1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam

89 420 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Ngọc Phương
Người hướng dẫn GS. TS. Hoàng Văn Châu
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 10,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam

Trang 2

T R Ư Ơ N G ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN N G À N H KINH DOANH QUỐC TẾ

FOREIGN TIMDE UNIVERSIIY

KHOA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ TÀI:

HỘI NHẬP TRONG LĨNH vực BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : PHẠM THỊ NGỌC PHƯƠNG Lớp : ANH Ì - QTKD

Khoa : K41

Giáo viên hướng dẫn : GS TS HOÀNG VĂN CHÂU

HÀ NỘI, THÁNG 11/2006

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI Đ Ầ U Ì

C H Ư Ơ N G 1: DỊCH vụ BẢO HIỂM Ở VIỆT N A M VỚI H Ộ I NHẬP

KINH T Ế Q U Ố C T Ê 4 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VẾ DỊCH v ụ BẢO HIỂM 4

1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm và dịch vụ bảo hiểm 4

1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ bảo hiểm 7

1.1.3 Vai trò của dịch vụ bảo hiểm 8

1.2 HỘI NHẬP TRONG BẢO HIỂM l i

1.2.2 Những yêu cầu đối với hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam 13

1.3 THỊ T R Ư Ờ N G BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG NHỮNG N Ă M GẦN Đ Â Y 14

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trưọng bảo hiểm Việt Nam 14

1.3.2 Cơ cấu thị trưọng 15

1.3.3 Quy m ô thị trưọng 17

1.4 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH v ụ BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG

NHỮNG N Ă M QUA 19

1.4.1 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 19

1.4.2 Hoạt động bảo hiểm nhân thọ 22

1.4.3 Hoạt động tái bảo hiểm 23

1.4.4 Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm 25

1.4.5 Hoạt động trung gian bảo hiểm 25

C H Ư Ơ N G 2: HỘI NHẬP TRONG LĨNH vực BẢO HIỂM Ở V Ệ T NAM 27

2.1 C ơ HỘI V À T H Á C H THỨC ĐỐI VỚI BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM TRONG

TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP 27

2.1.1 Cơ hội 27 2.1.2 Thách thức 30

2.2 C Á C CAM KẾT VỀ HỘI NHẬP TRONG LĨNH v ự c BẢO HIỂM V À

2.2.1 Cam kết m ở cửa lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam 36

a) Hiệp định khung ASEAN : 36

Trang 4

b) Cam kết với APEC 39

c) Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 40

2.3 ĐÁNH GIÁ VẾ TÌNH HÌNH HỘI NHẬP TRONG LĨNH vực BẢO HIỂM

HỘI NHẬP TRONG LĨNH v ự c BẢO HIỂM Ớ VIỆT NAM 57

3.1 ĐỊNH HƯỚNG VẾ HỘI NHẬP TRONG LĨNH vực BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM 57

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH cực HỘI NHẬP TRONG

LĨNH Vực BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010 62

3.2.1 Về phía Nhà nước 62

a) Hoàn thiện môi trường pháp lý về kinh doanh bảo hiểm và tăng cường

hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm 62

b) Có các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với kinh doanh bảo hiểm 63

c) Tạo sự cạnh tranh phù hợp trên thị trường bảo hiểm 64

3.2.2 Về phía các công ty bảo hiểm 65

a) Phát triển và nâng cao chửt lượng sản phẩm bảo hiểm 65

b) Phát triển các kênh phân phối 66

c) Tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo 68

d) Nâng cao năng lực quản lý và phát triển nguồn nhân lực 70

e) Sử dụng tối đa, có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm 72

f) Nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng vốn kinh doanh 73

3.2.3 Về phía Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam 74

3.3 M Ộ T S Ố K I Ế N NGHỊ, Đ Ề X U Ấ T 75

K Ế T LUẬN 81 TÀI LIỆU T H A M KHẢO 83

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong những năm gần đây, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu

t h ế tất yếu khách quan của quá trình phát triển thế giói Hầu hết các nước đều đang nỗ lực thực hiện các cải tổ về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoa để có thể hoa nhập với thế giới trong bối cảnh xu thế hội nhập đang diừn ra ngày một mạnh mẽ Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng quay đó Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chính sách, định hướng nhầm đưa nước ta từng bước hội nhập trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực bảo hiểm Đặc biệt là thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng như thị trường bảo hiểm

ở các nước trên thế giói đều có mối quan hệ bảo hiểm, tái bảo hiểm với thị trường bảo hiểm quốc tế

Mặc dù ngành bảo hiểm ồ Việt Nam được bắt đầu hình thành từ năm

1965 với sự ra đời của Công ty bảo hiểm Việt Nam (Nay là Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam), nhưng Việt Nam chỉ thực sự có thị trường bảo hiểm từ năm

1994 sau khi Nghị định 100/CP của Chính phủ được ban hành tháng 12 năm

1993 V ớ i sự ra đời của hàng loạt các công ty bảo hiểm, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã trở nên sôi động hơn, đáp ứng được các nhu cầu về bảo hiểm của các tổ chức và cá nhân trong xã hội Tuy nhiên bên cạnh những chuyển biến sâu sắc, thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua cũng còn nhiều hạn chế cần được khắc phục như nhận thức của người dân về bảo hiểm còn thấp, chất lượng của dịch vụ bảo hiểm chưa cao, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước còn yếu kém Vì vậy, việc nhận thức rõ các hạn chế, yếu kém, các thành tựu đã đạt được của thị trường bảo hiểm của Việt Nam cũng như tình hình thực hiện các cam kết quốc tế về bảo hiểm là yêu cầu cấp bách đối vói các nhà hoạch định chính sách cũng như cho các doanh nghiệp bảo hiểm k h i Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11 năm 2006

Trang 6

Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên tôi đã chọn dề tài: "Hội nhập trong

lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam" làm luận văn

2 Mục đích nghiên cứu:

Đ ẻ tài tập trung nghiên cứu thực trạng và tình hình hội nhập của thị trường bảo hiểm Viặt Nam cũng như tình hình thực hiặn các cam kết của Viặt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm, từ đó tìm ra những giải pháp nhằm hạn chế các mặt tiêu cực, phát huy các mặt tích cực, nhằm chủ động và tích cực hội nhập hơn trong lĩnh vực bảo hiểm

3 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đ ố i tượng nghiên cứu: Vấn đề hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Viặt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Dịch vụ bảo hiểm Viặt Nam trong những năm gân đây Tập trang vào tình hình hội nhập, các cơ hội, thách thức m à hội nhập đem lại cũng như thực trạng của thị trường bảo hiểm Viặt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế và tình hình thực hiặn các cam kết của Viặt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biặn chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử với phương pháp logic, phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và hặ thống hoa cũng được sử dụng để thực hiặn mục đích nghiên cứu của luận văn

5 Những đóng góp của Luận văn:

- Hặ thống hoa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ bảo hiểm, vai trò của bảo hiểm đối với nền kinh tế, nêu được tổng quan về thị trường và các dịch vụ bảo hiểm trong những năm gần đây

- Phân tích yêu cẩu hội nhập, cơ hội, thách thức, các cam kết về bảo hiểm Viặt Nam đã ký kết và tình hình hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Viặt Nam

Trang 7

- Đ ề xuất các giải pháp nhằm tích cực, chủ dộng hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam

6 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương:

Chương Ì: Dịch vụ bảo hiểm ở Việt Nam vói hội nhập kinh tế quốc tế Chương 2: H ộ i nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ỏ Việt Nam

Chương 3: M ộ t số giải pháp nhằm tích cực, chù động hội nhập trong

lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam

Đ ể hoàn thành khoa luận này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tại Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Văn Châu và các thầy cô trong khoa Quản Trị Kinh Doanh - Trường Đại học Ngoại Thương đã tận tình giúp đỡ, hưạng dẫn tói Mặc dù đã có cố gắng trong quá trình nghiên cứu song do điều kiện về thòi gian và kiến thức bản thân có hạn nên khoa luận này không thế tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến cho bài khoa luận được hoàn thiện hơn

Xin chăn thành cắm ơn.'

Trang 8

C H Ư Ơ N G Ì DỊCH VỤ BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM VỚI HỘI NHẬP

KINH TÊ QUỐC TẾ 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VẾ DỊCH vụ BẢO HIỂM

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm và dịch vụ bảo hiểm

a) Bảo hiềm

Các loại hình bảo hiểm hiện nay đang được triển khai rộng rãi ở khắp các nước trên thế giới Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm gắn liền với cuộc dấu tranh để sinh tồn của con người trước những nguy cơ rủi ro có thể xảy ra bất kỳ lúc nào gây thiệt hại không những về của cải vửt chất m à còn đến cả tính mạng, sức khoe con người Có thể lấy ví dụ: Rủi ro do tự nhiên gây ra như các hiện tượng bão lụt, động đất, núi lửa; rủi ro do con người gây ra như tai nạn phương tiện giao thông vửn tải, tai nạn lao động; hay rủi ro do môi trường

xã hội như hiện tượng trộm cắp Đ ể đối phó với các nguy cơ rủi ro có thể xảy

ra gây thiệt hại cho con người, dã có nhiều biện pháp được sử dụng Trên quan điểm quản lý rủi ro, các biện pháp này được chia thành hai nhóm:

- Nhóm các biện pháp kiềm soát rủi ro Bao gồm các biện pháp tránh

né rủi ro, ngăn ngừa tổn thất và giảm thiểu tổn thất Trong đó:

Tránh né rủi ro bao gồm các biện pháp nhằm loại trừ hoặc không cho rủi ro có cơ hội xảy ra Chẳng hạn, để tránh né tai nạn giao thông xảy ra, có thể chọn giải pháp không di lại ra ngoài đường nữa Nhưng rõ ràng trong cuộc sống con người không thể chọn phương án tránh né cho mọi rủi ro vì con người còn phải làm việc để duy trì cuộc sống

Ngăn ngừa rủi ro bao gồm các biện pháp nhằm làm giảm mức độ tổn thất

do rủi ro gây nên Chẳng hạn, để đề phòng hoa hoạn xảy ra người ta thực hiện tốt việc phòng cháy, hay thực hiện tốt an toàn lao dộng để giảm tai nạn lao động Giảm thiểu tổn thất bao gồm các biện pháp nhằm giảm giá trị thiệt hại

Trang 9

khi r ủ i ro đã xảy ra Chẳng hạn, để tránh tai nạn giao thông xảy ra gây tổn thương đến não người điều khiển xe cần dội mũ bảo hiểm, hay cần có đủ phương tiện chữa cháy k h i có hoa hoạn xảy ra

- Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro Mặc dù đã thực hiện các biện pháp

kiểm soát rủi ro, nhưng rủi ro là bất ngờ và không lường trước được nên vằn

có thể cứ xảy ra, gây thiệt hại lớn cho con người N h ó m các biện pháp tài trợ rủi ro là bao gồm những biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn về mặt tài chính do rủi ro bất ngờ gây ra, như:

Tự khắc phục rủi ro: là biện pháp m à rất nhiều người áp dụng, đặc biệt ở Việt Nam, hình thức rõ nhất ở các gia đình là tiết kiệm M ỗ i gia đình luôn phải để dành một khoản tiền nhất định nhằm phòng ngừa những lúc bệnh tật,

ốm đau Biện pháp này các công ty cũng rất hay sử dụng, thể hiện ở các quỹ

dự phòng Tuy nhiên biện pháp này cũng chỉ có thể đem lại kết quả tốt nếu tính chất, mức độ nghiêm trọng của rủi ro không quá lớn

Chuyển nhượng rủi ro: là biện pháp san sẻ rủi ro của một số người cho nhiều người khác Những người có thể gặp rủi ro sẽ trả một khoản tiền nhỏ cho người khác theo một kỳ nhất định, bù lại, người kia phải trả cho người gặp rủi ro một khoản tiền lớn trong trường hợp rủi ro xảy ra Đ ó chính là bảo hiểm (BH) Trong thực tế, các biện pháp này tồn tại song song nhau, trong đó bảo hiểm được coi là biện pháp hữu hiệu nhất

Hiện nay, có nhiều nghiên cứu khoa học về bảo hiểm đã đưa ra các khái niệm về BH

Dưới góc độ chuyển giao rủi ro, "bảo hiềm là một cơ chế, theo cơ chế

này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiềm, công ty đó sẽ bồi thường cho người dược bảo hiềm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm" [5]

Dưới góc độ kỹ thuật bảo hiểm, BH được hiểu là "biện pháp chia nhò

Trang 10

tổn thất của một hay một số ít người khi gặp một loại rủi ro dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người cùng có khả năng gặp rủi ro đồ thông qua hoạt động của công ty bảo hiềm" [5]

Các quan niệm trên dù định nghĩa BH theo những cách thức khác nhau những đều thể hiện bản chất của bảo hiểm nói chung đó là sự san sẻ rủi ro trên

cơ sở quy luật số lớn của các cá nhân và tổ chức trong xã hội thông qua hoọt động của các tổ chức bảo hiểm Vậy có thể định nghĩa bảo hiểm như sau:

"Bảo hiệm " là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiếm đối với người được bảo hiệm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiềm do một rủi ro

đã thoa thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiềm đã thuê bảo hiềm cho đối tượng bảo hiệm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiệm [3]

Người mua - khách hàng là những cá nhân hay tổ chức có tài sản, trách

nhiệm dân sự trước pháp luật, tính mọng hoặc thân thể có thể gặp rủi ro cẩn bảo hiểm thì mua các dịch vụ (sản phẩm) bảo hiểm hoặc trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức trung gian Khách hàng bao gồm khách hàng hiện tọi và khách hàng tiềm năng của một loọi sản phẩm Khách hàng hiện tọi là khách hàng đang tham gia quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó, khách hàng tiềm năng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm

đó trong tương lai Khách hàng tiềm năng phải thoa mãn các điều kiện:

- Có nhu cầu về sản phẩm

- Có khả năng tài chính

- Là đối tượng thoa mãn các điểu kiện của sản phẩm

Trang 11

- Người bán có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với họ

Người bán là các công ty bảo hiểm kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm

Theo tính chất sở hữu, công ty bảo hiểm có thể chia ra doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp liên doanh ; theo quy m ô tổ chức,

có thể chia ra tổng công ty, công ty Các công ty bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm trực tiếp cho khách hàng hoặc thông qua các tổ chức trung gian

Tổ chức trung gian là cẩu nối giữa người mua với người bán Tổ chức

trung gian gủm các công ty (hoặc hãng) môi giới và đại lý bảo hiểm Công ty (hoặc hãng) môi giới và đại lý bảo hiểm có đặc trưng về tổ chức và chức năng khác nhau

Theo định nghĩa của ISO 9004 - 2 1991E thì "Dịch vụ là kết quả mang lại

nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ".[7]

Vậy, qua những phân tích như trên, có thể hiểu dịch vụ bảo hiểm như

sau: "Dịch vụ bảo hiểm là tất cả những dịch vụ, những sản phẩm m à người

bán bảo hiểm cung cấp cho người mua bảo hiểm"

1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ bảo hiểm

Vói bản chất của mình, sản phẩm bảo hiểm không chỉ giống như các sản phẩm của các ngành dịch vụ khác là sản phẩm võ hình, không có hình dáng, trọng lượng m à còn có những đặc điểm khác Có thể tóm tắt đặc điểm của sản phẩm dịch vụ bảo hiểm như sau:

- Là sản phẩm không định hình Tại thời điểm bán, sản phẩm m à doanh

nghiệp bảo hiểm cung cấp ra thị trường chỉ là lời hứa, lời cam kết trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Người bán không chỉ ra được màu sắc, kích thước hay hình dạng của sản phẩm, và người mua cũng không cảm nhận được bằng giác quan của mình như cầm nắm, sờ mó, ngửi hay nếm thử K h i chấp mua tức người mua buộc phải tin lời hứa của doanh nghiệp bảo hiểm Đặc trưng này của sản phẩm bảo hiểm là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến các chiến lược bán hàng của các doanh nghiệp bảo hiểm

Trang 12

- Là sản phẩm có hiệu quả "xê dịch" K h i mua sản phẩm, người mua

không nhận được lợi ích tức thì của sản phẩm, từ lúc mua sản phẩm đến lúc biết giá trị sử dụng của nó là một khoảng thời gian dài Ngoài ra, người mua chỉ được hưòng giá trị sử dụng của sản phẩm bảo hiểm là được bồi thường khi không may gặp rủi ro Còn nếu may mựn không gặp rủi ro, người mua sẽ không được hưởng quyền lợi đó

- Là sản phẩm "không mong đợi" Bởi vì khi mua bảo hiểm, mục đích

của khách hàng chỉ là đề phòng nếu chẳng may có rủi ro xảy ra và thực sự không ai muốn rủi ro xảy ra với mình Không một người bình thường nào lại mong đợi gặp rủi ro xảy ra với mình để được bảo hiểm bồi thường

- Là sẩn phẩm của "chu kỳ kinh doanh đảo ngược" Điều này thể hiện ở

việc các doanh nghiệp không phải bỏ vốn như các doanh nghiệp sản xuất để mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và các chi phí đầu vào khác để sản xuất

ra hàng hoa bán, m à doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước từ người tham gia bảo hiểm, sau đó mới sử dụng tiền thu phí này để thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

- Là sản phẩm dễ bắt chước M ộ t hợp đồng bảo hiểm dù là bản gốc

cũng không được cấp bằng phát minh sáng chế và bảo hộ bản quyền, v ề lý thuyết, mọi doanh nghiệp bảo hiểm đều có thể bán một cách hợp pháp những hợp đồng là bản sao chép của đối thủ cạnh tranh, ngoại trừ tên và các tờ tuyên truyền quảng cáo Đặc trưng này của sản phẩm bảo hiểm ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược của doanh nghiệp bảo hiểm khi muốn làm khác biệt sản phẩm của mình với các đối thủ cạnh tranh khác

1.1.3 V a i trò của dịch vụ bảo hiểm

- Đóng góp vào sự ổn định kình tế— xã hội

Các loại hình bảo hiểm hiện nay dang được triển khai rộng rãi ở khấp các nước trên thế giới Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm gựn liền với cuộc đấu tranh để sinh tồn của con người trước những nguy cơ rủi ro có thể xảy ra

Trang 13

bất kỳ lúc nào gây thiệt hại không những về của cải vật chất m à còn đến cả tính mạng, sức khoe con nguôi Có thể thấy, là một công cụ nhằm đối phó với những rủi ro bất ngờ xảy ra cả về tài chính, tính mạng, của cải bảo hiểm có vai trò to lớn đối với không chị với cá nhân tổ chức m à còn với cả nền kinh tế nói chung:

+ Bảo hiểm góp phần ổn định đời sống kinh tế, từ đó ổn định về mặt tinh thẩn cho các cá nhân và tổ chức trong xã hội khi không may gặp phải rủi

ro Điều đó được dựa trẽn cơ sở bảo hiểm bù đắp những thiệt hại tài chính do rủi ro gây ra Đặc biệt, khi tổn thất xảy ra có mức độ và quy m ô lớn, ý nghĩa của bảo hiểm lại càng được nhân lên gấp nhiều lần

+ Bảo hiểm góp phẩn làm giảm "tổng rủi r o " của xã hội, đảm bảo cho

xã hội có một quỹ tàichính đủ lớn và chủ động đối phó vói rủi ro Rủi ro là ngẫu nhiên và bất ngờ Với mỗi cá nhân hay tổ chức thật khó có thể xác định được rủi ro có xảy ra với họ hay không và mức độ thiệt hại là như thế nào Do

đó họ khó có thể chủ động có kế hoạch tài chính để đối phó đầy đủ với thiệt hại do rủi ro gây ra Tuy nhiên với số đông người tham gia bảo hiểm, xác suất rủi ro có thể tính được tương đối chính xác trên cơ sở quy luật số lớn Từ đó một kế hoạch tài chính thông qua thu phí bảo hiểm để bù đắp thiệt hại do rủi

ro gây ra là có thể thực hiện được, bảo đảm cho xã hội chủ động đối phó với những hậu quả của rủi ro

- Bảo hiểm huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Bảo hiểm là một kênh cung cấp vốn đáng kể cho nền kinh tế Điều này xuất phát từ bản chất của bảo hiểm đặc biệt là bảo hiểm thương mại là một dịch vụ tài chính Do có "sự đảo ngược của chu kỳ kinh doanh", các công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước, nhưng sau đó (có thể sau vài ngày, vài tuần, vài tháng, vài năm hoặc thậm chí vài chục năm) mới phải sử dụng tiền này để bồi thường Chính vì vậy xét trên khía cạnh kinh tế, chắc chắn các công ty bảo hiểm cần đầu tư trở lại nền kinh tế tiền phí bảo hiểm này để thu lời Do bảo hiểm tuân theo quy luật số lớn, phải có số đông người tham gia bảo hiểm nên

Trang 14

quỹ tài chính huy động từ phí bảo hiểm của các công ty bảo hiểm là rất lớn, trong thực tế chỉ sau các Ngân hàng thương mại

- Đẩy mạnh tín dụng:

Hiện nay, bảo hiểm đang là một biện pháp hữu hiệu được các tổ chức tín dầng kết hợp sử dầng dối vói những tài sản được cầm cố, thế chấp nhằm đảm bảo sự an toàn cho các khoản vay Các cá nhân, tổ chức đi vay bắt buộc phải mua bảo hiểm cho các tài sản dem cầm cố, thế chấp với giá trị hợp đồng tương đương với khoản vay Các loại hình bảo hiểm phải phù hợp với đặc điểm của từng loại tài sản và đảm bảo người hưởng lợi là các tổ chức tín dầng Trong trường hợp có rủi ro xảy ra đối với tài sản thế chấp, cầm cố trong thời gian vay thì Gác tổ chức tín dầng vẫn có thể thu hồi nợ từ tiền bồi thường của các công

ty bảo hiểm N h ư vậy, với việc tham gia của bảo hiểm, các tổ chức tín dầng cũng yên tâm hơn trong việc tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân vay vốn thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh toàn xã hội

- Tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoa:

Bảo hiểm tạo điều kiện gần như tốt nhất cho sản xuất thông qua việc ổn định giá cả và cấu trúc giá Những thiệt hại tài chính do rủi ro bất ngờ gây ra chắc chắn sẽ đẩy chi phí của doanh nghiệp lên K h i đó nếu tăng giá lên để giữ nguyên lợi nhuận doanh nghiệp sẽ mất vị thế cạnh tranh về giá Ngược lại nếu giữ nguyên giá để cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ mất đi một phần lợi nhuận Tác động này sẽ rất lớn nếu giá trị thiệt hại là lớn Trong trường hợp này rõ ràng bảo hiểm là "tấm lá chắn" rất tốt cho các doanh nghiệp Đ ố i với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, điều này càng có ý nghĩa lớn lao vì vốn của họ thường là hạn chế, dễ bị các doanh nghiệp lớn chèn ép về giá

- Giải quyết công ăn việc làm cho xã hội

M ộ t đóng góp nổi bật của ngành bảo hiểm cho nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây là việc giải quyết công ăn việc làm cho xã hội, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, gián tiếp nâng cao đời sống cho nhân dân

Trang 15

Trước năm 1993 số lượng lao động trong ngành bảo hiểm chỉ có 1000 cán

bộ nhân viên, đến năm 2002 con số đó đã lên đến 76.600 người và đến năm

2005 là 143.540 người X u hướng ngày càng đa dạng hoa sản phẩm, mở rộng quy mô, phạm v i hoạt động của thị trường bảo hiểm đang cần một lượng cán

bộ nhân viên lớn có trình độ nghiệp vụ, năng động Đây chính là cơ hội lớn cho nhồng sinh viên mới ra trường học hỏi và hướng nghiệp, đồng thời cũng là hướng giải quyết vấn đề hàng ngàn sinh viên ra trường mỗi năm có nhu cầu tìm việc [16][18][19]

Ngoài ra, còn có thể kể tới rất nhiều vai trò khác của bảo hiểm như góp phần tăng cường mối quan hệ kinh tế đối ngoại giồa các nước, tăng GDP, góp phân ổn định trật tự an toàn xã hội

1.2 HỘI NHẬP TRONG BẢO HIỂM

1.2.1 Hội nhập kinh tế

X u t h ế hội nhập, hợp tác phát triển dang là xu thế tất yếu của các nền kinh tế trên t h ế giới hiện nay Các nước đều ưu tiên cho việc phát triển, mở cửa nền kinh tế, gia nhập các tổ chức quốc tế bởi sự gắn bó, hợp tác, học hỏi lãn nhau, tuy thuộc lẫn nhau là động lực cho sự phát triển nền kinh tế trong quá trình hội nhập Đ ạ i diện cho xu thế này là sự ra đời của hiệp định chung

vẻ thuế quan và thương mại (GATT) năm 1948 và sau đó đã được đổi thành tổ chức thương mại thế giới W T O kể từ ngày 01/01/1995 W T O điều tiết không chỉ thương mại hàng hoa m à còn cả thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hồu trí tuệ V ớ i 150 thành viên và 29 thành viên đang đàm phán gia nhập, chiếm trên

9 0 % tổng k i m ngạch thương mại thế giới, WTO trở thành một tổ chức có quy

m ô toàn cầu, là diễn đàn thường trực đàm phán thương mại và là thể chế giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế [23][28]

Nhận thức rõ được vai trò và tác động của quá trình hội nhập đối với nền k i n h tế nước nhà, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhồng chính sách, định hướng đúng đắn Đ ạ i hội Đảng lần thứ vn đã chủ trương đa phương hoa, đa

Trang 16

dạng hoa quan hệ đối ngoại, đánh dấu bước khởi đầu cho tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Thực hiện dường l ố i đó, trong suốt thời gian vừa qua, nước ta đã đạt quan hệ ngoại giao với nhiều nước, khai thông quan hệ với các

tổ chức tài chính, tiền tệ như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triọn Châu Á (ADB), Ngân hàng thế giói (WB) Đại hội Đảng V U I tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình hội nhập kinh tế và quyết định: "Củng cố môi trường hoa bình và tạo điọu kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa đọ đẩy mạnh phát triọn kinh tế xã hội, công nghiệp hoa và hiện đại hoa đất nước; đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế khu vực và thí g i ớ i " [14]

Theo dó, cũng như các nước trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta đang từng bước thực hiện quá trình mở cửa kinh tế cả về thương mại hàng hoa, thương mại dịch vụ và đẩu tư về địch vụ, mỗi nước phải chấp nhận đọ các nước thành viên cung ứng dịch vụ cho pháp nhân và thọ nhân nước mình theo các phương thức:

- Cung ứng qua biên giới: Các thương nhân kinh doanh dịch vụ đăng ký kinh doanh dịch vụ ở một nước thành viên có quyền cung ứng dịch vụ cho các pháp nhân và thọ nhân của các thành viên khác m à không cần lập hiện diện thương mại tại các thành viên đó

- Tiêu dùng lãnh thổ: Theo điều kiện này, mỗi nước thành viên phải đọ cho pháp nhân và thọ nhân nước mình được sử dụng dịch vụ do các thương nhân của các nước thành viên khác cung ứng ở ngoài lãnh thổ nước mình

- Hiện diện thương mại: M ỗ i nước thành viên phải đọ cho thương nhãn cung ứng dịch vụ của các nước thành viên khác lập công ty, chi nhánh tại nước mình đọ kinh doanh

- Hiện diện thọ nhân: cho phép công dân các nước thành viên vào hoạt động dịch vụ tại nước mình

Hiệp định chung về thương mại trong lĩnh vực dịch vụ (GATS) cũng là một trong những điều Việt Nam cần thực hiện k h i chính thức trở thành thành viên của WTO trong tháng 11 tới Hiệp định này hướng tới tự do hoa thương mại

Trang 17

giữa các nước thành viên, có nghĩa là cung cấp các cơ hội dễ dàng hơn cho các công ty ở các nước thành viên thông qua việc giảm các hàng rào thương mại Tuy nhiên, việc mỏ cửa nền kinh tế, tự do hoa các ngành dịch vụ cũng cân phải tiến hành cẩn thận, chẫt lọc nhằm vẫn đảm bảo sự ổn định của kinh tế

xã hội m à vẫn đảm bảo tiến trình hội nhập và không đi ngược lại các cam kết của Việt Nam với các tổ chức quốc tế

1.2.2 Những yêu cầu đối với hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam

Bảo hiểm là một trong nhũng lĩnh vực quan trọng của dịch vụ tài chính trong nước Vì vậy, hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm cũng phải tuân theo 4 phương thức trên đồng thời phải tuân thủ các nguyên tẫc:

- Không phân biệt đối xử: có 2 nguyên tẫc không phân biệt đối xử:

+ Nguyên tẫc đối xử tối huệ quốc (MEN): nguyên tẫc này có nghĩa là không phân biệt đối xử giữa hàng hoa, doanh nghiệp nước này với hàng hoa, doanh nghiệp nước khác về các chính sách thuế, giá hàng hoa và các biện pháp tiếp cận thị trưởng

+ Nguyên tẫc đối xử quốc gia (NT): theo nguyên tẫc này, không phân biệt đối xử giữa hàng hoa, doanh nghiệp nước mình với hàng hoa, doanh nghiệp nước khác

- Thực hiện minh bạch, công khai trong cơ chế chính sách, tạo điểu kiện bình dẳng trong hoạt động kinh doanh

- Thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: Nguyên tẫc này được quy định trong Hiệp định các vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS)

- Tuân thủ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và sự phán xử của cơ quan tài phán quốc tế do tổ chức này thiết lập

Nhũng nguyên tẫc và phương thức như trên cùng với tiến độ khẩn trương của việc gia nhập WTO đang đòi hỏi dịch vụ bảo hiểm cần phải hội nhập hơn nữa trong thời gian tới

T ó m lại, hội nhập hiện đang là yêu cầu cấp bách không chỉ đối với lĩnh vực bảo hiểm m à còn của các ngành kinh tế khác trong nước, điều này đạt ra cho

Trang 18

các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam phải có chiên lược, định hướng, xác định được cơ hội và thách thức nhằm chủ động hơn nữa trong tiến trình hội nhập

1.3 THỊ T R Ư Ờ N G BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG NHŨNG N Á M G Ầ N Đ Â Y 1.3.1 Q u á trình hình thành và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam

Thị trường bảo hiểm Việt Nam so với thị trường bảo hiểm thế giới còn rất non trẻ Trưóc năm 1975, trên thị trường bảo hiểm chỉ có một sồ ít doanh nghiệp bảo hiểm và phạm vi hoạt động rất nhỏ Đến khi Công ty Bảo hiểm Việt Nam ra đời ngày 15/01/1965 theo quyết định thành lập sồ 179/CP ngày 17/12/1964 của Hội đồng Chính phù thì thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu phát triển Có thể nói lịch sử phát triển của Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) gắn liền với lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam

Trong những năm đẩu hoạt động, Bảo Việt có trụ sở chính tại H à N ộ i và chỉ có OI chi nhánh ở Hải Phòng và hoạt động chỉ trong 2 loại nghiệp vụ bảo hiểm là bảo hiểm tàu biển và bảo hiểm hàng hoa vận chuyển đường biển Sau năm 1975, đất nước thồng nhất, Bảo Việt dẩn dần mở rộng các chi nhánh ra khắp các tỉnh thành trong cả nước đồng thời mở rộng các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ như bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người Thòi điểm dó, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có Bảo Việt là chính thức dược chính phủ thành lập V ớ i cảnh "một mình một chợ" Bảo Việt thực sự trở thành người cung cấp sản phẩm bảo hiểm duy nhất trên thị trường Chỉ đến khi nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm được ban hành năm 1993 với chính sách mở cửa và cải cách kinh tế đã tạo ra bước ngoặt lớn trong thị trường bảo hiểm Việt Nam N ă m 1994 là năm bắt đầu có nhiều sự thay đổi trong Bảo Việt và là bước khởi sắc của thị trường bảo hiểm Việt Nam Trước tiên là sự ra đời của Công ty Bảo hiểm thành phồ H ổ Chí Minh (Bảo Minh), trước là một thành viên của Bảo Việt tách ra, rồi đến việc thành lập Công ty tái bảo hiểm quồc gia (Vinare) từ một sồ nhân viên của Bảo Việt Đ ế n năm 1995, Bảo Việt cũng bắt đầu liên doanh liên kết với các công

Trang 19

ty trong và ngoài nước thành lập Công ty cổ phẩn bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long), Công ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế VÍA N ă m 1996, Công ty bảo hiểm nhân thọ thuộc Bảo Việt ra đời đã đem lại những hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trong lủch sử bảo hiểm Việt Nam, đổng thời m ở ra một trang mới cho thủ trường bảo hiểm nhân thọ của Việt Nam[l8]

Có thể thấy, nghủ đủnh 100/ CP ra đời đã phá vỡ thế độc quyền của Bảo Việt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác, hình thành sự cạnh tranh trên thủ trường và thúc đẩy thủ trường bảo hiểm phát triển Từ năm 2003 đến nay, thủ trường bảo hiểm Việt Nam liên tục có những biến động lớn với sự sắp xếp

và chuyển đổi của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước:

i Bảo Việt được tổ chức lại theo m ô hình tập đoàn kinh doanh với các đem

vủ thành viên hạch toán độc lập Bảo hiểm Việt Nam chuyên kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam chuyên kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Đặc biệt, trước triển vọng của sự hình thành thủ trường vốn, thủ trường chứng khoán tại Việt Nam, năm 1999 Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt - cóng ty chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam đã ra đời

li M ộ t số doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm nhà nước được chuyển đổi thành công ty cổ phần như Tổng Công ty cổ phần Bảo Minh

i i i M ộ t số cấc công ty cổ phần bảo hiểm và môi giới bảo hiểm được thành lập như Công ty T N H H A O N Việt Nam, Công ty cổ phân môi giới bảo hiểm Việt Quốc, Công ty T N H H môi giới bảo hiểm GRAS SAVOYE Việt Nam

1.3.2 C ơ cấu thị trường

Sau hơn 10 năm đổi mới, cùng với chính sách mở cửa của Đảng, đời sống nhân dân ta đã được cải thiện đáng kể Thủ trường bảo hiểm Việt Nam đã phát triển vượt bậc cả về quy m ô và cơ cấu thủ trường Tính đến năm 2005, trên thủ trường đã có 32 doanh nghiệp thuộc m ọ i thành phần kinh tế tham gia hoạt động bảo hiểm bao gồm 11 doanh nghiệp cổ phần, 3 doanh nghiệp nhà nước, 6 doanh nghiệp liên doanh, và 12 doanh nghiệp có vốn 1 0 0 % vốn đấu tư nước ngoài với tổng số vốn điều lệ lên đến 4.608 tỷ đồng và 108,095 triệu

Trang 20

USD Trong khi đó, năm 2004, số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 8 công ty, 7 công ty cổ phần, 6 doanh nghiệp liên doanh, và 5 doanh nghiệp nhà nước Ta có thể so sánh sự biến đổi về cơ cấu thị trường qua 2 năm 2004, 2005 theo bảng Ì và bảng 2 (hình dưới)

Qua 2 bảng, ta có thể nhận ra có sự chuyển đổi về cơ cấu, số lượng giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phân, và sự tăng lên đáng kể của các doanh nghiệp có 1 0 0 % vốn đầu tư nước ngoài

Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp năm 2004

Loại hình Nhà Cổ Liên 100% vốn Tổng doanh nghiệp nước phần doanh nước ngoài cộng

(Nguồn: 'Thị trường bảo hiềm Việt Nam năm 2004 "

-nhà xuất bản tài chính Hà Nội - 2005, trang 7)

Bảng 2: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp nám 2005

Loại hình doanh Nhà Cổ Liên 100% vón Tổng nghiệp nước phần doanh nước ngoài cộng

(Nguồn: 'Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2005 "

-nhả xuất bẩn tài chính Hà Nội - 2006, trang 6)

các tổ chức bảo hiểm nước ngoài, chưa tính đến những doanh nghiệp bảo hiểm

Trang 21

nước ngoài đã được cấp giấy phép thành lập nhân chuyến thăm M ỹ của thủ

tướng Việt Nam Sự góp mặt cùa các doanh nghiệp nước ngoài đã góp phần

cải thiện môi trường đầu tư, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, và nhờ đó làm tăng

lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi có ý định đầu tư vào Việt Nam

1.3.3 Quy m ô thị trường

Bên cạnh sự chuyển dịch về cơ cấu, thị trường bảo hiểm Việt Nam trong

mấy năm gần đây tiếp tục duy trì tỷc độ tăng trưởng cao Tỷ trọng doanh thu

của ngành bảo hiểm trên GDP tăng mạnh, đặc biệt trong giai đoạn từ 1993

-2004 N ă m 1993, tỷ trọng doanh thu ngành bảo hiểm trên GDP từ chỗ chỉ

chiếm 0,37% đã tăng lên 2 % vào năm 2004 ước đạt 14.232 tỷ đồng, và năm

2005 đã tăng lên 2,03% ước đạt 15.678 tỷ đồng [19]

Trong đó phải kể đến sự tăng trưởng mạnh của doanh thu phí báo hiểm- yếu

tỷ phản ánh quy m ô của thị trường bảo hiểm Tăng trưởng bình quân doanh thu phí

bảo hiểm giai đoạn 1993 - 2004 đạt từ 29 - 30%/năm, tỷc độ tăng trưởng của bảo

hiểm nhân thọ đạt tới 5 0 % và tỷc độ tăng trưởng của bảo hiểm phi nhân thọ đạt

45% Nếu như trong năm 1993 tổng doanh thu phí bảo hiểm chỉ đạt 700 tỷ đồng,

năm 1999 đạt 1.264 tỷ đồng, năm 2002 đã tăng lên 6.992 tỷ đổng thì đến năm

2004 tổng doanh thu phí bảo hiểm đã đạt con sỷ 12.400 tỷ đồng (tăng 17.7 lần so

với năm 1993) và đến năm 2005 là 13.588 tỷ đồng (tăng 19.4 lẩn) (biểu đồ 1)

Biểu đồ 1: Doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn năm 1993- 2005

Nguồn : Theo số liệu Thị trường bảo hiếm Việt Nam năm 2004, 2005 4

-NXB tài chinh năm 2005, 2006 ệ¥L0JỊÍ>ý

Trang 22

Một đặc điểm của quy m ô thị trường bảo hiểm Việt Nam bên cạnh việc tăng trưởng nhanh doanh thu phí bảo hiểm là sự thay đổi liên tục của thị phần các công ty

Cùng với sự thành lập của nhiều công ty bảo hiểm cổ phần, công ty bảo hiểm liên doanh, công ty bảo hiểm có 1 0 0 % vắn đẩu tư nước ngoài, sự cạnh tranh giữa các còng ty kinh doanh bảo hiểm trên thị trường ngày càng gay gắt Chính vì vậy, thị phần của các công ty luôn có sự biến chuyển về vị trí và phần trăm thị phần Các doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục được củng cắ, luôn chiếm thị phần cao nhất trên thị trường và có xu hướng ngày càng tăng Nếu như trong năm 2003 thị phẩn các doanh nghiệp nhà nước trên toàn thị trường

là 55,29%, thì đến năm 2004 là 60,21% N ă m 2005 thị phần của các doanh nghiệp trong nước là 61,12% trong đó thị phần của các doanh nghiệp phi nhân thọ là 94,63% và thị phần của các doanh nghiệp nhân thọ là 38,01%

Biểu đô 2: Thị phẩn theo khối doanh nghiệp năm 2004

• CTCP

• DN có vốn đầu tư nước ngoài

• DNNN

Trang 23

Biểu đồ 3: Thị phần theo khối doanh nghiệp năm 2004,2005

Nguồn : Theo số liệu Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2004, 2005

-1.4 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH vụ BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG NHŨNG N Ă M QUA

Hiện nay, hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam có thể phân ra thành 5 loại: hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ, tái bảo hiểm, hoạt động đầu tư và hoạt động trung gian bảo hiểm Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, các hoạt động kinh doanh trẽn thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng rất sôi động và đã đạt được những kết quả đáng kể

1.4.1 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là thị trường có số lượng công ty nhiều nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Tính đến cuối năm 2004, cả nước đã có tới 14 Công ty bảo hiểm phi nhân thọ Trong đó có 7 cóng ty có vốn đầu tư nước

Nhà nước Ngoài ra, trên thị trường còn có sự tham gia của 30 vãn phòng đại diện trường đầu tư và tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi đến làm ăn tại

NXB tài chính năm 2005,2006

Trang 24

được thành lập dó là công ty A A A nâng tổng số Công ty bảo hiểm phi nhân thọ lên 16 công ty, trong đó có 8 công ty trong nước và 8 công ty có vốn đầu tư nước ngoài (bảng 3) N h ư vậy, đến nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có mặt đầy đủ các thành phần kinh tế: Nhà nước, cổ phần và vốn dầu tư nước ngoài, hình thành thị trường bảo hiểm với đầy đủ các yếu tố cấu thành thông qua đa dạng hoa các hình thỷc sở hữu doanh nghiệp

Bảng 3: Các DNBH phi nhân thọ Việt Nam

N ă m thành lập

Hình thỷc

Vốn điều lệ

4 Công ty cổ phần bảo hiểm

Petroliínex(PJICO)

1995 Cổ phần 70 tỷ đổng

5 Công ty CP BH Nhà Rồng (Bảo Long) 1995 Cổ phần 70 tỷ đồng

9 Công ty liên doanh BH quốc tế Việt Nam(VIA) 1996 Liên doanh 6,2 triệu USD

10 Công ty Mên doanh BH liên hiệp (me) 1997 Liên doanh 6 triệu USD

Công ty BH tổng hợp Groupama Việt Nam 2001 đầu tưNN 100%vốn 6,2 triệu USD

14 Công ty liên doanh TNHH BH Samsung - Vina 2002 Liên doanh 5 triệu USD

15 Công ty TNHH BH Châu á-Ngân hàng Công

thươngOAD

2002 Liên doanh 6 triệu USD

16 Công ty TNHH BH phi nhân thọ AIG (Việt Nam) 2005 100%vốn

đẩutưNN

l ũ triệu USD

Nguồn: Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2005 - NXB Tài chính 2006

Trang 25

N ă m 2005, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 5.535 tỷ đồng tăng trưởng 1 6 , 1 % so với năm 2004 (đạt 4.764 tỷ đồng) Trong đó, các doanh nghiệp trong nước chiếm 94,63% thị phần, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 5,37% (biểu đổ 4)

Biểu đồ 4: Thị phần doanh thu phí của từng doanh nghiệp

Trang 26

Nhìn hai biểu đổ trên, ta có thể thấy thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam Trong 8 Công ty trong nước, Công

ty Bảo hiểm Việt Nam, Tổng Công ty Bảo Minh là những công ty có hoạt động thâm niên trên thị trường và cũng là các công ty chiếm thị phần doanh thu phí bảo hiểm cao nhất

Cơ cấu nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm 11 nghiệp vụ tỏp trung vào 3 loại bảo hiểm là: bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự Cụ thể là [8]

- Sức khỏe và tai nạn con người

- Tài sản và thiệt hại

1.4.2 Hoạt động bảo hiểm nhân thọ

Nếu như thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là thị trường thống lĩnh bởi các doanh nghiệp V i ệ t Nam thì thị trường bảo hiểm nhân thọ lại là thị

Trang 27

trường của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hiện nay, chỉ có Ì doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trong nước là Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam và có đến 7 công ty có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh hoặc có 1 0 0 % vốn nước ngoài Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đẩu tư nước ngoài có năng lực tài chính khá mạnh cũng như chuyên nghiệp hơn trong việc tiếp cận và phát triển thổ trường Đây thực sự là một thách thức đối với Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam nói riêng và các doanh nghiệp bảo hiểm V i ệ t Nam có ý đổnh hoạt động kinh doanh trên thổ trường bảo hiểm nhân thọ tại V i ệ t Nam nói chung Tuy nhiên, với sự góp mặt của các doanh nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài, thổ trường bảo hiểm nhân thọ trong năm qua thực sự sôi động

N ă m 2005, 820.000 số lượng hợp đổng m ớ i được khai thác, tăng hơn 26.000 hợp đồng và bằng 103,27% so với năm 2004 và đem lại 20.626 tỷ đồng Đây là một kết quả đáng mừng cho thổ trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam Tuy nhiên, doanh thu phí bảo hiểm của các hợp đồng mới chỉ đạt 1.348 tỷ đồng tức là bằng 82,24% so với năm 2004 (đạt 1.698 tỷ dồng) Tỷ trọng doanh thu từ các hợp đồng đóng phí đổnh kỳ chiếm 98,89

% tổng doanh thu phí cao hơn so với 9 4 , 8 1 % năm 2004 [19] Nhưng số hợp đồng có hiệu lực trong năm 2005 vẫn tăng lên đáng kể về số lượng hợp đồng, số tiền, phí bảo hiểm Điều này là do nhận thức và sự quan tâm của người dân về l ợ i ích của bảo hiểm nhân thọ đã tăng lên Nắm bắt được điểm này, các công ty bảo hiểm nhân thọ cũng không ngừng đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng mạng lưới đại lý cũng như tạo ra nhiều tiện ích và có

n h i ề u chương trình khuyến mãi cho khách hàng như thanh toán phí bảo hiểm tự động qua hệ thống ngân hàng, được cung cấp dổch vụ sau bán hàng, được hưỏng nhiều ưu đãi k h i là khách hàng của công ty

1.4.3 Hoạt động tái bảo hiểm

N ă m 2005, thổ trường tái bảo hiểm Việt Nam tiếp tục phát triển N ă m

2004, tổng mức phí giữ lại trong nước là 10.688 tỷ đồng chiếm 86,19% tổng phí bảo hiểm gốc, và tỷ trọng trong năm 2005 là 88,23% tương ứng với số

Trang 28

tuyệt đối là 11.962 tỷ đồng Trong đó, phí bảo hiểm nhận tái từ thị trường nước ngoài đã tăng lên 98 tỷ đồng vào năm 2005 tức là tăng Ì 5 lần so với năm 2004 (63tỷ) và 2.5 lần so với năm 2003 (38 tỷ đồng) Điều này là do năng lực kinh doanh, tài chính, công tác đánh giá rủi ro và đề phòng hạn chế tữn thất của các doanh nghiệp bảo hiểm được cải thiện nên đã làm tăng mạnh doanh thu phí bảo hiểm, tăng năng lực giữ lại của thị trường Vai trò của hoạt động tái bảo hiểm rất quan trọng, hoạt động này không chỉ làm tăng mức phí bảo hiểm giữ lại của thị trường trong nước, hạn chế tình trạng chuyển ngoại tệ

ra nước ngoài thông qua việc tái bảo hiểm cho các công ty nước ngoài m à còn

là công cụ giúp Nhà nước kiểm soát tình hình hoạt động và tình trạng tài chính cũng như khả năng thanh toán của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, bảo

vệ quyền và l ợ i ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm, góp phẩn duy trì mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp bảo hiểm gốc và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm

Bảng 5: Hoạt động tái bảo hiểm năm 2004 - 2005

Trang 29

1.4.4 H o ạ t động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm

Ngoài các hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, các công ty bảo hiểm còn sử dụng nguồn vốn huy động được vào các dự án đẩu tư tài chính như góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, gửi tiết kiệm ngân hàng, tham gia thành lỳp công ty cổ phần nhằm tăng khoản lợi nhuỳn cho công ty cũng như góp phần phát triển kinh tế xã hội Trong năm 2005, tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm đã huy động để đầu tư trở lại nền kinh tế là 5.711 tỳ đồng, nâng tổng số tiền đầu tư của toàn ngành bảo hiểm đến cuối năm 2005 lên 26.906 tỷ đồng tăng 2 7 % so với năm 2004 Hiệu quả và an toàn trong công tác đẩu tư ngày càng được chú trọng, có đến 86,3% tổng số tiền đầu tư vào và gửi tại các tổ chức tín dụng, mua trái phiếu chính phủ

Biểu đồ 5: Cơ cấu đầu tu của các doanh nghiệp bảo hiểm

theo danh mục dầu tu năm 2005

• cổ phiếu, trái phiếu

1.4.5 Hoạt động trung gian bảo hiểm

Hiện nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, có hai hình thức trung gian bảo hiểm là đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm

Trang 30

- Môi giới bảo hiểm

Công ty môi giới đầu tiên xuất hiện trên thị trường Việt Nam từ năm

1993 là một công ty có vốn đẩu tư nước ngoài - Công ty T N H H Aon Việt Nam Tuy nhiên, chức năng của nghiệp vụ môi giới chưa thực sự phát huy đầy

đủ trong sự phát triển của thị trường bảo hiểm do cách nhìn nhạn chưa đúng về vai trò của môi giới bảo hiểm trong kinh doanh Đ ế n nay, do dã khắc phục dược một phần hạn chế trên, nên số công ty môi giới bảo hiểm đã tăng lên con

số 7 cõng ty, trong đó có 4 công ty trong nước và 3 công ty có vốn đầu tu nước ngoài và vẫn chỉ giới hạn trong hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ Hoạt động môi giới tạp trung vào các nghiệp vụ bảo hiểm hàng không, bảo hiểm tài sản

và thiệt hại, bảo hiểm sức khoe và bảo hiểm tai nạn con người Trong đó, môi giới cho nghiệp vụ bảo hiểm hàng không chiếm tỷ trọng cao nhất là 27,34%, tiếp đến là bảo hiểm tài sản và thiệt hại 24,63% Phí bảo hiểm thu xếp qua các công ty môi giới bảo hiểm đạt 908 tỷ đồng tăng 57 % so với năm 2004 và chiếm 1 6 , 4 1 % tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ toàn thị trường Trong đó có 83,77% tổng phí thu xếp qua các công ty môi giới bảo hiểm có 1 0 0 % vốn đầu

tư nước ngoài Điều này là tất yếu bài các công ty nước ngoài có nhiều kinh nghiệm cũng như có mạng lưới rộng khắp hơn trong nghiệp vụ môi giới

- Đại lý bảo hiểm

Hình thức thứ hai trong hoạt động trung gian bảo hiểm là đại lý bảo hiểm Khác với hoạt động môi giới chỉ mới hoạt động trên thị trường phi nhân thọ, đại lý bảo hiểm có ở cả hai thị trường phi nhân thọ và nhân thọ, nhưng vẫn tạp trung vào thị trường nhân thọ Tổng số đại lý bảo hiểm tính đến cuối năm 2005 là 130 nghìn người, tăng 4,5% so với năm 2004 Trong đó có 95 nghìn đại lý chiếm 7 3 % tổng số đại lý là hoạt động trên thị trường nhân thọ

Có thể thấy, nhạn thức về vai trò và lợi ích của các hoạt động trung gian ữên thị trường bảo hiểm ngày càng tăng Chính các hoạt động này dã giúp hoạt động kinh doanh trên thị trường bảo hiểm sôi động hơn, tiếp cạn với khách hàng dễ dàng hơn, góp phần thúc đẩy thị trường bảo hiểm nói riêng và nền k i n h tế của đất nước nói chung

Trang 31

C H Ư Ơ N G 2 HỘI NHẬP TRONG LĨNH v ự c BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM 2.1 C ơ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP

2.1.1 Cơ hội

Đất nước ta đang đứng trước một bước ngoặt lớn: thời điểm gia nhập WTO đang đến gần Điều này đòi hỏi các ngành kinh tế nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng phải dần dần hội nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra cho các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam nhiều cơ hội, và một môi trường kinh doanh an toàn và hiệu quả hơn

- Có nền lảng kinh tế ổn định, phái triển bền vững

Đảng về quá trình hội nhập, những năm qua, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến nhanh chóng và rõ rệt Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt ờ mức cao, năm sau cao hơn năm trước

Biểu đồ 6 :TÔC độ tăng GDP qua các năm

Nguồn: Tạp chí bảo hiếm - tái bảo hiểm VN, số Ì - tháng ỉ12005

và báo điện tử vneconomy.com.vn - ne cập nhật nẹày ì310312006

Trang 32

Nhìn trên biểu đồ ta có thể thấy, tốc độ tăng GDP hàng năm tăng đểu, đặc biệt là trong năm 2005 vượt trội với tốc độ tăng GDP đạt 8.4% Trong đó, FDI đạt 5.835 tỷ USD, khách du lịch quốc tế đạt 3,43 triệu lượt người, du lịch trong nước 16,2 triệu người, thu nhập bình quân 619 USD/năm, đầu tư toàn xã hội 38,2%GDP (gần 20 tỷ dồng) [24] Đ ó là những tiềm năng, cơ sự vững chắc cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển trong điều kiện nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu hem

- Mở ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn

Trước tiềm năng phát triển kinh tế cùng vói sự định hướng phát triển kinh tế nhiều thành phẩn an toàn và hiệu quả sẽ tạo ra nhiều cơ hội đầu tư và

mỏ rộng sản xuất kinh doanh cho các ngành kinh tế Đồng thời cũng mự ra cho ngành bảo hiểm Việt Nam nhiều cơ hội kinh doanh hơn Cụ thể là:

+ Một là, việc áp dụng quy định mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm

dân sự của người kinh doanh vận tải hành khách, hàng hoa dễ cháy nổ trên đường thúy nội địa bao gồm: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người kinh doanh vận tải hàng hoa dê cháy và dẻ nổ trên đường thúy nội địa đối với người thứ ba và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người kinh doanh vận tải hành khách đối với hành khách Đây được xem như là cơ hội tốt để các doanh nghiệp bảo hiểm khai thác thị trường và đưa tốc độ tăng truồng nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ vượt hơn mức 15,32% như của năm 2005

+ Hai là, do vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 5,83 tỷ USD và vốn

ODA dạt 3,74 tỷ USD của năm 2005 sẽ được tiếp tục thực hiện trong năm

2006 Đồng thời, việc xoa bỏ hạn chế đăng ký xe máy, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu cũng là một tiềm năng phát triển bảo hiểm xe cơ giới

+ Ba là, việc mua bảo hiểm bắt buộc dối với người Việt Nam du lịch l ữ

hành quốc tế đã có khung pháp lý để pháp triển k h i Luật du lịch có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 và nghị định Chính phủ hướng dẫn về du lịch l ữ hành sẽ được ban hành

Trang 33

+Bốn là, Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp có hiệu lực từ 1/7/2006 đều

quy định các doanh nghiệp phải mua bảo hiểm theo quy định của pháp luật tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển sản phẩm

Có thể nói, vói tiềm năng phát triển của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng cao, trong đó có nhiều lĩnh vực tăng truồng mạnh như: đóng tàu, hàng không, XNK sẽ là cơ hội cho ngành bảo hiểm Việt Nam phát triển

- Tăng nhu cầu về bảo hiểm

N ề n k i n h tế phát triển, cơ sở vật chất của nưức nhà cũng đang ngày một nâng cao Thu nhập bình quân đầu người trong những năm gần đây luôn đạt ở mức trên 400 USD Số người thất nghiệp cũng giảm dần, mỗi năm đã tạo được việc làm cho khoảng 500.000 lao động, khiến cho tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực

thành thị đã được duy In ở mức trên dưứi 5 % [22] K h i thu nhập tăng, nhu cầu

thiết yếu cơ bản được đáp ứng đầy đủ, người dân bắt đẩu quan tâm đến tính an toàn, ổn định trong cuộc sống Vì vậy, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm tăng cao Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về bảo hiểm cũng được cải thiện dáng kể, đặc biệt là trưức thực tế tai nạn giao thõng, các thiên tai, bão

lũ xảy ra bất ngờ và gây ra tổn thất nặng nề, thì người dân càng nhận rõ được vai trò của bảo hiểm

- Tạo môi trướng cạnh tranh bình đẳng, chuyên nghiệp

Quá trình gia nhập WTO, và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế đang dần mở cửa nền kinh tế trong nhiều lĩnh vực cũng như tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nưức ngoài vào Việt Nam Sự xuất hiện của các đại gia thế giứi vứi kinh nghiệm hoạt động lâu năm, vứi số vốn kinh doanh khổng lồ, hoạt động chuyên nghiệp thực sự tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng Điều đó cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp trong nưức tiếp cận và học tập được những kỹ thuật hiện đại, chuyên nghiệp Đồng thời cũng là động lực để các doanh nghiệp trong nưức nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoa sản phẩm, chuyên nghiệp hoa quy trình quản lý, giảm chi phí hoạt động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đứng vững trên thị trường

Trang 34

Bên cạnh đó, trước sự tác động của cạnh tranh, việc hợp nhất, sáp nhập các doanh nghiệp và việc hình thành các tập đoàn tài chính theo m ô hình của

các nước phát triển sẽ là xu hướng tất yếu Đây sẽ là cơ sở để các doanh

nghiệp bảo hiểm Việt Nam tiếp cận và xây dựng hoạt động theo m ô hình chuyên nghiệp Các doanh nghiệp lớn trong nước đã và dang nắm bất xu hướng này như Bảo Việt xây dựng m ô hình Tập đoàn tài chính bảo hiểm, Bảo

M i n h và Vinare tham gia thị trường chứng khoán là những ví dố điển hình

- Mở rộng thị trường xuất khẩu

M ỏ cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế đồng nghĩa với việc mở rộng biên giới các nước trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoa Điều này sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước thúc đẩy xuất khẩu, tăng sức thu hút vốn dẫu t ự nước ngoài, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ

2.1.2 Thách thức

Tuy nhiên, cùng với những cơ hội vàng đó, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng sẽ phải dối mặt vói những thách thức lớn

- Thị trường cạnh tranh gay gắt và không lành mạnh

V ớ i hơn 80 triệu người m à mới chỉ có chính thức 32 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cùng với hơn 30 văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài, thị trường bảo hiểm Việt Nam thực sự là điểm đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thế giới Trên thực tế, đến thời điểm hiện tại, thật khó biết chính xác về số doanh nghiệp dang hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm cùng số văn phòng đại diện tại Việt Nam Bởi con số này đang thay đổi từng tháng, từng ngày, và dự báo sẽ tăng mạnh trong thời gian tới khi các cam kết quốc tế

m à Việt Nam tham gia ký kết bắt đầu có hiệu lực Trong thời gian vừa qua, đã

có rất nhiều công ty 1 0 0 % vốn đẩu tư nước ngoài được chấp thuận về nguyên tắc cấp phép thành lập như: tập đoàn bảo hiểm ACE, Tập đoàn Marsh I n c , tập đoàn môi giới bảo hiểm lớn nhất thế giới, với 1 0 0 % vốn của M ỹ cùng thời hạn hoạt động 50 năm, Tập đoàn Groupama của Pháp cũng được chấp thuận mở rộng lĩnh vực đầu tư [20] Cùng với những ưu thế của mình, các doanh

Trang 35

nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài ngay từ k h i vào đã đạt được những kết quả dáng kể V à kết quả tất yếu là thị phần đang có xu hướng chuyển dịch

từ các công ty trong nước sang các công ty nước ngoài đặc biệt là trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ Prudential sau 6 năm có mặt tại Việt Nam đã giành được 4 0 % thị phần bảo hiểm nhân thọ Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ,

sự xuất hiện của các công ty nước ngoài cũng đang là mối đe doa đối với các công ty trong nước Biểu hiện rõ nhất là thị phần của các công ty trong nước phải chia cho các công ty nước ngoài Có thể thấy qua thị phần doanh thu phí bảo hiểm sốc của 15 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong 6 tháng đầu năm 2006 (bảng dưới)

Bảng 6: Thị phần doanh thu phí bảo hiểm gốc của 15 doanh nghiệp bảo

hiểm phi nhân thọ trong 6 tháng đẩu năm 2006 (Đơn vị:%)

Trang 36

Sự xuất hiện của các đại gia trong ngành bảo hiểm thế giới đang là một sức ép đối với các công ty bảo hiểm trong nước về nhiều mặt: chất lượng phục vụ, sự đa dạng của các dịch vụ bảo hiểm, khả năng về vốn, giá

cả dịch vụ Chính vì vậy, việc tìm ra các phương hướng nhữm hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước đang

là yêu cẩu cấp bách đối với cấc ban ngành cành như đối với chính bản thân các doanh nghiệp

Ngoài ra, một thách thức nữa của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian t ớ i là nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh V ớ i đạc điểm thị trường tập trung cao, dù độc quyền nhà nước đã bị xoa bỏ, nhưng nguy

cơ một số các công t y lớn có khả năng chi phối thị trường có thể thoa thuận với nhau để chia sẻ thị trường là một nguy cơ tiềm ẩn Nếu như nhà nước không có những biện pháp quản lý chặt bững những quy định, thông

tư hướng dẫn về cạnh tranh thì khả năng này rất có thể xảy ra, đặc biệt là hiện nay Nhà nước chưa ban hành luật cạnh tranh cho thị trường bảo hiểm Các công ty có thể thoa thuận với nhau về biểu phí, mức hoa hổng, chia sẻ thông tin, đồng bảo hiểm cho những r ủ i ro lớn đêu có thể dẫn đến hạn chế cạnh tranh, gây mất quyền l ợ i của người tiêu dùng

- Tình trạng gian lận, trục lợi bảo hiểm gia tăng

Thị trường bảo hiểm phát triển, tất yếu sẽ tạo cơ hội cho gian lận, trục

l ợ i bảo hiểm gia tăng không những thế m à còn tinh v i và khôn khéo hơn, Đây là một vấn đề nhức nhối đối với các công ty bảo hiểm đặc biệt là các công ty trong nước với năng lực quản lý và kinh nghiệm thẩm định còn yếu kém Các khách hàng thường l ợ i dụng những lỏng lẻo trong những khâu thẩm định, y tế, giấy tờ chứng cứ của các ban ngành khác nhữm trục

l ợ i bảo hiểm, biểu hiện qua các đặc điểm sau:

+ N g ư ờ i dược bảo hiểm chết do các bệnh có thời gian tiến triển bệnh

lý kéo dài như: ung thư, lao, xơ, suy thận, suy tim

Trang 37

+ Hợp dồng bảo hiểm có số tiền bảo hiểm lớn so với khả năng tài chính, hoàn cảnh k i n h tế của N g ư ờ i tham gia bảo hiểm

+ K h a i báo r ủ i ro xảy ra trong hoàn cảnh đặc biệt: tự ngã, tai nạn xảy ra trong đêm không có mặt công an

+ R ủ i r o xảy ra liên quan đến nhiều hợp đồng bảo hiểm được phát hành vào những thời điểm gân nhau

+ Hàng hoa được yêu cầu bảo hiểm trong hành trình vận chuyển nhưng chưa đóng phí bảo hiểm K h i biết hàng đến nơi an toàn r ồ i khách hàng x i n huy đơn bảo hiểm hoặc huy hợp đồng bảo hiểm để trốn trách nhiệm đóng phí

Trục l ợ i bảo hiểm làm giảm l ợ i nhuận, khiến cho hiệu quả sản xuởt kinh doanh bị hạn chế, có tác dộng xởu đến uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm

- Thị trường bảo hiểm phát triển mạnh, khó kiểm soát

Các công ty nước ngoài thường hoạt động ở những thị trưởng phát triển hơn trong một thời gian dài H ọ không những giàu kinh nghiệm hơn các công ty trong nước m à còn hơn cả các cơ quan quản lý nhà nước Do

đó để có thể d ự liệu được sự phát triển của thị trường để đưa ra được các quy định phù hợp nhằm điều tiết thị trường, đảm bảo sự an toàn cho các đối tượng tham gia thị trường, các cơ quan quản lý phải được nâng cao năng lực tương xứng với nhu cầu đòi hỏi của thị trường Nếu thị trường phát triển quá mức kiểm soát, hoặc các cơ quan quản lý không thể đánh giá, giám sát các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp; trong k h i

đó, sự tham gia ổ ạt của các doanh nghiệp nước ngoài cùng với những tập quán quốc tế m à V i ệ t Nam không cởm, hoặc Việt Nam phải thực hiện trong l ộ trình hội nhập nhưng người tiêu dùng chưa có kinh nghiệm, chưa dược chuẩn bị về tinh thần và kiến thức thì đều có thể dẫn đến sự phát triển m é o m ó hoặc cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường

Trang 38

- Dễ bị ảnh hưởng hơn với các nguy cơ khủng hoảng khu vực

M ộ t thách thức nữa không chỉ đối với thị trường bảo hiểm của Việt Nam m à còn của cả các nước khác trên t h ế giới k h i gia nhập ngôi nhà chung W T O đó là sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các quốc gia: cả tốt lẫn xụu Nhìn lại sự phát triển của thị trường bảo hiểm Châu Á ta thụy, các quốc gia có thị trường bảo hiểm mở như Thái Lan, Hàn Quốc là những quốc gia

đã phải chịu hậu quả nghiêm trọng nhụt của cuộc Khủng hoảng tài chính Châu Á và mụt nhiều htời gian nhụt để khôi phục Các quốc gia vẫn còn hạn chế sự tham gia của các nhà đẩu tư nước ngoài vào thị trường như Trung quốc, V i ệ t Nam lại được bảo vệ an toàn hơn k h i khủng hoảng xảy

ra Đây chính là tính hai mặt của thị trường mở cửa và h ộ i nhập sâu Bảo hiểm, ngân hàng là những lĩnh vực hết sức nhạy cảm, chỉ cân có một thông t i n sai lệch hoặc có những x u hướng xụu trong khu vực và thế giới cũng có thể khiến khách hàng rút vốn ồ ạt, ngay lập tức cả ngành bảo hiểm, ngân hàng, kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng V ớ i vai trò là "tụm

lá chắn" cho cả nền k i n h tế, bụt cứ một rủi ro, hay khủng hoảng xảy ra đối vái ngành nào thì bảo hiểm cũng lập tức bị ảnh hưởng H ộ i nhập đổng nghĩa với việc cùng huống, cùng chịu với các thị trường bảo hiểm trong khu vực và trên thế giới, nên cũng dễ bị tổn thương hơn bởi các nguy cơ ở cụp độ quốc tế và k h u vực Vì vậy, một nội lực mạnh cả về kinh tế, xã hội, quân sự là nền tảng cẩn thiết để đảm bảo an toàn, ổn định cho cả nền kinh

tế nước nhà

- Một số thách thức ngay trong năm 2006, 2007:

+ Thứ nhất, bảo hiểm y tế tự nguyện đang được phép triển khai rộng

rãi, các đơn vị bảo hiểm y tế đang đào tạo đại lý và bán bảo hiểm từ đẩu năm 2006 Đây là lực lượng cạnh tranh quyết liệt với bảo hiểm nhân thọ

và nghiệp vụ bảo hiểm tai nạn con người

Trang 39

+ Thứ hai, các ngân hàng thương mại chưa dừng chiến dịch thu hút

t i ề n gửi tiết k i ệ m thông qua tăng lãi suất và khuyến mại sẽ gây khó khăn không nhỏ cho bảo hiểm nhân thọ, vốn đã khá chật vật trong năm 2005 Các hợp đồng khai thác sẽ tăng chậm lại và rất có thể tổng số tiền bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm khai thác m ỉ i sẽ tiếp tục giảm Trong năm 2005, mặc dù tổng số hợp đồng bảo hiểm khai thác m ỉ i tăng 3,27%

so vỉi năm 2004 nhưng tổng số tiền bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm khai thác m ỉ i giảm 5,73% so v ỉ i năm 2004 Tổng số hợp đổng bảo hiểm khai thác m ố i đạt 820.000 hợp đồng, tăng 26.000 hợp đổng so vỉi năm

2004 trong k h i tổng số tiền bảo hiểm của các hợp đồng khai thác mỉi này chỉ đạt 20.626 tỷ đồng, giảm 1.253 tỷ đồng so vỉi năm 2004 Bình quân số

t i ề n bảo hiểm của hạp đồng khai thác mỉi trong năm 2005 cũng giảm 2,4 triệu đồng tương ứng mức giảm 8,7% so v ỉ i năm 2004

+ Thứ ba, l ộ trình thực hiện rào cản thương mại theo Hiệp định

thương mại V i ệ t Nam - Hoa Kỳ đối vỉi dịch vụ bảo hiểm là 5 năm kể từ ngày hợp dồng có hiệu lực, kết thúc vào cuối năm 2006 K h i đó, nếu Việt Nam gia nhập W T O thì cần mở rộng thị trường bảo hiểm, tăng cường hội nhập quốc tế và tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm

T ó m l ạ i , h ộ i nhập k i n h tế quốc tế sẽ không chỉ đem lại cho thị trường bảo hiểm V i ệ t Nam nhiều cơ h ộ i m à còn nhiều thách thức Thách thức và

cơ h ộ i luôn tồn tại song song, tác dộng qua lại v ố i nhau và ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm Tận dụng dược cơ hội sẽ đẩy lùi được thách thức và tạo thêm cơ h ộ i mỉi, ngược l ạ i , không tận dụng được cơ hội thì thách thức

sẽ lấn át và làm triệt tiêu cơ hội Vì vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm V i ệ t Nam cần xác định và nắm bắt được cơ hội và hạn c h ế thách thức nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tỉi

Trang 40

2.2 C Á C CAM KẾT MỞ CỬA LĨNH v ự c B Ả O HIỂM VÀ TÌNH H Ì N H THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT Đ Ó CỦA VIỆT NAM

2.2.1 Cam kết mở cửa lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam

Một trong những việc làm đầu tiên của Việt Nam trong lộ trình gia nhập

W T O là việc thực hiệc các cam kết quốc tế trên nhiều lĩnh vực nhằm tiêu chuẩn hoa các ngành nghề của chính nền kinh tế nước mình đạt đến tiêu chuẩn thế giới Lĩnh vực bảo hiểm cũng là một trong những ngành quan trọng cần thực hiện các cam kết mờ cửa

Cam kết mờ cửa thị trường là cam kết của một nước về việc mờ cửa thị trường dịch vụ trong nước cho người nước ngoài vào cung cấp về mức độ, quy

mô, hình thức tuy từng nước, thông qua việc điều chỉnh luật lệ, quy định nhằm mục đích tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập vào thị trường nước mình

V ớ i mục tiêu: nhanh chóng hội nhập khu vực và quốc tế, mờ cửa thị trường hàng hoa, thị trường dịch vụ, phát triển hợp tác đẩu tư và chuyển giao công nghệ Việt Nam hiện đang áp dụng 4 hình thức cơ bản:

- Đặt ra thời hạn nhất định với l ộ trình cụ thể buộc phải tuân thủ

- Đặt ra thời hạn mục tiêu m à không có l ộ trình bắt buộc cụ thể và tự nguyện, linh hoạt xây dựng lộ trình thực hiện

- Đ à m phán, thương lượng về các cam kết mờ cửa với lộ trình mờ cửa khác nhau

- Đ à m phán liên tục để mờ cửa thị trường trên nguyên tắc "Có đi có lại" Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã cam kết 4 cam kết về mờ cửa thị trường dịch vụ bảo hiểm là:

a) Hiệp định khung ASEAN

Theo như đàm phán thì các nước đã là thành viên của W T O thì phải cam kết cao hơn mức cam kết tại GATS, còn các nước chưa là thành viên thì

Ngày đăng: 28/03/2014, 09:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp nám 2005 - Hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam
Bảng 2 Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp nám 2005 (Trang 20)
Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp năm 2004  Loại hình  Nhà  Cổ  Liên  100% vốn  Tổng  doanh nghiệp  nước  phần  doanh  nước ngoài  cộng - Hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam
Bảng 1 Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm theo khối doanh nghiệp năm 2004 Loại hình Nhà Cổ Liên 100% vốn Tổng doanh nghiệp nước phần doanh nước ngoài cộng (Trang 20)
Hình  thỷc - Hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam
nh thỷc (Trang 24)
Bảng 5: Hoạt động tái bảo hiểm năm 2004 - 2005 - Hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam
Bảng 5 Hoạt động tái bảo hiểm năm 2004 - 2005 (Trang 28)
Bảng 6: Thị phần doanh thu phí bảo hiểm gốc của 15 doanh nghiệp bảo - Hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam
Bảng 6 Thị phần doanh thu phí bảo hiểm gốc của 15 doanh nghiệp bảo (Trang 35)
Bảng 7: Một số chỉ tiêu  kế hoạch đến năm 2010 - Hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam
Bảng 7 Một số chỉ tiêu kế hoạch đến năm 2010 (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w