Báo cáo thực tập: Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện tại Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam
Trang 11.2 Một số mô hình tổ chức và dịch vụ chuyển tiền bưu điện 13
1.2.2 Mô hình tổ chức dịch vụ chuyển tiền bưu điện 19
1.3.1 Mục tiêu của hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện 20 1.3.2 Nguyên tắc của hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện 20 1.3.3 Nội dung của hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện 22 1.3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện 23
1.4 Mô hình tổ chức và hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện trên thế giới và bài học cho Tổng công ty Bưu chính Việt Nam 23
1.4.1 Kinh nghiệm dịch vụ chuyển tiền bưu điện của một số quốc gia 23 1.4.2 Kinh nghiệm mô hình tổ chức của Tổng công ty ở một số quốc gia 29 1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Tổng công ty Bưu chính Việt Nam 31 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG DỊCH
VỤ CHUYỂN TIỀN BƯU ĐIỆN TẠI TỔNG CÔNG TY BƯU CHÍNH VIỆT
Trang 22.2 Mô hình tổ chức thực hiện dịch vụ chuyển tiền bưu điện 38
2.2.1 Mô hình tổ chức của Tổng công ty Bưu chính Việt Nam 38 2.2.2 Mô hình tổ chức của Công ty dịch vụ Tiết kiệm bưu điện 42 2.2.3 Mô hình tổ chức của Trung tâm Chuyển tiền 44 2.2.4 Cấp Bưu điện tỉnh, thành phố và các Công ty theo hàng dọc 47
2.3 Dịch vụ chuyển tiền bưu điện tại Tổng công ty Bưu chính 48
2.3.1 Môi trường kinh doanh của dịch vụ chuyển tiền bưu điện 48 2.3.2 Nội dung hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện 54
2.4 Đánh giá mô hình tổ chức và hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu
2.4.1 Đánh giá mô hình tổ chức dịch vụ chuyển tiền bưu điện 66 2.4.2 Đánh giá chất lượng hoạt động dịch vụ theo hệ thống chỉ tiêu quản lý 72 CHƯƠNG III GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CHUYỂN TIỀN BƯU ĐIỆN TẠI TỔNG
3.1 Xu hướng phát triển của dịch vụ chuyển tiền bưu điện 76
3.1.1 Định hướng phát triển dịch vụ bưu chính Việt Nam 76 3.1.2 Thách thức và cơ hội đối với dịch vụ chuyển tiền bưu điện 79
3.2 Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện tại Tổng công ty Bưu chính Việt Nam 81
3.2.1 Chuyển đổi mô hình hoạt động của Trung tâm dịch vụ CTBĐ 82 3.2.2 Hoàn thiện dịch vụ chuyển tiền bưu chính 88
3.3 Một số điều kiện nhằm thực hiện thành công giải pháp 95
3.3.2 Kiến nghị với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam 101
Trang 3Viết tắt Nội dung
1 BCVT Bưu chính viễn thông
2. DVCTBĐ Dịch vụ chuyển tiền bưu điện
14 UPU Liên minh Bưu chính Thế giới
15 VNPT Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
16 VPSC Công ty dịch vụ tiết kiệm Bưu điện
Trang 4Bảng 2.1 Sản lượng, doanh thu của dịch vụ chuyển tiền bưu điện 56 Bảng 2.2 Sản lượng, doanh thu của dịch vụ điện chuyển tiền 59 Bảng 2.3 Sản lượng, doanh thu của dịch vụ chuyển tiền nhanh 61 Bảng 2.4 Sản lượng, doanh thu của dịch vụ chuyển tiền quốc tế 64
Trang 5Hình 2.1 Mô hình tổ chức TCT Bưu chính Việt Nam 42 Hình 2.2 Mô hình tổ chức của Công ty dich vụ Tiết kiệm bưu điện 43 Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức của Trung tâm chuyển tiền 44 Hình 2.4 Cơ cấu nhân sự của Trung tâm Chuyển tiền 46 Hình 2.5 Mạng lưới bưu cục thuộc TCT Bưu chính Việt Nam 52
Hình 2.7 Hoạt động dịch vụ Điện chuyển tiền 57 Hình 2.8 Hoạt động dịch vụ Chuyển tiền nhanh 60 Hình 2.9 Hoạt động dịch vụ Chuyển tiền quốc tế 63 Hình 3.1 Mô hình tổ chức Công ty dịch vụ tài chính bưu chính 87 Hình 3.2 Mô hình tổ chức Chi nhánh dịch vụ tài chính bưu chính 88
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dịch vụ bưu chính đã xuất hiện từ lâu đời kể từ khi con người có nhucầu trao đổi về tình cảm, thông tin Khi nền văn minh ngày càng tiến bộ, đờisống xã hội ngày càng phát triển thì đò hỏi về thông tin, giao lưu tình cảm,đời sống, kinh tế cần được thoả mãn ngày càng cao hơn Dịch vụ bưu chính
đã và đang trở nên một phần cuộc sống thường nhật của toàn thế giới Dịch vụchuyển tiền là một trong những dịch vụ bưu chính (DVBC) truyền thốngthuộc nhóm các dịch vụ tài chính Bưu chính và được xác định là một trongnhững dịch vụ trọng điểm của ngành Bưu chính trong tương lai
Cùng với sự phát triển của đất nước, những năm qua, dịch vụ chuyểntiền bưu điện (DVCTBĐ) đã có những bước phát triển không ngừng, đồnghành cùng đất nước, cùng nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổquốc, đến nay, cùng với hình ảnh bưu điện Việt Nam vượt qua khó khăn củachiến tranh, thiếu thốn về vật để vươn lên, chuyển tiền Bưu điện đã thực sự đivào lòng dân chúng, trở thành một phần gắn bó với đời sống kinh tế xã hội(KT – XH) của người dân
Trong giai đoạn đất nước đổi mới, cùng với xu hướng chung của cácngành kinh tế cả nước, từ năm 1993 Trung tâm chuyển tiền được thành lậpvới nhiệm vụ quản lý, điều hành dịch vụ chuyển tiền nhằm tạo điều kiện pháttriển chuyên sâu dịch vụ Sau 14 năm Trung tâm chuyển tiền đã hoàn thànhtốt việc quản lý điều hành dịch vụ chuyển tiền, đảm bảo việc chi trả an toàn,chính xác cho hơn 8 triệu phiếu chuyển tiền và lưu lượng tiền gửi gần 70nghìn tỷ/năm.Về phương diện kinh doanh, dịch vụ chuyển tiền đã có nhữngđóng góp không nhỏ với doanh thu bình quân hàng năm đạt 200 tỷ đồng,chiếm 11% tổng doanh thu khối bưu chính
Trang 7Tuy nhiên, trước ngưỡng cửa hội nhập kinh tế, cơ chế quản lý điềuhành dịch vụ chuyển tiền như hiện nay đã lộ rõ nhiều bất cập, chưa thoả mãnnhu cầu của xã hội Để tháo gỡ vấn đề này, Tổng công ty BCVN đã sát nhậptrung tâm dịch vụ chuyển tiền với Công ty dịch vụ tiết kiệm nhằm tăng khảnăng cạnh tranh cũng như cải thiện chất lượng dịch vụ Tuy nhiên, trong thờigian tới, DVCTBĐ cũng như DVBĐ nói chung sẽ phải đối mặt với nhiều khókhăn thách thức mới như: Năng lực cạnh tranh của bưu chính Việt Nam(BCVN) chưa cao, về thị trường còn hạn chế, về nguy cơ phát triển mất cânđối, nguồn nhân lực đông về số lượng nhưng chất lượng còn yếu….Vì vậy, đểBCVN có thể đứng vững và phát triển được thì phải đặc biệt quan tâm đếncác lĩnh vực như: (i) Đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ kỹ thuật – tin học vàoquản lý SXKD, nâng cao chất lượng dịch vụ; (ii) Có chế độ thu hút tuyểndụng và khuyến khích nhân tài để tạo nên lực lượng lao động có hàm lượngchất xám cao, vững chuyên môn, giỏi tay nghề và tiếp thu được những thànhtựu khoa học công nghệ mới; (iii) Đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế, chútrọng công tác đào tạo cán bộ Bưu chính với các nước thành viên của Liên
minh Bưu chính thế giới; (iv) Phải xây dựng được mô hình tổ chức phù hợp,
những chiến lược, kế hoạch và những giải pháp cụ thể để duy trì và phát triểncác dịch vụ hiện có, tiếp tục nghiên cứu và phát triển các DVBC mới nhằm
mở rộng thị trường, phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, tăng khả năngcạnh tranh với các đơn vị cung cấp DVBC trong nước và quốc tế
Trong bối cảnh Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) đangthực hiện đổi mới cơ cấu tổ chức sản xuất, tách hai lĩnh vực bưu chính vàViễn thông ra kinh doanh độc lập Tổng công ty bưu chính cũng đã có kếhoạch nâng cấp nhanh hệ thống công nghệ và quản lý, lựa chọn một số dịch
vụ chủ chốt của bưu chính có khả năng mang lại lợi nhuận cao trong đó cóDVCTBĐ để đầu tư phát triển như: tạo điều kiện về vốn, cơ chế hoạt độngdịch vụ, phát triển, thu hút thêm lao động v.v
Trang 8Dịch vụ tài chính bưu chính nói chung và hoạt động dịch vụ chuyểntiền nói riêng cần phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện theo hướng một đơn vịkinh doanh tài chính ngân hàng có kinh nghiệm, đủ thẩm quyền đảm nhậnviệc tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh này Loại bỏ tối đa các khâu trunggian trong quản lý vừa để tiết kiệm chi phí vừa tăng tính linh hoạt nhanh nhạytrong điều hành kinh doanh dịch vụ
Xuất phát từ thực tế đó, đổi mới mô hình tổ chức và hoạt độngDVCTBĐ với mong muốn để nó phát triển ở mức cao nhất và trở thành mộttrong những dịch vụ chủ chốt mang lại doanh thu lớn cho bưu chính ViệtNam ngày càng trở thành nhu cầu bức thiết Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn
đề tài cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình: “Đổi mới mô hình tổ chức
và hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện tại Tổng công ty bưu chính Việt Nam” làm đối tượng nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu của Luận văn với mục đích tìm ra những nguyên nhân dẫnđến thành công và hạn chế kết quả DVCTBĐ trong thời gian qua Trên cơ sở
đó đề xuất những biện pháp nhằm đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động dịch
vụ chuyển tiền tại Tổng công ty BCVN theo hướng: (i) Xây dựng một Công
ty trong đó dịch vụ tài chính bưu chính đủ mạnh, từng bước cung cấp hầu hếtcác dịch vụ tài chính bưu chính hiện đại trên mạng lưới bưu cục trên phạm vi
cả nước; (ii) Tham gia cạnh tranh trên thị trường dịch vụ tài chính trong nước
và từng bước hội nhập quốc tế; (iii) Tổ chức hạch toán thu chi từng dịch vụ rõràng; có kế hoạch phát triển dịch vụ có hiệu quả; Tạo tiềm lực kinh tế pháttriển các DVBC khác tại Tổng công ty BCVN; (iv) Kinh doanh có hiệu quả,tạo tiềm lực tài chính để ổn định đời sống người lao động làm việc tại Công tydịch tài chính bưu chính nói riêng cung như ngành BCVN nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 9Đối tượng nghiên cứu: mô hình tổ chức và các hoạt động DVCTBĐ tại
Tổng công ty BCVN; các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động
DVCTBĐ cũng như các mối liên hệ theo chiều dọc và chiều ngang của đơn vịthành viên tại Tổng công ty trong hoạt động kinh doanh
Phạm vi nghiên cứu: mô hình tổ chức và kết quả hoạt động chuyển tiền
bưu điện tại Tổng công ty BCVN; thời gian nghiên cứu từ năm 2004 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh Luận văn sử dụng nguồn số liệu: (i) thứ cấp được thu thập từ các báo cáo của Tổng công ty BCVN; các nghiên cứu của một số cơ quan QLNN trung ương và tài liệu nghiên cứu của nước ngoài; (ii)
số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra thông qua phỏng vấn lấy ý kiến trực tiếp một số lãnh đạo đơn vị, nhân viên thuộc Tổng công ty
Từ những phân tích đánh giá, Luận văn vận dụng những đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, lý thuyết về khoa học quản lý, kinh
nghiệm quản lý trong và ngoài nước, đề xuất các quan điểm, định hướng, các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động DVCTBĐ tại Tổng công ty BCVN
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: hệ thống hoá những đặc trưng cơ bản về mô hình tổ
chức và hoạt động DVCTBĐ, mối quan hệ giữa các cấp quản lý trong hệ thống Phân tích và luận bàn về mặt lý luận và thực tiễn vai trò của mô hình tổchức
Về mặt thực tiễn: Luận văn đề xuất những kiến nghị, biện pháp quản lý
thích hợp nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức và các hoạt động DVCTBĐ, góp
Trang 10phần thúc đẩy phát triển KT - XH và có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy
6 Nội dung của Luận văn
Tên Luận văn: " Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động dịch vụ chuyển tiền Bưu điện tại Tổng công ty bưu chính Việt Nam"
Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,Luận văn trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Lý luận cơ bản về mô hình tổ chức và hoạt động dịch vụ bưu
chính
Chương 2 Thực trạng về mô hình tổ chức và hoạt động dịch vụ chuyển tiền
bưu điện tại Tổng công ty Bưu chính Việt Nam
Chương 3 Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động
dịch vụ chuyển tiền bưu điện tại Tổng công ty Bưu chính Việt Nam
Trang 11ƯƠ NG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
DỊCH VỤ BƯU CHÍNH 1.1 Tổng quan về dịch vụ bưu chính và hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện
1.1.1 Dịch vụ bưu chính
1.1.1.1 Khái niệm về dịch vụ bưu chính
Dịch vụ bưu chính có thể hiểu là dịch vụ nhận, gửi, chuyển phát thư,báo, vật phẩm, tiền, hàng hoá và các vật phẩm vật chất khác thông qua mạnglưới bưu chính công cộng do các doanh nghiệp cung cấp DVBC cung cấp.Mạng lưới bưu chính công cộng bao gồm các trung tâm kỹ thuật, khai thác,vận chuyển và điều hành bưu chính, các tuyến đường thư, hệ thống bưu cục,các điểm phục vụ, các đại lý và thùng thư tại các nơi công cộng được doanhnghiệp cung cấp DVBC thiết lập để cung cấp DVBC phục vụ nhu cầu truyềnđưa tin tức giữa cộng đồng người hoặc giữa các cá nhân sống xa nhau
1.1.1.2 Vị trí của dịch vụ bưu chính
Dịch vụ bưu chính là một ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ quan trọngthuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân Phát triển bưu chính nhằmđáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa nhân dân và đảm bảo an ninh quốc phòng Dịch vụ bưu chính rất dạng,được cung cấp cho nhiều khách hàng
Ngành bưu chính phát triển sẽ làm tăng vị thế của Việt Nam trêntrường quốc tế, tăng cường các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá quốc
tế Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá vai trò của ngành bưu chính ngàycàng trở nên quan trọng hơn
Trang 12Các DVBC có thể thay thế cho một số dạng giao tiếp khác và thường
có hiệu quả hơn trong việc sử dụng thời gian, năng lượng, vật liệu và do vậy
có ảnh hưởng tốt đến môi trường Lợi ích của các DVBC thể hiện rất rõ trongcông nghiệp và trong thương mại
Dịch vụ thông tin bưu chính là một phân ngành lâu đời nhất trongngành bưu điện Ngay từ khi ra đời, các DVBC đã trở thành phương tiện liênlạc duy nhất của con người Ngày nay, khi các dịch vụ thông tin viễn thôngngày càng phát triển đa dạng, phong phú, hiện đại thì các DVBC vẫn giữ một
vị trí quan trọng với vai trò là phương tiện thông tin liên lạc công cộng và phổthông nhất trong đời sống xã hội
Trải qua trên 100 năm hình thành và phát triển, cùng với những thayđổi lớn lao của tiến bộ KH - KT, mạng lưới bưu chính toàn cầu của Liên minhBưu chính Thế giới (UPU) ngày càng phát triển và cho tới ngày nay đã trởthành mạng lưới lớn nhất, dày đặc nhất trên thế giới với 189 nước thành viên,700.000 Bưu cục, cùng 6,2 triệu lao động và hàng năm thu gom, chuyển phát
430 tỷ bức thư, ấn phẩm, Bưu kiện đến từng địa chỉ trên hành tinh Có thểthấy rằng, với các dịch vụ chất lượng ngày càng cao, đa dạng, văn minh, cácDVBC không những giúp cho sự phát triển của mỗi quốc gia mà còn gópphần tăng cường sự hiểu biết và giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các quốc giatrên toàn thế giới Ngành Bưu chính thực sự là một trong những phương tiệnthiết yếu của sự phát triển KT- XH, an ninh - quốc phòng và cuộc sống củacon người trên hành tinh chúng ta [25]
1.1.1.3 Đặc điểm của dịch vụ bưu chính
Tính không vật chất: Các DVBC làm nhiệm vụ chuyển dịch các tin tức,
thông tin từ người gửi đến người nhận Sự chuyển dịch này thể hiện kết quảhoạt động của ngành bưu chính Đặc điểm này làm cho chất lượng của dịch
vụ phụ thuộc chủ yếu vào sự cảm nhận của khách hàng, một biến số khôngphải bao giờ cũng đồng nhất Các khách hàng, nhóm khách hàng luôn có
Trang 13những nhu cầu và sở thích khác nhau Việc nghiên cứu để hiểu biết đặc điểm
và sự biến động nhu cầu khách hàng đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối vớinhững nhà kinh doanh DVBC
Cũng do DVBC không phải là vật chất cụ thể tồn tại ngoài quá trìnhsản xuất nên không thể đưa vào cất giữ trong kho, không thể thay thế dịch vụxấu bằng dịch vụ tốt được
Do không phải là sản phẩm vật chất cho nên để nhận biết chất lượngdịch vụ, khách hàng thường tìm hiểu qua những đối tượng vật chất tham giatrực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất dịch vụ như: Bưu cục, thiết bịđầu cuối, các trang thiết bị khác phục vụ trong quá trình truyền đưa tin tức,các nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất dịch vụ…
Tính không đồng nhất: Các DVBC có biến động lớn hơn so với các sản
phẩm vật chất và nó không đủ tiêu chuẩn hoá được vì hai lý do:
Một là, do hoạt động cung cấp dịch vụ, nhân viên cung cấp dịch vụ
không thể tạo ra dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau
Hai là, khách hàng tiêu dùng là người quyết định chất lượng dịch vụ
dựa vào cảm nhận của họ Trong những thời gian khác nhau, với những kháchhàng khác nhau cũng có sự cảm nhận khác nhau Sản phẩm dịch vụ sẽ có giátrị cao khi thoả mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng Do vậy, trong quátrình cung cấp DVBC thường thực hiện cá nhân hoá
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng dịch vụ không giống nhau, không đồng nhấtgiữa một dịch vụ này với một dịch vụ khác nhưng những dịch vụ cùng loạichỉ khác nhau về lượng trong sự đồng nhất để phân biệt với các dịch vụ khác
Tính không tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ: Các DVBC
thường được khách hàng tiêu dùng khi có đang được tạo ra và khách hàngtrực tiếp tham gia vào quá trình đó Như vậy, phải có khách hàng thì quá trìnhsản xuất dịch vụ mới bắt đầu được
Trang 14Từ đặc điểm này ta thấy vấn đề chất lượng DVBC là vô cùng quantrọng, bởi vì người tiêu dùng phải dùng ngay sản phẩm do ngành Bưu điện tạo
ra, không qua khâu kiểm tra chất lượng, dù là chất lượng kém cũng không thểthay thế bằng sản phẩm khác được Trong nhiều trường hợp, do chất lượngdịch vụ kém đã gây ra hậu quả không thể bù đắp được cho người tiêu dùng cả
về vật chất và tinh thần
Cũng do quá trình sản xuất và tiêu dùng không thể tách rời nhau nên để
sử dụng các DVBC, khách hàng phải có mặt tại các địa điểm giao dịch củaBưu điện hoặc có thiết bị (máy thuê bao) Để kích thích và thoả mãn tối đanhu cầu người tiêu dùng và nâng cao chất lượng dịch vụ, ngành Bưu chínhcần phát triển mạng lưới thông tin đến gần đối tượng sử dụng
Tỷ trọng không đồng đều theo không gian và thời gian: Nhu cầu truyền
đưa tin tức của khách hàng quyết định sự tồn tại và phát triển của ngành bưuđiện Ngành phải có nhiệm vụ thoả mãn tốt nhất mọi nhu cầu về truyền đưatin tức, thu hút và làm tăng các nhu cầu này
Tuy nhiên, nhu cầu truyền đưa tin tức rất đa dạng, xuất hiện khôngđồng đều về thời gian và không gian Sự dao động không đồng đều của tỷtrọng cộng với những quy định về tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ đòi hỏingành bưu điện đảm bảo thời gian truyền đưa tin tức thực tế nhỏ hơn hoặcbằng thời gian quy định
Do dịch vụ không thể dự trữ được nên để đảm bảo lưu thoát hết nhucầu về truyền đưa tin tức, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải có mộtlượng dự trữ nhất định về phương tiện, thiết bị thông tin và lao động
1.1.1.4 Các sản phẩm dịch vụ bưu chính
Dịch vụ bưu chính rất đa dạng, luôn phát triển theo tiến bộ của KH
-KT nhằm thoả mãn nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của con người, có thể kểđến các loại dịch vụ chính sau: (i) Dịch vụ Bưu phẩm – Bưu kiện (bao gồm
Trang 15các dịch vụ như: Dịch vụ bưu phẩm, Dịch vụ bưu kiện, Các dịch vụ đặc biệt; (ii) Dịch vụ chuyển phát nhanh (bao gồm các dịch vụ như: Dịch vụ EMS, Dịch vụ phát trong ngày (PTN); (iii) Dịch vụ chuyển tiền; (iv) Các DVBC khác (bao gồm các dịch vụ như: bưu chính ủy thác, Dịch vụ điện hoa, Dịch vụ hộp thư thuê bao, Dịch vụ khai giá, Phát hành báo chí, Dịch
vụ tiết kiệm bưu điện, Dịch vụ phát hàng thu tiền - COD).
1.1.2 Dịch vụ chuyển tiền bưu điện
1.1.2.1 Khái niệm về dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Dịch vụ chuyển tiền bưu điện là dịch vụ nhận gửi, trả tiền qua mạngBưu điện công cộng [14 tr 3]
Trong đó:
- Người gửi là tổ chức, cá nhân đứng tên gửi tiền
- Người nhận là tổ chức, cá nhân được người gửi chỉ định nhận số tiềnchuyển qua dịch vụ chuyển tiền
- Người sử dụng dịch vụ/khách hàng gồm người gửi và người nhận
- Giấy tờ tuỳ thân là giấy chứng nhận về nhân thân do cơ quan Nhànước có thẩm quyền cấp
- Bưu điện là từ dùng chung chỉ chủ thể cung cấp dịch vụ là Tổng công
ty BCVN hoặc các cơ sở cung cấp dịch vụ của VNPT
- Phiếu chuyển tiền là loại phiếu do bưu điện phát hành khi nhận gửitiền, được chuyển trong mạng lưới cung cấp dịch vụ để thực hiện các giaodịch chuyển tiền
- Bưu cục (hay điểm cung cấp dịch vụ) là từ dùng chung để chỉ nơi bưuđiện tổ chức giao dịch với khách hàng về dịch vụ chuyển tiền, bao gồm: cácquầy giao dịch, các Bưu cục, Kiốt bưu điện, Điểm bưu điện Văn hóa xã vàĐại lý bưu điện có mở dịch vụ chuyển tiền
Trang 161.1.2.2 Vị trí của dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Theo Nghị định số 109/1997/NĐ-CP và Thông tư số TCBĐ thì DVCTBĐ là một DVBC truyền thống thuộc nhóm các dịch vụ tàichính bưu chính [04]
02/1998/TT-Trong các sản phẩm của ngành bưu chính, mỗi loại sản phẩm có vị trívai trò nhất định Dịch vụ chuyển tiền có vị trí phục vụ đắc lực cho SXKD,giao lưu tình cảm cho tập thể và cá nhân trao đổi với nhau, giúp cho việcthanh toán thu nợ, làm quà biếu, thông tin cho nhau
Dịch vụ chuyển tiền giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốcdân, giúp Nhà nước thu hẹp phạm vụ tiền mặt trong tay nhân dân, tiết kiệmcông sức điều hoà tiền tệ giữa các địa phương Mặt khác giúp người gửikhông mất thời gian công sức mang tiền đến cho người nhận
Đối với Ngành bưu điện, dịch vụ chuyển tiền là một trong những dịch
vụ chính của Ngành, thu nhập về cước cũng đóng góp một phần đáng kể vềmặt thu nhập của Ngành
Về mặt ý nghĩa: dịch vụ chuyển tiền nằm trong DVBC nên nó thể hiện đầy
đủ tình hình sản xuất thông tin bưu chính là tính giai cấp và tính quần chúng;
Tính giai cấp: Nhà nước luôn coi và xác định công tác thông tin bưu điện là
công cụ phục vụ đắc lực cho giai cấp lãnh đạo Nó được biểu hiện ở khía cạnh
là trong quá trình sản xuất một số cơ quan đã dùng dịch vụ chuyển tiền làmnhiệm vụ thu nợ và thanh quyết toán với nhau;
Tính quần chúng: là được phục vụ đông đảo quần chúng trong các việc quà
biếu, thông tin riêng cho nhau, trực tiếp phục vụ nhu cầu giao lưu tình cảmcho nhiều người;
Trên cơ sở lợi ích của dịch vụ chuyển tiền nên các nước trên thế giớiđều có dịch vụ này vì vậy BCVN cũng mở rộng quan hệ với bưu chính cácnước thông qua hình thức đó là Chuyển tiền quốc tế
Trang 171.1.2.3 Đặc điểm của dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Cũng giống như các DVBC khác, DVCTBĐ có những đặc điểm sau:
- Sản phẩm của DVCTBĐ không phải là vật phẩm cụ thể, sản phẩm củacủa dịch vụ chuyển tiền là lợi ích đem đến cho khách hàng từ việc người gửigửi một số tiền ở địa phương này/bưu cục này và người nhận sẽ nhận được sốtiền đó ở điạ phương/bưu cục khác
- Quá trình cung cấp dịch vụ diễn ra đồng thời với quá trình tiêu dùngdịch vụ
- Tải trọng dịch vụ không đồng đều: sản lượng của dịch vụ chuyển tiềnkhông đồng đều theo không gian và thời gian Có sự khác nhau về sản lượnggiữa các vùng miền địa lý hay cũng có sự khác nhau về sản lượng giữa cácgiờ trong ngày, giữa các ngày trong tháng hay giữa các tháng trong năm
- Quá trình cung cấp dịch vụ có sự tham gia của ít nhất 2 đơn vị bưuđiện: một phiếu chuyển tiền được nhận gửi ở bưu cục A sau đó vận chuyểnkhai thác qua một số bưu cục B, C và trả tiền tại bưu cục D
- Việc chuyển nhận các phiếu chuyển tiền dựa vào các DVBC khác cósẵn, cụ thể là dịch vụ Thư chuyển tiền được chuyển nhận bằng hình thức Thưghi số, Điện chuyển tiền sử dụng hình thức chuyển Điện báo, Chuyển tiềnnhanh sử dụng hình thức chuyển Fax hoặc truyền số liệu qua mạng máy tính
Bên cạnh việc thu được ở khách hàng một khoản cước phí theo quyđịnh giống như các DVBC khác, đối với DVCTBĐ còn nhận cả số tiền gửicủa phiếu chuyển tiền tương ứng cho nên ngoài việc chuyển các thông tin vềphiếu chuyển tiền từ các bưu cục phát hành đến bưu cục trả tiền còn có mộtnội dung tác nghiệp rất quan trọng là tổng hợp, theo dõi và điều tiết, quản lýquỹ chuyển tiền giữa các bưu cục, giữa các huyện hay giữa các tỉnh với nhau
Trang 181.2 Một số mô hình tổ chức và dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Trên cơ sở mục tiêu, chiến lược kinh doanh đã xác định, doanh nghiệpBưu chính cần xây dựng và không ngừng hoàn thiện mô hình tổ chức củamình để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển
Mô hình tổ chức mà phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ đề ra sẽ tạo lậpnăng lực hoạt động mới, thúc đẩy kinh doanh phát triển, tiết kiệm chi phí vànâng cao hiệu quả kinh tế Mô hình tổ chức quản lý và cung cấp DVCTBĐphù hợp là mô hình theo hướng hình thành các Tổng công ty, Tập đoàn kinh
tế lớn cung cấp về dịch vụ tài chính
1.2.1 Mô hình tổ chức tập đoàn kinh tế
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế và toàn cầu hoá kinh tế, các đơn vịhoạt động kinh tế có xu hướng phát triển để trở thành các hệ thống kinh tế lớn
mà hình thức chủ yếu của nó là các tập đoàn kinh tế [08, tr 425 – 427]
1.2.1.1 Khái niệm về tập đoàn kinh tế
Các tổ chức kinh tế quy mô lớn là tổ hợp của các doanh nghiệp có quy
mô vốn, công nghệ, sản phẩm và thị trường lớn mang tính bao trùm quốc gia,khu vực hoặc quốc tế
Thường các tập đoàn kinh tế có doanh thu hàng năm lên tới hàng chục,hàng trăm tỷ USĐ như: General Motors (Mỹ), Royal Durch (Anh), Sum Sung(Hàn Quốc)…
1.2.1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
- Các tập đoàn cố quy mô lớn đem lại doanh thu lớn, tài sản lớn, thu hútnhiều lao động, lợi nhuận lớn, sản phẩm tiêu thu trên nhiều quốc gia
- Các tập đoàn có trình độ công nghệ cao vào loại nhất trên thế giới, thuhút đội ngũ các chuyên gia lành nghề, với một hệ thống viện nghiên cứu,trường đào tạo hết sức cao, quy tu nhiều nhân tài của nhiều quốc gia Các hoạt
Trang 19động nghiên cứu hết sức quy mô vơí các trang thiết bị và kinh phí khổng lồ(nhất là các tập đoàn sản xuất vũ khí và khí tài chiến tranh).
- Các tập đoàn kinh tế tham gia hầu hết các hoạt động tài chính ngânhàng Đố là các ngân hàng cỡ vừa và lớn trực thuộc tập đoàn, hoặc là các cổđông lớn nhất của các ngân hàng lớn Sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thểsản xuất và chủ thể tài chính là một xu thế tất yếu của các tập đoàn kinh tếhiện nay
- Các tập đoàn kinh tế thường chi phối mạnh mẽ đến nền kinh tế quốcdân, chẳng hạn 5 tập đoàn của Hàn Quốc đã khống chế già nửa thu nhập quốcdân của cả nước
Trong thực tiễn, các tập đoàn kinh doanh trên thế giới thường áp dụngnhững mô hình quản trị điều hành cơ bản sau đây :
+ Mô hình “kim tự tháp”, về thể chế quản lý tập trung quyền lực theo
chiều dọc, trực tuyến
+ Mô hình “mạng lưới” (đa trung tâm), về thể chế quản lý phân tán
quyền lực cho các bộ phận chi nhánh
+ Mô hình “hỗn hợp” (nhị nguyên), về thể chế quản lý phối hợp giữa
tập trung và phân tán quyền lực
+ Mô hình công ty mẹ - công ty con, có thể rút ra những đặc trưng của
quan hệ công ty mẹ – công ty con là: (i) công ty mẹ và công ty con là hai thựcthể pháp lý độc lập, có sản nghiệp riêng (pháp nhân kinh tế đầy đủ); (ii) công
ty mẹ có lợi ích kinh tế nhất định liên quan đến hoạt động của công ty con;(iii) công ty mẹ chi phối đối với các quyết định liên quan đến hoạt động củacông ty con thông qua một số hình thức như quyền bỏ phiếu chi phối đối vớicác quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm HĐQT, banlãnh đạo hoặc quyền tham gia quản lý, điều hành; (iv) vị trí công ty mẹ vàcông ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và mang tính
Trang 20tương đối, tức công ty con này có thể là công ty mẹ của một công ty khác(tính tương đối này càng nổi bật hơn trong trường hợp các công ty trong mộtnhóm có nắm giữ vốn cổ phần qua lại của nhau, thí dụ như theo mô hình củacác tập đoàn của Nhật); (v) trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty connói chung là trách nhiệm hữu hạn; thứ sáu, về mặt lý thuyết, mô hình quan hệnày sẽ tạo cho cơ cấu tổ chức của các công ty trong nhóm có chiều sâu khônghạn chế; tức công ty mẹ, con công ty con, công ty cháu
Một vấn đề cần lưu ý là, mặc dù công ty mẹ và công ty con là hai thựcthể pháp lý độc lập, và nếu công ty con là công ty có trách nhiệm hữu hạn thìcông ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm đối với phần vốn góp hay cổ phần của mình
mà thôi, nhưng do mối quan hệ có tính chất chi phối các quyết định của công
ty con, nên luật pháp nhiều nước bắt buộc công ty mẹ phải chịu trách nhiệmliên đới về những ảnh hưởng của công ty mẹ đối với công ty con Thí dụ, Luậtcông ty của Cộng hoà Liên bang Nga qui định nếu công ty mẹ đưa ra chỉ thịbuộc công ty con phải thực hiện theo một cam kết nào đó giữa công ty mẹ vàcông ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới
Ngoài ra, theo luật pháp của nhiều nước và theo chuẩn mực kế toánquốc tế thì công ty mẹ phải có trách nhiệm trình báo cáo tài chính tập trunghay hợp nhất (Consolidated financial statement) tại đại hội cổ đông của công
ty mẹ, trừ trường hợp công ty mẹ là công ty con của một công ty khác hoặchoạt động của công ty con quá khác biệt với công ty mẹ; bởi lẽ, dù là hai thựcthể pháp lý độc lập nhưng trên thực tế chúng là những công ty liên kết
(affiliated), một thực thể kinh tế hợp nhất tại Hình 1.1
Mô hình công ty mẹ – công ty con có nhiều ưu điểm cả về cơ cấu tổchức và cơ chế quản lý, đặc biệt là đối với những nhóm doanh nghiệp có qui
mô lớn như các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia và đa quốc gia:
Thứ nhất, theo mô hình này, khi một đơn vị kinh doanh chiến lược của
một doanh nghiệp phát triển đến mức yêu cầu phải có sự tự chủ trong hoạt
Trang 21động, thì các doanh nghiệp có xu hướng tách đơn vị kinh doanh chiến lượcnày thành một thực thể pháp lý độc lập, và về mặt pháp lý không chịu tráchnhiệm liên quan đến hoạt động của nó Chính với trách nhiệm hữu hạn nàycủa chủ sở hữu là điều kiện cần để chủ sở hữu có thể xác lập một cơ chế quản
lý phân cấp triệt để hơn khi nó còn là một bộ phận trực thuộc của công ty mẹ
Thứ hai, với mối quan hệ theo mô hình công ty mẹ – công ty con, công
ty mẹ còn có thể thực hiện được chiến lược chuyển giá (price transferring),nhất là trong những trường hợp các doanh nghiệp lập cơ sở kinh doanh ởnước ngoài
Thứ ba, với mô hình này, các doanh nghiệp có thể thực hiện được sự
liên kết với các doanh nghiệp khác nhằm giảm cạnh tranh, tăng độc quyền củathiểu số, cùng phối hợp hay chia sẻ các nguồn lực, tận dụng các thế mạnh củacác cổ đông bằng cách cùng nhau đầu tư lập các công ty con Thứ tư, môhình công ty mẹ – công ty con cho phép các doanh nghiệp chủ động hơn trongviệc bố trí và tái bố trí lại cơ cấu đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau theo chiếnlược phát triển của doanh nghiệp bằng việc mua hoặc bán cổ phần của mìnhtrong các công ty con
Cuối cùng, mô hình công ty mẹ – công ty con cho phép một doanh
nghiệp huy động vốn để mở rộng SXKD bằng cách thành lập công ty con mớitrong điều kiện vừa có thể kiểm soát được doanh nghiệp mới thành lập mộtcách hữu hiệu thông qua cổ phần khống chế, vừa không bị các nhà đầu tư chiphối đối với doanh nghiệp cũ
Chính vì những ưu điểm nêu trên, hiện nay ở nhiều nước, mô hình công
ty mẹ – công ty con gần như là mô hình duy nhất được sử dụng để xác lậpmối quan hệ giữa các công ty trong cùng một nhóm, một tập đoàn
Trang 22Hình 1.1 Mô hình tổ chức Tổng công ty
Nguồn: Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam
1.2.1.3 Lợi thế của tập đoàn kinh tế
- Khả năng cạnh tranh trên thị trường rất mạnh
- Có thể sử dụng các thành quả cao nhất của khoa học công nghệ cho
dù rất tốn kém
- Có thể chi phối xã hội trên nhiều góc độ ( nộp ngân sách, giải quyếtviệc làm, góp phần hiện đại cơ sở hạ tầng đất nước, phát huy uy tín quốc giađối các nước bên ngoài…);
- Thu được lợi nhận lớn (trong trường hợp làm ăn hiệu quả);
Trang 231.2.1.4 Các mặt hạn chế của tập đoàn kinh tế
- Các tập đoàn kinh tế, dễ dẫn tới tình trạng độc quyền, chi phối phầnlớn đến nền kinh tế Do đó, nếu nó bị thất bại sẽ gây sự tổn hại cho nền kinh
tế (thất nghiệp, lạm phát, bất ổn định xã hội…);
- Các tập đoàn kinh tế thường có tác động không nhỏ tới hệ thống quản
lý hành chính Nhà nước do sức mạnh kinh tế to lớn của nó đưa lại Chính cáctổng thống Mỹ đã phải kêu ca về sự bất lực của Nhà nước trước sự bànhtrướng của tập đoàn kinh tế;
- Các tập đoàn kinh tế thường là chủ thể gây ra các tác hại to lớn vềmôi trường sinh thái xã hội, do mức độ sản xuất to lớn và do việc mưu cầu lợiích chủ quan của mình không tính đến tác hại về môi trường do các hoạt độngsản xuất của họ gây ra
1.2.1.5 Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay, các tập đoàn kinh tế lớn với quy mô như các tậpđoàn kinh tế thế giới cho đến nay chưa có, do trình độ phát triển sản xuất của
ta còn thấp, đất nước còn nghèo, tài sản quốc gia còn thấp Nhưng hình thức
tổ chức hoạt động kinh tế với quy mô lớn tương đối ( so với ta) thì đã có, đóchính là các Tổng công ty Vào những năm 1990, 1991, chúng ta đã thực hiệnmột cuộc cải tổ rất cơ bản đối với các DNNN Hàng loạt Tổng công ty nhànước được thành lập từ các DNNN nhằm bảo đảm quy mô sản xuất kinh tếlớn, nhưng vì xuất phát điểm là mức vốn bình quân của Tổng công ty 91 chỉ
là xấp xỉ 3500 tỷ đồng ( 273 triệu USĐ) Trong 17 Tổng công ty 91 thì có 13Tổng công ty có mức vốn dưới 3200 tỷ đồng, trong số này có 6 Tổng công ty
có vốn dưới 1000 tỷ đồng Tổng công ty thành lập từ nhiều doanh nghiệp banđầu đã có những vấn đề yếu kém nên hầu hết hoạt động không hiệu quả vàgần 25 năm trôi qua, nhìn lại mô hình Tổng công ty chúng ta có được nhữngbài học gì?
Trang 241.2.2 Mô hình tổ chức dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Mô hình tổ chức dịch vụ chuyển tiền là là hình thức tồn tại của bộ máy quản trị, biểu thị việc xắp xếp theo một trình tự nào đó các bộ phận của tổ chức cùng các mối quan hệ giữa chúng với nhau Mô hình tổ chức dịch vụ chuyển tiền là sự tổng hợp các bộ phận khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc nhau được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định được bố trí theo từng cấp, từng khâu khác nhau đảm bảo dịch vụ chuyển tiền được thực hiện với hiệu quả cao nhất Cũng như các doanh nghiệp cung cấp DVBC khác, doanh nghiệp thực hiện dịch vụ chuyển tiền thường áp dụng hai kiểu mô hình quản trị cơ bản sau:
Mô hình tổ chức dịch vụ chuyển tiền bưu điện trực tuyến: Mô hình trực
tuyến là hình thức đơn giản nhất, trong đó có một cấp trên và các cấp dưới Mối quan hệ quản trị được giải quyết theo một kênh liên hệ thẳng cấp lãnh đạo doanh nghiệp trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp
Đặc điểm cơ bản của mô hình trực tuyến là người lãnh đạo thực hiện tất
cả các chức năng quản trị; các mối liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức được thực hiện theo tuyến thẳng; người thực hành mệnh lệnh chỉ nhận mệnh lệnh qua một cấp trên trực tiếp và chỉ thi hành mệnh lệnh của người đó Với những đặc điểm nói trên, mô hình tổ chức này tạo điều kiện thuận lợi cho việcthực hiện chế độ thủ trưởng, người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm hoàn toàn
về kết quả công việc của người dưới quyền
Mô hình tổ chức dịch vụ chuyển tiền bưu điện trực tuyến - chức năng:
Đây là kiểu mô hình tổ chức liên hợp được áp dụng rộng rãi và phổ biến cho mọi doanh nghiệp Theo mô hình này người lãnh đạo doanh nghiệp được sự giúp sức của những người lãnh đạo chức năng để chuẩn bị quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định Người lãnh đạo doanh nghiệp vẫn chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động và toàn quyền quyết định trong phạm
Trang 25vi doanh nghiệp Việc truyền mệnh lệnh vẫn theo trực tuyến quy định, những người lãnh đạo ở các bộ phận chức năng không ra lệnh trực tiếp cho người thừa hành ở các đơn vị cấp dưới.
Theo mô hình này người lãnh đạo doanh nghiệp phải giải quyết thường xuyên mối quan hệ giữa bộ phận trực tuyến với bộ phận chức năng Vì vậy, người lãnh đạo sử dụng các bộ phận tham mưu giúp việc do một nhóm
chuyên gia hoặc chỉ là một trợ lý giúp việc Mô hình tổ chức này tạo điều kiệncho người lãnh đạo sử dụng được tài năng chuyên môn của một số chuyên gia
có thê thường xuyên tiếp cận với họ mà không cần một cơ cấu phức tạp
1.3 Hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện
1.3.1 Mục tiêu của hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Hoạt động DVCTBĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại vàphát triển của Tổng công ty BCVN Nếu thực hiện tốt hoạt động dịch vụ nàynhiều doanh nghiệp trong Tổng công ty sẽ kịp thời khắc phục được tình trạngtrì trệ trong sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường và thu được nhữngkhoản lãi lớn Đây cũng là những tiền đề cho việc Tổng công ty tham gia vàolĩnh vực kinh doanh tài chính tiền tệ sau này, một trong những điều kiện cầnthiết của tập đoàn kinh tế lớn hùng mạnh
1.3.2 Nguyên tắc của hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Trong hoạt động kinh doanh trên thị trường, doanh nghiệp BCVT cungcấp dịch vụ chuyển tiền tuân thủ theo các nguyên tắc sau [10]:
Tuân thủ luật pháp và các thông lệ kinh doanh: Luật pháp là những ràng
buộc của Nhà nước và các cơ quan quản lý vĩ mô đề ra đối với lĩnh vựcchuyển tiền bưu điện mà doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phải tuântheo Các nhà quản trị cần hiểu biết và kinh doanh đứng Luật pháp nếu không
sẽ bị xử lý bằng hành chính và kinh tế Ngoài việc tuân thủ Luật pháp, cáchoạt động dịch vụ chuyển tiền còn cần phù hợp với các thông lệ của xã hội
Trang 26Phải xuất phát từ khách hàng: Trong cơ chế thị trường, kết quả hoạt động
phụ thuộc phần lớn vào khách hàng Doanh nghiệp thực hiện dịch vụ chuyểntiền cần tạo cho mình một lượng khách hàng cần có để tồn tại và phát triển.Nguyên tắc này là căn cứ để hình thành chiến lược Marketing và các nội dungquản lý của doanh nghiệp Nguyên tắc này đồi hỏi các doanh nghiệp cần nắmvững vòng đời của mỗi sản phẩm dịch vụ để luôn đổi mới chiến lược sảnphẩm, thích nghi với thi trường luôn biến đổi
Hiệu quả và hiện thực: Nguyên tắc này đồi hỏi việc quản lý doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ chuyển tiền phải đạt được các mục tiêu đề ra thiết thực và antoàn, thể hiện ở các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra, doanh nghiệp cầnhạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xẩy ra Kinh doanh là mạo hiểm, có rấtnhiều rủi ro ở phía trước, đôi khi những có những thiệt hại có thể dẫn đến phásản doanh nghiệp, đặc biệt là dịch vụ chuyển tiền
Chuyên môn hoá: Đây là nguyên tắc đòi hỏi việc quản lý các đơn vị thực
hiện chuyển tiền phải là những người có chuyên môn, được đào tạo, có kinhnghiệm có tay nghề theo đúng vị trí trong guồng máy của doanh nghiệp Đây
là cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động DVCTBĐ Một mặt nhũngngười hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ chuyển tiền cần nắm vững chuyênmôn nghiệp vụ, mặt khác họ cũng cần phải ý thức được mối quan hệ của họvới các bộ phận khác trong guồng máy của DVBC
Kết hợp hài hoà các lợi ích: Nguyên tắc này đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện
dịch vụ chuyển tiền phải xử lý thoả đáng mối quan hệ biện chứng hữu cơ giữacác lợi ích có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đó làcác lợi ích: (i) Lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp; (ii) lợi ích củangười gửi tiền; (iii) Lợi ích của các bạn hàng, những người cung ứng mộtphần hoặc toàn bộ các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, các đối tác; (iv) lợiích của Nhà nước và xã hội
Trang 271.3.3 Nội dung của hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Thư chuyển tiền: khi gửi tiền, người gửi có thể viết thư trên phiếu chuyển tiền và phiếu được chuyển đến bưu cục trả tiền qua mạng bưu chính Số tiền gửi trên mỗi thư chuyển tiền được quy định mức tối đa tùy theo khả năng chi trả tiền mặt của bưu điện tỉnh trả tiền.
Điện chuyển tiền: khi gửi tiền, người gửi có thể viết thư trên phiếu chuyển tiền và phiếu được chuyển đến bưu cục trả tiền qua mạng viễn thông (điện báo).
Chuyển tiền nhanh (CTN): hỗ trợ quý khách chuyển tiền Việt Nam đến người nhận một cách nhanh chóng, tiện lợi Các ngân phiếu chuyển tiền nhanh được chuyển nhận bằng Fax hoặc mạng truyền số liệu do đó luôn đảm bảo được chỉ tiêu về thời gian và chất lượng tối ưu.
Trả tiền thư chuyển tiền quốc tế (TFP 1): Bưu điện nhận trả tiền từ
một số nước như: Pháp, Bỉ, Mỹ, Nhật, Singapore, Malaysia, Slovakia, latvia, Lào, Trung Quốc, gửi về Việt Nam qua mạng lưới Bưu chính Quốc tế Ngân phiếu TFP1 được chi trả bằng tiền Việt Nam (VN đồng) quy đổi từ số tiền gửi ghi trên phiếu theo tỷ giá quy đổi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố vào thời điểm chi trả.
Các dịch vụ chuyển tiền đặc biệt: Dịch vụ báo trả; Dịch vụ phát nhanh; Dịch vụ nhận và gửi tiền tại nhà; Dịch vụ lưu ký; Yêu cầu rút hoặc thay đổi họ tên địa chỉ người nhận.
Dịch vụ MoneyGram: là hệ thống chuyển tiền bảo đảm khắp thế giới với chất lượng tối ưu Money Gram có trên 22.000 chi nhánh tại 100 quốc gia Với phương thức chuyển tiền bằng điện tử, Quý khách sẽ nhận được tiền của thân nhân từ nước ngoài gửi về một cách nhanh chóng, thuận tiện, an toàn, dễ dàng.
Trang 281.3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Hoạt động DVCTBĐ rất phức tạp do đó không thể dùng một chỉ tiêu đểđánh giá mà cần đưa ra hệ thống các chỉ tiêu, hệ thống chỉ tiêu cần đáp ứngcác yêu cầu: (i) hệ thống chỉ tiêu cần có chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu bộ phận;(ii) hệ thống chỉ tiêu cần đảm bảo tính hệ thống và toàn diện; (iii) hệ thống chỉtiêu phải hình thành trên cơ sở những nguyên tắc chung của hiệu quả và cóthể so sánh được với nhau; (iv) hệ thống chỉ tiêu phải phản ánh được đặc thùcủa doanh nghiệp trong ngành Bưu chính Hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giákết quả dịch vụ chuyển tiền được quy định tại điều 21 “Quy định nghiệp vụchuyển tiền” đã được Tổng công ty BCVN ban hành năm 2005 bao gồm: (i)
Hệ thống kiểm tra đánh giá chất lượng công tác tổ chức thực hiện (công táchoạch định, công tác tổ chức, công tác lãnh đạo điều hành, công tác kiểmsoát); (ii) Hệ thống phân tích đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ (mạnglưới dịch vụ, thời gian dịch vụ, tính thân thiện của dịch vụ, hình thức đối soát,mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật của sản phẩm, quy trình dịch vụ, hình thứctiếp quỹ và điều chuyển quỹ); (iii) Hệ thống thống kê, báo cáo do các đơn vịđịnh kỳ thực hiện [12]
1.4 Mô hình tổ chức và hoạt động dịch vụ chuyển tiền bưu điện trên thế giới và bài học cho Tổng công ty Bưu chính Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm dịch vụ chuyển tiền bưu điện của một số quốc gia
Dịch vụ chuyển tiền bưu điện của Nga (DHL): Nga từ 1/10/2007 đã giới
thiệu một dịch vụ thanh toán hàng gửi có tên gọi “Domestic Transport CollectCash” Khách hàng hiện có thể thanh toán vận tải của mình bằng tiền mặt.Cho tới nay, dịch vụ này chỉ mới dành cho những khách hàng có tài khoản vớiDHL Hiện dịch vụ mới này sẽ chỉ có ở Moscow nhưng trong tương lai gầncông ty sẽ mở rộng ở các thành phố khác thuộc Nga Sử dụng dịch vụ này,hàng gửi trên toàn nước Nga sẽ được chuyển phát vào cuối ngày làm Bêncạnh đó khách hàng có thể sử dụng các giải pháp đóng gói và bảo hiểm của
Trang 29DHL Kể từ giữa tháng 12/2007, công dân của Nga và Pháp có thể trao đổiđiện chuyển tiền điện tử thông qua thoả thuận giữa bưu chính Nga và Ngânhàng bưu chính Pháp (La Post) Theo đó, người dân Nga và Pháp có thể gửithư bằng đường bưu điện thông qua Hệ thống tài chính quốc tế (IFS) vàchuyển thông tin tài chính điện tử an toàn (STEFI) của Liên minh Bưu chínhthế giới (UPU) Điện chuyển tiền sẽ được chuyển phát trong vòng 2 ngày Tối
đa một hoá đơn chuyển tiền là 1,5 ngàn euro Điện chuyển tiền ở Nga sẽ đượcnhận và thanh toán bằng đồng rúp, ở Pháp sẽ là euro Ở Pháp tất cả các bưucục đều cung cấp dịch vụ này, ở Nga là tất cả các bưu cục trừ các bưu cục ởvùng sâu ở nông thôn Mức cước cho các dịch vụ sẽ khoảng từ 2 đến 5% phụthuộc vào hoá đơn chuyển tiền đáp ứng các mức cước hiện thời về chuyển
tiền quốc tế [26].
Dịch vụ chuyển tiền bưu điện của Nhật Bản: Trong một báo cáo mới đây,
của ngân hàng thế giới (WB) cho rằng, hệ thống bưu điện nhiều nước đã cókinh nghiệm cung cấp, quản lý các dịch vụ tài chính trong một thời gian dài,
có nước đến trên 100 năm Tuy mỗi nước có phương pháp cung cấp dịch vụkhác nhau, nhưng hầu hết tại các bưu cục đều cung cấp một số dịch vụ cơ bảnnhư tài khoản, tiết kiệm, chuyển tiền, thanh toán Tại 50 nước đang phát triển,các tổ chức tài chính bưu chính đã tạo điều kiện cho 600 triệu người có cơ hộitiếp cận hệ thống tài chính, với 370 triệu tài khoản tiết kiệm, huy động đượchơn 90 tỷ USD và thực hiện khoảng 3,4 tỷ giao dịch tiền tệ Mặc dù mạnglưới tài chính bưu chính tại một số nước còn hạn chế như: Chất lượng dịch vụchưa cao, hạ tầng chưa phát triển mạnh, chưa được sự quan tâm của chínhphủ, nhưng tài chính bưu chính là cách tiếp cận nguồn tài chính tín dụng tiệnlợi nhất cho người nghèo, nhất là người dân vùng nông thôn, vùng sâu Báocáo cũng cho biết, hiện có khoảng 80 nước trên thế giới đã và đang triển khai
hạ tầng để cung cấp dịch vụ tài chính qua mạng bưu điện Hai điển hình vềthành công là Nhật Bản và Hàn Quốc Ngân hàng bưu điện Nhật Bản hiện là
tổ chức tài chính lớn nhất nước và chi phối mạnh mẽ tới nền kinh tế Nhật, với
Trang 30số vốn sở hữu 3.000 tỷ USD Đi sau Nhật Bản, Hàn Quốc cũng phát triển rấtthành công dịch vụ tài chính bưu điện với nhiều dịch vụ đa dạng và tiện ích.
Tại Nhật, DVCTBĐ thực hiện các dịch vụ như: gửi tiết kiệm, chuyểntiền, tự động thanh toán các chi phí công cộng như tiền điện, tiền ga, tiền điệnthoại, tiền xem truyền hình… và thanh toán thẻ tín dụng Khách hàng có thể
mở tài khoản tại ngân hàng hay bưu điện để sử dụng các dịch vụ như gửitiền v.v cần phải mang theo các loại giấy tờ tùy thân như hộ chiếu, giấychứng minh đăng ký ngoại kiều
Mở tài khoản: Để sử dụng được những loại dịch vụ đó, trước hết cần phải
mở một tài khoản Hãy đến vào giờ làm việc ghi những điều cần thiết vàođơn, đóng dấu rồi nộp đơn Ngân hàng làm việc từ thứ hai đến thứ sáu từ 9hđến 15h, bưu điện làm việc từ thứ hai đến thứ sáu từ 9h đến 16h Khi không
sử dụng, nhất thiết phải đóng cửa tài khoản
Thẻ rút tiền mặt: Khi mở tài khoản thường ở ngân hàng Bưu điện bạn sẽ
được nhận một thẻ rút tiền mặt Khi sử dụng thẻ, bằng số mật mã đã đăng kýtrước bạn có thể lấy ra hoặc gửi tiền vào bằng máy mà không cần phải thôngqua quầy tiếp nhận
Chuyển tiền ra nước ngoài: Có thể chuyển bằng ngân hàng bưu điện Có thể
nhận tiền gửi từ nước ngoài vào cũng như chuyển tiền ra nước ngoài Khi đó,cần phải biết tên ngân hàng, tên chi nhánh, loại tài khoản, số tài khoản, địachỉ, họ tên, số điện thoại của người nhận
Chuyển tiền qua ngân hàng: (i) Gửi bằng chi phiếu (séc)Tại ngân hàng có
thu đổi ngoại tệ, sau khi điền vào tờ (Giấy ủy thác chuyển tiền ra nước ngoài
và giấy thông báo) thì bạn sẽ nhận được tờ chi phiếu, sau đó bạn tự mang đến
bưu điện để gửi Cần phải trả phí làm thủ tục; (ii) Nếu biết tên ngân hàng, tên
tài khoản của người nhận thì điền vào (Giấy ủy thác chuyển tiền ra nướcngoài và giấy thông báo) rồi ủy thác chuyển tiền Phải trả phí làm thủ tục vàphí gửi điện tín Xin chú ý là tùy theo nước mà lệ phí sẽ khác nhau
Trang 31Chuyển tiền qua bưu điện: (i) Chuyển bằng chi phiếu (séc): Sau khi điền
vào (Giấy yêu cầu chuyển tiền quốc tế) bạn sẽ nhận được chi phiếu do bưuđiện làm Phải trả lệ phí làm thủ tục Có thể tự mình đi gửi hoặc nếu gửi bằng
bưu điện, thì phải trả phí bưu điện; (ii) Chuyển tiền từ sổ tài khoản: Tùy theo
quốc gia mà việc chuyển tiền bằng sổ tài khoản có thể được hay không Trongtrường hợp này sau khi điền vào (Giấy yêu cầu chuyển tiền quốc tế) cần phảiđiền vào tờ giấy để chuyển tiền bằng sổ tài khoản ở quầy tiếp nhận số sổ tàikhoản của người nhận Chú ý là tùy theo cơ quan tài chính mà cách thức làmđơn, các loại dịch vụ, từ dùng có khác nhau
Nhà kinh doanh lỗi lạc Masao Ogura - nguyên Tổng Giám đốc công tyvận tải Yamato với biểu tượng con mèo đen nổi tiếng ở Nhật, Masao Ogurađược coi là cha đẻ của dịch vụ chuyển phát nhanh hàng hóa đến tận nhà(takkyubin) hiện rất phổ biến tại Nhật Ông còn được người dân Nhật hết sứckính trọng và yêu mến vì đã dám đấu tranh với công quyền, và dành trọn tàisản của mình lập quĩ phúc lợi dành cho những người khuyết tật Cho đến đầunăm 1971, dịch vụ vận chuyển hàng nhỏ lẻ ở Nhật Bản chỉ được Công tyđường sắt quốc gia cung cấp Muốn nhận, muốn gửi hàng thì người gửi, ngườinhận đều phải đến những ga lớn Đi nhận một giỏ táo gửi từ quê lên cũng pháimất nửa ngày Người gửi cũng chả biết hàng mình sẽ đi trong bao lâu nênkhông dám gửi những đồ dễ hư như thực phẩm tươi…Thái độ phục vụ củanhân viên Công ty đường sắt quốc gia lúc đó cũng rất tệ, không tôn trọngngười tiêu dùng Ngày nay, với dịch vụ chuyển phát nhanh tận nhà, chỉ vớimột cú điện thoại là sẽ có người đến tận nhà lấy hàng và hầu như hàng sẽđược phát gần như trên toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản vào ngày hôm sau Khi gửihàng có thể chỉ định giờ phát hàng Khi vắng nhà không nhận được hàng thìchỉ cần gọi điện thoại là hàng sẽ được đem đến vào giờ yêu cầu
Khi về thăm quê thì gửi quà cáp, hành lý, khi đi đánh gôn, trượt tuyếtthì gửi dụng cụ…và chỉ đi bằng hai tay không Vào các dịp lễ tết cũng có thể
Trang 32gửi đồ trái cây, thịt cá tươi…Khi cần mua CD, sách thì chỉ cần gọi điệnthoại…thì mấy ngày sau sẽ có người mang đến Vào năm 1976, khi dịch vụchuyển phát nhanh tận nhà bắt đầu hoạt động thì số lượng hàng gửi qua Công
ty đường sắt quốc gia là 64.700.000 gói hàng, qua bưu điện là 178.800.000gói thì ngày nay, chỉ riêng Công ty vận tải Yamato đã chuyển mỗi năm trên700.000.000 gói hàng Dịch vụ chuyển phát nhanh tận nhà đã làm cho dịch vụchuyển hàng nhỏ lẻ của Công ty đường sắt quốc gia phải ngưng từ năm 1986.Tuy nhiên, con đường hình thành thị trường dịch vụ này không bằng phẳng
Có thể nói, nếu không có tinh thần dũng cảm và tích cực của Masao Ogura thìthì trường này chưa chắc sôi động như hiện nay Công ty vận tải Yamatothành lập vào năm 1920, là công ty vận tải lâu đời thứ hai của Nhật Bản Lúcnày trên toàn Nhật Bản có tất cả 204 chiếc xe tải và Công ty vận tải Yamatochỉ có 4 chiếc Trong thời kỳ phát triển kinh tế cao độ của Nhật trong thậpniên 50 và 60 của thế kỷ trước, Công ty Yamato đã thua cuộc trong cuộc chạyđua trên dịch vụ vận tải đường dài, cộng thêm cú sốc của cơn khủng hoảngdầu lửa vào năm 1973, qui mô Công ty đã phải giảm từ 5000 người xuống
4000 ngàn người và đối mặt với nguy cơ phá sản Masao Ogura nối tiếp ngườicha lên làm Tổng Giám đốc Công ty vận tải Yamato vào năm 1971 Năm
1974, ông trình đề án dịch vụ chuyển phát nhanh tận nhà lên HĐQT Công ty
và nói rằng chỉ có dịch vụ này mới cứu được công ty khỏi bờ vực phá sản.Chỉ có một thành viên ban quản trị đồng ý, những người còn lại đều phản đối
Ai cũng nghĩ nhận gửi hàng trực tiếp từ các hộ gia đình thì số lượng sẽ khôngbao nhiêu và với giá vài trăm Yên một gói hàng thì không biết bao giờ mới cólời Masao Ogura nói:”Thà đánh một trận thắng thua còn hơn ngồi chờ chết”.Ông nỗ lực thuyết phục HĐQT và thực hiện triển khai dịch vụ Vào ngày đầutiên hoạt động 20 tháng 1 năm 1976, chỉ có 2 gói hàng được gửi Dù vậy,Masao Ogura vẫn quyết tâm triển khai các trạm dịch vụ khắp vùng Kanto.Tình trạng thua lỗ ở các trạm dịch vụ liên tục xảy ra Tuy nhiên, thật kỳ diệu
là qua truyền miệng, rằng “có một dịch vụ gửi hàng mỗi ngày, đến lấy hàng
Trang 33tận nhà chỉ qua một cú điện thoại”, dịch vụ chuyển phát nhanh tận nhà củaCông ty vận tải Yamato ngày càng được nhiều người biết đến Số lượng hànggửi tăng lên nhanh chóng Lúc này, Masao Ogura nói: “Có dịch vụ tốt thì sẽ
có khách hàng, dịch vụ kém thì chẳng bao giờ có lời” Chướng ngại đầu tiêncủa dịch vụ chuyển phát nhanh tận nhà là giấy phép của Bộ Vận tải Để bắtđầu hoạt động dịch vụ ở một địa phương nào đó thì phải xin giấy phép tuyếnđường của Bộ Vận tải Masao Ogura nói: “Đường trên trời đất, ai đi chẳngđược!” và tích cực xin giấy phép chạy các tuyến đường ở các địa phương,nhưng đã gặp rất nhiều khó khăn vì các công ty vận tải địa phương bắt taycùng nhau vận động các chính trị gia gây áp lực Có những tuyến đường màMasao Ogura phải mất 4 năm mới xin được giấy phép Masao Ogura luôndùng cách đường đường chính chính để mở rộng kinh doanh Trước tiên ôngkiên trì thuyết phục các công ty vận tải địa phương bỏ chiến dịch vận độngphản đối Nếu không được thì ông mới yêu cầu cơ quan Nhà nước thẩm tracác công ty đó về thái độ không chấp hành các quyết định hành chính, cănghơn nữa là dẫn đến tố tụng Một khó khăn nữa của Luật Vận tải đường bộ làlập các trạm giao dịch cũng đều phải xin giấy phép Trong khi dịch vụ nàycần một lượng trạm giao dịch vô cùng lớn Giá vận tải tối thiểu theo qui địnhcủa Luật Vận tải đường bộ lúc đó phải tính ở mức “trọng lượng 50kg, cự ly50km” Mức này quá lớn không phù hợp với dịch vụ chuyển phát nhanh tậnnhà Luật Vận tải Đường bộ lúc đó hoàn toàn không áp dụng được cho sảnphẩm mới xuất hiện là dịch vụ chuyển phát nhanh tận nhà này Masao Oguraquyết định đấu tranh đòi sửa Luật Masao Okura nói:”Yamato không có mộtthế lực chính trị nào, cho dù có cũng không sử dụng Con đường chui là conđường bẩn thỉu Phải tấn công từ chính diện” Báo chí đã ủng hộ ông Cuốicùng ông cũng có được định mức giá dành cho dịch vụ chuyển phát nhanh tậnnhà qua nhiều năm đấu tranh với Bộ Vận tải Sau khi Yamato thành công,dịch vụ chuyển hàng lẻ của Công ty đường sắt quốc gia phải ngưng từ năm
1986 Bưu điện cũng bắt chước hình thức dịch vụ này Nhiều công ty mới
Trang 34cũng bắt đầu tham gia vào thị trường như Nitsu với biểu tượng con bồ nông(Pelican), Seino với biểu tượng Kanguru…Yamato đáng lẽ đã xin được giấyphép quyền sở hữu về dịch vụ này nhưng Masao Ogura đã không làm thế.Ông nói là chỉ có cạnh tranh thì thị trường mới phát triển và lớn mạnh lênđược Masao Ogura cũng nhắm vào thị trường Bưu điện, ông nói là nếu đểcho Yamato làm thì Yamato sẽ phát thiệp năm mới với giá 20 Yên một tấm sovới 80 Yên của ngành Bưu điện Tuy nhiên, Luật Bưu điện của Nhật Bản quiđịnh là Công ty vận tải không được vận chuyển các tín thư như thiệp nămmới…Masao Ogura đã từng chủ trương đấu tranh để tham gia vào dịch vụbưu điện để cung cấp cho người tiêu dùng một dịch vụ có giá rẻ và chất lượngcao hơn [26 ]
1.4.2 Kinh nghiệm mô hình tổ chức của Tổng công ty ở một số quốc gia
Theo diễn giải của chuẩn mực kế toán quốc tế ISA (InternationalAccounting Standard), công ty mẹ (Parent company) là một thực thể pháp lý
có ít nhất một đơn vị trực thuộc – công ty con (Subsidiary) Công ty con làthực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ Kiểm soát ở đây được hiểu là:(1) sở hữu trực hoặc gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu; hoặc (2) sở hữu50% số phiếu bầu hoặc ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50% số phiếubầu theo sự thoả thuận với các cổ đông khác; hoặc nắm quyền lãnh đạo, điềuhành liên quan đến các chính sách tài chính hay SXKD của công ty và đượcqui định tại điều lệ, theo sự thoả thuận hay hợp đồng; hoặc có quyền bổ nhiệmhay miễn nhiệm phần lớn các thành viên của HĐQT, ban lãnh đạo; hay cóquyền quyết định, định hướng đến phần lớn số phiếu bầu tại các cuộc họpHĐQT, ban lãnh đạo
Tổng công ty của Anh: Theo Luật công ty của Anh năm 1985, công ty mẹđược hiểu là công ty nắm cổ phần khống chế (trên 50%) công ty khác (công
ty con) Tuy nhiên, theo tu chính năm 1989 để phù hợp với “Hướng dẫn chínhthức lần thứ 7 về Luật công ty” (Seventh Company Law Directive) của Cộng
Trang 35đồng châu Âu (EC) thì (A) là công ty mẹ của công ty con (B) khi: (1) A là cổđông nắm giữ đa số phiếu bầu ở B; (2) A là cổ đông và có quyền bổ nhiệm,miễn nhiệm phần lớn thành viên HĐQT của B; (3) A có quyền quyết định vềchính sách tài chính và SXKD của B bằng sự thoả thuận chính thức, hợpđồng; (4) A là cổ đông của B và có quyền kiểm soát phần lớn phiếu bầu mộtcách độc lập hay liên kết với các cổ đông khác; hoặc (5) A có quyền lợi thamgia điều hành (participating interest – được hiểu là nắm giữ từ 20% cổ phần)
và trên thực tế thực hiện quyền chi phối đối với B hoặc A và B có cùng một
cơ chế quản lý thống nhất Ngoài ra, nếu giữa B và C có quan hệ tương tự như
A và B thì giữa A và C có quan hệ như mô hình (công ty mẹ – công ty con)
Tổng công ty của Nga: Theo Luật công ty của Liên bang Nga năm 1995, một
công ty được gọi là công ty con (tiếng Nga gọi là Dotchernie) nếu do mộtcông ty khác – công ty mẹ (Osnovnoe) nắm giữ cổ phần khống chế trong vốnđiều lệ hoặc bị công ty khác chi phối các quyết định của mình hoặc bằng mộtthoả thuận chính thức hay dưới hình thức nào đó Luật không qui định mộtcách cụ thể thế nào là cổ phần khống chế và không nêu cụ thể hình thức hợpđồng, thoả thuận như thế nào liên quan đến việc chi phối các quyết định củacông ty con
Tổng công ty của Nhật Bản: Tập đoàn Viễn thông Nhật Bản (NTT): Tập
đoàn NTT là một tổ hợp bao gồm một công ty mẹ và nhiều công ty con, công
ty cháu, không hình thành pháp nhân “Tập đoàn NTT”, không có bộ máyquản lý điều hành riêng Công ty mẹ sử dụng bộ máy điều hành của mình đểthực hiện chức năng của công ty mẹ đối với các công ty con và với tập đoàn
Công ty mẹ do Bộ Tài chính nắm 46% vốn và nắm giữ 60-100% vốncủa các công ty con Hiện nay, Tập đoàn có 30 công ty con, với sự góp 60 đến100% vốn của công ty mẹ Công ty cháu là công ty do công ty con nắm giữtrên 50% vốn Về nguyên tắc thì công ty con không được phép đầu tư ngượctrở lại công ty mẹ, công ty cháu không được đầu tư ngược trở lại công ty mẹ
Trang 36và công ty con Chỉ có những loại công ty kể trên mới được coi là thành viêncủa tập đoàn NTT Công ty liên kết là những công ty mà các công ty thànhviên của NTT nắm giữ từ 20% đến 50% vốn Quan hệ giữa các công ty đềuthông qua các hợp đồng, bao gồm các hợp đồng về kinh doanh và đóng gópvào nghiên cứu phát triển.
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Tổng công ty Bưu chính Việt Nam
1.4.5.1 Bài học về mô hình tổ chức
Thông qua một số mô hình tổ chức và hoạt động DVCTBĐ đã nêu trên,
so sánh với tình hình hoạt động của các một số Tổng ty của Việt Nam có thểđưa ra những nhận xét mà Tổng công ty BCVN nên lưu ý đó là: Công bằng
mà nói, một số Tổng công ty Nhà nước trong những năm đầu thành lập đãhoạt động khá tốt và có đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền kinh tếquốc dân Song, những khiếm khuyết nội tại của mô hình này đã bộc lộ ngàycàng rõ, cụ thể như sau:
Thứ nhất, dù là Tổng công ty 90/91 hay là Tổng công ty được thành lập
sau đó thì sự minh bạch về sở hữu vẫn không được tôn trọng Vốn của Tổngcông ty hay của các công ty thành viên vẫn là vốn cả Nhà nước - thuộc sở hữutoàn dân Tổng Giám đốc Tổng công ty, giám đốc các công ty thành viên làchủ tài khoản của số tiền lớn nhưng không phải do chính họ bỏ ra Đây lànguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng tham ô, tham nhũng trong cácDNNN nói chung, trong các Tổng công ty nói riêng xẩy ra ngày càng nhiều,càng nghiêm trọng Chúng ta vô cùng đau xót khi những tiêu cực của cácTổng công ty lớn như Tổng công ty vàng, bạc, đá quí; Tổng công ty dâu tằmtơ; Tổng công ty dầu khí Việt Nam; Tổng công ty hàng hải Việt Nam
Thứ hai, việc gộp các công ty độc lập đang hoạt động để thành lập một
Tổng công ty Đó là sự hình thành Tổng công ty theo phương pháp "cộngdồn" Vì vậy, phần lớn Tổng công ty ở nước ta là đơn ngành và được hìnhthành theo mệnh lệnh hành chính
Trang 37Thứ ba, vai trò của Tổng công ty đối với các công ty thành viên rất mờ
nhạt Bởi lẽ, vốn của Tổng công ty chính là vốn Nhà nước trên sổ kế toán củacác công ty thành viên cộng lại Mỗi công ty thành viên là một pháp nhân độclập Vì vậy, vai trò điều phối vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của Tổng công tychỉ tồn tại trên văn bản Việc hỗ trợ về công nghệ, tạo thị trường tiêu thụ sảnphẩm cho các công ty thành viên của Tổng công ty cũng không đạt được hiệuquả như mong muốn
Thứ tư, Nhà nước đã có khá nhiều văn bản pháp qui dưới luật nhằm
hướng dẫn hoạt động của các Tổng công ty Và để kiểm soát hoạt động của bộmáy điều hành, ở một số Tổng công ty có thêm tổ chức là HĐQT Thực tế chothấy, những văn bản chỉ đạo đã có và ngay cả khi có HĐQT, hiện tượng tham
ô, tham nhũng, gian lận trong kinh doanh vẫn cứ xảy ra Hơn nữa, một hệthống quản lý hành chính, cồng kềnh đã tác động xấu đến hoạt động kinhdoanh ở các công ty thành viên
Tóm lại, trong việc hình thành và quản lý các Tổng công ty, chúng ta đã
sử dụng các biện pháp hành chính, xa lạ với những qui luật khách quan củakinh tế thị trường Vì vậy, phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tếquốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện và nâng cao năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp Việt Nam, tìm ra một phương án khắc phục những yếu kémnội tại của các Tổng công ty Nhà nước là một tất yếu khách quan
Một trong những biện pháp quan trọng đang được thực hiện nhằm cải
tổ hoạt động của các DNNN nói chung và các Tổng công ty nói riêng, làthành lập các tập đoàn kinh tế (có tài liệu còn gọi là tập đoàn DN) Đó là mụctiêu đúng vì để nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNVN, nền kinh tếnước ta phải có những tập đoàn kinh tế mạnh Song, với cách làm như hiệnnay, liệu tập đoàn kinh doanh có phải là một phác đồ hữu hiệu để điều trịnhững căn bệnh trầm kha của các Tổng công ty? Những vấn đề sau đây cần
Trang 38đặt ra để nghiên cứu, giải quyết một cách triệt để nếu không muốn tập đoànkinh doanh chỉ là một cái "bình mới", chứa đựng "chất rượu cũ" mà thôi.
Thứ nhất, về mặt lý luận, cần có những chuyên đề, đề tài nghiên cứu
sâu hơn về tập đoàn kinh doanh và gắn liền với nó là mô hình công ty mẹ công ty con Những vấn đề này không mới ở các nước đang phát triển nhưng
-là hoàn toàn mới ở nước ta Khi chưa hiểu biết một cách đầy đủ và sâu sắc vềtập đoàn kinh doanh và mô hình công ty mẹ - công ty con mà ồ ạt cho ra đờihình thức tổ chức này, chắc chắn sẽ mắc những sai lầm khó khắc phục trongmột tương lai không xa
Thứ hai, từ việc nghiên cứu sự hình thành và hoạt động của một số tập
đoàn kinh doanh lớn trên thế giới, có thể kết luận rằng, tập đoàn kinh doanhkhông thể hình thành thông qua một quyết định hành chính Tập đoàn kinhdoanh không phải là một DN, một pháp nhân mà chỉ là sự liên kết tự nguyệngiữa các DN độc lập với nhau theo những phương thức khác nhau nhằmnhững mục đích nhất định Vì vậy, với một quyết định hành chính chúng tathành lập một tập đoàn kinh doanh, một loạt câu hỏi được đặt ra là: bộ máyquản lý của tập đoàn sẽ như thế nào? Chủ tịch tập đoàn do ai bổ nhiệm? Bộmáy quản lý của tập đoàn sẽ chi phối như thế nào đối với các công ty thànhviên trong tập đoàn? Nếu chúng ta bê nguyên cách quản lý của các Tổng công
ty hiện nay vào tập đoàn thì có nên thành lập tập đoàn kinh doanh hay không?
Thứ ba, gắn liền với tập đoàn kinh doanh là mô hình công ty mẹ - công
ty con Tương tự như việc hình thành tập đoàn, việc một công ty nào đó trongtập đoàn giữ vị trí công ty mẹ cũng không thể hình thành bằng một quyết địnhhành chính Trong các tập đoàn kinh tế lớn ở các nước đang phát triển, công
ty mẹ có vị trí đặc biệt quan trọng Đó phải là công ty có khả năng chi phốiđược hoạt động kinh doanh của các công ty con Điều quan trọng hơn cả làviệc chi phối của công ty mẹ với các công ty con hoàn toàn không thông quacác quyết định hành chính Trước pháp luật công ty mẹ cũng là một pháp
Trang 39nhân độc lập, bình đẳng với các công ty con Tuỳ theo từng tập đoàn, công ty mẹchi phối các công ty con bằng các quan hệ kinh tế, thông qua tỷ lệ vốn góp, quaviệc cho sử dụng thương hiệu hoặc qua việc hỗ trợ về kỹ thuật, công nghệ, thịtrường Vì vậy, ngay trong quyết định chuyển đổi một Tổng công ty nào đó sanghoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, chúng ta chỉ định ngay mộtcông ty mẹ, phải chăng là đã làm ngược lại với quy luật khách quan? Liệu "bàmẹ" được chỉ định bằng văn bản ấy có xứng đáng là mẹ của các "con" trong tậpđoàn hay không?
Thứ tư, tập đoàn kinh doanh phải là một tập hợp đa sở hữu Nếu tập đoàn
kinh doanh được thành lập với một công ty mẹ là DNNN và một loạt công tyTNHH một thành viên là DNNN thì thực chất đó chỉ là sự đổi tên của Tổng công
ty hiện nay mà thôi Vì vậy, dù việc thành lập các tập đoàn kinh tế mạnh, việc cải
tổ các DNNN đang là đòi hỏi cấp bách hiện nay nhưng chúng ta không thể vội vãlàm ngược qui trình.Trước hết cần làm tốt việc cổ phần hoá, việc bán, khoán, chothuê, giải thể các DNNN hiện nay Từ kết quả ấy, các DN sẽ liên kết lại để hìnhthành các tập đoàn kinh tế
Nguyên tắc quan trọng nhất của sự hình thành các tập đoàn kinh tế là sựliên kết tự nguyện Có thể là một liên kết cứng - thông qua những ràng buộc vềvốn, công nghệ Có thể là một liên kết mềm thông qua thoả thuận về sử dụngthương hiệu và khai thác thị trường ở nước ta hiện nay, trong khu vực kinh tế dândoanh đã có không ít tập đoàn kinh doanh đang hoạt động, chẳng hạn tập đoàn PGtại thành phố Hải Phòng; tập đoàn Việt Á; xe máy Sufat Việt Nam, Kinh Đô, HoàPhát v.v Những tập đoàn nêu đã hình thành, đang hoạt động có hiệu quả màkhông cần có bất kỳ một sự can thiệp nào của bộ máy hành chính Nhà nước.Việcthành lập các tập đoàn kinh tế, chuyển các Tổng công ty sang hoạt động theo môhình công ty mẹ - công ty con ở nước ta đang được thực hiện khá ồ ạt Không loạitrừ trường hợp, thông qua các hình thức này để né tránh việc phải cổ phần hoádoanh nghiệp Vì vậy, trước khi quá muộn, cần có sự chuẩn bị kỹ hơn, tránh
Trang 40tình trạng "bình mới, rượu cũ" trong tổ chức doanh nghiệp Chúng ta khiêmtốn học hỏi kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới trong việc xây dựngcác tập đoàn kinh tế, song cũng không thể rập khuôn máy móc theo bất cứ môhình nào; mà cần chủ động, linh hoạt vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của đấtnước; tranh thủ tận dụng những tri thức tiên tiến nhất trong xu thế hội nhập,bảo đảm phát triển nhanh và bền vững theo định hướng XHCN.
1.4.5.2 Bài học về dịch vụ chuyển tiền bưu điện
Dịch vụ chuyển tiền bưu điện là một dịch vụ có nhiều hứa hẹn chongành BCVN Tuy nhiên để có thể phát triển và đứng vững trên thị trường thìcác nhà cung cấp dịch vụ cần chú trọng đến chất lượng của dịch vụ, tính tiệnlợi và dễ dàng cho người sử dụng Việc xác định nhu cầu chính đáng củakhách hàng và tìm mọi biện pháp để có thể thoả mãn nhu cầu của họ cần đượcđầu tư nghiên cứu một cách khoa học Tổng công ty BCVN cần nghiên cứu
để có thể giảm giá thành, cước phí, cũng như xây dựng niềm tin cho kháchhàng Khi đã xác định được mục tiêu cũng như các chiến lược kinh doanhđúng đắn cần phải theo đuổi mục tiêu đến cùng để đạt được kết quả như mongmuốn.Mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ Tiết kiệm bưu điện tới vùng sâuvùng xa DVCTBĐ cần có mặt không chỉ tại các trung tâm Tỉnh, Thành phố
và trung tâm các Quận, Huyện mà còn được cung cấp tại các xã, phườngtrong cả nước Nhằm tăng tính cạnh tranh, giảm giá thành, phí của dịch vụcần hiện đại hoá mạng lưới theo mô hình cơ sở dữ liệu tập trung để quản lýthống nhất hệ thống thông tin, hệ thống dữ liệu khách hàng cũng như quản lýgiao dịch trực tuyến nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng với các dịch vụ ngânhàng bán lẻ hiện đại Nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển đội ngũ nhânviên giao dịch ngày càng chuyên nghiệp cả về trình độ nghiệp vụ và phongcách phục vụ khách hàng, chú trọng chiến lược phát triển nguồn nhân lực.Tổng công ty cũng cần tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và
mở rộng mối quan hệ hợp tác trong việc phát triển các dịch vụ mới