đưa ra khái niệm về chủ sở hữu principals, người đại diện Agent và mối quan hệ giữa CSH, người đại diện trong bài Vấn đề chủ sở hữu và người đại diện - Một số gợi ý về chính sách cho Vi
Trang 1Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CƠ
CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 9 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến cơ chế đại diện chủ
1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến cơ chế đại diện chủ sở
1.3 Nhận xét kết quả của các công trình đã được công bố có liên quan và xác định
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ
2.1 Khái niệm cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp
2.2 Nội dung cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp 36 2.3 Các tiêu chí đánh giá cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong
2.5 Kinh nghiệm về cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh
Chương 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ
3.1 Tình hình hoạt động và mô hình tổ chức, bộ máy của doanh nghiệp nhà nước 68 3.2 Tình hình thực hiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các
3.3 Đánh giá thực trạng cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN
CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
4.1 Quan điểm hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các
4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước
trong các doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới 119
Trang 2BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương
CPH : Cổ phần hóa
CSH : Chủ sở hữu
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
FDI : Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài) HĐQT : Hội đồng quản trị
HĐTV : Hội đồng thành viên
OECD : Organization for Economic Cooperation and
Development (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế)
SASAC : Ủy ban Giám sát tài chính của Trung Quốc
SCIC : State Capital Investment Corporation (Tổng công ty
đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước)
Trang 3Trang
Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp và quy mô đầu tư vốn nhà nước ở
một số quốc gia giai đoạn năm 2010-2011 52
Bảng 2.2: Bố trí thành phần Hội đồng quản trị và quy trình đề cử (ở
Bảng 2.3: Việc bổ nhiệm của Hội đồng quản trị, đánh giá và mức
lương (ở một số nước trên thế giới) 56
DANH MỤC CÁC HỘP
Trang
Hộp 3.1: Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước năm 2014, 2015 70
Hộp 3.2: Những khoản nợ khó đòi, nợ quá hạn năm 2015 71
Hộp 3.3: Quản lý người đại diện phần vốn Nhà nước giữ các chức
danh quản lý tại doanh nghiệp trong vụ việc Trịnh Xuân
Hộp 3.4: Công tác tổ chức, cán bộ của Tập đoàn Công nghiệp Tàu
thủy Việt Nam (Vinashin) giai đoạn 2006-2009 89
Hộp 3.5: Giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động đầu tư, quản lý, sử
dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp 93
Hộp 3.6: Công tác kiểm toán liên quan đến quản lý, sử dụng vốn Nhà
Hộp 3.7: “Lợi ích nhóm” trong đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước 100
Trang 4Trang
Sơ đồ 2.1: Nội dung cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong
Sơ đồ 2.2: Mô hình đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong doanh
Sơ đồ 2.3: Mô hình Giám sát đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong
doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc 63
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đề ra chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là: “xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng
cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế” [65, tr.63], từ đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX (năm 2001) chỉ rõ: phải đẩy mạnh sắp xếp, nâng cao hiệu quả DNNN, kiên quyết chấm dứt tình trạng cơ quan hành chính nhà nước can thiệp trực tiếp, cụ thể vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; phân định rõ quyền quản lý hành chính kinh tế của Nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [5]; các Nghị quyết Đại hội X, XI, XII tiếp tục khẳng định phải “Tăng cường quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu (CSH) đối với DNNN Bố trí đúng cán bộ lãnh đạo, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” [74, tr.291] Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN nhấn mạnh:
“DNNN là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế Thực tiễn những năm qua cho thấy, hoạt động của DNNN còn hạn chế, hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp của nhiều DNNN còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư Trách nhiệm của người quản lý DNNN chưa rõ ràng Việc tách chức năng quản lý nhà nước và chức năng của cơ quan đại diện CSH vốn nhà nước tại DNNN thực hiện chậm Cơ chế quản lý, giám sát và việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan và người đại diện CSH nhà nước chưa thật rõ ràng và phù hợp” Đồng thời yêu cầu:
Khẩn trương thành lập một cơ quan chuyên trách của Nhà nước làm đại diện CSH đối với DNNN để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện CSH nhà nước đối với DNNN; tổ chức phê duyệt và giám sát việc thực hiện các chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch phát triển
ngành; lãnh đạo công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát; đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, lãng phí [11]
Trang 6Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng; Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; Chính phủ ban hành các nghị định nhằm tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát đối với đại diện CSH vốn nhà nước trong các DNNN Chủ trương của Đảng và hệ thống văn bản pháp luật đã được hình thành tương đối đầy đủ, bước đầu tạo hành lang pháp lý, bảo đảm quyền chủ động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời bảo toàn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước
Hiện nay, DNNN ở Việt Nam đã và đang quản lý một lượng lớn các nguồn lực, chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế Phát triển của các DNNN có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến phát triển của toàn bộ nền kinh tế Trong những năm qua, Nhà nước đã cố gắng, nỗ lực cải cách, sắp xếp lại các DNNN và đã đạt được một
số thành tựu nhất định Theo đó đã từng bước thực hiện chủ trương cơ cấu lại DNNN thông qua các hình thức giao, khoán, bán, cho thuê, cổ phần hóa (CPH) DNNN và thành lập các tập đoàn, tổng công ty (TCT) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Doanh nghiệp nhà nước đã bước đầu thể hiện sức mạnh cạnh tranh trên thị trường, một số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả, tạo sự ảnh hưởng, chi phối và lan tỏa đến đời sống xã hội Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN là đề tài tranh luận và thảo luận luôn luôn sôi nổi, kéo dài nhiều năm Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước; kinh doanh thua lỗ, không bảo toàn được vốn, không trả được nợ, nhiều trường hợp đảng viên là cán bộ chủ chốt được giao đại diện CSH vốn nhà nước vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, trong đó có
trường hợp bị khai trừ ra khỏi Đảng, nhận án tử hình Điển hình là, năm 2003,
nguyên Bí thư Đảng ủy, giám đốc Công ty Tiếp thị thương mại nông nghiệp- công nghiệp thực phẩm thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bị kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng, lĩnh án chung thân do tham ô tài sản, cố ý làm trái qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, chiếm đoạt và gây thiệt hại 101,6 tỉ đồng và 95.659 USD Liên quan đến hành vi phạm tội của cá nhân này có trách nhiệm của Ban cán sự đảng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và một số Ủy viên Ban cán sự đảng
Trang 7Năm 2009, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) Tập đoàn Than -
Khoáng sản Việt Nam (TKV) bị kỷ luật đảng bằng hình thức cảnh cáo do buông lỏng quản lý dẫn đến bùng phát nạn khai thác, vận chuyển và kinh doanh trái phép hàng triệu tấn than; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, có biểu hiện tư lợi,
thiếu trách nhiệm gây thiệt hại kinh tế cho TKV Năm 2010, Bí thư Đảng ủy, chủ
tịch HĐQT Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) bị khai trừ ra khỏi Đảng, nhận án tử hình do thiếu trách nhiệm trong việc huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn nhà nước tại Vinashin gây hậu quả nghiêm trọng khiến Vinashin bên bờ vực phá sản; bổ nhiệm con trai và em ruột làm đại diện phần vốn của Nhà nước, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trái quy định của Đảng và Nhà nước
Năm 2013, nhiều lãnh đạo chủ chốt là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành
viên (HĐTV), Giám đốc tại 4 doanh nghiệp khối dịch vụ công ích Thành phố Hồ Chí Minh (các Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên: Thoát nước
đô thị; Chiếu sáng công cộng; Công trình giao thông Sài Gòn; Công viên cây xanh) bị xử lý kỷ luật đảng bằng hình thức cảnh cáo hoặc khai trừ, buộc thôi việc
do có những sai phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng như ký hợp đồng sai quy định của Luật Lao động để xâm hại quyền lợi của người lao động; chia tiền lương cho lãnh đạo doanh nghiệp cao bất thường, bất bình đẳng; số lao động thấp hơn nhiều
so với thực tế Năm 2014, nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, nguyên Bí
thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương bị khai trừ ra khỏi đảng và lĩnh án tử hình do có vai trò chủ mưu, cầm đầu trong việc mua
ụ nổi 83M gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 366 tỉ đồng, tham ô hơn 28 tỉ đồng Trong đó, Bộ Giao thông vận tải với vai trò là Bộ Chủ quản đã không làm tròn trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng vốn, đánh giá kết quả kinh
doanh của Vinalines nên để sai phạm gây hậu quả nghiêm trọng Năm 2016,
nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam bị khai trừ ra khỏi Đảng, khởi
tố điều tra do đã cùng Ban Thường vụ Đảng ủy, HĐQT, Ban Tổng giám đốc, Ban Kiểm soát Tổng công ty đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý điều hành, thiếu kiểm tra, giám sát, làm trái các quy định của pháp luật về quản lý kinh
Trang 8tế, để xảy ra nhiều sai phạm và thua lỗ 3.298,27 tỉ đồng (giai đoạn 2011-2013), nhiều tổ chức, cá nhân trong tổng công ty bị kỷ luật và xử lý hình sự Và gần đây, cuối năm 2017, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên (HĐTV) Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) bị đình chỉ sinh hoạt đảng, khởi
tố để điều tra về hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Các nguyên nhân của tình trạng hiệu quả kinh doanh thấp của các DNNN được chỉ ra nhiều, song một trong những nguyên nhân quan trọng là cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong doanh nghiệp còn rất nhiều bất cập biểu hiện thông qua xác định chủ thể, thẩm quyền, kiểm tra, giám sát đối với người đại diện CSH vốn nhà nước trong doanh nghiệp
Với những lý do trên, vấn đề “Cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam” được chọn làm đề tài nghiên cứu luận án
tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị, nhằm góp phần vào việc tạo lập cơ sở khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói chung trong thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp; trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam thời gian qua; đề xuất quan điểm, và giải pháp hoàn thiện cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, trong luận án sẽ thực hiện những nhiệm
vụ chủ yếu bao gồm:
Thứ nhất, phân tích và hệ thống hóa làm rõ cơ sở lý luận về sở hữu nhà
nước, đại diện CSH vốn Nhà nước và cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được hình thành và
Trang 9phát triển trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, nghiên cứu kinh nghiệm về cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước
trong các doanh nghiệp ở một số quốc gia và rút ra bài học tham khảo cho hoàn thiện cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước
trong các DNNN ở Việt Nam thời gian qua, rút ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế
Thứ tư, đề xuất quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện cơ chế đại
diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ chế đại diện CSH với tư cách là tổng thể các yếu tố bao gồm những mối quan hệ kinh tế, pháp lý giữa Nhà nước và những tập thể, cá nhân được Nhà nước trao quyền đại diện CSH vốn Nhà nước trong các DNNN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tên đề tài gắn với “vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam”, trong đó thuật ngữ “doanh nghiệp” được hiểu là DNNN với tư cách là các doanh nghiệp có vốn Nhà nước Phạm vi nghiên cứu về lý thuyết là doanh nghiệp có vốn nhà nước, tuy nhiên do doanh nghiệp có vốn nhà nước là phạm trù rất rộng, do đó trong luận án chỉ tập trung phân tích minh họa thực trạng cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong một số doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu về cơ chế đại diện CSH vốn
Nhà nước trong các DNNN ở Việt Nam
- Về thời gian, luận án tập trung nghiên cứu cơ chế đại diện CSH vốn Nhà
nước trong các doanh nghiệp giai đoạn 2010-2016; đề xuất quan điểm, phương
hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế đó đến năm 2030 Quá trình nghiên cứu có
đề cập và tham khảo tài liệu trước năm 2010 và sau năm 2016 để phục vụ cho công tác so sánh, đánh giá
Trang 104 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sở hữu nhà nước, sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp; các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN, đồng thời kế thừa có phê phán những thành tựu
khoa học đã đạt được trong các công trình khoa học đã công bố
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở sử dụng phương pháp luận nêu trên, luận án sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của kinh tế chính trị, như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp phân tích định tính, định lượng, so sánh, tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp tổng kết thực tiễn
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học Phương pháp trừu tượng hoá
khoa học đòi hỏi gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong những quá trình và những hiện tượng được nghiên cứu, tách ra những cái điển hình, bền vững, ổn định trong những hiện tượng và quá trình đó, trên cơ sở ấy tìm ra bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế, hình thành những phạm trù và những quy luật phản ánh những bản chất đó
- Phương pháp logic kết hợp với lịch sử Phương pháp lô-gic kết hợp với lịch
sử được sử dụng trong tiếp cận và đi sâu nghiên cứu việc xác định cơ chế, chính sách đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp phù hợp với những điều
Trang 11kiện lịch sử cụ thể Mặt khác, sử dụng phương pháp này còn có tác dụng bảo đảm các luận điểm, luận cứ, luận chứng nêu ra trong luận án tuân theo trình tự logic
- Các phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, thống kê, so sánh Các phương pháp này được sử dụng để khảo cứu lý luận, phân tích, đánh giá
và khái quát thực tiễn, đưa ra các kết luận nhận định về những căn cứ lý luận và thực tiễn trên mọi phương diện về đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp; được sử dụng nhiều trong phân tích, đánh giá các quan điểm lý luận, các tư liệu, số liệu thu thập được Đặc biệt, phương pháp so sánh được sử dụng nhiều nhất
ở Chương 2, Chương 3 trong việc so sánh, làm rõ việc xác lập cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và trong việc so sánh, đánh giá cách thức thực hiện đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua
Ngoài ra, luận án sử dụng phương pháp tổng kết thực tiễn để nghiên cứu, đánh giá cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
4.3 Nguồn thông tin nghiên cứu
Bao gồm thông tin khoa học trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp của các tác giả trong và ngoài nước; thông tin và số liệu thống kê từ các báo cáo của các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan có liên quan của Trung ương Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp chủ yếu trong giai đoạn 2010-2016
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần làm rõ thêm khái niệm, nội dung cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam; phân tích, làm rõ các tiêu chí đánh giá
và nhân tố tác động đến cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng về cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam từ năm 2010 đến 2016; khẳng định những ưu điểm, những kết quả đạt được để phát huy; chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục
và nguyên nhân của những hạn chế
- Đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới đến
Trang 12năm 2030, nhằm góp phần bảo đảm điều kiện hoạt động của các DNNN theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phần vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp được sở hữu, quản lý, sử dụng hiệu quả, bảo toàn và không bị thất thoát, tham ô, tham nhũng, lãng phí
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận, luận án góp phần làm giàu thêm nhận thức về cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp Những phân tích, luận giải về khái niệm, nội dung, các tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp góp phần tạo lập luận cứ khoa học cho các nghiên cứu cụ thể về cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thời gian tới Những vấn đề luận án đề cập, giải quyết góp phần thiết thực vào việc luận giải và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
- Luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục
vụ cho công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách và giảng dạy về các vấn đề liên quan đến cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp cho đào tạo sau đại học các chuyên ngành kinh tế
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được kết cấu thành 4 chương, 14 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Liên quan đến vấn đề luận án đang nghiên cứu, có nhiều công trình ở nước ngoài đã đề cập với những góc độ khác nhau Mỗi quốc gia, với những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội riêng, có cách thức giải quyết riêng về vấn đề sở hữu nói chung, cũng như cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp Ở các quốc gia đang phát triển và các quốc gia đang trong quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp luôn được coi là vấn đề phức tạp cả trên phương diện kinh tế và phương diện chính trị- xã hội Vấn đề này đã và đang thu hút sự quan tâm không những chỉ của các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu về kinh tế và luật pháp, mà còn
là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh và của mọi công dân Có nhiều cuộc thảo luận, nhiều hội thảo và nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này, thậm chí đã được dịch ra Tiếng Việt Có thể kể đến những công trình tiêu biểu với các nội dung nghiên cứu như sau:
1.1.1 Về sở hữu nhà nước và chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp
Theo C.Mác, khái niệm về chế độ sở hữu và khái niệm quyền sở hữu vừa
có nét khác biệt vừa có nét liên quan Chế độ sở hữu là một kiểu sự thực kinh tế, thuộc về tồn tại xã hội, nó là điều kiện cơ bản không thể thiếu trong sản xuất vật chất, đã tồn tại từ khi loài người xuất hiện Còn quyền sở hữu là quy định pháp luật hoặc sự thể hiện bằng pháp luật của chế độ sở hữu, sau khi nhà nước ra đời
nó xuất hiện, thuộc về kiến trúc thượng tầng Quan hệ giữa chế độ sở hữu và
Trang 14quyền sở hữu là quan hệ giữa “bản gốc” và “bản sao”, chế độ sở hữu quyết định quyền sở hữu, còn quyền sở hữu là sự thể hiện của chế độ sở hữu khi nó phát triển đến một trình độ nhất định, có tác dụng ngược lại với việc quy phạm, bảo
vệ chế độ sở hữu Khi nghiên cứu toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, về
sự phân chia lợi nhuận thành lợi tức và lợi nhuận doanh nghiệp, tư bản sinh lời, nói về vai trò của tín dụng trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong cuốn sách
Bộ Tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị, Quyển thứ ba: Toàn bộ quá trình sản
xuất tư bản [94, tr.27], C.Mác viết: Những công ty cổ phần được thành lập
Trong các công ty cổ phần, chức năng tư bản tách rời với quyền sở hữu tư bản; lao động tách rời quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất và đối với lao động thặng
dư Đó là kết quả của sự phát triển cao nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại chuyển thành sở hữu của những người sản xuất, nhưng không phải với tư cách là sở hữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách là sở hữu của những người sản xuất liên hiệp, thành
sở hữu xã hội trực tiếp [94] Ở đây, Các Mác đã đề cập đến công ty cổ phần và
sở hữu xã hội, là lý luận tiền đề về DNNN và sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp
Trong quá trình cải cách mở cửa ở Trung Quốc, việc nghiên cứu vấn đề sở hữu được hết sức quan tâm và nhiều kết quả nghiên cứu đã được vận dụng vào hoạch định đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản và nhà nước Trung quốc Các nghiên cứu, bên cạnh việc chỉ rõ tính tất yếu của việc phát triển các hình
thức sở hữu đa dạng, đã xác định vai trò chủ thể của quốc hữu Cuốn sách Lý
luận mới về kinh tế học xã hội chủ nghĩa của Cốc Thư Đường [80] đã đề cập một
cách tập trung và toàn diện vấn đề lý luận và thực tế về sở hữu trong nền kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc Về mặt chính thống, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương: “Kiên trì chế độ công hữu làm chủ thể, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế phi công hữu, thống nhất trong tiến trình xây dựng hiện đại hoá
xã hội chủ nghĩa, hai khâu này không thể đối lập với nhau” Tuy nhiên, chưa đề cập nhiều đến đại diện CSH trong các DNNN
Trang 15Cuốn sách Báo cáo phát triển kinh tế và cải cách thể chế phát triển Trung
Quốc - 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc (1978-2008) của Trâu Đông
Đào [78] đã tổng kết khá đầy đủ những thành tựu và hạn chế trên nhiều lĩnh vực trong công cuộc cải cách, mở cửa suốt 30 năm của Trung Quốc Trong đó quan
điểm mới về việc nghiên cứu vấn đề chế độ sở hữu trong bài Sự chuyển biến
quan điểm tư tưởng từ khi cải cách mở cửa đến nay của Đổng Đức Cương [61]
đã mở rộng và sâu sắc hóa khái niệm chế độ sở hữu và quyền sở hữu như “quyền tài sản”; từ chỗ chú trọng quá mức “công hay tư” đến chỗ cần chú trọng “tốt hay xấu” trước tiên; từ thuyết công tư đối lập đến thuyết cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy lẫn nhau; từ chỗ chia đôi một cách hẹp hòi “công hữu” và “tư hữu” tới chỗ
có tầm nhìn đa chiều để nhận thức vấn đề chế độ sở hữu; xu thế và phương hướng phát triển chế độ sở hữu đương đại là chế độ sở hữu hỗn hợp với hình thức là chế độ cổ phần Nó gồm các thành phần sở hữu như sở hữu chung, sở hữu tư nhân; sở hữu của nhà nước, sở hữu của dân thường
Nghiên cứu 30 năm cải cách chế độ sở hữu và phát triển kinh tế ngoài chế
độ công hữu ở Trung Quốc của Trâu Đông Đào, Âu Dương Nhật Huy [78], hai
học giả đã nhìn lại công cuộc cải cách chế độ sở hữu và phát triển khu vực kinh
tế ngoài chế độ công hữu qua 4 giai đoạn: (1) Giai đoạn điều chỉnh sơ bộ cơ cấu chế độ sở hữu (1978-1991); (2) Giai đoạn tiếp tục điều chỉnh cơ cấu chế độ sở hữu (1992-1997), trong giai đoạn này đã điều chỉnh DNNN lớn và vừa, thí điểm thực hiện chế độ doanh nghiệp hiện đại; (3) Giai đoạn đa nguyên hóa chủ thể của
cơ cấu chế độ sở hữu (1998-2001), DNNN lớn và vừa bắt đầu cải cách mạnh mẽ, đẩy nhanh các bước cải cách chế độ cổ phần trong DNNN; (4) Giai đoạn thực hiện tối ưu hóa cơ cấu chế độ sở hữu (từ sau năm 2002), sau nhiều năm cố gắng, tiến trình cải cách DNNN theo chế độ cổ phần, chế độ công ty đã có nhiều bước tiến mới Hai học giả cũng chỉ ra 7 vấn đề tồn tại trong cơ cấu chế độ sở hữu và trong quá trình phát triển của kinh tế ngoài chế độ công hữu của Trung Quốc: (1) Quan điểm lạc hậu về chế độ sở hữu vẫn còn tồn tại; (2) Quy mô, cơ cấu và bố cục ngành nghề vẫn tồn tại những thiên lệch về cơ cấu chế độ sở hữu; (3) Việc chuyển đổi chức năng của chính phủ chưa được thực hiện triệt để nên chưa thể
Trang 16đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế ngoài chế độ công hữu trong giai đoạn mới; (4) Thị trường tiếp nhận tiền vốn ngoài chế độ công hữu nhưng vẫn tồn tại chính sách phân biệt đối xử và hiện tượng “cửa kính”; (5) Không bình đẳng trong việc phân phối tài nguyên các yếu tố sản xuất như tiền vốn; (6) Chế độ bảo vệ và môi trường pháp lý đối với quyền tài sản tư hữu rất cần hoàn thiện ngay; (7) Cần nâng cao hơn nữa chất lượng của kinh tế ngoài chế độ công hữu
Từ đó, hai học giả đã nêu ra 6 kinh nghiệm cơ bản về cải cách chế độ sở hữu và phát triển kinh tế chế độ công hữu, đó là: (1) Giải phóng tư tưởng, lý luận chế
độ sở hữu bắt kịp thời đại (2) Tích cực áp dụng nhiều hình thức triển khai hiệu quả chế độ công hữu (3) Điều chỉnh và thực hiện tối ưu hóa bố cục và cơ cấu của kinh tế nhà nước (4) Xây dựng, kiện toàn thể chế quản lý và giám sát tài sản nhà nước, trong đó trọng tâm là việc thực hiện tách chức năng quản lý công
ra khỏi chức năng người đầu tư vốn của chính phủ, thực hiện kết hợp giữa việc quản lý tài sản với quản lý nhân sự, quản lý công việc (5) Bảo vệ tài sản tư hữu, thúc đẩy kinh tế ngoài chế độ công hữu phát triển; (6) Kiên định “không dao động” trong việc khuyến khích, giúp đỡ, dìu dắt kinh tế ngoài chế độ công hữu phát triển
1.1.2 Về bổ nhiệm, kiểm tra, giám sát đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước và cải cách doanh nghiệp nhà nước
Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD) - Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế- là diễn đàn duy nhất mà các chính phủ của hơn 30 nước dân chủ làm việc với nhau (Úc, Áo, Bỉ, Canada, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Iceland, Ireland, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Cộng hòa Slovak, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ…) để giải quyết các thách thức kinh tế, xã hội và
môi trường của toàn cầu hóa Cuốn OECD Guidelines on Corporate Governance
of State-owned Enterprises (Hướng dẫn của OECD về quản trị DNNN) ISBN
92-64-00942-6 [139], nhằm phổ biến rộng rãi các kết quả thống kê, thu thập và nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường, cũng như công ước, các
Trang 17hướng dẫn và tiêu chuẩn đồng ý của các thành viên Trong đó chỉ rõ, quản trị DNNN là một thách thức lớn trong nhiều nền kinh tế, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có bất kỳ tiêu chuẩn quốc tế nào giúp các chính phủ đánh giá và cải tiến cách thức thực hiện quyền sở hữu các DNNN vốn thường chiếm một phần đáng
kể trong nền kinh tế Một thách thức lớn là tìm ra sự cân bằng giữa trách nhiệm của nhà nước đối với việc tích cực thực hiện các chức năng sở hữu, như việc đề
cử và bầu cử của HĐQT, trong khi đồng thời kiềm chế áp đặt can thiệp chính trị không chính đáng trong việc quản lý công ty Mặt khác, thách thức quan trọng là đảm bảo rằng có một sân chơi bình đẳng trong các thị trường mà các công ty tư nhân có thể cạnh tranh với các DNNN và các chính phủ không làm biến dạng cạnh tranh trong cách họ sử dụng các quy định hoặc quyền giám sát Từ những nghiên cứu trên, OECD cho rằng nhà nước nên thực hiện các chức năng sở hữu thông qua một thực thể quyền sở hữu tập trung, có hiệu quả, công khai, minh bạch Đồng thời OECD đề xuất việc tách biệt nghiêm ngặt quyền sở hữu nhà nước và các chức năng quản lý nhằm đảm bảo quyền sở hữu nhà nước được thực hiện một cách chuyên nghiệp, có trách nhiệm và nhà nước đóng vai trò tích cực trong việc cải thiện quản trị doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh
tế Kết quả sẽ là những doanh nghiệp lành mạnh, có tính cạnh tranh và minh bạch hơn Trong đó, cần xác định rõ việc thực hiện quyền sở hữu nhà nước trong các DNNN bằng cách tập trung chức năng sở hữu; phải chịu trách nhiệm về các
cơ quan đại diện như Quốc hội và các cơ quan công cộng có liên quan
Cuốn Commonwealth Government Business Enterprise Governance and
Oversight Guidelines (Doanh nghiệp của Chính phủ Liên bang, các Hướng dẫn
về Quản trị và Kiểm soát DNNN) [138] của Department of Finance and Deregulation của Chính phủ Úc (Australian Government), tháng 12/2011 (ISSN: 978-1-921600-84-5 (Print); ISSN: 978-1-921600-85-2 (Online)), định nghĩa một doanh nghiệp Chính phủ- Government Business Enterprise (GBE)- là một cơ quan của Chính phủ Liên bang hoặc Công ty Khối thịnh vượng chung được định nghĩa bởi Đạo luật Cạnh tranh và Các Công ty Khối thịnh vượng chung năm
1997 (CAC Act) và được quy định là một GBE theo Quy chế của Cơ quan Khối
Trang 18thịnh vượng Chung năm 1997 (CAC Act Regulations) Các Hướng dẫn Quản trị
và Giám sát của Chính phủ Liên bang (Hướng dẫn của GBE) áp dụng cho các GBEs là các cơ quan của Chính phủ Liên bang (GBEs chính quyền) và các GBEs là các công ty thuộc sở hữu toàn bộ của Commonwealth Company (công
ty sở hữu 100% vốn của công ty) Với các nguyên tắc chính trong Hướng dẫn của GBE là: Bộ trưởng cổ đông thực hiện kiểm soát chiến lược phù hợp với trách nhiệm giải trình với Quốc hội và công chúng; Bộ trưởng Cổ đông đã đề ra các mục tiêu rõ ràng cho các GBEs; các giám đốc của một GBE phát triển các chiến lược kinh doanh và xử lý các chính sách quản lý hàng ngày…
Cuốn sách Báo cáo số 2- Báo cáo so sánh kinh nghiệm trên thế giới về
quản lý vốn nhà nước dành cho Ngân hàng Phát triển Châu Á và Bộ Tài chính
thuộc Dự án ADB TA-8016 VIE: Tăng cường hỗ trợ Chương trình cải cách
DNNN và hỗ trợ quản trị công ty (39538-034) của UNICO (UK) Limited, năm
2013 đã cung cấp thông tin trong việc bố trí thành phần HĐQT; quy trình đề cử,
bổ nhiệm HĐQT; đánh giá hiệu quả hoạt động và mức lương thành viên HĐQT của các nước trên thế giới [127]
Trong bài 30 năm cải cách chế độ sở hữu và phát triển kinh tế ngoài chế
độ công hữu ở Trung Quốc của Trâu Đông Đào, Âu Dương Nhật Huy [78,
tr.310] đã nêu kinh nghiệm xây dựng, kiện toàn thể chế quản lý và giám sát tài sản nhà nước, trọng tâm là việc thực hiện tách chức năng quản lý công ra khỏi chức năng người đầu tư vốn của chính phủ, thực hiện kết hợp giữa việc quản lý tài sản với quản lý nhân sự, quản lý công việc Theo đó, Chính phủ Trung Quốc thành lập Ủy ban Quản lý và Giám sát tài sản nhà nước ở các DNNN (SASAC) Ủy ban là cơ quan đặc biệt, có nhiệm vụ phụ trách xây dựng ban lãnh đạo của DNNN do Trung ương quản lý; phụ trách công tác quản lý của DNNN; giám sát và kiểm tra cán bộ, nhân viên của DNNN Đây là mô hình cơ quan đại diện CSH vốn nhà nước trong các DNNN có thể nghiên cứu, áp dụng vào Việt Nam
Tại Hội thảo quốc tế cải cách kinh tế vì tăng trưởng bao trùm và bền
vững, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam năm 2014 của UNDP phối
Trang 19hợp với Bộ Ngoại giao Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam [136], có các bài:
- Cải cách doanh nghiệp nhà nước: Bài học cho Việt Nam của Gary H
Jefferson [136, tr.266], đã xem xét kinh nghiệm cải cách DNNN tại một số quốc gia (chủ yếu là Trung Quốc, Brazil, Singapore và Hàn Quốc) để rút ra một số kinh nghiệm bài học cho nỗ lực cải cách của Việt Nam, trong đó có bài học về phân bổ rõ ràng quyền sở hữu và giảm thiểu chi phí giao dịch bên cạnh việc tổ chức các điều khoản về doanh nghiệp Các vấn đề thất thoát khiến các doanh nghiệp và ngân hàng của một nước hoạt động như hàng hóa công Do sự yếu kém trong quản trị, kết quả của việc phân quyền quản lý và sở hữu quá tham vọng, tài sản của các DNNN dần biến mất do sự kết hợp của nhiều yếu tố như quản lý yếu kém, trốn tránh, hoạt động không hiệu quả và thậm chí là tiêu sài tùy tiện Khi tiếp tục hoạt động kém hiệu quả, tích lũy lỗ, DNNN đòi hỏi các ngân hàng phải cứu trợ, thu hút nguồn lực ra khỏi hệ thống ngân hàng khiến hệ thống ngân hàng, cũng thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, ngày càng tích lũy thêm các khoản nợ xấu không có khả năng thanh toán Các vấn đề thất thoát khiến các doanh nghiệp và ngân hàng của một nước hoạt động như hàng hóa công Điều này cho thấy sự yếu kém của quyền sở hữu và khả năng giám sát tài sản đã tạo ra nhiều vấn đề Vấn đề cốt lõi của DNNN chính là sự phân chia sở hữu không rõ ràng Một từ trong Tiếng Trung chỉ thuộc sở hữu nhà nước là “quanmin”, có nghĩa là thuộc quyền sở hữu của người dân Nếu không có sự phân định thẩm quyền rõ ràng giữa các cơ quan chức năng trong việc giám sát nguồn lực của hệ thống doanh nghiệp và xác định rõ động lực để nắm bắt các nguồn lực phát sinh
từ việc giám sát có hiệu quả, thì đến lúc đó, các nguồn lực của Nhà nước sẽ bị thất thoát
- Cải cách doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc: Chính sách, quá
trình và đánh giá của Zhang Jun [136, tr327], đã tóm tắt diễn biến của các chính
sách cải cách doanh nghiệp của Trung Quốc trong vòng ba thập kỷ qua bằng hai
từ “thực dụng” và “thực nghiệm”, không có một chính sách chung nào được áp dụng trên toàn quốc, nhiều chính sách khác nhau được triển khai qua từng giai
Trang 20đoạn, rất nhiều cải cách bắt nguồn từ việc triển khai thí điểm từ các cấp chính quyền địa phương
- Kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Indonesia của
Laksamana Sukardi [136, tr.397] đã nêu lên mối liên hệ giữa quản trị kém và tính dễ tổn thương của DNNN, từ đó đưa ra giải pháp cải tổ DNNN ở Indonesia Cần có một khung pháp lý đủ mạnh để hỗ trợ quá trình cải cách DNNN gồm những luật liên quan đến quản lý nhà nước, luật thị trường vốn, luật doanh nghiệp… Nghị viện Indonesia đã phê chuẩn Luật DNNN, giúp cho Indonesia có khung pháp lý rất tốt để tiến hành tư nhân hóa cũng như CPH các DNNN Luật này nêu rõ các điều liên quan đến quản trị của DNNN, đó là yếu tố rất quan trọng Có rất nhiều bộ chủ ngành, bộ chủ quản muốn can thiệp nhất định vào tiến trình cải cách DNNN Khi đã có hơn một bộ chủ ngành tham gia thì phải phân định rất rõ trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên
Ở đây, các tác giả đã đề cập đến tầm quan trọng của sự phân định rõ ràng thẩm quyền giữa các cơ quan chức năng trong việc giám sát nguồn lực của hệ thống DNNN và xác định rõ động lực để nắm bắt các nguồn lực phát sinh từ việc giám sát có hiệu quả, chống thất thoát; các chính sách khác nhau được triển khai qua từng giai đoạn; khung pháp lý để cải cách DNNN và trách nhiệm của bộ chủ quản
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.2.1 Nghiên cứu về đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp và mô hình đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp
- Đề tài khoa học cấp quốc gia KX04.09/06-10, giai đoạn 2006-2010: Vấn
đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
của Nguyễn Kế Tuấn [126] đã làm rõ những vấn đề lý luận về bản chất và đặc trưng của vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; các hình thức sở hữu; đặc điểm
Trang 21hình thành các hình thức sở hữu; xác định xu hướng phát triển của các hình thức
sở hữu trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đề tài có ý nghĩa tham khảo quan trọng trong việc xây dựng khung lý thuyết nói chung cũng như xây dựng khái niệm về cơ chế đại diện chủ
sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp của luận án
- Cuốn sách Doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước- pháp luật điều chỉnh
và mô hình chủ sở hữu theo kinh nghiệm quốc tế của Trần Tiến Cường [62] đã
giới thiệu kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và pháp luật điều chỉnh đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước và việc thực hiện quyền CSH nhà nước ở một số nước gồm các nước kinh tế thị trường lâu đời (Thụy Điển, Phần Lan, Niu-di-lân), các nền kinh tế mới ở Châu Á (Hàn Quốc, Sing-ga-po), nước chuyển đổi ở Đông Âu (Hung-ga-ri), nước có điều kiện kinh tế xã hội có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam (Trung Quốc) Nhằm tập trung trả lời những câu hỏi: Mục tiêu và phương thức đầu tư của Nhà nước là gì? CSH nhà nước có các quyền gì? Ai là người được giao thực hiện các quyền của CSH nhà nước? Các quyền của CSH nhà nước được thực hiện như thế nào? Việc giám sát thực hiện các quyền của CSH ra sao? Những luật nào điều chỉnh đối với các loại doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước và quy định việc phân công, phân cấp thực hiện quyền của CSH như thế nào? Từ đó rút ra những bài học cần thiết có thể áp dụng vào bối cảnh của Việt Nam
- Cuốn sách Đổi mới mô hình đại diện đại diện chủ sở hữu nhà nước đối
với doanh nghiệp nhà nước: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng vào Việt Nam của do Nguyễn Đình Cung, Bùi Văn Dũng [60] đã cung cấp những thông
tin về cơ sở khoa học và thực tiễn của việc đổi mới mô hình tổ chức thực hiện chức năng CSH Nhà nước đối với DNNN theo hướng tách chức năng CSH Nhà nước với chức năng quản lý Nhà nước của một số quốc gia và Việt Nam
- Luận án: Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt
Nam của Phạm Thị Thanh Hòa [81], đã tập trung nghiên cứu thực trạng cơ chế
quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn
2001-2010 trên góc độ CSH nhà nước với các khía cạnh: Cơ chế đầu tư vốn, cơ chế
Trang 22quản lý sử dụng vốn, cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế, cơ chế giám sát việc đầu tư, sử dụng vốn và hình thức thực hiện quyền CSH nhà nước tại doanh nghiệp Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu
tư tại doanh nghiệp Luận án: Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà
nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng của Nguyễn Thị Kim Đoan [79] đã đưa ra
khái niệm, nội dung quản lý vốn nhà nước tại các DNNN, nhân tố ảnh hưởng đến quản lý vốn nhà nước tại các DNNN, là những tài liệu tham khảo có giá trị trong quá trình nghiên cứu luận án này
- Luận án: Cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự
nghiệp ở Việt Nam của Nguyễn Mạnh Hùng [85] đã đưa ra khung lý thuyết
tương đối đầy đủ về Cơ chế nói chung cũng như Cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam Mặc dù đề tài không đề cập nhiều về vấn đề đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, nhưng có ý nghĩa tham khảo về xây dựng khung lý thuyết của luận án này
- Dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh
doanh của Chính phủ trình Quốc hội khóa XIII, tại kỳ họp thứ 8 [132] bao gồm: Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp [44]; Báo cáo phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách và hoạt
động của DNNN; Báo cáo đánh giá tác động Dự án luật Đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp [43]; Tờ trình về Dự án Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, số 156/TTr-CP, ngày 20-5-2014 của Chính phủ; Báo cáo thẩm tra về Dự án luật Đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, số 1892/BC-UBKT13, ngày 21/5/2014 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; Báo cáo tiếp thu, chỉnh lý, giải trình Dự án Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, số 794/BC-UBTVQH13, ngày 24/11/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là nguồn tư liệu tham khảo phong phú cho luận án
- Hội thảo khoa học quốc gia- Các lý thuyết kinh tế chính trị trong bối cảnh phát triển mới của thế giới và những vấn đề rút ra cho Việt Nam, tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 01/2010, Nguyễn Ngọc Thanh đã
Trang 23đưa ra khái niệm về chủ sở hữu (principals), người đại diện (Agent) và mối
quan hệ giữa CSH, người đại diện trong bài Vấn đề chủ sở hữu và người đại
diện - Một số gợi ý về chính sách cho Việt Nam [109]; hay bài báo Lý thuyết người đại diện, lý thuyết trò chơi và bài toán Người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp của Trần Việt Lâm [88] đã phân tích và đề xuất ban đầu có tính
nguyên tắc nhằm giảm bớt chi phí người đại diện và có thể xác định được trách nhiệm của cá nhân người đại diện vốn nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó để lựa chọn người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp Những nội dung này có ý nghĩa tham khảo đối với luận án, nhất là trong việc xây dựng khung lý thuyết, phân tích thực trạng và đề ra giải pháp hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
1.2.2 Nghiên cứu về cơ chế kiểm tra, giám sát đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước
- Cuốn sách Một số giải pháp nhằm hạn chế mối quan hệ không bình
thường giữa một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền với các doanh nghiệp để trục lợi ở nước ta [90] và cuốn Nghiên cứu mối quan hệ không bình thường giữa một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền với các doanh nghiệp để trục lợi [91] của Lê Hồng Liêm, đã nêu bật cơ sở hình thành và tiêu
chí xác định, nhận diện mối quan hệ không bình thường giữa cán bộ, đảng viên
có chức, có quyền trong các cơ quan nhà nước, trong các lĩnh vực chuyên trách; thực trạng công tác kiểm tra của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đối với việc phòng, chống và những giải pháp của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác phòng ngừa và xử lý mối quan hệ không bình thường giữa cán bộ, đảng viên có chức, có quyền với các doanh nghiệp để trục lợi
- Cuốn sách Thực trạng xu hướng và giải pháp phòng, chống "lợi ích
nhóm" ở Việt Nam hiện nay [128], đã nêu lên tình trạng một số quan chức thông
đồng với doanh nghiệp để vụ lợi ngày càng nhiều, có dấu hiệu trầm trọng hơn trong tất cả các lĩnh vực, gồm các hình thức như: nhóm thân hữu, nhóm chung lợi ích, nhóm lợi ích cục bộ, vụ lợi cá nhân
Trang 24- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2012, Học viện Tài chính, Bộ
Tài chính: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các tập
đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay của Đỗ Thị Thục, Nguyễn Thị Thu Hương [120]
đã tập trung nghiên cứu thực trạng cơ chế, chính sách; tổ chức bộ máy quản lý vốn nhà nước; công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn nhà nước và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhà nước của các tập đoàn kinh tế trong thời gian vừa qua, nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Giám sát tài chính của Nhà nước đối
với DNNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước tại Việt Nam: Hiện trạng và giải pháp hoàn thiện của Bùi Văn Vần, Đặng Quyết Tiến [135], đã tập trung
nghiên cứu thực trạng giám sát tài chính của nhà nước đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý, tổ chức bộ máy và hệ thống công cụ hỗ trợ giám sát tài chính
- Hội thảo khoa học Giám sát tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước và
doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp do Học
viện Tài chính tổ chức [82], với 47 bài tham luận đã đánh giá một cách toàn diện
và có hệ thống về công tác giám sát tài chính DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước, trong đó có nhiều bài đề cập đến cơ chế, chính sách giám sát đại diện
CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, như: Quản lý vốn nhà nước trong
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước - Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác giám sát tài chính của nhà nước do Trần
Văn Tá [82, tr.28]; Bàn về việc thực hiện quyền chủ sở hữu tại các doanh nghiệp
có vốn nhà nước của Nghiêm Thị Thà [82, tr.40]; Kinh nghiệp quốc tế về đầut
tư, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và bài học đối với Việt Nam của Trần
Tiến Cường [82, tr.50]; Mô hình giám sát tài chính đối với tập đoàn kinh tế nhà
nước- từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn Việt Nam của Phạm Tiến Đạt [82,
tr.123]; Cơ chế giám sát tài chính trong tiến trình tái cơ cấu Tổng công ty Bưu
điện Việt Nam của Phạm Anh Tuấn [82, tr.137]; Hoàn thiện cơ chế, chính sách giám sát tài chính doanh nghiệp nhà nước nhìn từ kinh nghiệm quốc tế của Bạch
Trang 25Thị Thu Hường [82, tr.233] là nguồn tài liệu tham khảo quý giá trong quá trình nghiên cứu luận án này
1.2.3 Nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước và đổi mới, cải cách, tái
cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
- Cuốn sách Doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa của Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương
và Hiệp hội doanh nghiệp thành phố Hà Nội [83] có bài "Nhận thức vai trò,
trách nhiệm và mối quan hệ giữa chủ sở hữu, đại diện chủ sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước" của Đặng Huy Đông [83, tr.74] đã khái quát thực trạng tổ
chức quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN trong giai đoạn hiện nay, đánh giá chung về việc tổ chức thực hiện chức năng của CSH đối với DNNN và định hướng xây dựng quy định pháp lý về phân công, phân cấp cho các chủ thể tham gia thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của CSH
- Cuốn sách Thành công và bài học đắt giá của doanh nghiệp nhà nước
của Lê Quốc Lý [93], đã tập trung phân tích và nêu bật những vấn đề được, chưa được của DNNN và những vấn đề cần phải đổi mới, cải cách DNNN phát triển Trong đó đã tập trung đi sâu vào các vấn đề về những khó khăn về thể chế, thể chế kinh tế đối với DNNN; khái quát về hệ thống DNNN ở Việt Nam hiện nay; vai trò của DNNN trong nền kinh tế Việt Nam; quan hệ giữa Nhà nước và DNNN ở Việt Nam; CSH nhà nước và vấn đề quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN; mô hình tổ chức thực hiện quyền của CSH nhà nước; mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước đối với DNNN Về vấn đề quyền
sở hữu nhà nước, đại diện CSH nhà nước trong các doanh nghiệp có các bài: Cơ
chế thực hiện quyền sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp sử dụng vốn nhà nước ở Việt Nam của Trần Thị Minh Châu [93, tr.410]; Cơ chế thực hiện quyền của chủ
sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay của Ngô Tuấn Nghĩa
[93, tr365]; Mô hình đại diện đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh
nghiệp nhà nước: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam của Trần Kim
Chung [93, tr.388]; Vai trò của SCIC trong quản lý vốn nhà nước tại doanh
nghiệp của Lê Song Lai [93, tr.577]; Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh
Trang 26nghiệp nhà nước: Vấn đề, thành công và thất bại; nguyên nhân và bài học của
Chu Văn Cấp [93, tr.593]; Trách nhiệm của cán bộ quản lý doanh nghiệp đối với
sử dụng vốn nhà nước: Vấn đề đặt ra và một số kiến nghị của Phạm Thị Khanh
[93, tr.593] Mặc dù mỗi tác giả có những cách tiếp cận khác nhau liên quan đến vấn đề đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, song những nội dung này thực sự có ý nghĩa khi triển khai nghiên cứu cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
- Cuốn sách Doanh nghiệp nhà nước và méo mó thị trường của Dự án Hỗ
trợ tái cơ cấu kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (RCV) [64] cho rằng những bất cập trong thể chế thực hiện chức năng CSH đối với DNNN tạo ra khiếm khuyết lớn trong khung quản trị DNNN, là một trong những lý do chủ yếu
của việc DNNN chưa có quản trị hiện đại So với thông lệ quốc tế, có 3 vấn đề:
Một là, chưa tách biệt chức năng thực hiện quyền CSH với các chức năng khác
của nhà nước Hai là, chưa tập trung và thiếu thống nhất trong thực hiện quyền CSH nhà nước tại DNNN Ba là, bộ máy thực hiện quyền CSH nhà nước chưa
chuyên trách và chuyên nghiệp
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Tiếp tục đổi mới tổ chức thực hiện
chức năng chủ sở hữu phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp của Phạm
Đức Trung [124] đã nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật, bộ máy thực thi, triển khai thực hiện và cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện chức năng CSH phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp Việt Nam Từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý của CSH nhà nước thông qua chuyển đổi công ty nhà nước sang Luật doanh nghiệp; tiếp tục đổi mới tổ chức thực hiện chức năng CSH vốn nhà nước đầu tư tại các công ty nhà nước trong thời gian chưa chuyển đổi; tiếp tục đổi mới thực hiện chức năng CSH vốn nhà nước tại các công ty cổ phần, công ty TNHH; hình thành cơ chế kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện chức năng CSH vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Các giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Hoàng Đức Long, Đỗ Thị Thục [92], đã tập trung nghiệp
Trang 27cứu thực trạng cơ chế, chính sách của Nhà nước và tình hình quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp sau CPH Từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau CPH DNNN
- Đề án Tái cơ cấu DNNN: Đánh giá thực trạng hệ thống doanh nghiệp
nhà nước của Trần Hữu Tiến [121], đã nghiên cứu thực trạng khuôn khổ pháp lý
và giám sát đối với DNNN, thực trạng hoạt động và năng lực tài chính DNNN
Từ đó, nêu lên sự cần thiết phải tái cơ cấu DNNN và gợi ý một số định hướng giải pháp tái cơ cấu DNNN
- Hội thảo quốc tế Cải cách kinh tế vì tăng trưởng bao trùm và bền vững,
kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam do UNDP phối hợp với Bộ Ngoại
giao và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, Nguyễn Đình Cung có
bài Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam [136], đã đánh giá tổng quát về
cải cách DNNN cùng các chính sách cải cách DNNN
- Hội thảo Đổi mới doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân
do Trung tâm Thông tin kinh tế (Ban Kinh tế Trung ương) phối hợp với Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh tổ chức vào ngày 30-5-2017 tại Hà Nội, có nhiều bài phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp cổ phần hóa DNNN, đổi mới DNNN trong giai đoạn hiện nay đã đề cập ít nhiều đến vấn đề đại diện CSH vốn nhà nước, chức năng đại diện CSH, người đại diện vốn nhà
nước Như các bài: Thách thức và triển vọng thực hiện cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020 của Phan Đức Hiếu; Một số ngộ nhận và
kẽ hở trong quản lý doanh nghiệp nhà nước của Nguyễn Minh Phong và Bùi Thị
Minh Anh; Thực trạng và đề xuất giải pháp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
trong chiến lược tái cơ cấu trúc kinh tế Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đại Lai;
Để nâng cao hiệu quả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Lê Anh Duy; Bàn thêm về quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước của Trần Thị
Nguyệt Cầm, Nguyễn Thị Tuyết Trinh và Nguyễn Thị Bích Thủy; Để tái cơ cấu
doanh nghiệp nhà nước đi vào thực chất hơn của Võ Tá Tri, Nguyễn Thị Minh
Hằng [110]
Trang 281.3 NHẬN XÉT KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.3.1 Những kết quả về lý luận và thực tiễn đã đạt được
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên về lý luận đã luận giải khá sâu sắc về chế độ sở hữu, quyền sở hữu đối với DNNN; về cải cách DNNN… Đã làm rõ được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về DNNN trong nền kinh tế thị trường, về sự cần thiết phải thực hiện quyền sở hữu của nhà nước đối với phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp thông qua chủ thể đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới cũng như
ở Việt Nam; nhiều, ít đề cập đến quan niệm và đặc trưng của quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường, về giám sát đối với đại diện CSH vốn trong các DNNN nhằm bảo toàn vốn, hạn chế thất thoát; về mô hình đại diện CSH, người đại diện phần vốn của nhà nước trong các DNNN ở nước ngoài Riêng ở Việt Nam đề cập sâu hơn đến yếu tố định hướng xã hội chủ nghĩa trong cải cách DNNN, về quá trình phát triển của DNNN, trong đó đề cập đặc điểm và vai trò của sở hữu nhà nước trong các DNNN, kinh tế nhà nước và DNNN; khung pháp
lý đại diện CSH của nhà nước ở các DNNN tại Việt Nam; đại diện CSH DNNN; kinh nghiệm của nước ngoài về đổi mới, cải cách DNNN
Đồng thời nhiều công trình khoa học đã công bố đã tập trung nghiên cứu thực trạng hiệu quả hoạt động của DNNN trong nền kinh tế thị trường, đúc rút những thành tựu, hạn chế và chỉ ra một số bất cập trong cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong doanh nghiệp với tư cách là những nguyên nhân làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn nhà nước
Luận án sẽ kế thừa, vận dụng những nội dung này để phân tích, đánh giá
cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
1.3.2 Những khoảng trống cần bổ sung, hoàn thiện tiếp về cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
Do mỗi quốc gia khác nhau có những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội riêng nên sự khác biệt về quan điểm học thuật và điều kiện pháp lý về DNNN ở các nước là khá lớn và từ đó các nghiên cứu về DNNN thường không thống nhất
Trang 29nhau ở các nội dung quan trọng như quan niệm về DNNN, về cơ chế và phương pháp quản lý, quản trị điều hành DNNN; việc thực hiện chức năng đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, mô hình đại diện CSH vốn nhà nước trong các DN… Cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, hơn nữa còn
có sự khác biệt rất lớn trong cách tiếp cận và đề xuất các giải pháp về vấn đề này Xét trên phương diện kinh tế chính trị cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện về cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, vì vậy luận án cần tập trung làm
rõ những vấn đề chủ yếu về lý luận và thực tiễn, bao gồm:
- Tính tất yếu khách quan của thực hiện sở hữu nhà nước thông qua cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ sở hình thành, bản chất, đặc điểm, vai trò, nội dung của cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp và các nhân
tố ảnh hưởng
- Thực trạng cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những bất cập nảy sinh và nguyên nhân
- Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 30Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN
CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
2.1 KHÁI NIỆM CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
2.1.1 Sở hữu Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Sở hữu là hình thức xã hội của chiếm hữu của cải, được hình thành và phát triển không ngừng trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại trên cơ sở phát triển của sản xuất vật chất Sở hữu phản ánh quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội về các đối tượng sở hữu với tư cách là những của cải quan trọng, cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển của con người, đặc biệt là tư liệu sản xuất Sở hữu
tư liệu sản xuất luôn là điều kiện đặc biệt của sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế Trong các điều kiện lịch sử cụ thể, sở hữu tư liệu sản xuất có thể tồn tại, vận động và phát triển dưới những loại hình gồm công hữu và tư hữu và hình thức sở hữu nhất định như sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân
Với sự hình thành và phát triển của nhà nước với tư cách là bộ máy quản
lý xã hội, sở hữu nhà nước cũng được hình thành và phát triển, trở thành lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước tồn tại và thực thi những chức năng, nhiệm vụ của mình Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vai trò kinh tế của nhà nước được mở rộng, theo đó sở hữu nhà nước cũng không ngừng được
mở rộng và phát triển
Theo kết quả nghiên cứu Đề tài KX04.09/06-10 giai đoạn 2006-2010,
“Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Nguyễn Kế Tuấn [126] cho thấy: Trong bất kỳ chế độ xã hội nào, Nhà nước đều có quyền và trách nhiệm quản lý toàn diện đời sống kinh tế- xã hội của đất nước Trong điều kiện đương đại, Nhà nước, về danh nghĩa, đều được coi là đại diện của cả cộng đồng quốc gia, được cộng đồng quốc gia bầu ra một cách trực tiếp hay gián tiếp, được cộng đồng quốc gia giao quyền và trách nhiệm thực hiện các chức năng quản lý đất nước Để thực thi trách nhiệm của mình, một
Trang 31mặt, Nhà nước nhân danh đại diện CSH toàn dân (đại diện CSH các tài sản thuộc
cả cộng đồng quốc gia) sử dụng các tài sản quốc gia; mặt khác, Nhà nước tạo ra các tài sản thuộc sở hữu của mình bằng những cách khác nhau, trong đó có cả cách sử dụng tài sản thuộc sở hữu toàn dân Nhưng thực tế thường khó có thể phân định rõ ràng giữa tài sản thuộc sở hữu toàn dân được Nhà nước sử dụng với
tư cách đại diện CSH và tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước
Mọi quốc gia đều có những tài sản chung được xác định là đối tượng sở hữu của cả cộng đồng dân tộc Do vậy, theo quan niệm rộng, sở hữu toàn dân là hình thức phổ biến ở các quốc gia theo các chế độ chính trị- xã hội khác nhau Đối tượng sở hữu được quy định theo pháp luật với những phạm vi khác nhau tùy điều kiện cụ thể và quan niệm của mỗi quốc gia Nhưng dẫu với phạm vi nào
và với thể chế chính trị- xã hội nào, đối tượng sở hữu ấy phải thể hiện độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia ấy Nhà nước quy định hệ thống luật pháp yêu cầu và chế định mọi công dân phải tuân thủ trong quản lý và sử dụng tài sản quốc gia, đồng thời Nhà nước cũng phải tuân thủ các quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong quản lý, sử dụng tài sản quốc gia, xã hội (cộng đồng công dân) có quyền và nghĩa vụ giám sát và chế định hoạt động của Nhà nước liên quan đến tài sản quốc gia ấy
Trong chế độ sở hữu toàn dân, Nhà nước là chủ thể có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Với tư cách đại diện CSH toàn dân và với tư cách CSH, Nhà nước thực hiện quyền sở hữu với các loại tài sản thuộc cả sở hữu toàn dân và tài sản thuộc sở hữu nhà nước Song khi thực hiện các chức năng của quản lý Nhà nước phù hợp với các nguyên tắc thị trường, Nhà nước sẽ không trực tiếp thực hiện các quyền ấy, mà thông thường giao cho các chủ thể kinh tế khác quản lý và sử dụng theo những yêu cầu của Nhà nước Trong trường hợp này, việc bảo đảm hiệu quả
sử dụng tài sản thuộc sở hữu toàn dân và tài sản thuộc sở hữu nhà nước đòi hỏi phải có cơ chế quy định quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng và có một tổ chức thích hợp Nhà nước không nhất thiết phải giao tài sản thuộc sở hữu nhà nước và sở hữu toàn dân cho người “của Nhà nước”, biến họ trở thành những công chức làm kinh doanh, mà cần thực hiện nguyên tắc “giao tài sản cho chủ thể nào có thể bảo đảm
sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất” Đây chính là cách thức vận dụng
Trang 32nguyên lý tách rời giữa quyền sở hữu với quyền quản lý và quyền sử dụng Người được giao quản lý, sử dụng tài sản sẽ được hưởng một phần lợi ích sinh ra từ sử dụng tài sản, đồng thời có trách nhiệm bảo toàn và bảo đảm hiệu quả sử dụng các tài sản được giao Các quyền lợi và trách nhiệm ấy được quy định trong các pháp luật của Nhà nước và các hợp đồng thích ứng [126]
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Sở hữu Nhà nước là hình thức sở hữu mà Nhà nước là người đại diện cho nhân dân quản lý, nắm giữ tư liệu sản xuất Sở hữu nhà nước là một loại hình thức sở hữu đặc biệt, ở Việt Nam hiện nay sở hữu nhà nước được hiểu là sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện [105]
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, sở hữu nhà nước và sở hữu toàn dân có thể có mối quan hệ nhất định, nhà nước với tư cách là chủ thể đại diện cho toàn xã hội có thể quản lý, sử dụng các đối tượng sở hữu thuộc sở hữu toàn dân Trong luận án này sẽ sử dụng khái niệm sở hữu nhà nước với tư cách là hình thức sở hữu đặc thù trong nền kinh tế thị trường mà trong đó CSH là Nhà nước, đối tượng sở hữu là những tài sản thuộc sở hữu của nhà nước và những tài sản, nguồn lực thuộc sở hữu toàn dân mà nhà nước là chủ thể quản lý, sử dụng
2.1.2 Đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng của sở hữu không những mang những hình thái hiện vật cụ thể, mà còn mang hình thái giá trị Từ đó vốn cũng trở thành một trong những đối tượng chủ yếu của sở hữu, trong đó có sở hữu nhà nước, về điều kiện sản xuất, kinh doanh
Vốn nhà nước là một loại tài sản của CSH nhà nước, vì vậy, CSH vốn nhà
nước có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản này Tuy nhiên, khác với chủ thể sở hữu tư nhân, nhà nước là chủ thể nhiều cấp độ với lượng vốn sở hữu vô cùng to lớn Theo sự phát triển của kinh tế thị trường, quy mô, sự phân bố của vốn nhà nước và yêu cầu phải quản lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước một cách có hiệu quả nhất đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, phục vụ lợi ích của cả cộng đồng các dân tộc đã và đang đòi hỏi phân quyền trong quan hệ sở hữu nhà nước, thực hiện quyền sở hữu vốn của nhà nước gián tiếp thông qua việc nhà nước không những giao quyền chiếm hữu
Trang 33sử dụng vốn nhà nước cho các chủ thể kinh tế khác, mà cả việc thực hiện quyền CSH vốn nhà nước cũng được giao cho các chủ thể đại diện CSH vốn nhà nước Với tư cách là CSH vốn nhà nước, Nhà nước sẽ thực hiện quyền sở hữu chi phối các quan hệ tổ chức quản lý, sử dụng chúng như một trong các công cụ để định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Khi trao quyền quản lý và quyền sử dụng cho các chủ thể khác, Nhà nước phải có những quy định rõ ràng để vừa ràng buộc trách nhiệm, vừa tạo động lực sử dụng các yếu tố thuộc sở hữu nhà nước một cách có hiệu quả nhất [126]
Đại diện CSH vốn nhà nước, trong sự khác biệt với CSH, có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, nhưng chỉ có quyền định đoạt hạn chế theo ủy quyền của CSH Quyền chiếm hữu là quyền của CSH tự mình nắm giữ, quản lý đối tượng thuộc sở hữu của mình Quyền sử dụng là quyền của CSH khai thác công dụng và hưởng lợi thu được từ đối tượng sở hữu Quyền định đoạt là quyền của CSH chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở
hữu đối tượng sở hữu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Vốn
nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận
có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư
tại doanh nghiệp Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu
tư kinh doanh [107] Vốn nhà nước được Nhà nước đầu tư chủ yếu vào DNNN
Doanh nghiệp nhà nước được quan niệm khác nhau ở mỗi quốc gia trên
thế giới, tuy nhiên, vẫn có thể tìm thấy điểm chung của các nước là dựa vào định nghĩa do Jones đưa ra lần đầu tiên vào năm 1975 ở Hàn Quốc và được Ngân hàng thế giới thừa nhận, đó là: DNNN là các thực thể kinh tế thuộc sở hữu hay thuộc quyền kiểm soát của chính phủ mà phần lớn thu nhập của nó được tạo ra thông qua việc bán các hàng hóa, dịch vụ [96] Về tên gọi, DNNN có thể được biết tới với những thuật ngữ trong tiếng Anh như Government-owned Corporation, State-owned Company, State-owned Entity, State Enterprise, Publicly owned Corporatiom, Government Business Enterprise, Government
Trang 34Enterprise, Government Invested Enterprise, Commercial Government Agency
Về địa vị pháp lý, DNNN ở phần lớn các quốc gia đều được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH theo luật doanh nghiệp chung (hoặc luật công ty) như doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân Về sở hữu, DNNN được hiểu
là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ hoặc nắm giữ quyền chi phối Doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước bao gồm 3 dạng hình chủ yếu: 1) Doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư toàn bộ vốn hoạt động theo khung
khổ pháp lý riêng 2) Doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư toàn bộ vốn điều lệ hoặc
Nhà nước có cổ phần, vốn góp chi phối tổ chức dưới các hình thức công ty hoạt động theo khung khổ pháp lý chung với các công ty khác 3) Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp không chi phối của Nhà nước
Ở Việt Nam, thuật ngữ DNNN được sử dụng chính thức lần đầu trong Nghị định số 388/HĐBT, ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc ban hành quy chế thành lập và giải thể DNNN [84] Khái niệm DNNN được hoàn thiện không ngừng trong Luật DNNN năm 1995 [101], Luật DNNN năm 2003 [102], Luật doanh nghiệp năm 2005 [103], Nghị định 99/2012/NĐ-CP của Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của CSH nhà nước đối với DNNN [31] Luật doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa “DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” [106] Theo Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng khóa XII,
“DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phối; được tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty TNHH” [11]
Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, khái niệm DNNN
lại có sự thay đổi, phù hợp hơn với thực tiễn Doanh nghiệp nhà nước nhìn chung không phải một hình thức pháp lý cụ thể, mà là thuật ngữ để chỉ một loại hình doanh nghiệp gắn với vốn nhà nước, trong đó Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH Khái niệm DNNN được sử dụng trong luận án
Trang 35bao gồm doanh nghiệp có vốn Nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước góp vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình phát triển của DNNN trong kinh tế thị trường, một bộ
phận DNNN được CPH Cổ phần hoá DNNN là việc chuyển doanh nghiệp mà
CSH là Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (doanh nghiệp đa sở hữu) Ở Việt Nam, CPH DNNN được bắt đầu triển khai từ năm
1992 nhằm thực hiện các mục tiêu: Chuyển một phần sở hữu Nhà nước sang sở hữu hỗn hợp; huy động vốn của toàn xã hội; tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự trong doanh nghiệp; thay đổi phương thức quản lý trong doanh nghiệp Theo đó đã áp dụng hình thức HĐQT đại diện cho các CSH đối với các công ty cổ phần quốc doanh hoặc liên doanh
Nhà nước với tư cách là CSH của một lượng vốn khổng lồ được đầu tư vào nhiều doanh nghiệp không thể trực tiếp thực hiện đầy đủ quyền của CSH
mà buộc phải phân chia, ủy quyền cho các chủ thể nhất định trong thực hiện sở hữu nhà nước về vốn thông qua cơ chế đại diện, tức là Nhà nước phải giao cho các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện các quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước tại doanh nghiệp Các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền này chính
là đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp Bằng pháp luật, CSH nhà nước quy định phân công, phân cấp cho các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của mình, tức là sẽ có nhiều cấp độ đại diện CSH nhà nước, mỗi cấp độ chủ thể được phân công, phân cấp thực hiện những quyền hạn, trách nhiệm khác nhau
Như vậy, đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp là các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao thẩm quyền thực hiện các quyền hạn và trách nhiệm của CSH là Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước Nhà nước thực hiện quyền của CSH doanh nghiệp có vốn nhà nước thông qua cơ chế đại diện
2.1.3 Khái niệm cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp
Cho đến nay đã có nhiều quan niệm về cơ chế Từ "cơ chế" là chuyển
ngữ của từ mécanisme của phương Tây Theo Từ điển Le Petit Larousse (1999)
giảng nghĩa "mécanisme" là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố
Trang 36phụ thuộc vào nhau" Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông (Tái bản lần thứ nhất,
có sửa chữa và bổ sung) của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Phương Đông,
Hà Nội 2002: Cơ chế là Cách thức theo đó một quá trình thực hiện [137] Các tác giả của cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cũng cho rằng Cơ chế là cách thức sắp
xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện Theo cuốn Sổ
tay về phát triển, thương mại, “Cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng” [97] Theo cuốn Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại thế giới- World Trade Organization: Cơ chế là
hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu tố tạo nên sự hoạt động của sự vật, hiện tượng [123]
Tuy cách tiếp cận về phương diện từ điển học cũng như phương diện khoa học của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể nhận thấy
các quan điểm này đều chỉ ra hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ chế Đó là: yếu tố tổ
chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành) Yếu tố tổ chức đề cập đến các
thành viên (chủ thể) tham gia, cách thức hình thành tổ chức (cơ cấu) và cách thức tổ chức hệ thống nội tại Yếu tố hoạt động thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành viên (sự phân công và hợp tác giữa các thành viên) trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức; nguyên tắc vận hành của
cơ chế và nội dung hoạt động của nó Khái niệm “cơ chế” dù ở nghĩa chung nhất, hay được vận dụng ở cấp độ vĩ mô đều có một điểm chung là nhằm hoàn thành công việc ở trong một hệ thống hoặc một tổ chức Trong hệ thống đó, các
bộ phận cấu thành tham gia vào “cơ chế” ở các mức độ khác nhau tuỳ theo khả năng và trách nhiệm của chúng Điều đó có nghĩa là các bộ phận của hệ thống hoặc tổ chức đều liên quan đến “cơ chế” của nó và cùng thực hiện những quy định của “cơ chế”
Để bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, vốn nhà nước được bảo tồn, phát triển, không bị thất thoát, lãng phí đòi hỏi phải có
cơ chế quy định quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng và giao cho tổ chức, cá nhân
Trang 37thích hợp Không có một mô hình thống nhất về cơ chế thực hiện quyền của CSH nhà nước, kể cả các nước có điều kiện chính trị, kinh tế, địa lý gần giống nhau Xu thế chung của các nước hiện nay là chuyển các DNNN hoạt động theo chế độ công ty Xu thế này thể hiện ở việc tách bạch, phân chia quyền sở hữu giữa CSH nhà nước với người quản lý và sử dụng vốn nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để tránh trường hợp các nhà quản
lý chuyên nghiệp đi ngược lại mục tiêu đầu tư của CSH nhà nước, các nước đều cố gắng áp dụng và hoàn thiện chế độ quản trị doanh nghiệp Đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp thường có các quyền cơ bản sau: (i) Quyết định về hình thành, tổ chức lại và định đoạt doanh nghiệp, như: thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất; chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn (cổ phần) cho tổ chức, cá nhân khác; giải thể doanh ngiệp; đề nghị phá sản doanh nghiệp (ii) Quyết định mục tiêu, chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư, tài chính của doanh nghiệp (iii) Quyết định mô hình
tổ chức quản lý; bổ nhiệm nhân sự cao cấp của doanh nghiệp (iv) Quyết định các chỉ tiêu cơ bản về hoạt động của doanh nghiệp làm cơ sở khen thưởng, kỷ luật bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp (v) Kiểm tra, giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã được giao (vi) Thụ hưởng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Để bảo đảm thống nhất sự quản lý của CSH nhà nước và nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn bộ khu vực DNNN, Nhà nước phải thực hiện những trách nhiệm đối với toàn bộ khu vực DNNN, như: (i) Tổ chức xây dựng và phê duyệt quy hoạch phát triển khu vực DNNN bao gồm thành lập mới, sắp xếp tái
cơ cấu DNNN trong từng ngành, lĩnh vực, địa bàn và trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân (ii) Quy định chế độ và thẩm quyền quyết định cấp vốn đầu tư ban đầu và đầu tư bổ sung tăng vốn điều lệ hoặc chuyển nhượng phần vốn, cổ phần Nhà nước tại doanh nghiệp; chế độ và thẩm quyền quyết định các dự án đầu tư, hợp đồng thuộc thẩm quyền của CSH (iii) Quy định chế độ tài chính doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước; chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác của người đại diện phần vốn Nhà nước và các chức danh khác thuộc thẩm quyền quyết định của CSH Nhà nước
Trang 38Cách thức thực hiện quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước trong các doanh nghiệp
- Nhà nước sử dụng quyền lực để can thiệp và điều chỉnh đối với quá trình hình thành, hoạt động và chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp Việc can thiệp và điều chỉnh của Nhà nước được thực hiện bằng công cụ pháp luật (ban hành quy định pháp luật và tổ chức thực hiện); chính sách (ban hành chính sách và tổ chức thực hiện); chiến lược, quy hoạch và kế hoạch (ban hành chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và tổ chức thực hiện); bộ máy cơ quan quản lý Nhà nước (thực hiện hay ứng xử của công chức, viên chức Nhà nước)
- Ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật về doanh nghiệp và văn bản pháp luật có liên quan
- Xây dựng, ban hành và giám sát việc thực thi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của ngành, lĩnh vực, địa phương
- Xây dựng, ban hành và giám sát thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế, kỹ thuật trong ngành, lĩnh vực, địa phương
- Tổ chức, hướng dẫn đăng ký kinh doanh bảo đảm thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế- xã hội
- Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp; phẩm chất đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp; đào tạo và xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề
- Thực hiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp theo định hướng và mục tiêu của chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội
- Kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân và tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật
Cách thức thực hiện quyền hạn và trách nhiệm của đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp
- Quản lý việc sắp xếp, chuyển đổi DNNN, như chương trình sắp xếp, chuyển đổi; tiêu chí phân loại, sắp xếp; công tác CPH và các hình thức chuyển
Trang 39đổi sở hữu khác; chuyển đổi DNNN sang mô hình tổ chức, hoạt động khác (công
ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế)
- Quản lý hệ thống bộ máy quản lý, giám sát DNNN; bao gồm các cơ quan, tổ chức được giao quyền đại diện CSH phần vốn Nhà nước tại DNNN
- Quản lý đối với cán bộ quản lý DNNN; gồm những nhóm cán bộ: (1) cán bộ đại diện cho CSH Nhà nước, được các cơ quan đại diện CSH quyết định
bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện tại các DNNN như thành viên HĐTV, kiểm soát viên (đối với công ty TNHH một thành viên); những người được để cử và bầu vào chức danh quản lý, điều hành chủ chốt của DNNN là công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên; người đại diện vốn Nhà nước tại các DNNN là công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên; (2) cán bộ quản
lý chủ chốt và cán bộ khác chịu trách nhiệm quản lý, điều hành, phối hợp hoạt động của các bộ phận trong DNNN và đại diện cho DNNN trong quan hệ với bên ngoài doanh nghiệp
- Nội dung quản lý đối với cán bộ quản lý DNNN tập trung vào các vấn
đề tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, chế độ trách nhiệm của đối tượng cán bộ đại diện CSH Nhà nước; vấn đề đánh giá kết quả hoạt động quản lý của cán bộ quản lý chủ chốt của DNNN; quản lý chế độ lương và các chế độ khác đối với ván bộ quản lý chủ chốt nêu trên của DNNN
- Quản lý hoạt động của DNNN, tập trung vào quản lý việc thực hiện mục tiêu của CSH Nhà nước và các hoạt động tài chính của DNNN; quản lý hoạt động đầu tư, kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNN; quản lý việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích của DNNN
Từ những phân tích trên đây về sở hữu nhà nước; đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, về DNNN, về cơ chế, về quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước và đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp có thể đưa ra khái niệm về Cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh
nghiệp như sau:
Cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp là phương thức thực hiện gián tiếp sở hữu nhà nước đối với các nguồn vốn mà nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp thông qua tổng thể những quan hệ kinh tế và pháp lý
Trang 40giữa nhà nước với tư cách là CSH và các chủ thể đại diện CSH vốn nhà nước trong doanh nghiệp nhằm thực hiện hiệu quả sở hữu nhà nước và thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đại diện CSH vốn nhà nước trong các DNNN, bảo đảm các DNNN hoạt động hiệu quả, góp phần thực hiện vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh
tế thị trường
Với khái niệm nêu trên, cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp có vai trò như sau:
Một là, do cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp bao
gồm hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, phương thức tổ chức và những điều kiện đảm bảo để DNNN hoạt động hiệu quả nên vai trò hàng đầu của
cơ chế là định hướng, hướng dẫn, chỉ dẫn hành vi và tạo khuôn khổ cho việc tổ chức thực hiện đại diện CSH vốn nhà nước Ngoài ra cơ chế còn có tác dụng hướng dẫn trong mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan với nhau, giữa con người với nhau thông qua trình tự, thủ tục thẩm quyền, cách thức thực hiện công việc
đó như thế nào
Hai là, cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp có tác
dụng như những căn cứ, cơ sở chuẩn mực để đại diện CSH vốn nhà nước thực hiện Việc phân biệt hành vi đúng - sai, tốt - xấu, hiệu quả - không hiệu quả đều phải căn cứ vào những giá trị, chuẩn mực; những quy định của cơ chế
Ba là, Cơ chế đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp có vai
trò làm giảm tính bất định bằng cách cung cấp thông tin cần thiết và thiết lập một
cơ chế ổn định cho mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan, đơn vị trong bộ máy quản lý nhà nước
2.2 NỘI DUNG CƠ CHẾ ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Nội dung cơ chế đại diện CSH vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp bao gồm: phương thức xác định thẩm quyền của CSH và đại diện CSH trong mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau; cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm, đãi ngộ và cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá đại diện CSH vốn nhà nước trong doanh nghiệp