Nhà nước quản lý DN chỉ bằng luật pháp và các cõng cụ kinh tế
Sáu là, các quy
kinh tế quốc tế
3 Mục đích của việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005
Để góp phẩn tích vào việc thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phẩn được xác định trong Hiến pháp và trong các nghị quyết của Đảng và Nhà nước; khai thác mạnh mẽ mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế, nhất là nguồn lực tài chính từ mọi thành phạn kinh tế; khơi dậy tính năng động hăng hái tự tin của các DN, doanh nhân; nâng cao sức cạnh tranh của các DN - một động lực quan trọng của sự phát triển; tạo lập khung pháp lý thống nhất, minh bạch, bình đẳng hem cho mọi loại hình DN và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 là cạn thiết, nhằm đạt được nhũng mục đích sau:
thuận lọi cho hội nhập kinh tế quốc tẽ
Trang 25Luật pháp được ví như hành lang cho các hoạt động kinh doanh của các DN Tuy từng thời kỳ và giai đoạn phát triển kinh tế m à Nhà nước quyết định mở rộng ra hoặc thu hẹp lại hành lang pháp lý nhằm đi đúng định hướng phát triển của đất nước
Trước khi Luật Doanh nghiắp năm 2005 có hiắu lực, pháp luật về DN vẫn bị chia cắt, tách biắt theo thành phần kinh tế, còn có sự đối xử khác nhau về thủ tục và điều kiắn gia nhập thị trường, về phạm vi kinh doanh, mức độ tự chủ, phương thức quản
lý và tổ chức sàn xuất
Vì vậy, viắc tạo lập một hành lang pháp lý chung cho các DN là mục đích ban hành Luật Doanh nghiắp thống nhất áp dụng cho mọi loại hình DN, đảm bảo sự bình đẳng cả về pháp lý lân điều kiắn kinh doanh cho các DN, không phân biắt thành phần kinh tế
Trong cơ chế kinh tế mới, Nhà nước điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, bằng chính sách, biắn pháp và công cụ kinh tế, chứ không phải bằng biắn pháp hoặc mắnh lắnh hành chính
"Sàn chơi chung" hay một Luật doanh nghiắp thống nhất là đòi hỏi khách quan của kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Do đó, viắc tạo lập hành lang pháp lý chung cho các loại hình DN này sẽ giúp nước ta chủ động hội nhập kinh tế một cách nhanh chóng và sâu rộng hơn
2.2 Khai thác mạnh mẽ tiềm lực của mọi thành phán kinh tẽ
Lực lượng tham gia góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế là các DN, doanh nhân và các chủ thể kinh doanh khác Trong đó, chỗ dựa chủ yếu để đạt mục tiêu tăng trưởng phải là các DN thuộc mọi thành phần kinh tế Vì vậy, Nhà nước cần thực hiắn nhất quán các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đẩu tư kinh doanh, và phát triển mạnh mẽ các loại hình DN
Trong văn kiắn Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta có nêu rõ chủ trương
"Mọi công dân có quyền tự do, kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề địa bàn m à pháp luật không cấm Viắc hình thành và phát triển một hắ thống DN Viắt Nam lớn mạnh có sức cạnh tranh cao, có uy tín lớn là một nhiắm vụ chiến lược cùa Nhà nước và toàn xã hội
T H Ư V I Ê N ]
T0>JỈ;:,G C A - 0 " j
N G O A I T * ' Ũ N G Ĩ
17
Trang 26Thực hiện có hiệu quả Luật Doanh nghiệp, Luật Đẩu tư và các luật mới được ban hành, thấu suốt quan điểm đổi mới, bảo đảm thật sự bình đẳng và tạo thêm thuận lợi đối với mọi loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh và đầu tư thuửc mọi thành phẩn kinh tế cả trong và ngoài nước
Đổi mới chính sách và cải thiện môi trường đẩu tư, xoa bỏ các hình thức phân biệt đối xử trong tiếp cận các cơ hửi đầu tư để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong nước và thu hút vốn đẩu tư nước ngoài."
2.3 Thục hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
Nghị quyết Đại hửi lần thứ 9 và mửt số nghị quyết hửi nghị Ban chấp hành Trung ương đã nhiều lần khẳng định chủ trương xây dựng Luật áp dụng thống nhất cho mọi loại hình DN, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng và phù hợp với quá trình tích cực và chủ đửng hửi nhập kinh tế quốc tế Có thể nêu mửt số nửi dung
cụ thể của chủ trương nói trên như:
- Đơn giản hoa thủ tục hành chính, công khai hoa và thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan Nhà nước trong quan hệ với DN và nhân dân; kiên quyết xoa bỏ những quy định và thủ tục hành chính mang nặng tính hành chính, quan liêu, bao cấp, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, gày phiền
hà, sách nhiễu cho DN và nhân dân;
- Giảm mạnh, tiến tới xoa bỏ sự phân biệt về chính sách và pháp luật giữa đầu
tư trong nước và đầu tư nước ngoài;
- Khẩn trương chuyển DNNN sang hoạt đửng theo chế đử công ty dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn mửt thành viên là Nhà nước hoặc công ty cổ phần, đảm bảo DNNN có đầy đủ quyền của mửt pháp nhân;
- Xác định rõ lử trình xoa bỏ chế đử chủ quản đối với DNNN;
- Chủ đửng và khẩn trương hơn trong hửi nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy
đủ các cam kết quốc tế đa phương, song phương nước ta đã ký kết và chuẩn bị tốt các điều kiện để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); tạo môi trườn" đâu tư, kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định, thông thoáng, có tính cạnh tranh cao so với khu vực; tăng nhanh xuất khẩu và thu hút mạnh đẩu tư nước ngoài-
18
Trang 27- Triển khai khẩn trương và đồng bộ việc chuẩn bị đầy đù điều kiện để giành thế chủ động trong hội nhập, nhất là sửa đổi và xây dựng mới các vãn bản pháp luật phù hợp với yêu cầu hội nhập
2.4 Góp phấn nâng cao sức cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã góp phân đáng kể trong việc xây dựng một nền kinh tế mỏ ỏ nước ta, tạo điều kiện cho các DN trong nước có cơ hội cọ xát, học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các nước tiên tiến đồng thời phát triển khoa học cõng nghệ trong nước Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đã thay những hạn chế bằng điều kiện kinh doanh bằng việc xây dựng một cơ chế quản lý hiệu quả hoạt động của các
DN nước ngoài nhầm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng cho các chủ thể trong nước và nước ngoài, đổng thời hạn chế tiêu cực trong hoạt động đẩu tư Các quy định khuyến khích cạnh tranh, cấm các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng rõ ràng hơn, tạo lập môi trường cạnh tranh trong sáng, bình đẳng Trên một mặt bằng pháp lý, trong một "sân chơi" bình đẳng, rõ ràng các DN sẽ thấy mình rõ hơn, chính xác hơn, xoa sự che khuất, những chỗ dựa (dù hữu hình hay vô hình, dù trực tiếp hay gián tiếp) và từ đó phấn đấu cao hơn, thực hơn Hay nói cách khác, để tiếp tục tồn tại thì các DN buộc phải tự làm mới mình chứ không thể dựa vào những quy định của pháp luật m à tạo lợi thế cạnh tranh Đây
là xu hướng tất yếu trong tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 28C H Ư Ơ N G 2 N H Ữ N G Đ I Ể M M Ớ I C Ủ A L U Ậ T D O A N H NGHIỆP N Ă M 2005
ì Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2005
Việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 là một bước phát triển mới trong pháp luật về D N ở Việt Nam, là sự tiếp tục của Luật Doanh nghiệp năm 1999 và các đạo luật khác về DN Với sụ ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005, các DN Việt Nam đã có được một công cụ pháp lý quan trọng để vận hành và phát triển bình đẳng trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta như hiện nay
Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đánh dấu một sự thay đữi lớn trong pháp luật về D N ở Việt Nam Luật Doanh nghiệp mới này đã giải quyết, khắc phục những khiếm khuyết, nhược điểm của hệ thống pháp luật trước đó, đững thời phản ánh tư tưởng và mục tiêu nữi bật của Luật là hình thành khung pháp lý chung, bình đẳng,
áp dụng thống nhất cho mọi loại hình DN Đây là lần đầu tiên nước ta ban hành một văn bàn pháp luật chung điểu chỉnh thống nhất tất cả các loại hình DN Với việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005, các DN đã có điểu kiện để hoạt động trong một môi trường bình đẳng Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đáp ứng được yêu đối xử không phân biệt giữa các DN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế (đặc biệt là tuân thủ hai chế độ đối xử đó là chế độ đối xử quốc gia - NT và chế
độ đối xử tối huệ quốc - MFN)
Về cơ bản, Luật Doanh nghiệp năm 2005 được thay đữi theo những hướng sau: giải quyết những tồn tại của Luật Doanh nghiệp năm 1999 và luật liên quan; đẩy mạnh thực hiện nhất quán chủ trương cữ phần hoa và sắp xếp lại DNNN; đữi mới một cách căn bản chức năng, nhiệm vụ và phương thức quản lý DNNN, tạo điều kiện và động lực để DNNN huy động thêm vốn đẩu tư từ bên ngoài; duy trì mờ rộng
và phát triển quyền tự do kinh doanh; Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh hợp pháp của DN, áp dụng phữ biến chế độ đăng ký, xoa bỏ những quy định bất hợp
lý làm nảy sinh cơ chí "xin - cho", "phê duyệt" gây phiền hà cho DN; phù hợp với các điều ước quốc tế m à Việt Nam đã cam kết
Luật Doanh nghiệp năm 2005 có lo Chương với 172 Điều So với Luật Doanh
nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 có những điểm mới quan trọng sau:
20
Trang 291 Tạo lập khung pháp lý bình đảng cho các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
Đây là một thay đổi quan trọng m à Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã tạo ra trong
hệ thống pháp luật hiện hành về DN Luật Doanh nghiệp năm 2005 thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003, các quy định về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của DN theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 (Điều 171 Luật Doanh nghiệp năm 2005) Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã tạo lập môi trường pháp lý chung, thống nhểt cho các loại hình DN
Điều Ì Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định về phạm vi điêu chỉnh cùa Luật
như sau: " Luật này quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoại động cùa công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ly hợp danh và doanh nghiệp tư nhăn thuộc mọi thành phẩn kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp); quy định về nhóm công ty" Bên cạnh đó, Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng khẳng
định: "Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyển thành lập
và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này" Với quy định như vậy thì khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực, các DN, không phân biệt tính chểt sờ hữu hay thành phân kinh tế, là Nhà nước hay không phải là Nhà nước, là
tổ chức, cá nhân Việt Nam hay tổ chức, cá nhân nước ngoài đều được quyền tự do chọn một trong bốn loại hình DN nói trên để thực hiện hoạt động kinh doanh ờ Việt Nam và chịu sự điều chỉnh thống nhểt của các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm
2005
Có thể xem đây là một bước đột phá vẻ phạm vi áp dụng của hệ thống pháp luật
về DN Lần đẩu tiên trong pháp luật Việt Nam, một khung pháp lý thống nhểt cho việc thành lập, tổ chức quân lý và hoạt động của DN thuộc các thành phẩn kinh tế đã được thiết lập
Lĩ Đối với doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư và thành lập
Điều 169 Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định: "Doanh nghiệp do Nhà nước thành lạp kể từ ngày Luật này có hiệu lực phải được đăng ký, tổ chức quản lý
và hoạt động theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan" Với quy định
Trang 30này, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã không cho phép tiếp tục thành lập mới công ty Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 Và để các công
ty Nhà nước đã được thành lập trước ngày Ì tháng 7 năm 2006 hoạt động theo khuôn khổ pháp lý bình đẳng với các loại hình D N thuộc các thành phần kinh tế khác, Điểu 166 Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định rõ thời hạn các công ty Nhà nước phải chuyển đổi sang hoạt động theo Luật này, cụ thể:
" Thực hiện theo lộ trình chuyền đổi hằng năm, nhưng chậm nhất trong thời hạn bốn năm kề từ ngày Luật này có hiệu lực, các cóng ty Nhà nước thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 phải chuyển đối thành công ty trách nhiệm hứu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật này"
Có hai trở ngại lớn khi chuyển đổi công ty Nhà nước sang công ty TNHH hay
CTCP Thứ nhất, công ty Nhà nước không hội tụ đủ điều kiện của công ty T N H H hay cổ phỗn Thứ hai, các công ty Nhà nước chưa được quản lý tập trung và thống
nhất, mỗi cơ quan bộ, ngành lại quyết định riêng rẽ, theo quy trình hành chính, không có sự phối hợp đồng bộ và rõ ràng
Do vậy, để thoa mãn những yêu câu quản lý đặc thù của các DNNN, m à cụ thể chỉ là các công ty Nhà nước và tiếp tục đổi mới các DNNN, Khoản 2 Điều 166 Luật
Doanh nghiệp năm 2005 có quy định: "Trong thời hạn chuyển đổi, nhứng quy định cùa Luật Doanh nghiệp Nhả nước năm 2003 được tiếp tục áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước nếu Luật này không có quy định "
Như vậy, trong thời hạn chuyển đổi, các công ty Nhà nước đã được thành lập trước ngày Ì tháng 7 năm 2006 vẫn tạm thời hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 (nếu Luật Doanh nghiệp năm 2005 không có quy định), và khi đã chuyển đổi thành còng ty TNHH hoặc CTCP thì thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp năm 2005
Quy định về việc thành lập và chuyển đổi các công ty Nhà nước trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 là một bước tiến rất quan trọng nhằm tạo một mặt bằng pháp lý chung cho các DN, không phân biệt thành phần kinh tế Trong đó việc chuyển đổi các công ty Nhà nước sang hoạt động theo hình thức CTCP công tv TNHH về bản chất là chuyển đổi hình thức pháp lý quản trị DN chứ không phai là
sự chuyển đổi hình thức và tính chất sở hữu DN Vì vậy các DN thuộc sở hữu Nhà
22
Trang 31nước vẫn tổn tại, phát triển dưới hình thức tổ chức mới và tiếp tục giữ vai trò then chốt trong một sổ lĩnh vục kinh tế, góp phán giữ vững định hướng XHCN Mục đích của việc chuyển đổi các công ty Nhà nước là nhằm đổi mới cơ chế quản lý, phương thức tổ chức, quản trị DN, góp phần tăng cưỳng tính tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm, xoa bỏ sự ỳ lại của DN và sự can thiệp hành chính, bao cấp kéo dài một cách không hợp lý Đây là những điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của DN, hiệu quả quản lý kinh tế vĩ m ô của Nhà nước và từ đó góp phẩn nâng cao chất lượng, hiệu quả đẩu tư vốn của Nhà nước tại các DN
1.2 Đối với doanh nghiệp do nhà đẩu tư nước ngoài thành lập
Kể từ ngày Ì tháng 7 năm 2006, với việc áp dụng quy định cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập mới và quản lý D N theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì quyền thành lập và quản lý DN của các đối tượng này đã xích lại gần với các nhà đẩu tư trong nước Nhà đầu tư nước ngoài có quyền lựa chọn một trong các loại hình: CTCP, công ty TNHH, DN tư nhân và CTHD để tiến hành hoạt động kinh doanh ở Việt Nam m à không bị hạn chế ở một loại hình công ty TNHH như pháp luật về đầu tư nước ngoài trước đây quy định Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài "có quyền mua
cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này"
Còn đối với DN có vốn đấu tư nước ngoài được thành lập trước ngày Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực cũng đã được Luật quy định cụ thể quyên chuyển đổi theo một trong hai cách:
+ Đăng ký lại và tổ chức quản lý, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005; việc đăng ký được thực hiện trong thỳi hạn 02 năm kể từ ngày Ì tháng 7 năm 2006 + Không đăng ký lại; trong trưỳng hợp này, DN chỉ được quyền hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành nghề và thỳi hạn được ghi trong Giấy phép đầu tư và tiếp tục được hưởng ưu đãi đẩu tư theo quy định của Chính phủ
Các DN có vốn đầu tư nước ngoài m à nhà đầu tư nước ngoài đã cam kết chuyển giao không bổi hoàn toàn bộ tài sản đã đầu tư cho Chính phủ Việt Nam sau khi kết thúc thỳi hạn hoạt động thì chi được chuyển đổi khi được cơ quan Nhà nước có thẩm
Trang 32chấp thuận theo quy định của Chính phủ (Khoản 2 và 3 Điều 170 Luật Doanh nghiệp năm 2005)
2 Mở rộng quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp
Quyển tự do kinh doanh của DN được hiểu là quyền của DN được tự chủ quyết định các vấn đề trong các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là quyền đầu tư kinh doanh và quyền huy động vốn M ở rộng quyền tự do kinh doanh của DN cũng có nghĩa là hạn chế sự can thiệp hành chính tuy ý của các cơ quan Nhà nước vào hoạt động của DN
Một trong nhửng thay đổi được coi là mang tính đột phá của Luật Doanh nghiệp năm 2005 là quyền của các DN có vốn đẩu tư nước ngoài sẽ được mở rộng đáng kể Nếu như trước đây, theo quy định của Luật Đẩu tư nước ngoài tại Việt Nam nam
1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000) thì "Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền tự chủ kinh doanh theo mục tiêu quy định trong Giấy phép đẩu tư" (Khoản Ì Điều 31 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2000) Trong khi đó, thì các DN trong nước có quyền "chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư, kể cả liên doanh, góp vốn vào doanh nghiệp khác, chủ động mở rộng quy mô, ngành nghề kinh doanh " (Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 1999) Như vậy, quyền tự do kinh doanh của các nhả đầu tư nước ngoài
bị hạn chế rất nhiều so với nhà đầu tư trong nước
Còn theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì các DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được kinh doanh tất cả các ngành nghề m à pháp luật không cấm chứ không chỉ bị giới hạn trong nội dung của giấy phép đầu tư như quy định của Luật Đẩu tư nước ngoài năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000) Đồng thòi, các nhà đầu
tư nước ngoài sẽ được hưởng chế độ Đ K K D giống như các DN tư nhân trong nước, nhờ đó việc thành lập DN trở nên đơn giản hơn, nhanh chóng và ít chi phí hơn so với chế độ cấp phép đầu tư phức tạp như trước kia Hơn nửa, các nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ không còn bị giới hạn ở một loại hình là công tv TNHH như quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000) m à sẽ được
tự do lựa chọn các loại hình DN phù hợp, như CTCP hay CTHD Đ ố i với một số ngành, nghề hạn chế kinh doanh áp dụng cho các DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ
Trang 33quy định những điều kiện nhất định m à nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng theo hướng công khai, minh bạch hem Những thay đổi này chác chấn sẽ góp phần tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư ở Việt Nam
Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005 có quy định "Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phẩn, góp vồn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này" Ớ đây, "tổ chức, cá nhân" bao gồm cả trong và ngoài nước, không loại trừ "tổ chức nước ngoài, người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam" như quy định tại Khoản 9 Điều Ì Luật Doanh nghiệp năm 1999 Như vậy, hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài cũng được mở rộng, hoạt động đấu tư gián tiếp dưới hình thức góp vồn, mua cổ phần đã được ghi nhận và áp dụng phổ biến cho mọi cá nhân, tổ chức nước ngoài
Ngoài ra, các quy định mang tính phân biệt đồi xử giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đẩu tư trong nước trong pháp luật về đầu tư nước ngoài trước đây cũng được Luật Doanh nghiệp năm 2005 xoa bỏ Ví dụ, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đấu tư năm 2005 không quy định về mức vồn pháp định đồi với mọi nhà đầu tư, không quy định về tỷ lệ vồn góp tồi thiểu của nhà đầu tư nước ngoài trong DN liên doanh, không quy định về thời hạn hoạt động của DN nước ngoài, cho phép nhà đầu
tư nước ngoài được quyền góp vồn, mua cổ phần trong DN Việt Nam tuy theo khả năng tài chính của mình Khung quản trị áp dụng chung, phù hợp với từng loại hình
DN, không phân biệt tính chất sở hữu hay thành phần kinh tế, D N trong nước hay ngoài nước (nguyên tắc nhất trí trong D N liên doanh bị xoa bỏ)
Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn mở rộng đáng kể quyền của các DNNN Các DNNN khi được điều chỉnh bới Luật Doanh nghiệp năm 2005 sẽ không còn bị ràng buộc hay chịu sự chi phồi bởi những can thiệp mang tính chất hành chính, chủ quản
và thiếu sự phồi hợp của không ít cơ quan Nhà nước Ví dụ, nếu như trước đây, trong các vấn đề liên quan có tính chất quyết định của DNNN thì Bộ chuyên ngành quyết
về chiến lược, Bộ nội vụ quyết về nhân sự, Bộ Kế hoạch và Đẩu tư quyết về dự án đầu tư, Bộ tài chính quyết về vồn Với Luật Doanh nahiệp năm 2005, các D N N N sẽ được "cởi trói", quyền kinh doanh sẽ được mở rộng, tính tự chủ kinh doanh sẽ được nâng cao, việc quản trị sẽ được cải thiện và sẽ ít phải phụ thuộc vào ngán sách Nhà nước hơn
Trang 34Ngoài ra việc cho phép cá nhân có quyền thành lập công ty T N H H một thành viên, công nhận tư cách pháp nhân của CTHD cũng là một bước tiến quan trọng trong việc mở rộng quyền tự do kinh doanh cùa các nhà đầu tư trong và ngoài nước
so với các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 1999
3 Đơn giản hoa thủ tục, giảm rào cản gia nhập thị trường, đặc biệt đôi
vói các nhà đầu tư nước ngoài
Các thủ tục và các loại giấy tờ gia nhập thị trường vỗn được coi là một trong
những bất cập lớn nhất trong môi trường pháp lý kinh doanh ở Việt Nam Mặc dù Chính phủ đã nỗ lực loại bỏ những giấy phép kinh doanh không cẩn thiết, tuy nhiên theo nguồn t i n5 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thì trước ngày 7
tháng 10 năm 2005 vỗn còn có tới 271 loại giấy phép kinh doanh thuộc 22 lĩnh vực kinh doanh còn hiệu lực Sự tồn tại của các loại giấy phép kinh doanh này được đánh
giá là "hạn chế quyển tự do kinh doanh hợp lý", tạo ra những cản trở đối với các nhà
đẩu tư và DN
Với mục tiêu là đơn giản hoa thủ tục, giảm rào cản gia nhập thị trường, Luật
Doanh nghiệp năm 2005 được xây dựng theo hướng tiếp tục thắt chạt thêm các quy
định nhằm hạn chế, loại bỏ những giấy phép kinh doanh không cần thiết Điểm mới rất quan trọng là "Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Uy ban nhân dân các cấp không được quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện
kinh doanh" (Khoản 5 Điểu 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005) Thực hiện nghiêm túc điều này, DN sẽ không còn bị ràng buộc bởi những quy định về điều kiện kinh doanh vô lý do Bộ, Uy ban nhân dân tỉnh, thành phố đặt ra Không ít các điều kiện
đưa ra là không hợp lý, trái lại, có xu hướng tạo độc quyền kinh doanh cho một số
DN, cho một nhóm người đang hoạt động trong ngành đó, thậm chí tạo đặc quyền cho một số người
Thời hạn cấp Giấy chứng nhận Đ K K D được rút ngắn đáng kể xuống còn mười ngày, kể từ ngày nhận hổ sơ (Khoản 2 Điều 15 Luật Doanh nghiệp năm 2005) (thời hạn này theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 là mười lăm ngày) cũng đã góp phẩn
5
www.hca.org.vn/Tin rức/Thời Sự/Nãm 2005^niáng lo/ Giám sát giấy phép và điểu kiện kinh doanh ở Việt
Nam - Hội thảo TP Hổ Chí Minh do VCCI tổ chức ngày 7 tháng l ũ năm 2005
26
Trang 35không nhỏ vào mục tiêu đơn giản hoa các thủ tục, giảm chi phí gia nhập thị trường của Luật Doanh nghiệp năm 2005 Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định cụ thể hem, rõ ràng hơn về hổ sơ Đ K K D đối với từng loại hình DN (Điều
1 6 - 1 9 Luật Doanh nghiệp năm 2005)
Một trong những thay đổi khá căn bản của Luật Doanh nghiệp năm 2005 so vói Luật Doanh nghiệp năm 1999 là Luật Doanh nghiệp năm 2005 áp dụng, về cơ bản, chế độ gia nhập thị trường đối với nhà đẩu tư nước ngoài như đối với nhà đẩu tư trong nước Thay vì phải "xin phép" thì Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã thực hiện chế độ Đ K K D đối với các nhà đẩu tư nước ngoài
Trước ngày Ì tháng 7 năm 2006, nhà đẩu tư nước ngoài muốn thành lập DN tại Việt Nam thì phải có một dự án đẩu tư cụ thể và phải được xem xét, thẩm định trước khi xin cấp Giấy phép đẩu tư Việc cấp Giấy phép đẩu tư thực hiện theo một trong hai quy định: đăng ký cấp Giấy phép đẩu tư và thẩm định cấp Giấy phép đẩu tư Nội
dung từ Điều 105 đến Điểu no Nghị định 24/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành Luật Đáu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 7 năm 2000 cũng đã là một hạn chế rất lớn đối với các nhà đẩu tư nước ngoài
Trong khi đó, các DN trong nước có thể thành lập DN mà không cẩn có dự án đẩu tư cụ thể và chỉ cẩn Đ K K D thì sẽ "có quyền hoạt động kinh doanh kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận Đ K K D " (Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 1999) Điều này đã đi ngược lại với chính sách thu hút đẩu tư nước ngoài của Chính phù
Kể từ ngày Ì tháng 7 năm 2006, nhà đẩu tư nước ngoài chỉ cẩn đãng ký để được nhận Giấy chứng nhận đẩu tư Giấy chứng nhận đâu tư đổng thời là Giấy chứng nhận Đ K K D (Điểu 20 Luật Doanh nghiệp năm 2005) Việc thẩm tra đẩu tư chỉ phải tiến hành đối với các dự án đẩu tư có quy m ô lớn (trên ba trăm tỷ đồng) hoặc dự án đẩu tư có điều kiện (Điều 47 Luật Đẩu tư năm 2005)
Với cơ chế đăng ký kinh doanh như trên áp dụng chung cho nhà đẩu tư nước ngoài theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã góp phẩn giải quyết nhiều bất cập của thủ tục cấp phép đâu tư trong thời gian trước khi Luật này có hiệu lực thôn" qua việc:
Trang 36Xoa bỏ thủ tục cấp giấy phép rắc rối, phức tạp: tránh cho nhà đầu tư nước ngoài không phải tiếp xúc với nhiều cơ quan hành chính Nhà nước, không phải giải trình bổ sung rất nhiều vấn đề, tiết kiệm thời gian và tiền của cho nhà đẩu tư;
Xoa bỏ thủ tục thẩm định không hiệu quả đối với nhỉng dự án có quy m ô nhỏ: thực tế cho thấy quá trình thẩm định đối với các DN có vốn đâu tư nước ngoài không đạt được hiệu quả (báo cáo của nhà đẩu tư chỉ mang tính hình thức, cơ quan Nhà nước không có đủ nhân lực, thời gian, kinh phí để thẩm định); việc xoa bỏ thủ tục này có thể tiết kiệm chi phí cho Nhà nước và giảm rủi ro cho xã hội (bởi các chủ thể sẽ thận trọng hơn khi lựa chọn đối tác do không còn suy đoán là Nhà nước đã thẩm định "hộ" mình);
Phù hợp với các cam kết quốc tế: tại Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa
kỳ, Việt Nam cam kết áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia (đối xử như với nhà đâu
tư Việt Nam) trong việc thành lập, mua lại, mở rộng, bán, định đoạt đối với nhà đẩu tư Hoa Kỳ; sau khi đã gia nhập WTO, với nguyên tắc tối huệ quốc (đối xử như nhau giỉa các nhà đầu tư nước ngoài từ các quốc tịch khác nhau), Việt Nam sẽ phải đối xử tương tự với nhà đâu tư đến từ các nước thành viên WTO khác Như vậy, trong một tương lai rất gần (sau khi gia nhập WTO), Việt Nam buộc phải áp dụng chung một cơ chế gia nhập thị trường đối với nhà đẩu tư trong nước và nước ngoài
Do vậy, với cơ chế đăng ký kinh doanh áp dụng chung cho mọi loại hình DN, không phân biệt trong nước hay ngoài nước như quy định của Luật Doanh nghiệp năm
2005 là một bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoa nhỉng cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập
4 Các loại hình doanh nghiệp
4.1 Ghi nhận thêm loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
do cá nhân làm chủ sở hữu
Luật Doanh nghiệp năm 2005 lần đầu tiên thừa nhận cá nhân được quyền thành lập công ty T N H H một thành viên là cá nhân (Khoản Ì Điều 63) Quv định này của Luật là nhằm đảm bảo quyển tự do kinh doanh của công dân, m à một trong nhỉng
bộ phận cấu thành của nó là quyền lựa chọn hình thức kinh doanh có trách nhiệm vô
28
Trang 37hạn (DN tư nhân, CTHD) hay hình thức kinh doanh có trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH, CTCP)
Xét về mặt hình thức, DN tư nhân và công ty TNHH một thành viên là cá nhân đều do một người làm chủ sở hữu Tuy nhiên, xét về bản chất thì đây là hai loại hình
DN khác nhau với những ưu điểm và hạn chế riêng, do vậy, chúng vẫn có thể cùng tổn tại trong một nén kinh tế, góp phừn làm đa dạng hoa các loại hình DN tạo thêm kênh huy động vốn trong nhân dân Vì vậy, việc cho phép một cá nhân được thành lập công ty TNHH không có nghĩa là Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý để các nhà đừu
tư từ bỏ DN tư nhân, vô hiệu hoa loại hình DN này Việc lựa chọn DN tư nhân với chế độ trách nhiệm vô hạn cũng đem lại cho nhà đẩu tư những lợi thế nhất định khi quan hệ với các đối tác kinh doanh Mặt khác, so với công ty TNHH thì cơ cấu tổ chức của DN tư nhân cũng đơn giản hơn, do đó, tạo sự chủ động, linh hoạt cho nhà đừu tư trong hoạt động quản trị DN Hơn nữa, đối với nhà đừu tư nước ngoài, việc thành lập công ty TNHH một thành viên là cá nhân đã được Luật Đẩu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000) thừa nhận Vì vậy, việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 thừa nhặn loại hình công ty này chỉ là sự kế thừa quy định trong Luật Đừu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000) Trên thực tế, do Luật Doanh nghiệp năm 1999 không có quy định giới hạn tỷ lệ vốn góp tối thiểu cũng như tối đa của một thành viên trong công ty TNHH có hai thành viên trở lên nên đã có tình trạng một thành viên có thể nắm giữ đến 8 0 % ,
9 0 % , thậm chí 9 9 % vốn góp Điều này có nghĩa là vẫn có một "kẽ hở" để một nhà đừu tư có thể tránh được chế độ trách nhiệm vô hạn của m ô hình DN tư nhân Đ ó là thay vì phải thành lập D N tư nhân thì các nhà đừu tư mời thêm một hoặc một số cá nhân khác tham gia góp vốn để thành lập công ty TNHH với số vốn rất nhỏ để bảo đảm rằng quyền quyết định, chi phối hoạt động công ty vẫn nằm trong tay của mình
Do vậy, việc cho phép cá nhân thành lập công ty TNHH một thành viên sẽ xoa bỏ tính hình thức của công ty TNHH nhiều thành viên, nhimg thực chắt lại chỉ có một thành viên làm chủ sở hữu
Trong nền kinh tế thị trường với nhiều cơ hội kinh doanh và phát triển nhưng cũng có không ít rủi ro, phức tạp, thì việc công nhận thêm loại hình công ty TNHH
Trang 38một thành viên là cá nhân với những lợi thế của nó đã đáp ứng được nguyện vọng của nhiều nhà đẩu tư
4.2 Hoàn thiện mô hình công ty hợp danh
M ô hình CTHD lẩn đầu tiên được Luật Doanh nghiệp năm 1999 thừa nhận, nhưng nhìn chung, các quy định này còn quá sơ sài, chưa đủ độ để giải quyết các vấn đề phát sinh trong việc thành lập và hoụt động của CTHD Chính vì vậy, việc hoàn thiện khung pháp lý cho m ô hình CTHD đã được Luật Doanh nghiệp năm
2005 đục biệt quan tâm Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, CTHD vân được xác định là loụi hình DN có ít nhất hai thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty, các thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; ngoài các thành viên hợp danh, công
ty có thể có các thành viên góp vốn, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phụm vi số vốn đã góp vào công ty Luật Doanh nghiệp năm 2005 cho phép CTHD được phép thành lập, hoụt động ở mọi ngành, lĩnh vực và cũng không quy định bắt buộc nhà đầu tư phải thành lập CTHD khi kinh doanh một số ngành nghề nhất định như: kế toán và kiểm toán, thiết kế các công trình xây dựng, khám và chữa bệnh, dịch vụ pháp lý Điều này có nghĩa là nhà đầu tư được quyền lựa chọn hình thức CTCP, công ty TNHH hoặc CTHD để tổ chức kinh doanh tất cả các ngành, nghề, kể cả bốn nhóm ngành, nghề nói trên
Do luật Doanh nghiệp năm 1999 không quy định rõ về tư cách pháp nhân cho công ty này đã gây rất nhiều khó khăn cho công ty trong quá trình hoụt động, bởi vì, theo quy định của một số văn bản pháp luật hiện hành thì chỉ có chù thể pháp lý nào
có tư cách pháp nhân thì mới được thực hiện một số hoụt động nhất định Ví dụ, Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-
CP ngày 08/7/1999 đã nêu rõ: "Nhà thầu tham dự đấu thầu xây lắp phải có tư cách pháp nhãn" (Khoản 4 Điều 43) Tương tự, yêu cẩu về tư cách pháp nhân còn được nhắc lụi trong Quy chế đầu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999: "Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu" Hụn chế này cũng gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm pháp lý, nhất là trách nhiệm về mặt tài sản vói bên ngoài Khắc phục hụn chế trẽn Luật
30
Trang 39Doanh nghiệp năm 2005 đã khẳng định "CTHD có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp chứng nhận Đ K K D " (Khoản 2 Điểu 130)
Bên cạnh đó, để hoàn thiện khung pháp lý cho CTHD, Luật Doanh nghiệp năm
2005 đã bổ sung các quy định cụ thể về thủ tục thực hiện góp vốn (Điều 131); quyên
và nghĩa vụ của các thành viên hợp danh (Điểu 134) và của thành viên góp vốn (Điều 140); quản lý và điểu hành CTHD (Điểu 135 - 137); việc chấm dứt tư cách thành viên hợp danh (Điều 138), tiếp nhận thành viên mẩi (Điều 139) Liên quan đến trách nhiệm tài sản của thành viên hợp danh, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã xác định rõ hơn, theo đó thành viên hợp danh phải "Liên đẩi chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số
nợ của công t y " (Điểm đ Khoản 2 Điều 134) Như vậy, trách nhiệm tài sản của thành viên hợp danh chỉ được xác lập khi tài sản còn lại của công ty không đủ để thanh toán nợ, khi đó chủ nợ có quyển yêu cầu bất cứ thành viên hợp danh nào có trách nhiệm thanh toán số nợ còn lại cho mình, thành viên hợp danh đã thanh toán
nợ cho chủ nợ có quyển yêu cẩu các thành viên hợp danh khác thanh toán lại cho mình phần nợ đã thanh toán tương ứng vẩi nghĩa vụ của từng thành viên hợp danh
4.3 Quy định chi tiết và hợp lý hơn về công ty cổ phần
So vẩi Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định khá chi tiết về CTCP vẩi nhiều bổ sung và thay đổi
Điều 79 về "quyền của cổ đông phổ thông" gần như được viết lại vẩi nhiêu quy định khá chi tiết, theo hưẩng tăng thêm quyển cho các cổ đông trong việc tiếp cận thông tin về DN, như quyền "xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cẩu sửa đổi các thông tin không chính xác; Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đổng và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông " (Khoản Ì Điều 79) đối vẩi mọi cổ đông Đạc biệt là quyển của "cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 1 0 % tổng số cổ phần phổ thông" được mở rộng đáng kể so vẩi Luật Doanh nghiệp năm 1999 (Khoản 2 3, 4 Điều 79 Luật Doanh nghiệp năm 2005)
Về "cổ phẩn phổ thông của cổ đông sáng lập" (Điều 84) Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã bổ sung một số điểm có tính điều chinh cụ thế có ý nghĩa thực thi rất đáng chú ý Chẳng hạn, quy định "trường hợp cổ đông sáng lập không đăng ký mua
Trang 40số cổ phẩn được quyền chào bán thì số cổ phẩn còn lại phải được chào bán hết trong thời hạn ba năm" (Khoản 4) khá mới và hợp lý
Các tỷ lệ liên quan đến điều kiện họp Đại hội đổng cổ đông cũng được nâng lên, như tỷ lệ tối thiểu trong biểu quyết thông qua (Điều 102 và 104), thông thường nếu tại luật cũ nếu là 5 1 % thì luật mới là 65%, luật cũ là 6 5 % thì luật mới là 75%, riêng hình thức lấy ý kiến bịng vãn bản thì luật mới là 7 5 % trong khi đó luật cũ chỉ cần
51 % tổng số cổ phẩn có quyền biểu quyết
Liên quan đến Đại hội đổng cổ đông, việc họp và lấy ý kiến bịng văn bản, Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hai điều mới quy định về trình tự, thủ tục, các yêu cẩu cần tôn trọng hoặc phải thực hiện Cụ thể, Điều 103 nói về thể thức tiến hành họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, trong số những nội dung cơ bản có cả nội dung
về tình huống hoãn hoặc dừng họp Đại hội đổng cổ đông (Luật Doanh nghiệp năm
1999 không có)
Về H Đ Q T (từ Điều 108 đến Điều 115) có một số nội dung cần ghi nhận "Nhiệm
kỳ của H Đ Q T là năm năm Nhiệm kỳ của thành viên H Đ Q T không quá năm năm Thành viên H Đ Q T có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế" và "không nhất thiết phải là cổ đông của công ty" (Khoản Ì và 4 Điều 109)
Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định việc bầu H Đ Q T theo phương thức bầu dồn phiếu (Điểm c Khoản 3 Điều 104) Phương thức này đáp ứng tính đại diện tốt hơn, có lợi cho cổ đông nhỏ hay nhóm cổ đông Luật cũng đã chính thức đưa chi phí, thù lao, tiền lương của thành viên H Đ Q T và BKS vào chi phí kinh doanh của công ty (Điểu 117) Việc công khai các lợi ích liên quan đến "thành viên H Đ Q T , thành viên BKS, G Đ hoặc T G Đ và người quản lý khác của công ty" cũng được quy định rất chặt (Điểu 118) với yêu cầu phải "kê khai", "niêm yết", đáp ứng quyền được xem xét nội dung kê khai khi thấy cần
4.4 Bổ sung quy định vi nhóm công ty
Luật có bổ sung một chương mới quy định về nhóm công ty (Chương VII) Sự bổ sung đó căn cứ vào những phàn tích dưới đây
Ngày nay, nhóm công ty đã được sử dụng phổ biến ở nhiều nước có nền kinh tế phát triển bởi những lợi thế của mình Nhóm công ty là một cơ cấu tổ chức để các công ty mở rộng quy mò, địa bàn, đa dạng hoa ngành nghề kinh doanh một cách có
32