Mục tiêu của đề tài là: nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của 3 loại cao chiết cao chiết nước, cao chiết cồn, cao chiết metanol từ củ tỏi Allium sativum đối với 5 chủng vi khuẩn gây bện
Trang 1BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CAO
CHIẾT TỪ TỎI (Allium sativum) ĐỐI VỚI MỘT SỐ VI KHUẨN GÂY BỆNH
Ở NGƯỜI
Nguyễn Thị Thu Hương (B)
Khoa Môi trường & Công nghệ Sinh học, Trường ĐH Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM
TÓM TẮT
Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu ẩm thấp, nóng nực kéo dài quanh năm Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho các loại vi khuẩn phát triển và gây bệnh Mặt khác, do việc sử dụng thuốc kháng sinh tuỳ tiện và do nhận thức chưa đầy đủ của người dân về cách sử dụng thuốc cũng như những hiểu biết về bệnh nhiễm khuẩn đã dẫn đến một thực tế là thuốc kháng sinh tổng hợp đang bị giảm hiệu lực và mất dần tác dụng đối với các chủng vi khuẩn gây bệnh
Đề tài nhằm nghiên cứu kháng sinh trên thực vật cụ thể là Tỏi nhằm điều chế 1 loại kháng sinh có khả năng kháng các loại vi khuẩn gây bệnh, chủ yếu là bệnh về đường hô hấp mà hiện nay những chủng này là những chủng đang có khả năng kháng kháng sinh mạnh
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới, hiện nay đang có xu hướng nghiên cứu, sử dụng các hợp chất thiên nhiên có nguồn gốc từ thực vật, có tính kháng khuẩn mạnh và đặc biệt là có độ an toàn rất cao (độ độc hay tác dụng phụ), khi sử dụng để thay thế cho các loại kháng sinh thông dụng đang bị đề kháng Nước ta lại có một hệ thực vật hết sức phong phú về chủng loại và thành phần loài Trong đó thực vật có thể được sử dụng làm thuốc chiếm tỉ lệ không nhỏ Đặc biệt rất nhiều cây trong đó có
tác dụng diệt khuẩn mạnh và điều trị được các bệnh do vi khuẩn gây ra rất hiệu quả Tỏi (Allium
sativum) là một loài thực vật như vậy
Tỏi tên khoa học là Allium sativum L, họ Hành Alliacea (trước kia người ta gọi họ hành tỏi là
Liliaceae) Tỏi sinh trưởng tốt trong môi trường nóng ẩm, vì thế cho nên ở Việt Nam loài thực vật này rất phổ biến
Tỏi là một gia vị rất thường gặp trong đời sống và trong dân gian thi từ lâu tỏi là còn là một vị thuốc rất công hiệu trong chữa trị một số căn bệnh như chống cảm cúm, chữa viêm phổi đôi khi còn dùng để sát trùng ngoài da
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của 2 loại bệnh tim mạch và ung thư, các nhà khoa học đã đặc biệt quan tâm đến tác dụng chống oxy hoá, chống đột biến tế bào, hạ độ mỡ trong máu và làm giảm nguy cơ máu đông của một số hợp chất trong tỏi bởi vì tỏi được cho là có
tính kháng sinh và tăng khả năng phòng ngừa ung thư, chống huyết áp cao, mỡ máu ở người
Xuất phát từ thực tế trên, cùng với tình hình nhiễm khuẩn tại Việt Nam,đặc biệt là tình hình kháng các loại thuốc kháng sinh tổng hợp của vi khuẩn đang lan rộng, chúng tôi thực hiện đề tài:
"Bước đầu nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ Tỏi (Allium sativum) đối với
một số vi khuẩn gây bệnh ở người" Mục tiêu của đề tài là: nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn
của 3 loại cao chiết (cao chiết nước, cao chiết cồn, cao chiết metanol) từ củ tỏi (Allium sativum)
đối với 5 chủng vi khuẩn gây bệnh viêm nhiễm điển hình và kháng thuốc phổ biến hiện nay là Tụ
cầu vàng (Staphylococus aureus), Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa), Phế cầu khuẩn (Streptococus pneumoniae), Trực khuẩn đường ruột (Escheriechia coli) và Klebsiella teirgena
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng nghiên cứu
* Các loại cao lỏng từ Tỏi(Allium sativum), được chiết từ các dung môi khác nhau bao gồm: Cao
chiết nước, cao chiết cồn, cao chiết metanol
* Các chủng vi khuẩn gây bệnh được phân lập và định loại tại phòng Vi sinh ( Bệnh viện TW K71 – Tỉnh Thanh Hoá)
Trang 2- Liên cầu khuẩn (Streptococcus)
- Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus)
- Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aerugins)
- Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae)
- Trực khuẩn Gram âm (Escheriechia coli.)
- Klebsiella teirigena
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân lập và định loại
Các chủng vi khuẩn được phân lập và định loại tại Bệnh viện Trung ương K71 Thanh Hoá, bằng các bộ KIT như Thanh API 20E dùng để xác định trực khuẩn Gram (-) thuộc họ
Enterobactericeae; thanh API 20NE xác định các trực khuẩn Gram (-) không thuộc họ Enterobactericeae
Phương pháp bảo quản giống vi khuẩn
Vi khuẩn được bảo quản bằng môi trường thạch thường (thạch thịt pepton) và môi trường canh thang Glucoza, trong điều kiện nhiệt độ thấp
Phương pháp chiết các loại cao từ Tỏi
• Nguyên liệu:
+ Tỏi ta (Allium sativum) đã phơi sấy khô ở nhiệt độ 600C trong tủ sấy Dược liệu được nghiền nhỏ bằng cối sứ
+ Các loại dung môi: dung môi cồn 960
, dung môi metanol, và dung môi nước
+ Dụng cụ: Bộ chiết Soxhlet chuẩn, dụng cụ thu hồi dun môi, bếp điện hoặc nồi nhiệt, nồi nhôm, giấy lọc, bông gạc và các dụng cụ thuỷ tinh khác
• Tiến hành theo phương pháp chiết nóng:
Việc chiết dược liệu được tiến hành theo các phương pháp và điều kiện chiết xuất khác nhau đối với từng loại dung môi
* Dung môi là nước:
Lấy 200g dược liệu đã sấy khô, được nghiền nhỏ trong cối sứ rồi cho vào trong bình cầu thuỷ tinh chịu nhiệt loại 500ml, đổ nước cất vào không quá 1/2 bình, đun trong khoang 3,5-4h tính
từ lúc sôi Sau đấy ta thu dịch chiết và đem tiến hành cô cao ở nhiệt độ thích hợp (không sôi quá mạnh), cao được cô trong nồi miệng rộng, trong quá trình cô phải khuấy đảo liên tục, tránh hiện tượng cháy khét Khi cô cao đến độ đặc nhất định ta tiến hành lọc cao qua bông, gạc, sau đó tiếp tục cô trong cốc thuỷ tinh chịu nhiệt, trên nồi cách thuỷ, đến khi còn 50ml Tương đương với tỉ lệ cao 4 : 1 (4g dược liệu/1ml dịch chiết)
* Dung môi là cồn 96 0 , metanol:
Đây là 2 dung môi có nhiệt độ sôi thấp, metanol (Ts=64,5090 C), cồn etylic (Ts=78,370 C) Dược liệu khô 200g đã được nghiền nhỏ bằng cối sứ và đóng vào túi may bằng giấy lọc Cho dược liệu vào dụng cụ chiết Soxhlet, tiến hành chiết xuất ở nhiệt độ thích hợp đối với mỗi loại dung môi, nhiệt độ được điều chỉnh bởi nồi nhiệt (đây là loại bếp điện chuyên dụng, dùng cho dụng cụ chiết Socles) Dược liệu được chiết kiệt trong 4h Sau đó ta thu dịch chiết, lọc và tiến hành cất thu hồi dung môi, bằng dụng cụ cất, thu hồi dung môi thông dụng Cô đến tỉ lệ cao lỏng 4:1 (3g dược liệu/1ml dịch chiết)
* Yêu cầu:
+ Cao lỏng không bị cháy khét và lẫn tạp, bã dược liệu
+ Cao phải sánh đặc
+ Được bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 40
C
Kỹ thuật thử hoạt tính kháng khuẩn
Dịch chiết Tỏi được chiết bằng các dung môi khác nhau, sau đó cô đến tỉ lệ cao 4:1 đây đuợc xem là tỉ lệ gốc Từ tỉ lệ gốc được pha loãng ra theo các tỉ lệ: (2:1); (1:1) bằng nước cất và các dung môi thích hợp
*Phương pháp pha loãng ra các tỉ lệ cao khác nhau được thể hiện trong bảng sau:
Tỉ lệ cao gốc Tỉ lệ cao pha loãng
Trang 3+Tỉ lệ (4:1) tương
đương với: 4g dược
liệu/ 1ml dịch chiết
(200g/50ml)
+ Lấy 10ml cao từ 50ml cao gốc (4:1)
Pha loãng bằng 10ml H 2 O cất -> ta được tỉ lệ cao (2:1)
* Tương đương 200g/100ml
+ Lấy 10ml cao từ 50ml cao gốc
Pha loãng bằng 20ml H 2 O cất >
Ta được tỉ lệ cao ( 1 : 1 )
*Tương đương 200g/200ml
• Môi trường nuôi cấy vi khuẩn
Môi trường nuôi cấy là môi trường thạch thường Pepton nước thịt
Các môi trường có độ dày 4 - 4,5mm <=> 25 - 30ml thạch với một đĩa petri có đường kính 9 cm
c)Vi khuẩn:
Dùng 6 chủng vi khuẩn đã được phân lập thuần khiết
Phương pháp xác định lượng vi khuẩn:
• Phương pháp độ đục chuẩn:
Pha dung dich vi khuẩn: Từ một đĩa thạch nuôi cấy thuần chủng mọc qua đêm, dùng que cấy vô khuẩn chấm vào 10 khuẩn lạc để có một ang đầy, hoà tan vào 3- 5ml dung dịch đệm PBS hoặc nước muối sinh lí So sánh với Mc, Parland 0,5, tương đương với 106
tế bào/1ml
d) Kỹ thuật tiến hành:
• Phương pháp đột lỗ thạch
- Đặt đĩa thạch vào tủ ấm 15 phút cho khô mặt
- Pha dịch huyền phù vi khuẩn
- Dùng xilanh vô trùng có thể tích 1ml hút 0,5ml dịch huyền phù vi khuẩn cho lên trung tâm đĩa thạch
- Dùng que trang thủy tinh vô trùng, trang đều vi khuẩn khắp mặt thạch
- Dùng đột lỗ thạch đã khử trùng đục 6 lỗ trên mặt thạch, mỗi lỗ cách nhau 2cm và cách mép đĩa 1cm
- Dùng kim vô trùng lấy thạch đã đột ra khỏi đĩa
- Dùng Pipetman (hoặc Xilanh 1ml vô trùng) cho vào mỗi lỗ 0,3-0,4ml dung dịch chất thử đã pha loãng theo các nồng độ khác nhau
- Để ở nhiệt độ phòng 30 phút cho dịch thử khuếch tán đều trong thạch
- Cho vào tủ ấm ở 370C trong vòng 18 - 24 gìơ
• Phương pháp đặt khoanh giấy kháng sinh:
Phương pháp này áp dụng với loại cao được chiết bằng dung môi hữu cơ như cồn 960
- Khoanh giấy kháng sinh được chế tạo từ giấy lọc , có đưòng kính từ 7-8mm, theo qui định của dược điển
- Khoanh giấy kháng sinh được khử trùng ở 170o C trong 2h, sau đó được bảo quản trong bình hút
ẩm
- Dùng xilanh vô trùng hoặc pipet vô trùng hút 0,3ml dịch chiết đã pha loãng ở các nồng độ khác nhau, nhỏ lên khoanh giấy lọc vô trùng và làm bay hơi dung môi ở nhiệt độ thich hợp
- Khoanh giấy tẩm dịch chiết được đuợc bảo quản ở điều kiện vô trùng
- Đặt 6 khoanh giấy kháng sinh lên các đĩa thạch đã cấy vi khuẩn, đối với đĩa có đường kính 9cm
- Để các đĩa ở ngoài môi trường trong vòng 1h, để cho dịch chiết có thời gian khuyếch tán vào môi trường
- Sau đó cho vào tủ ấm nuôi cấy ở nhiệt độ 370C , sau 18 đến 24h đem ra quan sát vòng vô khuẩn nếu có
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
+ Đối với thạch đục lỗ: dùng xilanh hút hết dịch thử, dùng thước đo vòng vô khuẩn (tính bằng mm)
+ So sánh đường kính vòng vô khuẩn của từng nồng độ pha loãng
+ So sánh đường kính vòng vô khuẩn của từng loại dịch chiết được chiết bằng các dung môi khác nhau
Trang 4KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Cao chiết với dung môi là nước (cao chiết nước)
Bảng 1 Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết nước đối với các chủng vi khuẩn sau 24, 48 và 72 giờ
Qua bảng trên, chúng ta nhận thấy:
- Tỉ lệ cao chiết nước ( 1 : 1) chỉ có khả năng ức chế đối với vi khuẩn Staphilococcus aureus sau
18-24 giờ, nhưng sau 48 giờ thì vòng vô khuẩn biến mất (kích thước vòng vô khuẩn bằng 0) do vi khuẩn đã phát triển trở lại
- Tỉ lệ cao chiết nước (2:1) có khả năng ức chế đối với: Staphilococcus aureus; Pseudomonas
aeruginosa; Klebsiella terigena sau 18-24 giờ Sau 48 giờ thì kích thước vòng vô khuẩn của Staphilococcus aureus là 20,5mm và bằng (0) sau 72 giờ, các chủng vi khuẩn còn lại kích thước
vòng vô khuẩn bằng (0) sau 48giờ
Như vậy, cao chiết nước có tác dụng ức chế với 4 chủng vi khuẩn là: Staphilococcus
aureus, Pseudomonas aeruginosa, E coli và Klebsiella terigena nhưng không có tác dụng ức chế
đối với chủng vi khuẩn Streptococcus pneumoniae Tỉ lệ pha loãng (4:1) cho kích thước vòng vô
khuẩn lớn nhất và kích thước này ổn định sau 72 giờ theo dõi Các tỉ lệ pha loãng còn lại chỉ có tác dụng đối với một số chủng vi khuẩn nhất định, kích thước vòng vô khuẩn không ổn định, giảm dần hoặc biến mất sau 48- 72 giờ theo dõi
Cao chiết với dung môi là cồn 96 0 (cao chiết cồn)
Qua số liệu ở bảng dưới, ta nhận thấy :
- Tỉ lệ (1 : 1) của cao chiết cồn chỉ có khả năng ức chế đối với vi khuẩn Staphilococcus
aureus sau 18- 24 giờ; kích thước vòng vô khuẩn bằng (0) sau 48 giờ theo dõi
- Tỉ lệ cao chiết cồn (2 :1) có khả năng ức chế Staphilococcus aureus và Klebsiella terigena
sau 18 -24 giờ; kích thước vòng vô khuẩn bằng (0) sau 48 giờ theo dõi
- Tỉ lệ cao chiết cồn (3 : 1) có khả năng ức chế đối với 2 chủng vi khuẩn là: Staphilococcus
aureus và Klebsiella terigena sau 18-24 giờ; kích thước vòng vô khuẩn không thay đổi sau 48 -72
giờ theo dõi
Bảng 2 Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết cồn đối với các chủng vi khuẩn sau 24, 48 và 72 giờ
Tên chủng vi
khuẩn
Tỷ lệ pha loãng dịch cao chiết
Đường kính vòng vô khuẩn (mm)
Staphilococcus
aureus
Tên chủng vi
khuẩn
Tỷ lệ pha loãng dịch cao chiết
Đường kính vòng vô khuẩn (mm)
Staphilococcus aureus
Pseudomonas
aeruginosa
Escherichia coli
Klebsiella terigena
Streptococcus
pneumoniae
Trang 5Pseudomonas
aeruginosa
Escherichia coli
Klebsiella terigena
Streptococcus
pneumoniae
Như vậy, cao chiết cồn 960
có khả năng ức chế đối với 2 chủng vi khuẩn là Staphilococcus
aureus và Klebsiella terigena; không có khả năng ức chế với vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, E coli và Streptococcus pneumoniae Tỉ lệ cao (3:1) cho kích thước vòng vô khuẩn lớn nhất và kích
thước này ổn định sau 72 giờ theo dõi Các tỉ lệ pha loãng thấp hơn cho kích thước vòng vô khuẩn
bé và sau 48 giờ thì kích thước vòng vô khuẩn bằng (0)
Cao chiết với dung môi là metanol (cao chiết metanol)
Bảng 3 Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết metanol đối với các chủng vi khuẩn sau 24, 48 và 72 h
Tên chủng vi
khuẩn
Tỷ lệ pha loãng dịch cao chiết
Đường kính vòng vô khuẩn (mm)
Staphilococcus
aureus
Pseudomonas
aeruginosa
Escherichia coli
Klebsiella terigena
Streptococcus
pneumoniae
Qua bảng ở trên chúng ta nhận thấy:
- Tỉ lệ (1:1) của cao chiết metanol chỉ có khả năng ức chế đối với vi khuẩn: Staphilococcus
aureus sau 18- 24 giờ, sau 48 giờ kích thước vòng vô khuẩn bằng (0)
- Tỉ lệ cao chiết metanol (2:1) có khả năng ức chế với 3 chủng vi khuẩn là: Staphilococcus
aureus, Pseudomonas aeruginosa và Klebsiella terigena sau 18- 24 giờ Sau 48 giờ kích thước vòng vô
khuẩn của Pseudomonas aeruginosa bằng (0), còn của Staphilococcus aureus và Klebsiella terigena
đều giảm xuống; sau 72 giờ thì bằng (0)
- Tỉ lệ cao chiết metanol (4:1) có khả năng ức chế đối với 4 chủng là: Staphilococcus
aureus, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella terigena và E Coli sau 18- 24 giờ và kích thước vòng
vô khuẩn vẫn không thay đổi sau 48 -72h
Như vậy, cao chiết metanol có khả năng ức chế đối với 4 chủng vi khuẩn thử nghiệm là:
Staphilococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella terigena và E coli; không có khả năng
ức chế đối với Streptococcus pneumoniae Tỉ lệ (4:1) cho kích thước vòng vô khuẩn lớn nhất và
không thay đổi sau 72 giờ theo dõi Các tỉ lệ pha loãng khác chỉ có khả năng ức chế đối với một số chủng nhất định và sau 48 - 72 giờ thì kích thước vòng vô khuẩn đều bằng (0)
Trang 6Một số đánh giá về hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao chiết
Đánh giá về hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao qua độ pha loãng tối thiểu có thể gây ức chế
Bảng 4 Hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao chiết ở những độ pha loãng khác nhau
Tên chủng vi khuẩn
Tỷ lệ pha loãng tối thiểu có thể gây ức chế vi khuẩn
(Đường kính vòng kháng khuẩn) Cao chiết
nước
Cao cồn
Cao metanol
Staphilococcus aureus 1 : 1
(17,5 mm)
1 : 1 (15,5 mm)
1 : 1 (16,0 mm)
Pseudomonas aeruginosa 2 : 1
2 : 1 (15,0 mm)
4 : 1 (20,0 mm)
Klebsiella terigena 2 : 1
(20,0 mm)
2 : 1 (17,7 mm)
2 : 1 (18,0 mm)
Qua bảng trên chúng ta nhận thấy rằng:
- Với vi khuẩn Staphilococcus aureus thì bắt đầu từ tỉ lệ cao chiết (1:1) của cả 4 loại cao đã
có khả năng ức chế, làm xuất hiện vòng vô khuẩn, kích thước vòng vô khuẩn lớn nhất là của cao chiết nước (17,5mm)
- Với vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa thì tỉ lệ tối thiểu để xuất hiện vòng vô khuẩn là tỉ lệ
(2:1) và chỉ có cao chiết cồn và metanol ở tỉ lệ này mới làm xuất hiện vòng vô khuẩn, trong đó cao chiết nước có kích thước vòng vô khuẩn lớn hơn (16,0 mm)
- Với vi khuẩn E coli thì tỉ lệ tối thiểu có khả năng ức chế, làm xuất hiện vòng vô khuẩn là
tỉ lệ (4:1) với cao chiết nước và cao chiết cồn 960
- Với Klebsiella terigena thì tỉ lệ tối thiểu có khả năng ức chế là tỉ lệ (2:1) với cả 3 loại cao
chiết, trong đó cao chiết nước cho kích thước vòng vô khuẩn lớn nhất (20,0 mm)
Như vậy, tỉ lệ tối thiểu có khả năng gây ức chế đối với các chủng vi khuẩn của từng loại cao
là không giống nhau
So sánh hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao chiết ở tỉ lệ (4:1)
Như trên đã trình bày, trong số các tỉ lệ pha loãng thì tỉ lệ (4:1) có nồng độ cao chiết đậm đặc nhất
và cũng có hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất, đặc biệt là vòng kháng khuẩn ổn định, không bị thu hẹp sau 72 giờ theo dõi Tuy nhiên, hoạt tính kháng khuẩn đối với từng loại cao chiết ở tỉ lệ (4:1) có
sự khác nhau cho từng loại vi khuẩn
Bảng 5 So sánh hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao ở tỷ lệ (4 : 1)
Tên chủng
vi khuẩn
Đường kính vòng kháng khuẩn (mm) Cao
Nước
Cao
Streptococcus
- Với tỉ lệ cao chiết nước (4:1) thì Staphilococcus aureus cho kích thước vòng vô khuẩn lớn nhất (28mm) sau đó đến Pseudomonas aeruginosa và Klebsiella terigena, cuối cùng là E coli; còn
Streptococcus pneumoniae cho kết quả âm tính
Trang 7- Với cao chiết metanol (4:1) có khả năng ức chế 4 chủng vi khuẩn là: Staphilococcus aureus,
Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella terigena và E Coli Trong đó, Staphilococcus aureus có kích
thước vòng vô khuẩn lớn nhất (24,5mm); tiếp theo là Pseudomonas aeruginosa (20,5 mm); E Coli (20,0mm) và thấp nhất là Klebsiella terigena (19,5 mm)
Như vậy, đối với mỗi loại vi khuẩn thì tác động kháng khuẩn của mỗi loại cao có sự khác nhau, trong đó:
+ Đối với Staphilococcus aureus, cao chiết nước cho hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất (28,0mm) + Đối với Pseudomonas aeruginosa, cao chiết nước có hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất
(21,0 mm), sau đó đến cao chiết metanol (20,5 mm)
+ Đối với Escherichia coli, cao chiết metanol có hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất (20,0
mm)
+ Đối với Klebsiella terigena, cao chiết nước có hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất (21,0
mm)
+ Đối với Streptococcus pneumoniae, cao chiết nước có hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu về các loại cao chiết từ Tỏi (Alliumsativum) với 5 chủng vi khuẩn gây
bệnh như sau:
1 Trong số 4 loại dung môi dùng để chiết cao thì : Nước là dung môi cho hiệu quả chiết cao nhất,
tiếp đến là metanol và thấp nhất là cồn 96 0
2 Cao chiết từ Tỏi (Alliumsativum) có khả năng ức chế các chủng vi khuẩn Staphilococcus aureus,
Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella terigena, E coli và Klebsiella terigena được phân lập từ các
mẫu bệnh phẩm ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào loại cao chiết và tỉ lệ pha loãng dùng để thử
hoạt tính:
- Cao chiết nước có khả năng ức chế với 4 chủng vi khuẩn là: Staphilococcus aureus, Pseudomonas
aeruginosa, E coli và Klebsiella terigena nhưng không có tác dụng ức chế đối với chủng vi khuẩn Streptococcus pneumoniae
- Cao chiết cồn 960 có khả năng ức chế đối với 2 chủng vi khuẩn là Staphilococcus aureus và
Klebsiella terigena; không có khả năng ức chế với vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, E coli và Streptococcus pneumoniae
- Cao chiết metanol có khả năng ức chế đối với 4 chủng vi khuẩn là: Staphilococcus aureus,
Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella terigena và E coli; không có khả năng ức chế đối với
Streptococcus pneumoniae
3 Tỉ lệ pha loãng của các loại cao chiết ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng kháng khuẩn Kích thước
vòng vô khuẩn và thời gian tồn tại của nó tỉ lệ thuận với độ đậm đặc của các loại cao chiết Đối với cả
4 loại cao chiết, tỉ lệ (4:1) cho vòng vô khuẩn đạt kích thước lớn nhất và kích thước này không thay đổi sau 72 giờ theo dõi Khi tỉ lệ pha loãng tăng lên thì kích thước vòng vô khuẩn giảm xuống, tuỳ thuộc vào loại cao chiết mà kích thước vòng vô khuẩn có thể giảm xuống hoặc bằng (0) sau 48 – 72h theo dõi
5 Dựa vào hoạt tính kháng khuẩn và hiệu quả chiết xuất cao từ Tỏi, các loại cao sử dụng tốt nhất
cho mỗi chủng vi khuẩn như sau: đối với Staphilococcus aureus là cao chiết nước (4:1); đối với
Pseudomonas aeruginosa là cao chiết nước (4:1); đối với Escherichia coli là cao chiết nước (4:1);
đối với Klebsiella terigena là cao chiết nước (4:1) và Streptococcus pneumoniae nên dùng cao
chiết nuớc (4:1)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ môn Dược học cổ truyền, Trường ĐH Dược Hà Nội - 2004 Kỹ thuật chế biến và bào chế thuốc
cổ truyền NXB Y Học
Bộ môn Dược liệu, Trường ĐH Dược Hà Nội - 2002 Bài giảng dược liệu (Tập 1, 2) NXB Y Học
Bộ Y Tế – 1994 Dược điển Việt Nam tập 1 & 2 NXB Y Học
Bộ Y Tế - 2000 Tài liệu tập huấn vi sinh lâm sàng
Bộ Y Tế - 2006 Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh lâm sàng NXB Y Học
Trang 8Bộ Y tế - 2007 Báo cáo của Vụ điều trị - Bộ Y tế
BS Trần Thị Nga - 2008 Phòng bệnh cấp tính ở trẻ em Viện nhi Trung uơng
Cơ quan ngôn luận bộ Công an -2008 Vi khuẩn gây bệnh “vùng lên”
Đỗ Huy Bích và cộng tác viên – 2004 Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam NXB Y học
Đỗ Tất Lợi – 2005 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam NXB Y Học
GS, BS Trần Văn Kỳ – 1999 Thuốc bổ đông y nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng NXB Thanh
Niên
Nguyễn Đức Minh -1995 Thuốc chữa bệnh nhiễm khuẩn từ cây cỏ trong nước NXB Y Học Nguyễn Hoài Nam – 1986 Xác định hoạt lưc kháng sinh bằng vi sinh vật NXB Khoa Học & Kỹ Thuật
Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty – 2000 Vi sinh vật học NXB Giáo dục Nguyễn Thành Đạt – 2001 Cơ sở sinh học vi sinh vật tâp 1 & 2 NXB Giáo dục
Nguyễn Thị Chính (chủ biên), Trương Thị Hoà Vi sinh vật y học NXB Y học
Nguyễn Thị Thu Yên – 2000 Viêm mủ nội nhãn sau chấn thương nhãn cầu hở, vi sinh vật gây
bệnh và kết quả điều trị Viện mắt Trung ương
Nguyễn Trọng Chính -2001 Nghiên cứu căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu và tình
hình kháng thuốc kháng sinh của chúng( tại Bệnh viện TWQĐ 108: 2000 -2001)
Nguyễn Văn Đàn – Nguyễn Viết Tựu – 1985 Phương pháp nghiên cứu hoá học cây thuốc NXB
Y Học
Nguyễn Văn Mùi -2001 Thực hành hoá sinh học NXB ĐHQG Hà Nội
Nguyễn Xuân Thành (Chủ biên) -2005 Vi sinh vật công nghiệp NXB Giáo dục
Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống -2005 Báo cáo khoa học hội nghi toàn
quốc 2005 NXB Khoa học Kỹ thuật
Phạm Thị Trân Châu - Trần Thị áng -2003 Hoá sinh học NXB GD
Trần Linh Thước-2006 Phương pháp phân tích vi sinh vật trong nước, thực phẩm và mỹ phẩm
NXB Giáo dục
Trần Như Thắng - 2008 Kháng sinh đang dần bất lực www.ykhoavn.com