1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO SẢN XUẤT RAU Ở VIỆT NAM " doc

6 1,7K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 570,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO SẢN XUẤT RAU Ở VIỆT NAM Nguyễn Thị Hai Khoa Môi trường & Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Kỹ thuậ

Trang 1

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ GIẢI PHÁP

ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO SẢN XUẤT RAU Ở

VIỆT NAM

Nguyễn Thị Hai

Khoa Môi trường & Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Tp HCM

TÓM TẮT

Rau là thành phần không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt Nam Sản xuất rau

ở nước ta, trong thời gian qua đã có những bước tiến đáng kể về năng suất và chất lượng Nhiều vùng sản xuất rau chuyên canh, tập trung đã được hình thành, góp phần vào việc giải quyết nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu Tuy nhiên, diện tích sản xuất rau thực hiện theo tiêu chí rau an toàn vẫn còn khá khiêm tốn (chỉ chiếm khoảng 10%) Đa phần các vùng sản xuất rau chuyên canh hiện nay đều quản lý sản xuất theo kinh nghiệm Phân bón vô cơ và hóa chất bảo vệ thực vật được được tăng cường cho việc thâm canh rau Chưa kể với việc xã thải các tàn dư thực vật và chất thải rắn từ bao

bì, chai lọ phân, thuốc trừ sâu… đã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất và nước trong vùng Vấn đề ô nhiễm môi trường trong các vùng sản xuất nông nghiệp nói chung

và chuyên canh rau nói riêng chưa được quan tâm đúng mức, đang là vấn đề bức xúc hiện nay Bài viết nhằm tổng kết thực trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV)

và vấn đề ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất rau đồng thời đưa ra một số giải pháp cho vấn đề này

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG SẢN XUẤT RAU

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, diện tích trồng rau cả nước đến năm 2005 là 644 nghìn ha, năng suất đạt 150 tạ/ha và sản lượng trên 9,5 triệu tấn Đã hình thành nên các vùng chuyên canh rau lớn ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ Trong đó, diện tích sản xuất rau an toàn mới chỉ chiếm khoảng 10%

Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới ẩm nên sâu, bệnh và cỏ dại xuất hiện quanh năm Để phòng trừ sâu, bệnh hại, nông dân chủ yếu dựa vào biện pháp hóa học Kết quả điều tra tại vùng rau chuyên canh của tỉnh Tiền Giang cho thấy, tất cả nông dân đều sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất rau (Cục Trồng trọt, 2010) Nguyên tắc phun thuốc ― 4 đúng‖ gần như không được áp dụng trong sản xuất rau Hầu hết nông dân đều phun thuốc theo kinh nghiệm; phun thuốc theo tâm lý phòng ngừa và sử dụng thuốc cao hơn nhiều so với liều lượng khuyến cáo Chẳng hạn, đậu que khi đã có trái sẽ được phun thuốc đều đặn chu kỳ 2 ngày/lần Nhiều vùng, thời gian cách ly sau khi phun thuốc hầu như không có Vì vậy, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên rau khá cao Theo kết quả kiểm tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2009, trong 25 mẫu rau tại các tỉnh phía Bắc, có tới 44% mẫu rau có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó 4% có hoạt chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép Kiểm tra 35 mẫu rau tại các tỉnh phía Nam, Cục BVTV phát hiện tới 54% mẫu có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó 8,6% mẫu được phát hiện có hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật đủ khả năng gây ngộ độc cho người sử dụng Số mẫu rau kiểm tra ở Hà Nội và Hà Tây có hàm lượng Arsen cao hơn giới hạn cho phép chiếm từ 22-33%, số mẫu rau có hàm lượng Nitrat (NO3) cao ở mức báo động (100% mẫu đậu đỗ ở Hà Nội và Hà Tây, 66,6% mẫu rau cải tại Tp Hồ Chí Minh và Đồng Nai có dư lượng vượt giới hạn tối đa cho phép) (theo báo Nông nghiệp Nông thôn, Việt Nam, 20/8/2009) Mới đây, trong số 24 mẫu rau xanh lấy tại các cơ sở sản xuất rau Hà Nội, có mẫu rau cải xanh, dư lượng hoạt chất thuốc Fipronil vượt 12,5 lần mức dư lượng tối đa cho phép (theo Kinh tế Nông thôn, 2010)

Một số hóa chất bảo vệ thực vật bị cấm sử dụng như Methamidophos vẫn còn dư lượng trong rau (theo báo thương mại, 29/10/2010) Các loại thuốc thuộc nhóm Endosulfan, cũng còn được sử dụng để phun trừ sâu hại trên rau Sai phạm này cũng còn tồn tại ngay cả ở nhiều hộ nông dân thuộc các hợp tác xã sản xuất rau an toàn Kết quả kiểm tra 6 tháng đầu năm 2009 tại Vĩnh Long cho biết, vẫn còn một số nông dân ở các HTX sản xuất rau an toàn sử dụng thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ gốc

Trang 2

Carbofuran, Chlorpyrifos Ethyl, Diazinon, Dimethoate, Profenofos,… để trừ sâu hại trên rau (Lê Văn Liêm, 2009)

Ảnh hưởng của thuốc đối với con người và động vật máu nóng

Hầu hết thuốc BVTV đều độc với người và động vật máu nóng Tuy nhiên, mức độ gây độc của các loại hoạt chất khác nhau Thuốc BVTV được chia làm 2 loại: chất độc nồng độ (concentrative poison) và chất độc tích lũy (cumulative poison) Mức độ gây độc của nhóm chất độc nồng độ phụ thuộc vào lượng thuốc xâm nhập vào cơ thể Nếu thuốc xâm nhập vào cơ thể ở dưới liều gây chết,

cơ thể không bị tử vong và dần dần thuốc sẽ được phân giải và bài tiết ra khỏi cơ thể Thuộc nhóm này gồm các hợp chất Pyrethroid, một số hợp chất lân hữu cơ, cacbamat, thuốc có nguồn gốc sinh vật… các nhóm thuộc nhóm độc tích lũy như các hợp chất Chlor, các hợp chất chứa Arsen, Chì, Thủy ngân…có khả năng tích lũy lâu trong cơ thể gây nên biến đổi sinh lý có hại, thậm chí có loại gây rối loạn di truyền và các chứng bệnh nguy hiểm khác Báo cáo của Dasgupta 2007 qua xét nghiệm máu ngẫu nhiên của 190 nông dân ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, hơn 35% mẫu bị nhiễm thuốc BVTV cao và 21% nhiễm thường xuyên

Ngộ độc thuốc trừ sâu biểu hiện ở 2 dạng: ngộ độc cấp tích và ngộ độc mãn tính:

- Ngộ độc cấp tính (acute poisoning): Xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều

lượng lớn, phá huỷ mạnh các chức năng sống, được thể hiện bằng các triệu chứng rõ ràng, quyết liệt, đặc trưng của mỗi loại chất độc (bồn chồn, lo âu, hồi hộp, sợ sệt do rối loạn thần kinh Ngoài

ra, người ngộ độc còn bị đau bụng, chóng mặt, nhức đầu, nôn ói), thậm chí gây chết

- Ngộ độc mãn tính (chronic poisoning): Xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều

lượng nhỏ, nhiều lần, trong thời gian dài, được tích luỹ lại trong cơ thể sinh vật (tích luỹ hoá học hay chức năng) Những triệu chứng thể hiện chậm, lâu dài, gây tổn thương cho các cơ quan của cơ thể, làm cho sinh vật bị ốm, yếu (ảnh hưởng đến sức khoẻ của sinh vật, gây đột biến, ung thư, quái thai, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ sau) và có thể dẫn đến tử vong

Theo thống kê của Bộ Y tế, từ năm 1999 đến tháng 8/2004, trên toàn quốc đã xảy ra 1.245 vụ ngộ độc thực phầm với số bệnh nhân 28.014 người, trong đó 333 trường hợp tử vong Phân tích nguyên nhân xảy ra ngộ độc trong thời gian trên cho thấy, một trong những nguyên nhân cơ bản là ngộ độc hoá chất (11-25%)

Ảnh hưởng của thuốc hóa học đến môi trường và hệ sinh thái

Thuốc BVTV luôn có tính độc đối với sinh vật, có khả năng vận chuyển, tồn dư nên có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và hệ sinh thái

Gây hại cho động vật có ích: Trong quần thể côn trùng trên rau, côn trùng có hại chỉ chiếm khoảng 10% Số còn lại là các côn trùng có ích và các côn trùng khác, đóng vai trò trong quan hệ hữu ích, góp phần tạo nên sự bền vững của hệ sinh thái Các hóa chất BVTV không chỉ tiêu diệt các loài côn trùng và bệnh hại mà còn tiêu diệt cả các loài côn trùng có ích Các nghiên cứu cho thấy, việc phun thuốc trừ sâu, bệnh trên các cây dưa leo, bầu bí đã làm giảm đáng kể số lượng các loài côn trùng thụ phấn và vì vậy, năng suất các loài rau ở ruộng phun thuốc bị giảm hơn 60% so với ruộng sản xuất theo hướng an toàn

Ngoài ra, các hóa chất bảo vệ thực vật bị rửa trôi xuống các thủy vực làm hại các loài động vật thủy sinh (cá, ếch, nhái, ) đó là các loài có ích, thiên địch của sâu, hại Như vậy, vô tình chúng ta đã làm tăng thêm số lượng sâu hại và làm mất cân bằng hệ sinh thái

Ảnh hưởng đến môi trường đất, nước: Khi phun thuốc trên cây trồng, có hơn 50% thuốc bị rơi vãi xuống đất Đó là chưa kể biện pháp bón trực tiếp vào đất Ước tính có tới 90% thuốc sử dụng không tham gia diệt sâu, bệnh mà gây nhiễm độc cho đất, nước, không khí và nông sản (Phạm Văn Biên và CTV, 2000)

Sự tồn tại và vận chuyển của thuốc BVTV trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: cấu trúc hóa học của hợp chất, loại thuốc, loại đất, điều kiện thời tiết, phương thức tưới tiêu và các vi sinh vật có trong đất Tốc độ phân giải của thuốc BVTV trong đất diễn ra chậm Thời gian phân hủy hoàn toàn của thuốc có thể trên 10 năm Thuốc xâm nhập vào đất làm thay đổi lý tính của đất, ―chai hóa‖ đất và tiêu diệt các sinh vật có ích của đất Lê Huy Bá, Lê Thanh Hải (1999) khi nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV trên cây cà chua và cải bắp tại Hóc Môn, Củ Chi trên 6 động vật không xương sống có trong đất đã đưa ra kết luận: Thuốc BVTV có tác động mạnh mẽ, làm giảm số lượng

Trang 3

các loài động vật sống trong đất, đặc biệt là bộ giun đất Ở tầng đất 0 - 10 cm, trên ruộng phun thuốc theo quy trình an toàn, sau phun thuốc 15 ngày, số lượng giun đất giảm 46- 90%

Thuốc rửa trôi vào môi trường nước, gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm Ngoài ra, nguồn nước còn bị ô nhiễm bởi: đổ thuốc thừa sau khi sử dụng, đổ nước rửa dụng cụ xuống ao, hồ, cây trồng cạnh mép sông, hồ, ao suối được phun thuốc BVTV Qua phân tích 17 mẫu nước mặt mới đây trên sông Tiền, sông Hậu và các sông, rạch gần các vùng sản xuất rau, màu, các tiểu vùng sản xuất lúa, các khu vực nuôi thả thuỷ sản, Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Vĩnh Long đã phát hiện dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong nước khá cao với nồng độ từ 0,11 đến 0,19 micrôgam/lít Mặt khác, độc tính của các loại hóa chất BVTV tích tụ trong cơ thể các sinh vật thủy sinh và được tích lũy dần qua các mắt xích trong chuỗi thức ăn và có thể dẫn đến cái chết

Hình 1 Nông dân phun thuốc

BVTV trên rau tại Củ Chi (Nguồn:

Báo NN VN)

Hình 2 Bao bì thuốc BVTV được

bỏ trên đồng (Nguồn: Báo NN VN)

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN TRONG SẢN XUẤT RAU

Kết quả điều tra tại vùng rau chuyên canh ở Tiền Giang cho thấy, nông dân sử dụng rất nhiều chủng loại và số lượng phân bón trong sản xuất rau Trong đó, chủ yếu là phân vô cơ Số liệu cũng cho biết, 62,5% nông dân có sử dụng thêm phân hữu cơ và 37,5% chỉ sử dụng hoàn toàn phân vô cơ (Cục Trồng trọt, 2010) Lượng phân vô cơ sử dụng thường cao hơn so với khuyến cáo, đặc biệt là tỷ

lệ phân đạm sử dụng rất cao để có mẫu mã rau đẹp (tỷ lệ N:P:K tương ứng 2,5:1,5:1) Một kết quả điều tra khác tại vùng sản xuất rau ở Đà Lạt cũng cho thấy, phân khoáng cũng được sử dụng rất nhiều (Bảng 1) Lượng sử dụng cao hơn từ 30 – 60% so với mức khuyến cáo Ngoài phân bón gốc, phân bón lá với rất nhiều chủng loại cũng được phun xịt bổ sung từ 3-5 ngày một lần (Nguyễn Bích Thu và ctv, 2010) Tương tự, kết quả điều tra tại Vĩnh Long cho biết, phần lớn nông dân sử dụng rất phổ biến

và rộng rãi các loại phân bón lá trên tất cả các loại rau vào tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây trồng (Cục trồng trọt, 2010) Đây là một trong những nguyên nhân làm sản phẩm rau xanh không an toàn về hàm lượng nitrat

Bảng 1 Kết quả điều tra mức độ sử dụng phân khoáng cho rau tại Đà Lạt

STT Nhóm cây trồng Hàm lượng N-P-K (kg nguyên chất/1000m 2 )

Khuyến cáo

(Nguồn: Nguyễn Bích Thu và CTV, 2010 )

Tác hại của phân bón đối với người

Trang 4

Việc sử dụng phân bón có lợi cho sinh trưởng, phát trưởng của cây trồng nói chung và cây rau nói riêng Tuy nhiên, sử dụng phân bón không hợp lý sẽ gây tác hại đến sức khỏe con người và làm

ô nhiễm môi trường

Bón đạm quá cao, nhất là vào thời kỳ thu hoạch rau sẽ làm cho sản phẩm khó bảo quản, mau hư thối, khó chế biến trong công nghệ và đặc biệt là ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng Hàm lượng đạm cao trong rau, củ có khả năng gây ung thư và chết người Trường hợp mới đây, một cháu

bé ở TP HCM ngộ độc nặng vì bị methemoglobine máu do hàm lượng nitrat cao trong cà rốt Sử dụng phân hữu cơ chưa hoai, phân gia súc gia cầm chưa qua ủ… cũng là nguồn lây nhiễm mầm bệnh cho người tiêu dùng và cho môi trường sống

Tác hại của phân bón đến môi trường và hệ sinh thái

Như đã trình bày, nông dân ở hầu hết các vùng chuyên canh rau đều sử dụng lượng phân bón cao hơn so với quy trình khuyến cáo Điều này không những gây lãng phí mà còn ảnh hưởng đáng

kể đến môi trường đất và nguồn nước Kết quả kiểm tra đất ở vùng rau Đà Lạt cho thấy, hàm lượng kali và lân đều rất cao và cao từ 10 – 20 lần, cá biệt có mẫu cao hơn cả trăm lần (hàm lượng lân) so với mẫu đối chứng (Nguyễn Bích Thu và CTV, 2010) Lân là nguyên tố dễ rửa trôi khi bón dư thừa

và đây là nguyên nhân gây phú dưỡng hóa (tảo nở hoa) ở các ao, hồ, sông suối

Chua hóa môi trường đất: Phân đạm dư thừa được giữ lại trong đất dưới dạng HNO3, phân super lân thường có 5% acid tự do, các dạng phân hóa học đều là các muối của các acid (muối đơn hoặc muối kép)… khi hòa tan thường gây chua cho môi trường đất Việc tăng độ chua của đất sẽ dẫn đến sự mất cân đối về vi lượng trong đất Ví dụ, đất quá chua sẽ tích tụ nhiều Mn2+

gây độc đối với cây Một số vùng như ở Đà Lạt, nông dân lại bón lót quá nhiều vôi để trung hòa được pH đất lại làm đất bị kiềm hóa, dẫn đến thay đổi hàng loạt các tính chất của đất (Nguyễn Bích Thu và ctv, 2010) Mặt khác, sự tích lũy cao các hóa chất dạng phân hóa học cũng gây hại cho môi trường sinh thái đất về mặt cơ, lý tính Đất nén chặt, độ trương co kém, kết cấu kém, không tơi xốp, tính thông khí kém, vi sinh vật có ích giảm (Lê Huy bá và CTV, 2000) Mặt khác, việc thay đổi các đặc tính lý hóa của đất cũng tạo điều kiện cho các loài vi sinh vật có hại phát triển, gây ảnh hưởng xấu đến năng suất cây trồng Để hạn chế mầm bệnh, nông dân nhiều vùng đã sử dụng Methyl Bromide để

xử lý đất, lợi bất cập hại vì đây là khí làm suy giảm tầng ozon

Thời gian gần đây, phân hữu cơ được sử dụng khá phổ biến ở các vùng chuyên canh rau là một tín hiệu đáng mừng Tuy nhiên, sử dụng các loại phân hữu cơ, đặc biệt là các loại phân ủ chưa hoai và rác thải chưa được chế biến, có thể gây ô nhiễm môi trường Nếu trong phân có sự tồn tại của mầm gây bệnh, khi bón vào đất, chúng có điều kiện sinh sôi nẩy nở, lan truyền qua nước mặt, nước ngầm

… làm ô nhiễm các môi trường thành phần này, tiêu diệt động vật, vi sinh vật có ích và làm chậm quá trình sinh trưởng của cây trồng, thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng Khi bón phân hữu

cơ chưa hoai vào đất (tỷ lệ C/N cao) làm cho các vi sinh vật phân giải cellulose phát triển mạnh, hút nhiều đạm trong đất, nên làm cho cây trồng bị thiếu đạm

Ngoài ra, lượng oxit nitơ (từ phân vô cơ) và mêtan (từ phân hữu cơ), cũng là những loại khí nhà kính, gây hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu toàn cầu

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT THẢI HỮU CƠ, XÁC BÃ THỰC VẬT TRONG VÙNG CHUYÊN CANH RAU

Trong quá trính sản xuất rau, một lượng lớn thuốc BVTV và phân bón đã đựợc sử dụng và tương ứng một lượng lớn chai, lọ, bao bì chứa đựng hóa chất BVTV và phân bón cũng được thải ra Kết quả điều tra tại vùng chuyên canh rau ở huyện Châu Thành và Chợ Gạo (Tiền Giang) cho thấy, chỉ trên diện tích 8,9ha sản xuất rau vụ Hè Thu đã thải ra 226 bao bì phân bón và trên 1.200 vỏ chai, bao bì thuốc BVTV Có đến 22,5% số nông dân vứt bao bì thuốc BVTV này ở tại nơi pha thuốc (Cục Trồng trọt, 2011) Chưa kể, nhiều vùng nông dân còn sử dụng màng PE để phủ mặt luống, sau một vài vụ gieo trồng, một lượng lớn nilon cũng được thải ra Đây là loại chất thải rắn, thời gian phân hủy rất lâu, gây ngộ độc cho cây và làm đất bị chai, xấu Ngoài các hộ bỏ vương vãi trên đồng, Nhiều hộ gia đình không vứt bỏ rác thải này khắp nơi mà chứa vào một góc vườn rồi đốt Việc đốt

bỏ các bao bì này sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường vì mùi khét của PVC và đặc biệt là tạo ra các dioxin rất độc cho môi trường Vì vậy, nếu không quản lý tốt, lượng chất thải rắn này cộng với dư

Trang 5

lượng hóa chất còn sót (lượng thuốc BVTV và phân bón) dư thừa sẽ ảnh hưởng đáng kể đến môi trường

Hình 3 Một điểm ô nhiễm môi

trường ở khu dân cư thuộc tỉnh An

Giang, trong đó có rất nhiều vỏ lon,

túi đựng thuốc BVTV (Nguồn: báo

NN VN)

Hình 4 Sau khi thu hoạch, một lượng

tàn dư thực vật thải ra (Nguồn: báo

NN VN)

Ngoài ra, trong quá trình canh tác và thu hoạch một lượng lớn tàn dư thực vật cũng được thải

ra Kết quả điều tra tại vùng chuyên canh rau của tỉnh Tiền Giang cho biết, chỉ khoảng 67,5% nông dân đồng ý đốt và cày vùi tàn dư thực vật trên đồng ruộng Nông dân nhiều nơi vẫn còn vứt bỏ tàn

dư trên đồng cho đến vụ sản xuất sau Đây là nơi trú ẩn của các mầm dịch bệnh và là nguồn lây truyền sâu, bệnh cho vụ sau Mặt khác, nguồn rác thải hữu cơ này bị phân hủy cũng sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng Việc nghiên cứu tận dụng nguồn phế liệu này để ủ compost, dùng vi sinh vật để phân hủy làm thức ăn gia súc sử dụng làm cơ chất để nuôi trùng quế…Như vậy, vừa tận dụng được nguồn hữu cơ vừa giảm ô nhiễm môi trường và hạn chế được sự tồn lưu của dịch bệnh trên đồng ruộng là rất cần thiết

GIẢI PHÁP CHO SẢN XUẤT RAU AN TOÀN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC VÙNG CHUYÊN CANH RAU

Quản lý sâu, bệnh và cỏ dại:

- Thực hiện quản lý sâu, bệnh theo hướng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)

- Sử dụng hóa chất BVTV theo nguyên tắc 4 đúng

- Sử dụng phân bón hợp lý, cân đối Tăng cường tỷ lệ phân vi sinh và phân hữu cơ

- Thu gom và tiêu hủy tàn dư cây trồng sau mỗi vụ thu hoạch để cắt cầu nối của dịch hại giữa các vụ gieo trồng

Sử dụng an toàn phân bón và hóa chất BVTV

- Không sử dụng phân gia súc, gia cầm tươi hoặc phân rác chưa ủ hoai để bón cho rau

- Tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học, ít độc cho môi trường và côn trùng có ích

- Duy trì và bổ sung hệ vi sinh vật có lợi trong đất bằng các chế phẩm vi sinh

- Hạn chế sử dụng thuốc trừ cỏ, đặc biệt là các loại thuốc có độ tồn dư cao

- Chỉ sử dụng các loại thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây rau

Quản lý chất thải

- Rắc mùn cưa, tro, đất bột, cát lên trên mặt nơi phun thuốc

- Hình thành khu xử lý chất thải rắn tập trung cho vùng

- Đối với chai lọ, bao bì thuốc BVTV sau khi sử dụng phải được thu gom, phân loại và xử lý

sơ bộ (đối với chai lọ đựng thuốc BVTV) trước khi đưa đi xử lý tập trung

- Tái sử dụng các loại bao bì đựng phân bón hoặc thu gom cho tái chế thay vì đem đi đốt

- Sử dụng các tàn dư thực vật để ủ compost

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cục Trồng trọt, 2010 Xây dựng hướng dẫn bảo vệ môi trường tại các vùng chuyên canh (lúa, rau) tại các tỉnh phía Nam Tài liệu lưu hành nội bộ

Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết, 2000 Sinh thái môi trường ứng dụng Nhà xuất bản KHKT

Nguyễn Bích Thu, Lê Minh Châu, Lê Hữu Quang, Nghiệp Quốc Vương, 2011 Thực trạng ô nhiễm môi truờng đất nông nghiệp vùng chuyên canh rau, hoa tỉnh Lâm Đồng và đề xuất các giải pháp

xử lý Báo điện tử Lâm Đồng

Nguyễn Văn Liêm, 2009 Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại các hợp tác xã sản xuất rau

an toàn Bản tin nông nghiệp và nông thôn Vĩnh Long Số 9.GHIỆP VÀ NÔNG THÔN NH 9

Phạm Văn Biên, Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Mạnh Chinh, 2000 Cẩm nang thuốc bảo vệ thực vật Nhà xuất bản Nông nghiệp

Ngày đăng: 28/03/2014, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Nông dân phun thuốc - Báo cáo " THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO SẢN XUẤT RAU Ở VIỆT NAM " doc
Hình 1. Nông dân phun thuốc (Trang 3)
Bảng 1. Kết quả điều tra mức độ sử dụng phân khoáng cho rau tại Đà Lạt - Báo cáo " THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO SẢN XUẤT RAU Ở VIỆT NAM " doc
Bảng 1. Kết quả điều tra mức độ sử dụng phân khoáng cho rau tại Đà Lạt (Trang 3)
Hình 3. Một điểm ô nhiễm môi - Báo cáo " THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO SẢN XUẤT RAU Ở VIỆT NAM " doc
Hình 3. Một điểm ô nhiễm môi (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w