ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA BẤT ĐỘNG SẢN VÀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Chuyên ngành Kinh tế tài nguyên Cơ quan thực tập Ban quản lý dự án Lâm nghiệp ĐỀ TÀI Nghiên cứu hoạt động đấu thầu t[.]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Chuyên ngành: Kinh tế tài nguyên
Cơ quan thực tập : Ban quản lý dự án Lâm nghiệp
ĐỀ TÀI : Nghiên cứu hoạt động đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : PGS.TS VŨ THỊ MINH SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN NGỌC DIỆP LỚP : KINH TẾ TÀI NGUYÊN K54
MÃ SINH VIÊN : 11120597 KHOÁ : 2012 – 2016
HÀ NỘI - 2016
Trang 2CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Chuyên ngành: Kinh tế tài nguyên
Cơ quan thực tập : Ban quản lý dự án Lâm nghiệp
ĐỀ TÀI : Nghiên cứu hoạt động đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : PGS.TS VŨ THỊ MINH SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN NGỌC DIỆP LỚP : KINH TẾ TÀI NGUYÊN K54
MÃ SINH VIÊN : 11120597 KHOÁ : 2012 – 2016
HÀ NỘI - 2016
Trang 3Để có thể hoàn thành chuyên đề thực tập này với đề tài “Nghiên cứu hoạt độngđấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng”, em xin gửi lời cảm
ơn chân thành nhất tới Giáo viên hướng dẫn của mình - PGS.TS Vũ Thị Minh, khoaBất động sản và Kinh tế tài nguyên, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thờigian thực tập và hoàn thành chuyên đề này
Em cũng xin được cảm ơn Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp, các cán bộ thuộcPhòng Kế hoạch - Kỹ thuật đã tạo điều kiện thực tập và giúp đỡ em trong thời gianthực tập tại đơn vị
Mặc dù đã nỗ lực để toàn thành đề án một cách tốt nhất, song do kinh nghiệmcũng như kiến thức còn hạn chế, đề án không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định
Em rất mong nhận được sự góp ý của các quý Thầy, Cô giáo khoa Bất động sản vàKinh tế tài nguyên, trường Đại học Kinh tế quốc dân để sản phầm chuyên đề thực tậpđược hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 42 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
1.4 Kinh nghiệm thế giới về đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo
vệ và Phát triển rừng cùng bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 49
CHƯƠNG 2 Thực trạng đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ
2.1 Thực trạng đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát
Trang 5triển rừng ở Việt Nam
2.1.1 Thực trạng đầu tư, thực hiện các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát
2.1.2 Thực trạng đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển
2.2 Đánh giá hoạt động đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và
Phát triển rừng
CHƯƠNG 3.Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu thầu trong các dự án ODA
3.1 Những yêu cầu cần đạt được của đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh
vực Bảo vệ và Phát triển rừng ở Việt Nam
3.1.1 Tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của luật pháp Nhà nước về đấu thầu
nói chung và quy định của các nhà tài trợ về đấu thầu trong các dự án ODA
lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng nói riêng 813.1.2 Đảm bảo tiến trình thực hiện các đề án định hướng thu hút, quản lý và
sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài 823.1.3 Đảm bảo tiến trình thực hiện những mục tiêu quản lý và phát triển rừng
3.1.4 Nâng cao năng lực tổ chức đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu thầu các dự án ODA lĩnh vực
Bảo vệ và Phát triển rừng ở Việt Nam
3.2.1 Phát triển và khuyến khích đấu thầu qua mạng 893.2.2 Nâng cao công tác quản lý đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
Bộ GTVT : Bộ Giao thông Vận tải
Bộ KHĐT : Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
DN XDGT : Doanh nghiệp Xây dựng Giao thông
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
GTNT : Giao thông nông thôn
KHLCNT : Kế hoạch lựa chọn nhà thầu
Tên viết tắt Nội dung tiếng Anh Nội dung tiếng Việt
ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển Châu ÁASEAN NationsAssociation of Southeast Asian Hiệp hội các quốc gia Đông NamÁ
Trang 7CFD Community Development Fund Quỹ phát triển cộng đồng
CG European Union Liên minh Châu Âu
CIP Carriage and Insurance Paid to Cước và bảo hiểm trả tới điểm đếnCoC Chain of Custody Chuỗi hành trình sản phẩm
FAO of the United NationsFood and Agriculture Organization Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc FSC Forest Stewardship Council Hội đồng quản lý rừng
GDP Gross Domestic Produc Tổng sản phẩm quốc nội
GEF Global Environment Facility Quỹ môi trường toàn cầu
GPA Government Procurement Agreement Hiệp định mua sắm chính phủICB International Competitive Bidding Đấu thầu cạnh tranh quốc tếITTO OrganizationInternational Tropical Timber Tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tếJBIC CooperationJapan Bank for International Ngân hàng Nhật Bản cho Hợp tácphát triển Quốc tếJICA AgencyJapan International Cooperation Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật BảnKfW German Development Bank Ngân hàng Tái thiết Đức
LIB Limited International Bidding Đấu thầu hạn chế quốc tế
NCB National Competitive Bidding Đấu thầu cạnh tranh trong nướcODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thứcOECD operation and DevelopmentOrganization for Economic Co- Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tếPPfI Public Procurement for Innovation Mua sắm công cho công cuộc đổimớiTFF Trust Fund for Forest Quỹ uỷ thác ngành Lâm nghiệp
Trang 8UNDP ProgrammeUnited Nations Development Chương trình phát triển Liên Hiệp QuốcUSAID International DevelopmentUnited States Agency for Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa KỳUSD United States dollar Đô la Mỹ
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1. Quy trình đấu thầu trong khuôn khổ dự án ODA………… 36
Sơ đồ 1.2. Quy trình tổng quát đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng……… 38
Sơ đồ 1.3. Các bước đánh giá Hồ sơ dự thầu……… 42
Biểu đồ 1.1 Vai trò của mua sắm công trong các dự án ODA………… 32
Biểu đồ 1.2 Mua sắm công trong tổng chi tiêu chính phủ nói chung… 33
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu thu hút vốn ODA giai đoạn 1993 – 2014………… 53
Biểu đồ 2.2 Tình hình thu hút vốn ODA giai đoạn 1993 – 2014……… 55
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ ODA vùng so với cả nước……… 56
Biểu đồ 2.4. Vốn ODA và vốn đối ứng theo lĩnh vực giai đoạn 2011-2015……… 57
Biểu đồ 2.5. Cơ cấu vốn ODA (%) theo lĩnh vực giai đoạn 2011 – 2015 57
Biểu đồ 2.6. 10 địa phương có tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu cao nhất cảnước năm 2014……… 66
Biểu đồ 2.7. Tình hình lựa chọn nhà thầu trong các dự án ODA lĩnh vựcBảo vệ và Phát triển rừng ở Việt Nam………. 78
Bảng 1.1. So sánh quá trình đấu thầu theo quy chế đấu thầu quốc gia và theo hướng dẫn của Ngân hàng phát triển Châu Á 49
Bảng 1.2. Minh bạch và liêm chính : Thách thức và phương pháp 50
Trang 10Bảng 2.1. Danh sách một số dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng ở Việt Nam……… 57
Bảng 2.2 Tổng mức đầu tư phân bổ cho các hợp phần của dự án FLITCH………. 61
Bảng 2.3. Tổng hợp chung kết quả đấu thầu theo mục đích sử dụng vốn năm 2013……… 64
Bảng 2.4. Tổng hợp chung kết quả đấu thầu theo mục đích sử dụng vốn năm 2014……… 65
Bảng 2.5. Các gói thầu sử dụng nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ theo hình thức lựa chọn nhà thầu năm 2014…… 67
Bảng 2.6 Tổng hợp kết quả đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2014………. 70
Bảng 2.7. Tổng hợp kết quả đấu thầu của dự án FLITCH……… 72
Bảng 2.8. Tổng hợp kết quả đấu thầu của dự án JICA2……… 73
Bảng 3.1 Nguồn vốn ODA và cơ cấu nguồn vốn này theo các lĩnh vực qua các năm……… 83
Bảng 3.2. Chỉ số bền vững môi trường về lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng……… 85
Bảng 3.3. Định hướng quy hoạch diện tích rừng và đất lâm nghiệp giai đoạn 2010 – 2020……… 86
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Rừng cung cấp nhiều sản phẩm quan trọng, điển hình là gỗ và giấy Rừngcũng “phục vụ” con người qua những hoạt động thiết yếu ví dụ như lọc nước,kiểm soát dòng chảy ngầm, bảo vệ đất, điều chỉnh khí hậu, tái tạo và cất giữ cácchất dinh dưỡng, hơn nữa còn là “nhà” của vô số các loài động, thực vật Rừngbao phủ 31% bề mặt Trái đất, ước tính trên 4 tỷ héc-ta Căn cứ vào số liệu của tổchức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hiệp Quốc (FAO), tỷ lệ chặt phá rừng đãchạm đến mốc cao nhất vào những năm 90 của thế kỷ trước, mỗi năm Thế giớimất đi trung bình 16 triệu héc-ta rừng, tương đương kích thước của tiểu bangMichigan (Hoa Kỳ) Cùng lúc, diện tích rừng cũng được mở rộng ở một vài quốcgia, thông qua quá trình trồng rừng và sinh trưởng tự nhiên Vào thập kỷ đầu tiêncủa thế kỷ 21, tỷ lệ chặt phá rừng có xu hướng giảm nhẹ, nhưng dù như vậy thìhàng năm vẫn có tới 13 triệu héc-ta rừng bị phá huỷ
Các con số của nạn phá rừng toàn cầu cũng chưa đủ để cho chúng ta thấyđược toàn cảnh sự mất mát, những thiệt hại mà rừng trên Thế giới phải hứng chịu.Khai thác gỗ, các công trình giao thông vận tải, biến đổi khí hậu, và nhiều tácđộng khác đang làm suy thoái rừng Mỗi năm trôi qua, diện tích rừng lại bị thuhẹp, những cánh rừng ở lại thì chất lượng đi xuống
Đối với Việt Nam, một trong những hướng đi nhằm đảm bảo phát triển bềnvững trong chiếc lược quốc gia chính là duy trì và gia tăng độ che phủ rừng Theo
số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong Quyết định về việccông bố hiện trạng rừng toàn quốc (số 2089/QĐ-BNN-TCLN, ngày 30/08/2012),tổng diện tích rừng của Việt Nam tính đến năm 2012 có 13.5 triệu héc-ta trong đórừng tự nhiên chiếm 10.3 triệu héc-ta Nhìn chung diện tích rừng có xu hướngtăng nhẹ nhưng diện tích rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn lại giảm mạnh, đikèm với chất lượng cũng bị suy yếu Đây là một thực trạng đáng báo động trongbối cảnh biến đổi khí hậu với những tác động gia tăng và khó lường Đề án ứng
Trang 12phó biến đổi khí hậu của Bô Tài nguyên và Môi trường cũng đặt mục tiêu đếnnăm 2020 Việt Nam sẽ nâng độ che phủ rừng lên 45%, ổn định diện tích rừng đặcdụng trên 2 triệu héc-ta, phục hồi 0,62 triệu héc-ta rừng tự nhiên, trồng thêm250.000 héc-ta và tái sinh tự nhiên 750.000 héc-ta rừng phòng hộ, rừng đặc dụng,cải tạo 350.000 héc-ta rừng tự nhiên nghèo.
Để thực hiện được những mục tiêu đề ra, Chính phủ cũng đã quan tâm và bắtđầu đẩy mạnh đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng Thực tế là nhiều dự
án đã và đang được xây dựng, thực hiện Kèm theo đó, nhiều năm qua Việt Namcũng nhận được một lượng lớn vốn ODA từ nhiều quốc gia phát triển, nhà tài trợ
và các dự án có sử dụng nguồn vốn ODA đã đem lại một số hiệu quả cao, đónggóp tích cực vào sự phát triển của nước nhà Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tronggiai đoạn 2011 - 2020, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho ngành lâmnghiệp vẫn tiếp tục tăng Kể từ năm 2013, nguồn vốn ODA dành cho lâm nghiệpước tính khoảng 18% - 20% tổng nhu cầu vốn, bình quân một năm khoảng 700 -
800 tỷ đồng (đầu tư trực tiếp cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng là 250
-400 tỷ đồng) Thời gian tới, đầu tư ngoài ngân sách nhà nước là nguồn lực tàichính chủ yếu để phát triển lâm nghiệp Theo ước tính, để trồng gần 3 triệu héc-tarừng cần khoảng 40.000 tỷ đồng, chiếm 71% tổng nhu cầu vốn
Vậy để đồng tiền trong các dự án ODA hoạt động hiệu quả thì hệ thống đấuthầu(1) phải đảm bảo các nguồn vốn công được chi tiêu một cách cạnh tranh, côngbằng, minh bạch, hiệu quả Nói về đấu thầu hay còn gọi là mua sắm công(2), đây
là hoạt động đã xuất hiện từ rất lâu đời trong quá trình phát triển của nhân loại.Mua sắm công chiếm xấp xỉ 13% GDP các nước thành viên OECD (2011), đồngthời đây cũng là một hoạt động nhạy cảm của chính phủ, rất dễ gây lãng phí, tiêucực, do quy mô của các dòng tài chính liên quan Trên phương diện Thế giới, đấu
để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên
cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
2 Liên Hiệp Quốc xem mua sắm công là "một quá trình tổng thể mua hàng hóa, công trình và các dịch vụ trong đó bao gồm tất cả các chức năng từ việc xác định nhu cầu, mời thầu và lựa chọn nguồn, chuẩn bị và trao hợp đồng, và tất cả các giai đoạn quản lý hợp đồng đến khi kết thúc các dịch vụ của hợp đồng hoặc thời gian hữu dụng của tài sản.” (Chương trình phát triển LHQ, UNDP, 2007)
Trang 13thầu chiếm 15-20% GDP toàn cầu (EC, 2016) Trong môi trường hiện nay, đấuthầu lại trở nên phức tạp hơn bao giờ hết, các quan chức đấu thầu phải đối phóvới một loạt các vấn đề, đó là:
- Cân bằng được sức căng động giữa: (1) mục tiêu của cạnh tranh kinh tế - xãhội, (2) lợi ích kinh tế quốc dân, và (3) cạnh tranh toàn cầu theo yêu cầu củahiệp định thương mại khu vực và quốc tế
- Đảm bảo yêu cầu về tính công bằng, bình đẳng và minh bạch
- Duy trì được sự tập trung bao quát về tối đa hoá cạnh tranh
- Vận dụng công nghệ để củng cố hiệu quả đấu thầu, bao gồm cả đấu thầu quamạng và mua bán bằng thẻ
(Thai, 2008)
Trong những năm vừa qua, có thể nói hệ thống đấu thầu nói chung và côngtác đấu thầu của các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng nói riêng đãđạt được một số thành tựu, tuy nhiên trước mắt vẫn còn là những hạn chế, yếukém cần phải kể đến là vấn đề mất nhiều thời gian trong hoạt động đấu thầu dẫnđến tiến độ thực hiện dự án bị trì hoãn Trở ngại lớn nhất chính là sự thiếu quantâm của các nhà chính trị được thể hiện trong việc các văn bản pháp lý quy địnhriêng về đấu thầu các dự án ODA nói chung và lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng
là gần như chưa có Hay như kiến thức kỹ thuật và năng lực của các nhà thầu cònhạn hẹp dẫn đến hiệu quả của công tác đấu thầu chưa cao Vậy nhưng đến nay lạichưa có nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào tìm hiểu, phân tích hoạt động đấu thầucác dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng
Trên đây là những lý do cần thiết để em chọn lựa đề tài “ Nghiên cứu hoạt
động đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng”, để có
thể đưa ra một cái nhìn rõ nét hơn về nội dung, các yếu tố ảnh hưởng, thực trạngcủa hoạt động đấu thầu nói chung và đấu thầu dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ vàPhát triển rừng nói riêng, từ đó đưa ra một số những đánh giá, giải pháp nâng caohiệu quả công tác đấu thầu
2 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 142.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ rõ cơ sở lý thuyết về đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực bảo vệ vàphát triển rừng trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vựcbảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam, chỉ ra được các thành tựu và tồn tạicũng như nguyên nhân của những tồn tại đó
- Đề xuất một số các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động đấu thầu trong các
dự án ODA lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các hoạt động đấu thầu diễn ra trong các dự án ODA lĩnhvực bảo vệ và phát triển rừng
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động đấu thầu trong các dự án ODA lĩnhvực bảo vệ và phát triển rừng do Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp quản lý Thờigian nghiên cứu : kể từ năm 2005 đến nay, tuy nhiên sẽ đi sâu hơn vào các dự án
từ năm 2010
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong phần nội dung này, kết quả nghiên cứu trên Thế giới và trong nước vềđấu thầu, về các dự án ODA nói chung và ODA lĩnh vực bảo vệ và phát triểnrừng nói riêng sẽ được trình bày một cách tổng quan nhất
3.1 Các kết quả nghiên cứu trên Thế giới
- Nghiên cứu ngắn của hai Tiến sĩ Rainer Kattel và Veiko Lember với tựa đề
“Mua sắm công, hay còn là công cụ chính sách công nghiệp : lựa chọn cho
các nước đang phát triển ?”, được đăng tải trên tạp chí mua sắm công, số 10
năm 2010 Nghiên cứu đưa ra câu trả lời cho hai vấn đề : Có nên không khi
Trang 15các quốc gia đang phát triển tận dụng nỗ lực mua sắm công phục vụ phát triểnchung, và có thêm nhiều hơn các nước đang phát triển tham gia vào tổ chứcthương mại thế giới WTO và Hiệp định mua sắm chính phủ (GPA) là mộtđiều tốt ? Theo tác giả, tận dụng mua sắm công cho các mục tiêu phát triển,đặc biệt là trong công cuộc đổi mới (PPfI), được nhìn nhận trên lý thuyết nhưmột biện pháp chính sách cầu mà thông qua đó, chính phủ có thể tạo ra các thịtrường mới cho các công ty nhằm phát triển khả năng công nghệ cũng như cácgiải pháp Họ cũng chỉ ra lý do tại sao các nước đang phát triển lại phản đối ýkiến gia nhập GPA Về căn bản có thể chia thành 4 nguyên do ngắn gọn nhưsau : chính trị, kỹ thuật, kinh tế và các chính sách thứ cấp Nhìn chung, muasắm công - một phần của chính sách công nghiệp – mang lại nhiều lợi ích chocác nước đang phát triển Tuy vậy, để phát huy được mua sắm công vì lợi íchcủa đổi mới và phát triển kinh tế, những quốc gia đang phát triển không nêntrực tiếp áp dụng các chính sách tương ứng của các nước đã phát triển Donhững thiết lập thể chế quốc tế và tính phức tạp của PPfI, các quốc gia đangphát triển nên ưu tiên thúc đẩy các kỹ năng chính sách đổi mới trước, cũngnhư nưng lực trong không gian chính sách hiện hành của WTO, rồi sau đómới từ từ tiến tới xây dựng chính sách PPfI cụ thể.
- Khi V Thai với đề tài “Xem xét lại mua sắm công”, đăng tải trên tạp chí mua
sắm công, số 1 năm 2001 Với mục tiêu rà soát một cách toàn diện về kiếnthức mua sắm công, tác giả đã sử dụng phương pháp tiếp cận, mà theo tác giả
thì “nó phức tạp hơn nhiều so với những gì mà các học giả từng nghĩ” Thứ
nhất là quan điểm hệ thống truyền thống, dùng để khảo sát các yếu tố muasắm công Thứ hai là quan điểm tiếp cận hệ thống, quan điểm này được sửdụng nhằm khảo sát tính chất đột phá (emergent property) Ngoài việc đưa rađược hệ thống mua sắm công, tác giả còn xác định môi trường của hệ thốngmua sắm công, gồm 5 yếu tố tác động đến quá trình mua sắm công : (i) Nhómcác yếu tố bên trong hệ thống; (ii) Kinh tế - xã hội; (iii) Khung pháp lý; (iv)Chính trị và (v) Thị trường
Trang 16- Sổ tay mua sắm công quốc tế, một công trình tổng hợp nghiên cứu của các
chuyên gia, được chỉnh sửa bởi Khi V.Thai (xuất bản năm 2009) Cuốn sách
đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về đấu thầu – mua sắm công như các thôngtin, hiểu biết cho (i) mua sắm công quốc tế nói chung; (ii) hệ thống mua sắmcông tại các nước như Mỹ, Đức, Trung Quốc, Nam Phi, Cambodia, Uganda;(iii) đấu thầu qua mạng; (iv) các phương pháp đấu thầu và thực tiễn Theo KhiV.Thai, trong thời đại ngày nay, mua sắm công ngày một trở nên phức tạp, cácquan chức mua sắm công phải đối mặt với hàng loạt những vấn đề nhức nhối
Họ đang lâm vào một tình thế chênh vênh với các trở ngại: (i) làm sao để cânbằng sự căng động (dynamic tension) giữa cạnh tranh các mục tiêu kinh tế xãhội với lợi ích kinh tế quốc dân và với cạnh tranh toàn cầu theo yêu cầu củahiệp định thương mại khu vực và quốc tế; (ii) đảm bảo yêu cầu về tính côngbằng, bình đẳng, minh bạch; (iii) duy trì được sự tập trung bao quát về tối đahoá cạnh tranh; (iv) Vận dụng công nghệ để củng cố hiệu quả đấu thầu, baogồm cả đấu thầu qua mạng và mua bán bằng thẻ Về hệ thống mua sắm công,đối với Khi V.Thai thì gồm có bốn mảng : (i) luật và quy định về đấu thầu; (ii)lực lượng (tri thức) đấu thầu; (iii) quá trình và phương thức đấu thầu; (iv) cơcấu tổ chức đấu thầu
- Nghiên cứu ngắn của tiến sĩ David S.Jones về “Mua sắm công tại Đông Nam
Á: thử thách và đổi mới” được đăng trên tạp chí mua sắm công, số 7 năm
2007 Trên cái nhìn của tác giả, những trở ngại mà các quốc gia Đông Nam Ágặp phải khi thực hiện mua sắm công là : (i) khuôn khổ pháp lý và thủ tục, đâycũng chính là “chướng ngại vật” lớn nhất, sự mơ hồ, phân tán hay phạm vicòn hạn chế của luật pháp, của việc triển khai thực hiện các quy định, thủ tục,điều này khiến gia tăng sự mâu thuẫn, thiếu minh bạch, thiếu trách nhiệm; (ii)thể chế và nhân lực, các nước Đông Nam Á nói chung đều thiếu những cơquan trung tâm về mua sắm công (những nơi có chức năng giám sát chínhsách đấu thầu, đánh giá các quy định đấu thầu, soạn thảo tài liệu đấu thầu,kiểm soát việc thực hiện quy định); (iii) cạnh tranh và kết nối, cạnh tranh bìnhđẳng vẫn là một mục tiêu mà các quốc gia trong khu vực này đang cần hướng
Trang 17đến; (iv) cuối cùng phải kể đến vấn đề tham nhũng, nghiên cứu của tiến sĩDavid S.Jones cũng chỉ ra một số phác hoạ cụ thể từ các nước như Indonesia,Lào vv Dù đây là nghiên cứu đã được thực hiện từ thập kỷ trước, nhưng nóvẫn phản ánh rất sát, rất chân thực bối cảnh mua sắm công tại Việt Nam cũngnhư các nước trong cùng khu vực Từ đó có thể thấy cho đến bây giờ, chúng ta
đã vượt qua những thử thách nào, khắc phục được nhược điểm gì
- Cuốn sách “Quy tắc mua sắm công” của mạng lưới các trường đại học liên
kết Á – Âu, tác giả là các giáo sư Sue Arrowsmith, Steen Treumer, Jen Fejo
và Lili Jiang ( xuất bản năm 2009) Cuốn sách mang đến cho người đọc mộthiểu biết cơ bản về mua sắm công, từ định nghĩa, khung pháp lý, sự đa dạngcủa hệ thống mua sắm công, khó khăn vướng mắc, cho đến bối cảnh xã hội,môi trường của mua sắm công, hay những vấn đề đấu thầu quốc tế…vv Theohội đồng tác giả của cuốn sách này, những quy tắc căn bản để phát triển, hoànthiện các mục tiêu mua sắm công chính là: tính minh bạch, sự cạnh tranh vàđối xử công bằng
- Báo cáo nghiên cứu “Bài học rút ra từ việc áp dụng phương pháp luận cho
đánh giá các hệ thống mua sắm công quốc gia” của tổ chức OECD (2008)
thông qua quá trình tìm hiểu trên 22 quốc gia tại Châu Phi, Mỹ La Tinh vàChâu Á Khái niệm “phương pháp luận cho đánh giá hệ thống mua sắm côngquốc gia” được phát triển như một công cụ để đánh giá các hệ thống mua sắmcông (3) Các tác giả cho rằng, công cụ này đóng góp trong việc tăng hiệu quả,tính minh bạch cho việc vận hành mua sắm công Làm sao để quỹ công có thểđược tận dụng một cách tốt nhất, việc quan trọng đó là cần một hệ thống muasắm công quốc gia đáp ứng được những tiêu chuẩn thế giới và hoạt động nhưmong đợi
- Nghiên cứu ngắn của Tiến sĩ Keith F.Snider và chuyên gia Rene G.Rendon về
đề tài “Chính sách mua sắm công: ý nghĩa đối với lý thuyết và thực tiễn”
đăng trên tạp chí mua sắm công, số 8 năm 2008 Các tác giả nghiên cứu bằng
3 Phương pháp luận cho đánh giá hệ thống mua sắm công quốc gia được phát triển bởi OECD-DAC/Bàn tròn ngân hàng thế giới về Đẩy mạnh khả
năng mua sắm công tại các nước đang phát triển và Liên doanh mua sắm công với sự hỗ trợ tài chính của OECD-DAC, Ngân hàng thế giới và IADB
Trang 18cách khai thác nhiều mặt của chính sách mua sắm công, đồng thời đưa ranhiều ví dụ thực tiễn đã và đang diễn ra ở Mỹ
- Nghiên cứu “Đấu thầu thông minh giúp viện trợ thêm hiệu quả” bởi Bodo
Ellmers (2011) là một báo cáo dựa trên sáu quốc gia: Namibia, Ghana,Uganda, Bangladesh, Nicaragua và Bolivia về hoạt động đấu thầu và pháttriển hiệu quả Ở mỗi đất nước, nghiên cứu dựa vào các phỏng vấn chuyên giađấu thầu, các nhà hoạt động xã hội và kiểm soát, các nhân viên của những cơquan viện trợ Theo nghiên cứu cho hay, tận dụng chính hệ thống đấu thấu củanước nhà sẽ hiệu quả hơn, khi mà nguồn viện trợ khan hiếm được sử dụng đểtạo năng lực chức năng cốt lõi nhà nước thay vì các cấu trúc tốn kém và khôngcần thiết được xây dựng sẵn bởi các cơ quan viện trợ Đồng thời nó cũng traoquyền ra quyết định về vệc trao hợp đồng cho các nước tiếp nhận, điều này tạođược quyền sở hữu và cải thiện các cơ hội cho doanh nghiệp trong nước giànhđược các hợp hồng, đặc biệt nếu bên tiếp nhận cung cấp ưu đãi hoặc là dànhmột phần hợp đồng cho các doanh nghiệp trong nước
- Nghiên cứu của Giáo sư Benno Pokory, trường đại học Freiburg, Đức (2015)
về “Hợp tác phát triển song phương của Đức trong lĩnh vực lâm nghiệp”.
Nghiên cứu này đi sâu vào phân tích các số liệu trong công cuộc bảo vệ vàphát triển rừng, thông qua các dự án ODA tại ba nước Indonesia, Cameroon
và Cộng hoà dân chủ Congo Cả ba quốc gia được đề cập trên đây đều đượccoi là các quốc gia đang phát triển, còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tàichính, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng còn tồn tại nhiềunhững trở ngại, mặc dù ba đất nước này có tiềm năng rất lớn về ngành lâmnghiệp Qua việc phân tích các số liệu, nghiên cứu cung cấp cái nhìn rõ rànghơn trên các khía cạnh: (i) Vai trò của nguồn vốn hỗ trợ rừng trong nguồncung cấp hỗ trợ phát triển tổng thể; (ii) Các chiến lược, phương pháp, công cụ
áp dụng; (iii) Các tổ chức cho hợp tác lâm nghiệp; (iv) Những yếu tố ảnhhưởng đến rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và sinh kế địa phương Nghiên cứuđóng góp cho cuộc tranh luận đang diễn ra về việc làm thế nào để các tổ chứcthế giới có thể hỗ trợ một cách tốt nhất cho những quốc gia vùng nhiệt đới
Trang 19trong nỗ lực thúc đẩy phát triển tại những vùng có rừng, góp phần vào sự pháttriển kinh tế, đặc biệt đối với dân cư địa phương, khi mà cùng một lúc có thểgiảm nạn chặt phá rừng, suy thoái môi trường thông qua đồng vốn ODA, đặcbiệt là nước Đức, một trong những quốc gia thuộc Top những nhà tài trợ cungcấp vốn ODA lớn nhất thế giới.
Có thể thấy, nghiên cứu về lĩnh vực đấu thầu đã có nhưng số lượng còn chưanhiều, đa số là các dạng báo cáo, nghiên cứu ngắn, để mà liệt kê những công trìnhlớn thì chỉ là đếm trên đầu ngón tay, đặc biệt về đấu thầu các dự án ODA lại cànghiếm, còn cụ thể đấu thầu các dự án ODA lĩnh vực bảo vệ và phán triển rừng thìgần như chưa có
3.2 Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam
- Nghiên cứu của Trần Văn Hùng (2007) về “Nâng cao chất lượng đấu thầu
xây dựng các công trình giao thông ở Việt Nam” đã phân tích thực trạng chất
lượng đấu thầu xây dựng công trình giao thông ở Việt Nam và đưa ra cácnguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đấu thầu Từ đó tác giả đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đấu thầu Một số giải pháp màtác giả đưa ra có thể kể đến : Bộ GTVT, các tỉnh thành phố cần chủ động lựachọn hình thức đấu thầu rộng rãi trong phần lớn các gói thầu xây dựng giaothông; Bên mời thầu cần thành lập hoặc thuê “Tổ chuyên gia xét thầu chuyênnghiệp” khi xét thầu; Chống khép kín trong đấu thầu xây dựng các công trìnhgiao thông…vv…
- Nghiên cứu với đề tài “Mô hình hoạch định chiến lược cạnh tranh trong
đấu thầu xây lắp của doanh nghiệp xây dựng giao thông” của Phạm Phú
Cường (2012) Với mục tiêu bổ sung, hoàn thiện và làm sáng tỏ cơ sở lý luận
về cạnh tranh và chiến lược cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, các yếu tố cấuthành năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, phân tích thực trạng cạnhtranh, chiến lược cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của các DNXDGT, tác giảđứng trên góc độ doanh nghiệp, nhằm giải đáp câu hỏi làm thế nào để có chiến
Trang 20lược cạnh tranh để thắng thầu trong điều kiện cạnh tranh công bằng, minhbạch, đồng thời thoả mãn mục tiêu đấu thầu của CĐT.
- Nghiên cứu “ODA của Ngân hàng Phát triển Châu Á trong ngành lâm
nghiệp” của Nguyễn Ngọc Hải (2008) được thực hiện thông qua tập trung
nghiên cứu trường hợp bốn tỉnh thành Thanh Hoá, Quảng Trị, Gia Lai, PhúYên giai đoạn 2001 – 2005 Nhằm đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để khắcphục các mặt tồn tại và rút kinh nghiệm cho các dự án vốn vay ODA từ Ngânhàng Phát triển Châu Á lĩnh vực lâm nghiệp sau này
- “Báo cáo tình hình thực hiện dự án ADB khu vực Lâm nghiệp” của TS.
Lương Văn Tiến - (2003) Đây là bản báo cáo mà đối tượng là các Nhà tài trợ
để phục vụ “Hội nghị đánh giá các chương trình dự án ODA do Bộ Kế hoạch
và Đầu tư cùng WB, ADB, JBIC đồng tổ chức”, vì thế tác giả mới chỉ tậptrung vào việc báo cáo sử dụng ODA Lâm nghiệp đi vay của ADB với việcliệt kê các hạng mục đầu tư mà chưa có những nhận xét, đánh giá, rút kinhnghiệm trong quá trình thực hiện dự án
- Nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức đối với các dự án phát triển Lâm nghiệp của chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác” do Trần Thị Thu Hoài trình bày (2007) Nội
dung gồm cơ sở lý luận cơ bản, phân tích thực trạng và đề xuất giải phápnhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đốivới các dự án phát triển Lâm nghiệp của chương trình hỗ trợ ngành Lâmnghiệp và đối tác
Thông qua phần tổng quan tình hình nghiên cứu trên Thế giới cũng như tạiViệt Nam về chủ đề đấu thầu nói chung và đấu thầu các dự án ODA lĩnh vực bảo
vệ và phát triển rừng nói chung, có thể thấy rõ ràng rằng chủ đề này vẫn chưa hềđược quan tâm sâu sắc Số lượng các tài liệu nghiên cứu là vô cùng hạn hẹp
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 21Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu một cách tốt nhất, chuyên đề đã sử dụngmột số phương pháp nghiên cứu chính như sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: tìm đọc và nghiên cứu, phân tích, tổnghợp các tài liệu có sẵn trong nước và trên Thế giới về các nội dung liên quanđến đề tài đang nghiên cứu
- Phương pháp điều tra cơ bản : thu thập các số liệu, thông tin cần thiết tại cơ sởthực tập, hay trên các phương tiện truyền thông vv…
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Tổng hợp các số liệu điều tra thànhcác bảng biểu, sau đó xử lý số liệu bằng các hàm thống kê, phần mềm như củaMicrosoft Office
5 Kết cấu đề tài
Chuyên đề thực tập ngoài Phần mở đầu và Kết luận, có ba chương chính:
Chương I Cơ sở khoa học về đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực bảo vệ và
phát triển rừng
Chương II Thực trạng hoạt động đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ
và Phát triển rừng ở Việt Nam
Chương III Giải pháp hoàn thiện hoạt động đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh
vực bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam
CHƯƠNG 1
Trang 22Cơ sở khoa học về đấu thầu trong các dự án ODA
lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng
1.1 Đấu thầu và vai trò của đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo
vệ và Phát triển rừng
1.1.1 Các khái niệm về đấu thầu, đấu thầu trong các dự án ODA
1.1.1.1 Khái niệm về đấu thầu
Cho đến nay thuật ngữ “đấu thầu” đã không còn xa lạ gì trong xã hội Việt Nam,thuật ngữ này ra đời từ rất lâu trên Thế giới nhưng mãi cho đến những năm 90 của thế
kỷ trước mới du nhập vào Việt Nam
Trước hết, theo nghĩa hẹp, “đấu thầu” có thể hiểu đơn giản là việc các nhà thầucạnh tranh với nhau trong một cuộc thầu, nơi mà có ít nhất từ hai nhà thầu trở lên
“đấu” với nhau để giành hợp đồng, tức là đấu thầu bao gồm đấu thầu rộng rãi (tất cảnhà thầu được quyền tham gia) và đấu thầu hạn chế (chỉ một số nhà thầu được mờitham gia) “Đấu thầu” hiểu theo nghĩa rộng sẽ là việc chi tiêu tiền của Nhà nước, làviệc Nhà nước bỏ tiền để moa hàng hoá, dịch vụ hoặc xây dựng công trình nào đó, theocách hiểu này thì đấu thầu đúng nghĩa là “mua sắm” (Nguyễn Thị Thuý Hằng – 2012).Vậy nên khi đấu thầu đề cập đến việc mua sắm, chi tiêu tiền của Nhà nước, thuật ngữtiếng Anh sẽ là “Public Procurement” hay “Government Procurement”, tiếng Việt là
“mua sắm công” hoặc “mua sắm chính phủ” Đặc biệt bắt đầu từ tháng 11 năm 2006,thời điểm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, thuật ngữ “mua sắmcông” trở nên dễ hiểu và phổ biến hơn Từ đây chúng ta sẽ hiểu “mua sắm công” được
sử dụng trong đề tài này là cách gọi khác cho “đấu thầu”
Liên Hiệp Quốc thì nhìn nhận mua sắm công là “một quá trình tổng thể mua sắmhàng hoá, công trình và dịch vụ trong đó bao gồm tất cả các chức năng từ việc xác địnhnhu cầu, lựa chọn và trưng cầu vốn, chuẩn bị và trao hợp đồng, và tất cả các giai đoạncủa quản lý hợp đồng thông qua việc kết thúc hợp đồng dịch vụ hay là dòng đời sửdụng của tài sản (Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, UNDP, 2007) Theo cách
Trang 23đánh giá của Harink (1999, tr.15) thì mua sắm công “liên quan đến nhiều thứ hơn làmột quá trình mua sắm đơn lẻ”, nó không chỉ bao gồm việc hỗ trợ mà còn “có nhiềuthành phần quan trọng” gồm cả chiến lược và chính sách của tổ chức, các phương pháp
và thủ tục, nhân sự và cơ cấu tổ chức, thông tin Uỷ ban Châu Âu đưa ra khái niệm
“mua sắm công chính là quá trình mà nhờ nó, các cơ quan công quyền cụ thể như cơquan chính phủ hay chính quyền địa phương có thể mua sắm hàng hoá, dịch vụ từ cáccông ty được lựa chọn cho mục đích này” Cơ quan bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ địnhnghĩa mua sắm công như sau: “mua sắm công được hiểu như việc mua lại các côngtrình, vật tư, dịch vụ bởi các cơ quan công, bất kể theo hợp đồng chính thức hay không
Nó dao động từ việc mua vật tư hay dịch vụ cho đến đấu thầu chính thống và đặt rahợp đồng cho các dự án hạ tầng quy mô lớn”
Theo từ điển tiếng Việt (do Viện ngôn ngữ khoa học biên soạn, xuất bản năm1998), đấu thầu được định nghĩa như sau : “đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán vớiđiều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng” Trong nghị định củachính phủ số 88/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 09 năm 1999 về việc ban hành Quy chếĐấu thầu, “đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của Bên mờithầu.” Tới năm 2013, trong Luật đấu thầu (Luật số 43/2013/QH13) có viết: “Đấu thầu
là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tưvấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết vàthực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sửdụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”.Trong luật thương mại của Việt Nam, họ đưa ra định nghĩa về “đấu thầu hàng hoá” nhưsau: “Đấu thầu hàng hoá là việc mua hàng hoá thông qua mời thầu nhằm lựa chọnthương nhân dự thầu đáp ứng được các yêu cầu về giá cả, điều kiện kinh tế - kỹ thuật
do bên mời thầu đặt ra.”
1.1.1.2 Khái niệm về đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển
rừng
Trang 24a Khái niệm về ODA
Sau chiến tranh thế giới thứ II, để giúp các nước Châu Âu phục hồi các ngànhcông nghiệp bị chiến tranh tàn phá, ODA cùng kế hoạch Marshall đã ra đời Để tiếpnhận viện trợ của kế hoạch này, các nước Châu Âu đã đưa ra một chương trìnhphục hồi kinh tế có sự phối hợp và thành lập một tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu,nay chính là OECD Vào năm 1969, tổ chức OECD đưa ra khái niệm về nguồn vốn
ODA lần đầu tiên: “Nguồn vốn Phát triển chính thức (viết tắt là ODA) là nguồn vốn
hỗ trợ để tăng cường phát triển kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển Thành tố hỗ trợ chiếm một khoảng xác định trong khoản tài trợ này.” (Helmut
Fuhrer – 1996) Tới nay, theo chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc: “ODA là
viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay.” Cho
tới nay thuật ngữ ODA được sử dụng rất phổ biến, tuỳ theo từng cách tiếp cận nên
có nhiều cách hiểu về ODA, tuy nhiên sự khác nhau giữa các cách hiểu là khôngnhiều Ở Việt Nam, trong Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của
Chính phủ Việt Nam xác định thuật ngữ này là: “Hỗ trợ phát triển chính thức được
hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ.”.
Về dự án sử dụng nguồn vốn ODA, hay gọi tắt là “dự án ODA” được định nghĩa như sau: “Dự án ODA là dự án hỗ trợ phát triển chính thức, là các dự án
thuộc khuôn khổ hoạt động phát triển của chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nhà tài trợ.”.
“Điều ước quốc tế về ODA” là thoả thuận bằng văn bản được ký kết nhân
danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam với một hoặc nhiều nhà tài trợ về các vấn đề liên quan đến ODA Điều ướcquốc tế về ODA bao gồm:
- Điều ước quốc tế khung về ODA là điều ước quốc tế về ODA thể hiện camkết về các nguyên tắc, điều kiện chung về hợp tác phát triển, có nội dung
Trang 25liên quan tới : chiến lược, chính sách, khuôn khổ hợp tác phát triển,phương hướng ưu tiên trong cung cấp và sử dụng ODA; các lĩnh vực, cácchương trình hoặc dự án ODA thoả thuận tài trợ; điều kiện khung và camkết ODA cho một năm hoặc nhiều năm đối với chương trình, dự án; nhữngnguyên tắc về thể thức và kế hoạch quản lý, thực hiện chương trình, dự án.
- Điều ước quốc tế cụ thể về ODA là điều ước quốc tế về ODA thể hiện camkết về việc tài trợ cho chương trình, dự án cụ thể hoặc hỗ trợ ngân sách, cónội dung chính bao gồm: mục tiêu, hoạt động, kết quả phải đạt được, kếthoạch thực hiện, điều kiện tài trợ, vốn, cơ cấu vốn, nghĩa vụ, quyền hạn vàtrách nhiệm của mỗi bên, các nguyên tắc, chuẩn mực cẩn tuần thủ trongquản lý, thực hiện chương trình,dự án và điều kiện giải ngân, điều kiện trả
nợ đối với khoản vay cho chương trình, dự án
(Bộ Kế hoạch và Đầu tư – 2009)
Đặc điểm chính của các dự án ODA gồm có : (i) Tính tạm thời; (ii) Duy nhất;(iii) Giới hạn về nguồn lực; (iv) Nguồn vốn và (v) Phát triển và chi tiết hoá liên tục.Trong đó :
- Nguồn vốn: toàn bộ hay một phần nguồn vốn thực hiện dự án ODA xuấtphát từ các nhà tài trợ Quốc tế Cơ chế tài chính trong nước đối với sửdụng nguồn vốn ODA là cấp phát, cho vay từ ngân sách Nhà nước Nguồnvốn đối ứng là khoản vốn đóng góp từ phía Chính phủ Việt Nam bằng hiệnvật (có thể dưới dạng tiền từ ngân sách Nhà nước hoặc nhân lực…)
- Tính tạm thời: Các dự án ODA có thời gian hoạt động nhất định, khôngliên tục diễn ra theo quy trình có sẵn Nhân công của dự án cũng chỉ gắn
bó với dự án trong một khoảng thời gian nhất định
- Duy nhất: Mỗi dự án có mục tiêu cung cấp một loại sản phẩm hay dịch vụđặc biệt, không hoàn toàn trùng lặp với sản phẩm hay dịch vụ của các dự
án khác
b Khái niệm về đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng
Trong khuôn khổ nội dung của đề tài, em giới hạn phạm vi nghiên cứu vào đấuthầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng Từ những khái niệm
Trang 26chung cho đấu thầu được đề cập trên đây, định nghĩa đấu thầu trong các dự án ODAlĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng có thể được hiểu như sau:
“Đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng là các hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hoà và dịch vụ được tài trợ bởi các khoản vay ODA đầu
tư cho lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng Hoạt động được tiến hành với mục đích lựa chọn được nhà thầu hoặc nhóm các nhà thầu (liên danh) đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra.”
1.1.2 Các lĩnh vực đấu thầu trong các dự án ODA
1.1.2.1 Đấu thầu xây lắp công trình
Gồm có các loại như xây dựng nhà xưởng, xây dựng đường…Thông thường cácthông số và yêu cầu kỹ thuật của công trình đã được xác định và công bố nên việc đấuthầu chủ yếu dựa trên đấu thầu cạnh tranh theo giá Hình thức hợp đồng phổ biến làHợp đồng theo đơn giá xây lắp và Hợp đồng trọn gói
1.1.2.2 Đấu thầu dịch vụ tư vấn và phi tư vấn
Dịch vụ tư vấn đa dạng gồm: thiết kế, kiểm toán, giám sát…dựa vào kinh nghiệm
uy tín được tích luỹ của cá nhân, doanh nghiệp Đấu thầu chủ yếu dựa trên việc mời vàchọn được các nhà thầu đáp ứng được các tiêu chí chất lượng – giá
1.1.2.3 Đấu thầu hàng hoá
Là việc mua sắm đơn giản như thiết bị văn phòng, phức tạp như máy móc…Thường căn cứ vào chào hàng của nhà sản xuất hoặc cung ứng trên những tiêu chuẩn/thông số kỹ thuật được xác định
1.1.3 Các hình thức đấu thầu trong các dự án ODA
1.1.3.1 Các hình thức đấu thầu chung (trên góc độ giới hạn nhà thầu tham dự)
Theo Luật đấu thầu (Luật số 43/2013/QH13), tại chương II, mục 1 quy định cáchình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư như sau:
Trang 27- Đấu thầu rộng rãi: là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không
hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự
- Đấu thầu hạn chế: được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ
thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầucủa gói thầu
- Chỉ định thầu: việc chỉ định thầu đối với nhà thầu được áp dụng trong các
trường hợp được quy định rõ tại điều 22, mục 1, chương II Luật này Một sốtrường hợp ví dụ như : gói thầu cần thực hiện để khắc phục hoặc xử lý kịp thờihậu quả gây ra do sự cố bất khả kháng, hay để bảo đảm bí mật nhà nước…; góithầu mang tính cấp bách mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia ; gói thầu cung cấpdịch vụ tư vấn, phi tư vấn, mua sắc hàng hoá phải moa từ nhà thầu đã thực hiệntrước đó do phải đảm bảo tính tương thích về công nghệ, bản quyền…; gói thầucung cấp sản phẩm, dịch vụ công ; gói thầu di dời các công trình hạ tầng kỹthuật do một đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý vv…
- Chào hàng cạnh tranh: được áp dụng đối với gói thầu có giá trị trong hạn mức
theo quy định của Chính phủ và thuộc một trong các trường hợp : gói thầu dịch
vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hàng hoá thông dụng, sẵn có trên thịtrường; gói thầu xây lắm công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công đượcphê duyệt Chào hàng cạnh tranh cũng cần phải đáp ứng một số điều kiện đượcquy định theo Luật đấu thầu 2013
- Mua sắm trực tiếp: được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hoá tương tự
thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắmkhác Hình thức này để thực hiện được cũng cần bảo đảm những yêu cầu màLuật đề ra
- Tự thực hiện: áp dụng đối với gói thầu thuộc dự án, dự toán mua sắm trong
trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực kỹ thuật, tàichính và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu
- Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt: khi gói thầu, dự án
xuất hiện các điều kiện đặc thù mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọnnhà thầu được quy định trong các hình thức trên đây thì người có thẩm quyền
Trang 28trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án lựa chọn nhà thầu,nhà đầu tư.
- Tham gia thực hiện công cộng: khi các gói thầu thuộc chương trình mục tiêu
quốc gia, các chương trình phục vụ xã hội cộng đồng, hay gói thầu quy mô nhỏthì dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương nơi có gói thầu sẽ được giaothực hiện toàn bộ hoặc một phần gói thầu đó
1.1.3.2 Các hình thức đấu thầu trong các dự án ODA
Điểm 3, điều 3, chương I Luật đấu thầu 2013 của Việt Nam nói rõ: “Đối với việc
lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư thuộc dự án có sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi phát sinh từ điều ước quốc tế, thoả thuận giữa Việt Nam với nhà tài trợ thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế đó.”.
Điểm 4 ngay sau đó cũng làm rõ thêm “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.”
Vậy có nghĩa là các thủ tục mua sắm công (đấu thầu) cần tuân theo các yêu cầu
về mua sắm của nhà tài trợ Các quy định này được viết rõ ràng trong các quy định,hướng dẫn của các nhà tài chính ODA tại Việt Nam cũng như quy định, hướng dẫn củacác nhà tài trợ khác Tóm lại, đối với các dự án ODA, đấu thầu được tổ chức dưới cáchình thức sau:
- Đấu thầu rộng rãi quốc tế (ICB): Áp dụng cho các dự án trên 10 triệu USD cần
kinh nghiệm, hàng hoá quốc tế Mời thầu sẽ được công bố công khai và rộng rãicho tất cả các nhà thầu Quốc tế đủ điều kiện Mục đích nhằm tăng sự lựa chọnnhà cung cấp thích hợp nhất và đảm bảo cơ hội bình đẳng trong cung cấp
- Đấu thầu hạn chế quốc tế (LIB): về cơ bản đây là ICB nhưng không quảng cáo
công khai mà trực tiếp mời thầu Theo LIB, Bên vay cần mời thầu theo mộtdanh sách đủ rộng để các nhà cung cấp tiềm năng đảm bảo giá cả cạnh tranh,danh sách này phải gồm tất cả các nhà cung cấp vì số lượng họ là hạn chế Ưuđãi trong nước không được áp dụng trong việc đánh giá các HSDT theo LIB
Trang 29Phải áp dụng thủ tục ICB đầy đủ trên mọi phương diện trừ quảng cáo và ưu đãi,bao gồm cả việc công bố trao hợp đồng.
- Đấu thầu rộng rãi trong nước (NCB): Đây là thủ tục đấu thầu cạnh tranh thường
được sử dụng cho hoạt động đấu thầu mua sắm công ở trong nước Bên vay và
có thể là cách thức phù hợp nhất để mua sắm hàng hoá và công trình có tínhchất, phạm vi ít khả năng hấp dẫn cạnh tranh quốc tế Để được chấp nhận sửdụng cho đấu thầu mua sắm do Ngân hàng tài trợ, các thủ tục này phải được ràsoát và điều chỉnh khi cần thiết để đảm bảo tính kinh tế, hiệu quả và minh bạch,nhất quán
- Chào hàng cạnh tranh quốc tế và trong nước: Áp dụng khi giá trị gói thầu
không đủ lớn để hấp dẫn các nhà thầu, nhà cung cấp tham dự ICB hay NCB, nóphù hợp cho các hàng hoá bán sẵn hoặc hàng hoá tiêu chuẩn định sẵn số lượnggiá trị nhỏ và các công trình xây lắp nhỏ Việc mời thầu gửi tới thường không íthơn 5 nhà thầu Hoạt động đấu thầu được thực hiện bằng việc yêu cầu các nhàcung cấp nước ngoài và trong nước gửi tối thiểu 3 báo giá
- Chỉ định thầu: Áp dụng cho các sản phẩm độc nhất về đặc điểm và chỉ có thể
mua từ một nhà cung cấp Việc mua/đàm phán trực tiếp được tiến hành với mộtnhà thầu hoặc một số ít các nhà thầu, và việc đàm phán được chứng minh làkinh tế hơn và sẽ đảm bảo tính tương hợp về chất lượng công trình
- Mua sắm trực tiếp (hay gọi là Đấu thầu lặp lại hoặc Đặt hàng lặp lại): Áp dụng
khi mà các hạng mục cần mua sắm đã được moa thông qua đấu thầu quốc tế,nay cần được mua thêm và ngân sách sẵn sàng cho mục đích này, phần thêmnày được mua dưới hình thức đấu thầu lặp lại khi có thể chỉ rõ ra rằng một cuộcthầu quốc tế nữa không góp thêm được lợi ích gì Thông thường thì đơn đặthàng lặp lại này làm theo trình tự của các trước trong vòng 18 tháng và số lượngđặt thêm không vượt quá 30% số lượng đặt lần đầu (theo WB)
- Đấu thầu mua sắm thông qua các cơ quan của Liên Hợp Quốc: Có thể có các
trường hợp mà việc mua sắm thông qua trực tiếp các cơ quan chuyên môn củaLiên Hợp Quốc, với vai trò như các nhà cung cấp, theo đúng thủ tục của chính
họ, có thể là cách thức mua sắm phù hợp nhất : (i) khối lượng nhỏ các hàng hoá
Trang 30sẵn có, chủ yếu trong lĩnh vực giáo dục, y tế; (ii) các sản phẩm chuyên ngànhvới số lượng các nhà cung cấp là hạn chế.
1.1.4 Những chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả đấu thầu trong các dự án ODA
1.1.4.1 Hiệu quả sử dụng vốn ODA
Có thể thấy viện trợ nước ngoài đã và đang đóng vai trò quan trọng trong quátrình phát triển đặc biệt hướng đến các nước nghèo, các nước còn nhiều khó khăn vềvấn đề tài chính, điển hình là các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Nguồn vốnODA có tính hai mặt của nó, bên cạnh những ưu điểm nó mang lại mà người ta có thể
rõ ràng nhìn thấy ví dụ như: (i) ODA bổ sung trực tiếp cho nguồn vốn đầu tư phát triển,các khoản vay của ODA hầu hết có mức lãi suất thấp, thời gian hoàn trả rất dài Nhờđiều kiện tốt như vậy, Chính phủ các nước mới có thể tập trung đầu tư cho các dự ánkinh tế lớn mà nước nhà chưa có khả năng tự xây dựng và thực hiện; (ii) các dự ánODA thường có yêu cầu cao về trình độ kỹ thuật – công nghệ, cũng như trình độ ngườilao động, nhà quản lý Nhờ có sự ra đời của các dự án ODA mà nguồn nhân lực ViệtNam có thêm điều kiện để tiếp cận, học hỏi những quy trình công nghệ mới ở nhiềulĩnh vực…
Tuy nhiên cũng phải thấy không phải nguồn viện trợ nào cũng mang đến thànhcông Nếu như một đất nước quá phụ thuộc vào nguồn vốn ODA thì chính là đang làmtăng gánh nợ quốc gia Cho dù đã đề cập ở trên về việc thời gian vay được tạo điềukiện đến vài chục năm, nhưng rõ ràng đây vẫn là vốn đi vay, đến một thời điểm nào đónước tiếp nhận vẫn phải dùng tiền của mình để trả nợ Và một trong những nguy cơđáng quan tâm nhất chính là rủi ro tỷ giá Hay là về vấn đề thủ tục sử dụng vốn vayODA thường phức tạp, tốn kém thời gian để dự án được chấp thuận
Vì thế, để đảm bảo các dự án sử dụng nguồn vốn ODA một cách hiệu quả nhất,cần xét đến những chỉ tiêu vĩ mô như sau :
- Tăng trưởng GDP;
- Tăng mức GDP trên đầu người;
- Các chỉ số về xã hội : Tỷ lệ giảm nghèo, tỷ lệ tăng dân số….;
Trang 31- Khả năng hấp thụ và hiệu quả sử dụng vốn ODA theo ngành;
- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế
(Theo Lương Mạnh Hùng – 2007) Dựa vào “Các nguyên tắc trong đánh giá nguồn hỗ trợ phát triển của Uỷ ban hỗ
trợ phát triển OECD”, các tiêu chí phản ánh hiệu quả sử dụng vốn ODA bao gồm:
- Tính phù hợp: Mức độ phù hợp của việc đầu tư bằng nguồn vốn ODA đối vớinhững ưu tiên và chính sách của nhóm mục tiêu, bên tiếp nhận tài trợ và nhà tàitrợ;
- Tính hiệu quả: Xem xét việc dự án có đạt được mục tiêu như trong thiết kế banđầu đặt ra không ?;
- Tính hiệu suất: Đo lường sản phẩm đầu ra - định lượng và định tính – liên quanđến các yếu tố đầu vào Việc này cho thấy dự án thực hiện đạt được kết quả nhưmục tiêu đề ra chưa?;
- Tính tác động: Là những chuyển biến tích cực và tiêu cực do sự can thiệp trựctiếp hoặc gián tiếp, có chủ ý hay không có chủ ý của việc thực hiện chươngtrình/dự án tạo ra;
- Tính bền vững: Xem xét những lợi ích của việc thực hiện chương trình/dự án sẽđược duy trì sau khi kết thúc nguồn tài trợ như thế nào cả về mặt tài chính vàmôi trường
1.1.4.2 Các chỉ tiêu hiệu quả đấu thầu trong các dự án ODA
a Các chỉ tiêu thể hiện năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu tham dự thầu
Hiện nay chưa có tài liệu nào đưa ra một cách đầy đủ các tiêu chí biểu hiện nănglực cạnh tranh cũng như kinh nghiệm của các nhà thầu Dựa vào một số hồ sơ mời thầucủa các chủ đầu tư, có thể thấy các chỉ tiêu cơ bản giúp thể hiện năng lực và kinhnghiệm của các nhà thầu như sau:
- Xác suất trúng thầu: Chỉ tiêu phản ánh khái quát tình hình dự thầu và kết quả đạtđược của nhà thầu bằng cách đánh giá hiệu quả, chất lượng của việc dự thầutrong năm, quy mô và giá trị hợp đồng trúng thầu thông qua đó có thể đánh giánăng lực của nhà thầu, việc đánh giá được tính bằng công thức sau:
Trang 32Xác suất trúng thầu theo giá trị = T ổ ng gi átr ị c ác gó ith ầuđã d ự thầu T ổ ng số gi átr ịtr ú ngth ầu
- Năng lực tài chính: Đây là yếu tố vô cùng quan trọng, đóng vai trò mấu chốt củamỗi nhà thầu, xác định nhà thầu đó mạnh yếu ra sao Cần xem xét các chỉ tiêunhư doanh thu của nhà thầu trong một khoảng thời gian xác định như 3 năm hay
5 năm về trước, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, kỳ thu tiền bình quân và một số chỉtiêu khác được áp dụng cho từng lĩnh vực gói thầu liên quan
- Trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng,thực hiện các dự án ODA của gói thầu
- Những dự án ODA trước đây mà các nhà thầu đã từng làm hoặc tham gia làmvới tư cách nhà thầu phụ
b Chỉ tiêu đảm bảo tính pháp lý và khoa học, hiệu quả kinh tế của việc lựa chọn nhà thầu
Luật pháp Việt Nam đã quy định rất rõ tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tưkhi tham gia đấu thầu, cụ thể được đề cập trong điều 5 của Luật đấu thầu 2013 Nhàthầu, nhà đầu tư có tư cách hợp lệ theo quy định được tham dự thầu với tư cách độc lậphoặc liên danh (Trường hợp liên danh phải có văn bản thoả thuận giữa các thành viên,trong đó quy định rõ trách nhiệm của thành viên đứng đầu liên danh và trách nhiệmchung, trách nhiệm riêng của từng thành viên trong liên danh) Đấu thầu là một vấn đềnhạy cảm, vì vậy khi tham gia đấu thầu, cũng như lựa chọn nhà thầu cần phải xem xétrất kỹ tới những quy định của luật pháp, tuân thủ nghiêm chỉnh những yêu cầu đó, đặcbiệt với các dự án ODA cần tuân theo những quy định trong các điều ước Quốc tế, quyđịnh của nhà tài trợ vốn ODA đưa ra Một dự án ODA không thể coi là có hiệu quả vàchất lượng tốt khi vi phạm quy định pháp lý
Về tính khoa học trong việc lựa chọn nhà thầu ở đây chính là đảm bảo những yêucầu của chủ đầu tư hay bên mời thầu đặt ra khi mua sắm sản phẩm, dịch vụ Những yêucầu này chính là các tiêu chuẩn xét thầu (Trần Văn Hùng – 2008) Khi xét thầu cần ápdụng phương pháp xét thầu khoa học được quy định trong các văn bản pháp luật hiệnhành
Trang 33Trước tiên phải đảm bảo trình độ chuyên môn, kỹ thuật và kinh nghiệm của nhàthầu Với mỗi chương trình, dự án khác nhau sẽ đòi hỏi trình độ, kỹ thuật và kinhnghiệm khác nhau Để dảm bảo chương trình, dự án được thực hiện như mục tiêu banđầu, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thì với mỗi chương trình, dự án cầnlựa chọn nhà thầu có đủ trình độ chuyên môn phù hợp với độ phức tạp khác nhau củatừng công trình, dự án cụ thể Đặc biệt với các dự án ODA đòi hỏi trình độ chuyên môncao, chuyên sâu, phù hợp với mức độ phát triển tri thức của Thế giới.
Sau đó phải quan tâm đến mặt giá cả, việc chọn được nhà thầu thực hiện gói thầuphải tiết kiệm được ngân sách dự án, dựa trên cơ sở đảm bảo tất cả các yêu cầu côngnăng của chương trình, dự án để tiết kiệm tới mức tối đa cho phép Công tác tổ chứcđấu thầu cần được tiến hành một cách nhanh gọn, tránh lãng phí tiền của của Nhà nước
Trang 34
Biểu đồ 1.1 Vai trò của mua sắm công trong các dự án ODA
1.1.5.1 Vai trò đối với nền Kinh tế quốc dân
Mua sắm công tác động rất lớn lên nền kinh tế của mỗi đất nước Trong tài liệu
“Government at a Glance 2013) của OECD, một loạt các số liệu về chi tiêu cho muasắm chính phủ của các nước thành viên OECD được liệt kê đầy đủ (tại biểu đồ 1.2).Tại Việt Nam, 20% trên tổng GDP là con số trung bình của mua sắm công hàng năm Khi tham gia đấu thầu, nhà thầu sẽ sử dụng mọi biện pháp cạnh tranh để thắngthầu, đạt được gói thầu mong muốn, một trong những biện pháp dùng tới chính là giảmgiá, đồng thời bên mua cũng mong mua được sản phẩm hàng hoá/ dịch vụ với chi phí
rẻ nhất Do đó, Nhà nước chỉ cần bỏ ra một khoản tiền ít hơn dự toán ban đầu để thựchiện dự án, chương trình Theo thống kê, giá trị mua sắm công của đa số các nước trênThế giới chiếm khoảng trung bình 20% giá trị GDP, đây là chìa khoá để phân phốihàng hoá, dịch vụ quan trọng cho xã hội và phát triển các lĩnh vực như : Tài nguyênmôi trường, giao thông, giáo dục…(Giáo sư Daniel I.Gordon, Đại học GeorgeWashington) Hoạt động mua sắm công tạo điều kiện cho việc huy động vốn từ khuvực tư nhân để phục vụ các mục đích công cũng như pháp triển cách ngành, các khuvực đặc biệt mà Chính phủ ưu tiên
Mua sắm công trongcác dự án ODA
Trang 35(Nguồn : OECD National Accounts statistics )
Trong nghiên cứu của Giáo sư Jeong Kook Choi, ông đưa ra một ví dụ cụ thể tạiHàn Quốc nói riêng và từ đó nêu bật được vai trò của mua sắm công đối với nền kinh
tế ở mọi quốc gia nói chung Theo ông, Hàn Quốc là đất nước hạn chế về tài nguyênthiên nhiên, giống như nhiều quốc gia khác, trong khi xã hội lại phát triển khôngngừng, nhu cầu tài nguyên cũng theo đó mà tăng, vì thế mà việc cung cấp nguyên liệukhông bị gián đoạn hay tăng giá bất ngờ là vấn đề cần thiết Bản chất của thị trường tàinguyên là bất ổn định Mua sắm công đóng vai trò đi đầu trong quản lý thị trường này.Chính do sự bất ổn diễn ra trong thị trường tài nguyên, tại bất kỳ nơi đâu trên thế giới,mua sắm công cần có những hành động tích cực để đảm bảo tính liên tục của nguồncung cấp Ví dụ, một cuộc khủng hoảng dầu hoặc thiếu hụt một số nguyên liệu nhấtđịnh rất có thể sẽ gây nên sự gián đoạn trong sản xuất, điều này không hề tốt cho nềnkinh tế quốc dân Cho nên mua sắm công góp phần thực hiện các hoạt động dự trữ củachính phủ cho các mục đích bình ổn giá và duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu
Trang 361.1.5.2 Vai trò đối với quản lý nhà nước
Các tổ chức Chính phủ luôn mong muốn cải thiện tính hiệu quả trong các hoạtđộng Tuy nhiên, cùng lúc đó, các tổ chức Chính phủ cũng phải công khai các hoạtđộng của mình khi mà xã hội đòi hỏi tính minh bạch và công bằng từ họ Chính vì vậymới nảy sinh sự mâu thuẫn giữa tính minh bạch và sự hiệu quả Ví dụ, nếu các tổ chứcmua sắm công muốn nâng cao hiệu quả hoạt động, họ có thể cung cấp đầy đủ cácquyền và tự do cho người mua trong trường hợp người mua đó là chuyên gia trong lĩnhvực liên quan của gói thầu, vì thế một quyết định có thể được tạo ra bằng bất cứ giánào để mang lại hiệu quả và nhanh chóng Nhưng cũng trong tình huống này, nếungười mua không trong sạch, cơ hội mà người mua được trao bởi tổ chức mua sắmcông có thể trở thành hoạt động tư lợi, điều này liên quan đến vấn đề đạo đức Để ngănchặn tình trạng này đòi hỏi những bước đi lâu dài trong sửa đổi, hoàn thiện hệ thốngluật lệ, chính sách và quy định để kiểm tra theo dõi quá trình mua sắm công Vậy câuhỏi ở đây là, liệu hiệu quả và minh bạch có thể diễn ra cùng một lúc hay không ? Câu trả lời là hoàn toàn có thể Việc ban hành quy chế đấu thầu, nghị định, quyđịnh giúp Nhà nước tăng cường quản lý vĩ mô các hoạt động mua bán công đó Hoặc
sử dụng hệ thống đấu thầu trực tuyến tạo điều kiện tiết kiệm ngân sách, giảm quy mônhân sự hành chính và góp phần làm thu nhỏ nhưng vẫn đảm bảo sự hiệu quả của bộmáy nhà nước Cùng với đó mở đường cho việc nâng cao tính minh bạch trong hoạtđộng đấu thầu
1.1.5.3 Vai trò đối với nhà thầu
Đấu thầu trong các dự án ODA không những mang lại lợi ích cho bên mời thầu
mà còn đóng góp to lớn cho các nhà thầu tham gia Đối với bất cứ gói thầu nào cũngvậy, khi tham gia cạnh tranh giành gói thầu mong muốn, các nhà thầu phải tự độnghoàn thiện doanh nghiệp của mình trên tất cả các phương diện Do là cạnh tranh bìnhđẳng, các nhà thầu trong nước cũng như Quốc tế sẽ cần phát huy tối đa tính chủ độngtrong việc tìm kiếm các cơ hội tham dự đấu thầu, ký kết hợp đồng (khi đã trúng thầu),nhờ đó để phát triển sản xuất, hoạt động của doanh nghiệp Cũng nhờ đấu thầu, các nhàthầu phải đầu tư có trọng điểm nhằm nâng cao, không ngừng đổi mới năng lực công
Trang 37nghệ, kỹ thuật của mình, nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ nhân viên, từ đó sẽnâng cao năng lực của doanh nghiệp và tỷ lệ thắng thầu trong tham gia đấu thầu, nhất
là các dự án ODA khi có thêm sự cạnh tranh của các nhà thầu nước ngoài Giành đượcniềm tin của các chủ đầu tư, các nhà tài trợ là việc hết sức quan trọng khi tham gia đấuthầu các dự án ODA nói chung và lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng nói riêng, và để
có được uy tín đó trên thị trường, các doanh nghiệp cần cải thiện hiệu quả các hoạtđộng, sản xuất của mình, bằng cách củng cố, hoàn thiện những khía cạnh như đã nói ởtrên
1.1.5.4 Vai trò đối với phát triển xanh
Có thể thấy trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với vấn đề môi trường ngàycàng bị ô nhiễm, hay gia tăng hiệu ứng nhà kính, hoặc khí hậu biến đổi tiêu cực, tàinguyên thiên nhiên đang trên bờ vực cạn kiệt…đe doạ lớn đến sự sống và tương lainhân loại thì phát triển xanh và bền vững là một trong những mối quan tâm, xu hướngphát triển của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới
Kinh tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển xanh và hoạt động đấuthầu nói chung có thể được coi như một công cụ tiềm năng thúc đẩy sự phát triển này.Vậy nó đóng góp bằng cách nào ? Trong quá trình mua sắm công hàng hoá cũng nhưxây lắp công trình, mua sắm công dịch vụ tư vấn … đều có thể áp dụng việc nghiêncứu vật liệu, hệ thống kỹ thuật mới, ứng dụng vào dự án, chương trình; đưa ra cácphương án thiết kế sử dụng công nghệ xanh vào hoạt động thi công dự án Đặc biệttrong quá trình hội nhập, nhận được các nguồn vốn ODA, hoạt động đấu thầu càngphải được nâng lên một tầm cao mới, các nhà thầu cũng như bên mời thầu không chỉquan tâm vào lợi ích kinh tế cơ bản, mà còn cần chú ý đến ảnh hưởng của gói thầu đếnmôi trường Các dự án Bảo vệ và Phát triển rừng lại càng phải được quan tâm đếnnhững vấn đề như thế
1.2 Quy trình đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển
rừng
1.2.1 Quy trình đấu thầu các dự án ODA nói chung
Sau đây là sơ đồ quy trình đấu thầu trong các dự án ODA một cách tổng hợp nhất
Trang 38Sơ đồ 1.1 Quy trình đấu thầu trong khuôn khổ dự án ODA
(Tham khảo quy trình của WB)
Trang 39và giá duyệt
DỊCH VỤ
Hoàn chỉnh yêu cầu tư vấn và kinh phí
CTĐÀO TẠO
Chuẩn bị yêu cầu
Q.cáo,chuẩn bị HSMT cạnh tranh Quốc tế
C.bị chào hàng QT &
D.sách nhà
thầu;gửi HSMT
Q.cáo và mời thầu
Mời thầu Yêu cầu
báo giá
Yêu cầu gửi HSDT (đề xuất)
Chọn cơ sở đào tạo
Tiếp nhận,
đánh giá HSDT;
chọn nhà thầu
Tiếp nhận , đánh giá HSDT;
chọn nhà thầu
Tiếp nhận, đánh giá HSDT;
chọn nhà thầu
Đánh giá, chọn nhà cung cấp
Xét chọn đề xuất tốt nhất
Tổ chức,thu xếp lớp học
Ký hợp đồng
Đặt hàng hoặc
ký hợp đồng
Đàm phán – ký hợp đồng
Triển khai lớp học
Giao hàng tại cảng, điểm quy ước
Giao hàng tại cảng,điểm quy ước
Kết thúc
LẮP ĐẶT VẬN HÀNH TÁC NGHIỆP
Thực hiện hợp đồng
Học viên
đã đào tạo
Đào tạo và hướng dẫn
Đánh giá Đánh giá Đánh giá Đánh giá
Giai
đoạn
đánh
giá
Trang 401.2.2 Quy trình đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển
rừng
Dựa theo Nghị định số 63/2014/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 26 tháng 6
năm 2014 “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà
thầu”, quy trình đấu thầu trong các dự án ODA lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng tổng
quát được thể hiện trên biểu 3 và gồm những bước chủ yếu sau đây
Sơ đồ 1.2 Quy trình tổng quát đấu thầu trong các dự án ODA
lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng
Chuẩn bị lựa chọn nhà thầu
Tổ chức lựa chọn nhà thầu
Mở thầu và xét thầu
Thương thảo hợp đồng
Trình,thẩm định,phê duyệt, công khai kết quả đấu thầu
Hoàn thiện, ký kết hợp đồng
Kết thúc hợp đồng