Đó là cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu,lượng khách du lịch chưa cao, chiến lược phát triển chưa có tầm nhìn xa… Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài “ Phát triển du lịch bền
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Chúng ta đều biết du lịch được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói,một ngành kinh tế phát triển nhanh hàng đầu thế giới Cuộc sống con người ngàycàng phát triển, nhu cầu được hưởng các dịch vụ du lịch ngày càng tăng lên, vì vậy dulịch đã và đang là một ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao và thân thiện với môitrường Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước xác định “du lịch là một ngành kinh tếtổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và
xã hội hóa cao” [1] và đề ra mục tiêu “phát triển du lịch thực sự trở thành một ngànhkinh tế mũi nhọn” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lân thứ I, 2001) và “phát triển
du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế-xã hộinhằm góp phần thực hiện công nghiệ hóa, hiện đại hóa đất nước” [2] Quảng Bình làmột tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú, đặc biệt có Vườn Quốc gia Phong Nha –
Kẻ Bàng là một địa điểm được rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước tới thamquan Trong chương trình phát triển du lịch của tỉnh đã định hướng “Phát triển nhanh
du lịch thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Tăng cường đầu tư phát triển du lịch,
mở thêm các tour du lịch trong và ngoài nước Coi trọng công tác đào tạo bồi dưỡngnghiệp vụ du lịch, nâng cao chất lượng phục vụ du lịch, tăng cường giữ gìn trật tự,bảo vệ môi trường sinh thái…Trong những năm qua lượng du khách đến với PhongNha – Kẻ Bàng là khá lớn Đặc biệt kể từ khi Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàngđược UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới, lượng du khách đến QuảngBình tăng đột biến; nhiều dự án đầu tư phát triển du lịch được triển khai xây dựng.Lợi ích thu được là rất lớn và đáng khích lệ Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiềukhiếm khuyết cần được khắc phục sớm Đó là cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu,lượng khách du lịch chưa cao, chiến lược phát triển chưa có tầm nhìn xa…
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài “ Phát triển du lịch bền vững
ở Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng” làm nội dung nghiên cứu cho báo cáo thực
tập của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Trang 2Mục đích đề tài của chúng tôi nhằm làm rõ vai trò, ý nghĩa và thực trạng pháttriển du lịch ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng Trên cơ sở lí luận và thực tiễn đó báo cáođưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển du lịch bền vữngtrong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh nhà.
Để đạt được mục đích đó, đề tài thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Hệ thống hóa các vấn đề lí luận liên quan đến phát triển du lịch theo hướng bềnvững
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch ở Phong Nha – Kẻ Bàng trong giai đoạn
2007 - 2011
- Đề xuất những giải pháp cơ bản để thúc đẩy phát triển du lịch bền vững trong thờigian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “ Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng”.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Địa bàn Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnhQuảng Bình
+ Về thời gian: Từ năm 2007 đến năm 2011
- Tình hình nghiên cứu: phát triển du lịch là một nội dung quan trọng có ý nghĩa líluận và thực tiễn trong phát triển kinh tế nên có nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết liênquan như:
+ Báo cáo UNDP/WF/RÁ 93/102, Hà Nội Lê Xuân Cảnh, Trương Văn Lã,
Đặng Thị Đáp, Hồ Thu Cúc: “Kết quả điều tra về đa dạng sinh học tại khu Phong Nha – Kẻ Bàng” (1997)
+ Luận án Tiến sĩ: “Phát triển du lịch bền vững ở thành phố Hồ Chí Minh” của
Đoàn Liên Diễm, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
+ Dự án “Hệ động thực vật ở Phong Nha – Kẻ Bàng” của Hồ Thị Ngọc Lanh
(2002)
Nhưng chúng tôi nhận thấy cần có nhiều công trình nghiên cứu hơn nữa để đónggóp vào kho tang lí luận cũng như thực tiễn để phục vụ cho việc phát triển du lịch bềnvững ở Phong Nha – Kẻ Bàng
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Trang 3- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét và phân tíchvấn đề một cách khoa học, khách quan.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp điều tra chọn mẫu
5 Ý nghĩa của đề tài.
- Đề tài này đã đánh giá được thực trạng phát triển du lịch ở Phong Nha – KẻBàng
- Qua quá trình nghiên cứu, đề tài thấy được những ưu điểm cần phát huy cũngnhư những tồn tại còn mắc phải trong quá trình phát triển du lịch ở Phong Nha – KẻBàng
- Làm cơ sở cho địa phương nghiên cứu và vận dụng đưa ra giải pháp để phát triển
du lịch bền vững trên địa bàn Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nói riêng và của tỉnhnói chung
- Ngoài ra đề tài còn là một nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâmnghiên cứu vấn đề này
6 Kết cấu đề tài.
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung đề tàigồm ba chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về phát triển du lịch bền vững
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng trong thời gian từ 2007 đến nay
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững tại VQG Phong Nha– Kẻ Bàng
Trang 4NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: Những lý luận cơ bản về phát triển du lịch bền vững.
1.1 Các khái niệm về du lịch bền bững.
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững.
Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại
mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " [1]
Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất
cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường
1.1.2 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững.
Trong pháp lệnh du lịch của Việt Nam, điều 10 thuật ngữ “Du lịch” được hiểu nhưsau: Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Điều 4 Luật Du lịch: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”
Phát triển du lịch bền vững được Tổ chức Du lịch thế giới (United National WorldTourist Organization, viết tắt là UNWTO) định nghĩa như sau: "Sự phát triển bền vững của ngành du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và của địa phương du lịch, đồng thời bảo vệ và thúc đẩy cơ hội phát triển cho tương lai Sự quản lý của ngành phải cân bằng và đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ mà vẫn duy trì được các giá trị của sinh thái, văn hóa và môi sinh"
1.2 Tính tất yếu của việc phát triển du lịch bền vững.
Tính tất yếu của việc phát triển du lịch bền vững do các nguyên nhân sau
Thứ nhất: Do đặc tính của ngành du lịch đó là ngành kinh doanh tổng hợp phức
tạp và cần phải có quy hoạch phát triển đồng bộ
Thứ hai: Do các yếu tố tạo thành sản phẩm của ngành du lịch phải kết hợp của cả
tài nguyên có khả năng phục hồi, tài nguyên khó phục hồi và hoàn toàn không thể phục hồi được đó là các tài nguyên xã hội,tài nguyên nhân văn và tài nguyên tự nhiên
Thứ ba: Do nhu cầu của khách hay xã hội nói chung về du lịch ngày càng nhiều
và với chất lượng cao hơn và các loại hình du lịch phải phong phú hơn do mức sống của con người nói chung đang được nâng lên rất nhanh, trình độ văn hóa ngày càng được cải thiện
1.3 Các điều kiện để phát triển du lịch bền vững.
1.3.1 Điều kiện về tài nguyên du lịch.
Tài nguyên thiên nhiên gồm vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, hệ động thực vật, đất nước Sự kết hợp hài hòa này sẽ làm cho khách du lịch đến đông hơn
Tài nguyên nhân văn: tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị văn hóa tiêu biểu cho mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Thông qua những hoạt động du lịch dựa trên việc
Trang 5khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu được những đặc trưng về văn hóa của dân tộc, của địa phương nơi mà khách đến
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích lịch sử, di tích lịch sử văn hóa, phong tục tập quán, lễ hội, các món ăn, thức uống dân tộc…
Tài nguyên du lịch nhân văn có các đặc điểm sau:
+ Mang tính phổ biến bởi vì nó được hình thành trong quá trình sinh hoạt của hoạtđộng sống của con người tài nguyên của mỗi nước mỗi vùng là khác nhau, do đặc tính sinh hoạt khác nhau
+ Mang tính tập chung, dễ tiếp cận: với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn thường tập trung gần với con người ở quần cư và các thành phố Tuy nhiên chúng dễ
bị tác động có hại nếu như chúng ta không có biện pháp hợp lý
+ Mang tính truyền đạt nhận thức hơn là tính hưởng thụ giải trí
1.3.2 Điều kiện sẵn sàng phục vụ khách
- Tài nguyên dân cư và lao động
Đây là một nguồn lực để phát triển du lịch, là nguồn cung cấp cho lao động cho
du lịch,là thị trường để tiêu thụ sản phẩm du lịch
- Tài nguyên cơ sở vật chất, kĩ thuật hạ tầng
Đây là một nguồn lực, một điều kiện không thể thiếu được để phát triển du lịch ngược lại, sẽ gây khó khăn làm chậm bước phát triển.Cơ sở vât chất- kĩ thuật, thiết bị
hạ tầng bao gồm: mạng lưới giao thông vận tải (đường hàng không, đường bộ, đường biển…), hệ thống khách sạn, nhà hàng, cơ sở vui chơi giải trí
- Chính sách
Đây là nguồn lực,điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch Bởi lẽ một quốc gia dù
có giàu có về tài nguyên, nhân lực…nhưng thiếu về đường lối, chính sách phát triển
du lịch đúng đắn thì du lịch vẫn không thể phát triển được Đường lối, chính sách phát triển du lịch là một bộ phận trong tổng thể đường lối - chính sách phát triển kinh
tế xã hội Các đường lối, phương hướng, chính sách kế hoạch, biện pháp cần được cụ thể hóa bằng các kế hoạch ngắn, trung và dài hạn cụ thể Do sự bùng nổ cũng như doanh thu từ nó nên nó trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước Do vậy cần phải có chiến lược phù hợp, và do đây là ngành kinh tế liên ngành nên nó có liên quanđến nhiều ngành kinh tế khác nhau vì vậy các chủ trương, kế hoạch phải được xây dựng một cách đồng bộ, phải mang tính tổng hợp và được phối hợp một cách nhịp nhàng
Nước ta, cùng với sự Đổi mới, Đảng và Nhà nước đã hết sức quan tâm đến phát triển du lịch Đường lối, chính sách phát triển du lịch đã được Đại hội VI, VII và được cụ thể bằng nghị quyết 45CP của chính phủ Đã khẳng định vị trí và vai trò của ngành du lịch và đưa ra kế hoạch, phương hướng phát triển du lịch Đó chính là điều kiện để phát triển du lịch bền vững
- Những cơ hội để phát triển du lịch
Những cơ hội về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học…cũng là nguồn lực để phát triển du lịch Bởi lẽ thông qua cơ hội đó mà du lịch tăng them nguồn khác, là điều kiện để tuyên truyền, quảng cáo du lịch nước mình
Đây chính là cơ hội để phát triển du lịch Bởi lẽ một nước có chính trị ổn định sẽ thu hút được khách đến Một nền văn hóa đậm đà bản sắc, thể thao, khoa học, giáo dục phat triển sẽ thu hút sự chú ý của quốc tế Các hội nghị, hội thảo, sự kiện văn hóa,thể thao lớn cũng là nguồn lực quan trọng
- Nguồn lực bên ngoài
Trang 6Đây là một thành tố không thể thiếu được của một quốc gia nói chung và điểm du lịch nói riêng, phát triển du lịch, đặc biệt là đối với chúng ta một nước đang phát
triển, nguồn lực và khả năng hạn chế nên chúng ta cần phải thu hút đầu tư, thu hút
khoa học tiên tiến để quy hoạch, phát triển du lịch có kế hoạch và phát triển bền
vững
1.4 Kinh nghiệm pháp triển du lịch ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở VQG
Phong Nha- Kẻ Bàng trong thời gian từ 2007 đến nay.
2.1 Tình hình phát triển du lịch bền vững trong thời gian qua ở Phong
Nha Kẻ Bàng.
Phong Nha- Kẻ Bàng đang trở thành điểm đến lý tưởng của du khách trong và ngoài nước, hai lần được thế giới công nhận là di sản thế giới (1999 và 2003) Du lịchđang trở mình trên con đường phát triển và nhận được sự quan tâm của cả nước cũng như tại địa phương
Du lịch là một trong những lợi thế của tỉnh, Quảng Bình đã và đang triển khai những kế hoạch, phương hướng phát triển với các nhiệm vụ cụ thể như: tạo ra những sản phẩm hấp dẫn khách du lịch, nâng cao chất lượng các tuyến du lịch, xây dựng, cảitạo làm mới cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hàng hóa cho dịch vụ và xã hội, tổ chức
nghiên cứu thị trường, khai thác bảo tồn giữ gìn tái tạo tài nguyên thiên nhiên Phải kết hợp chặt chẽ giữa du lịch và cá nhân có liên quan để du lịch Phong Nha – Kẻ
Bàng phát triển hiệu quả
Bảng1: Lượng khách đến tham quan PN-KB từ năm 2001 đến 2011 (năm, khách trong nước, khách quốc tế, doanh thu, tỉ lệ tăng, giảm )
STT
Năm Khách trong
nước (người)
Khách nướcngoài (người)
Tỉ lệ kháchtăng giảm(%)
Doanh thu( đồng ) Ghi chú
Qua bảng số liệu trên ta thấy lượng khách tăng giảm qua các năm có sự thay
đổi liên tục Mặc dù số lượng khách trong nước đến với VQG Phong Nha – Kẻ Bàng không đều, nhưng số lượng khách nước ngoài đến tham quan VQG Phong Nha - Kẻ Bàng tăng đều và rất nhanh trong giai đoạn từ 2003 đến 2008, bình quân giai đoạn
này tăng 54,4% Trong đó, có một số năm tăng cao như: Năm 2004 tăng 73,6%, năm
2005 tăng 90,4%, năm 2006 và năm 2007 tiếp tục duy trì tốc độ tăng 67,8% và
67,3% Tín hiệu này cho thấy, sau khi VQG Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO
Trang 7công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới đã có sức thu hút mạnh đối với khách nước ngoài Tuy nhiên, năm 2008 lượng khách nước ngoài giảm 5,3%, năm 2009 lượng khách nước ngoài giảm 39.2% nguyên nhân có lẽ do ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2007 đến nay đã làm cho số lượng khách nước ngoài đi tham quan giảm Năm 2010 lượng khách nước ngoài tăng trở lại 51.1% và đến năm 2011 tăng 0.9%.
Số lượng khách đến tham quan tăng cao sau khi VQG Phong Nha – Kẻ Bàngđược công nhận Di sản Thiên nhiên Thế giới năm 2001, nhưng mấy năm sau đó biếnđộng thất thường, có những năm giảm nhiều nên tính chung cả giai đoạn tăng khôngđáng kể, đồng thời nặng tính mùa vụ Các dịch vụ thuyền du lịch, dịch vụ ăn uống,lưu trú hàng lưu niệm đã phát triển về số lượng nhưng chất lượng chưa đáp ứng nhucầu của du khách Tuy nhiên, việc phát triển du lịch tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàngtrong mấy năm vừa qua đã tạo ra nhiều công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư, gópphần xóa đói giảm nghèo, đóng góp một phần đáng kể cho ngân sách Nhà nước, làmchuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ; bảnsắc văn hóa dân tộc, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội cơ bản giữ gìn
Bảng 2: Thống kê lượng khách đến với suối nước Moọc
STT Năm Tổng lượt khách trong
nước (người)
Tỷ lệ lượng khách tăng giảm (%)
Doanh thu( đồng ) Ghi chú
2.2 Các điều kiện phát triển du lịch bền vững ở VQG Phong Nha- Kẻ Bàng
* Diện tích
Trang 8Tổng diện tích VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là 85.754 ha, được quy hoạch thành ba phân khu chức năng, bao gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phụchồi sinh thái và phân khu dịch vụ - hành chính.
+ Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: Diện tích 64.894 ha, được chia thành phân
khu bảo vệ nghiêm ngặt 1 và phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 2
+ Phân khu phục hồi sinh thái: Diện tích 17.449 ha.
+ Phân khu dịch vụ - hành chính: Diện tích 4.311 ha.
-Thổ nhưỡng: VQG Phong nha – Kẻ Bàng gồm các loại đất chính sau: Đất đen Macgalit - Feralit phát triển trên núi đá vôi (MgFv), Đất Feralit màu đỏ, đỏ nâu trên núi đá vôi (Fv), Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét (Fs), Đất Feralit vàng đỏ trên đá Macma acid (Fa), Đất Feralit vàng nhạt trên đá Sa thạch (Fq), Đất dốc tụ trong thung lũng đá vôi (Tv) và trong thung lũng hay máng trũng (T1, T2),Núi đá vôi dạng khối uốn nếp có quá trình Karst và một phần là đất khác [2]
* Khí hậu, thủy văn
Kết quả quan sát các yếu tố khí hậu ở các trạm khí tượng trong khu vực được tổng kết như sau
ảnh hưởng của khối núi đá vôi rộng lớn nên nhiệt độ dao động khá lớn, cực đại vào tháng 7 (trên 400C), cực tiểu vào tháng 1 (5-70C)
Thời tiết lạnh nhất trong năm vào các tháng 12,1, 2 Các tháng nóng nhất trongnăm vào các tháng 6,7,8, có nhiệt độ trung bình cao trên 280C Biên độ nhiệt có sự chênh lệch lớn
+ Chế độ mưa ẩm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng nằm trong vùng có lượng mưa
lớn, bình quân từ 2000m đến 2500mm/năm Tổng lượng mưa trong mùa mưa (từ tháng
5 đến tháng 12) rất cao, chiếm tới 88% tổng lượng mưa năm
Các tháng mùa khô tuy có lượng mưa thấp về trị số, nhưng số ngày mưa bình quân tháng tối thiểu là 10 ngày (mưa tiểu mãn) Lượng mưa lớn số lượng ngày mưa nhiều và rải đều trong năm đã tạo điều kiện ẩm ướt lý tưởng cho một khu hệ rừng nhiệt đới trên núi đá vôi điển hình có giá trị mang tính toàn cầu
Độ ẩm không khí ở mức trung bình (83-84%) Mùa khô có độ ẩm thấp hơn nhiều, chỉ còn ở mức 66-68%, cá biệt có ngày xuống tới 28% Đây là những ngày gió lào thổi mạnh, thời tiết rất khô, nóng, những ngày này có thể đe doạ cháy rừng và hoảhoạn
+ Chế độ thủy văn Khu vực VQG Phong Nha – Kẻ Bàng nằm gọn trong lưu
vực của các dòng sông suối trong vùng: Rào Thương, sông Chày, sông Troóc, sông Son đều là thượng nguồn của sông Gianh VQG bao gồm một vùng đá vôi rộng lớn,
vì thế hiện tượng nước chảy ngầm là phổ biến
* Tài nguyên về hang động
Sau gần 20 năm hợp tác thám hiểm và nghiên cứu hang động giữa Hội Nghiên cứu Hang động Hoàng gia Anh và Khoa Địa lý - Trường Đại học Khoa học tự nhiên
Hà Nội đến nay đoàn thám hiểm đã phát hiện và đo vẽ tổng chiều dài đạt trên 130km với gần 50 hang động Các hang động ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng được chia thành
3 hệ thống: Hệ thống hang Hang Vòm, Hệ thống hang Phong Nha và hệ thống hang Rục Mòn
+ Hệ thống Hang Vòm Có quy mô đáng kể và được bắt nguồn từ hang Rục Kà
Roòng nằm ở độ cao khoảng 360m so với mực nước biển chảy về phía hạ lưu lúc thì
ẩn mình trong các hang, lúc lại xuất hiện trên những đoạn thung lũng hẹp và sâu để
Trang 9cuối cùng đổ về sông Chày ở cửa hang Vòm Cả hai hệ thống sông ngầm Phong Nha
và hang Vòm hợp với nhau đổ về sông Son, rồi ra sông Gianh và cuối cùng chảy ra biển, tổng chiều dài hệ thống hang Vòm là 31.277 m Đặc biệt, từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2009, đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh đã tiến hành khảo sát, phát hiện thêm 20 hang động tại VQG Phong Nha- Kẻ Bàng, trong đó có hang Sơn Đòong bước đầu đã khảo sát được 6.500m, cao 150 m, rộng 140 m, các nhà thám hiểm nhận định rằng đây có thể là hang động lớn và rộng nhất Thế giới tại thời điểm hiện nay
+ Hệ thống Hang Rục Mòn Nằm trên địa phận huyện Minh Hoá và có quy mô
nhỏ hơn bao gồm 14 hang động Tuy nhiên, ở đây cũng có một số hang động có quy
mô như hang Rục Mòn có chiều dài (đã được đo vẽ) 2.863m, độ sâu 49m; hang Tiên với chiều dài 2.500m, độ sâu 51m và còn có rất nhiều hang chưa được khảo sát (xem bảng 2) [2]
Bảng 2: Th ng kê chi u d i, ống kê chiều dài, độ sâu hệ thống hang Rục Mòn ều dài, độ sâu hệ thống hang Rục Mòn ài, độ sâu hệ thống hang Rục Mòn độ sâu hệ thống hang Rục Mòn sâu h th ng hang R c Mòn ệ thống hang Rục Mòn ống kê chiều dài, độ sâu hệ thống hang Rục Mòn ục Mòn
Nguồn:Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
+ Hệ thống Hang Phong Nha Bắt nguồn từ phía Nam của khối núi đá vôi Kẻ
Bàng Cửa chính của hệ thống hang này là hang Khe Ry và hang én nằm ở độ cao trên mực nước biển khoảng 300m, còn độ cao tương đối là 20 mét Các cửa hang của hệ thống này nhìn chung đều rộng và cao ( Hang Én có hai cửa vào, trong đó cửa vào ở phía trên có chiều cao 70m và rộng 100m) Các cửa hang này là nơi thường có các dòng suối đổ vào và được bắt nguồn từ khu vực địa hình phát triển trên đá phi karst Tổng chiều dài hệ thống hang Phong Nha là 44.391 m (xem bảng 3)
Bảng 3: Th ng kê chi u d i, ống kê chiều dài, độ sâu hệ thống hang Rục Mòn ều dài, độ sâu hệ thống hang Rục Mòn ài, độ sâu hệ thống hang Rục Mòn độ sâu hệ thống hang Rục Mòn sâu h th ng hang Phong Nha ệ thống hang Rục Mòn ống kê chiều dài, độ sâu hệ thống hang Rục Mòn
ST
Trang 10* Địa mạo, địa chất
- Địa hình VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là một vùng núi đá vôi (karst) chiếm hầu hết diện tích Đây chính là khối núi đá vôi liên tục, rộng lớn nhất của Việt Nam, phạm vi trải rộng sang Lào, với diện tích gần 200.000 ha Nếu tính toàn bộ khối núi
đá vôi liên tục cả về phía Việt Nam và Lào thì đây là một trong những khối núi đá vôirộng lớn nhất hành tinh
Các quá trình địa chất nội - ngoại sinh phức tạp đã và đang diễn ra từ Triasđếnnay, là nguyên nhân tạo nên sự đa dạng của địa hình và địa mạo khu vực
* Tiềm năng đa dạng sinh học
+ Thảm thực vật rừng Kết quả giải đoán ảnh vệ tinh Landsat (2004) và điều
tra thực địa năm 2007 cho thấy toàn khu vực được che phủ bởi 93,57% diện tích rừng kín thường xanh, trong đó rừng nguyên sinh ít bị tác động chiếm 83,74% tổng diện tích VQG PN-KB [14] Thảm thực vật rừng ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng gồm có 11kiểu chủ yếu (xem bảng 4)
Bảng 4 : Diện tích các kiểu thảm thực vật và sinh cảnh
Mã
1.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu
cây lá rộng trên núi đá vôi >700m 21.461,0 25,031.2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu
cây lá rộng trên núi đất >700m 2.316,4 2,701.3 Rừng kín nhiệt đới chủ yếu cây lá kim trên núi
2.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu
cây lá rộng trên núi đá vôi dưới 700m 45.337,3 52,872.2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu
Trang 112.3 Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đá vôi 1.335,7 1,562.4 Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đất vùng thấp 1.731,0 2,02
Phong Nha – Kẻ Bàng đã thống kê được 193 họ, 906 chi, 2.651 loài thực (xem bảng
5) Trong đó có 419 loài thực vật đặc hữu của Việt Nam Đặc biệt ở vùng này có 1 chi đặc hữu đơn loài (Oligoceras) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với loài
(Oligoceras eberhardtii) Riêng họ Lan, các chuyên gia nghiên cứu đã xác định được
tên 28 loài Lan đặc hữu của Việt Nam (Averyanov và các cộng sự) Đặc biệt, ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng vừa mới phát hiện một loài thực vật quý hiếm đó là loài Bách Xanh trên núi đá vôi, bước đầu khảo sát, đánh giá cho biết trử lượng phân bố khoảng 2.400 ha [1]
Bảng 5: Thống kê hệ thực vật tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
Trang 12Trong khu vực có tới 116 loài thực vật bị đe dọa được ghi trong sách đỏ Việt Namphần thực vật (1996) và danh mục đỏ IUCN (2006).
+ Hệ Động vật Những kết quả khảo sát của các nhà khoa học từ năm 1991
đến nay đó thống kê được 735 loài động vật có xương sống, 132 loài Thú, 338 loài Chim, 96 loài Bò Sát, 45 loài Lưỡng thể, 124 loài Cá nước ngọt (xem 6)
Bảng 6: Thống kê hệ động vật tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
Nguồn: Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
Yếu tố đặc hữu của khu hệ động vật có xương sống ở Phong Nha - Kẻ Bàng khá cao, tới 41 loài, yếu tố đặc hữu Trường Sơn 40 loài, yếu tố đặc hữu Việt Nam 30 loài (xembảng 7) [2] Đặc biệt, vừa qua tổ chức FFI phối hợp VQG Phong Nha - Kẻ Bàng tiến hành khảo sát phát hiện 37 đàn Vượn Ski với 113 cá thể phân bố tại Vùng Ubò Theo đánh giá ban đầu, đây có thể là quần thể Vượn Ski lớn nhất Thế giới
Bảng 7: Số loài động vật xương sống đặc hữu ở VQG PNha - Kẻ Bàng
Nguồn: Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng -2008
Trong số các loài đã thống kê, có 91 loài đã ghi trong Sách đỏ Việt Nam
(1994), 72 loài cần được ưu tiên bảo vệ mức độ toàn cầu và đã ghi trong Sách đỏ các loài động vật có nguy cơ bị đe doạ của IUCN, 1997 (xem bảng 8)
Bảng 8: Số lượng các loài bị đe doạ ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
Trang 13Nguồn: Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
+ Cảnh quan thiên nhiên
VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có hàng chục đỉnh núi cao trên 1.000m, đỉnh Co Rilata 1.128m, Co Pru 1.213m, Phu Tạo 1.174m Xen giữa các đỉnh cao trên 1.000m
là các đỉnh cao từ 800 đến 1.000m cũng là tiêu điểm cho du lịch sinh thái và mạo hiểm như các đỉnh Phu Sinh 902m, Núi Ma Ma 835m, Phu On Boi 933m Đặc biệt
là đỉnh núi U Bò cao 1.009m, từ đây mọi người có thể phòng tầm mắt quan sát toàn cảnh thành phố Đồng Hới, bãi biển Nhật Lệ vv Ở đây không khí rất trong lành, nhiệt
độ quanh năm vào khoảng 16 đến 25 độ tương tự khí hậu ở Đà Lạt, rất thuận lợi để xây dựng điểm du lịch sinh thái hấp dẫn về mùa hè
Ngoài ra, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có hàng trăm thung lũng núi đá kín Tiếng địa phương gọi những thung lũng kín này là Hung Có những thung lũng cảnh quan thiên nhiên rất đẹp để phát triển du lịch sinh thái như là Thung lũng Sinh tồn, Thung lũng Phong Nha, Thung lũng Đòong [2] Một số cảnh quan thiên nhiên rất có điều kiện để phát triển du lịch sinh thái hấp dẫn như: Hồ Bồng lai Tiên cảnh, Sông Chày, Thác gió, Rừng Gáo, Suối nước Mọoc vv…
2.2.1.2 Tài nguyên nhân văn.
+ Bản sắc văn hoá dân tộc
Nếu tính cả vùng đệm của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng hiện nay trong khu vực này chủ yếu có các tộc người Chứt, Bru-Vân Kiều và một số ít người Việt cổ sinh sống Dân tộc "Chứt" bao gồm các nhóm: Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng với khoảng 3.500 người, phân bố ở 6 xã thuộc 2 huyện Minh Hoá và Bố Trạch Dân tộc Bru-Vân Kiều gồm các tộc người: Vân Kiều, Khùa, Ma Coong, Trì và Sộ; phân bổ chủ yếu ở các xã Thượng Trạch, Tân Trạch (huyện Bố Trạch) và Dân Hoá (huyện Minh Hoá)
Trong quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất, đồng bào dân tộc ít người ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã sáng tạo ra những giá trị văn hoá tinh thần rất đặc sắc, mang đậm đà sắc thái riêng của mình Một số lễ hội và nghệ thuật đặc sắc của dân cư vùng đệm và vùng lõi như Lễ hội đập trống) của dân tộc Macoong xã Thượng Trạch (15.1 âm lịch, Lễ hội lấp Lỗ, Lễ hội Đâm Trâu, Lễ hội Cầu mùa, nghệ thuật Hát Bội (Tuồng) của xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch vv…[3]
+ Giá trị lịch sử Các di tích lịch sử tiêu biểu cho các thời kỳ bao gồm:
Thời kỳ tiền sử: VQG Phong Nha - Kẻ Bàng chứa đựng nhiều di vật khảo cổ, các
bằng chứng về về sự sinh sống của con người ở khu vực này là các Đầu Rìu thuộc thời