chng I nh÷ng vÊn ®Ò lý luËn chung vÒ ®Çu t trùc tiÕp níc ngoµi Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp LỜI MỞ ĐẦU Sự mở cửa hội nhập toàn cầu trong lĩnh vực kinh tế ,đặc biệt khi nước ta đã trở thành thành v[.]
TỔNG QUAN CHUNG VỀ ASEAN
Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN
ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) được thành lập vào ngày 8-8-1967 với 5 thành viên sáng lập gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan, trong bối cảnh Việt Nam đang chống Mỹ và chuyển sang chiến lược Việt Nam hoá, đặt ra những thách thức chính trị, kinh tế cho khu vực Năm 1984, Brunei Darussalam gia nhập ASEAN sau khi thoát khỏi chế độ thuộc địa của Anh, trở thành thành viên thứ 6, tiếp theo là Việt Nam vào năm 1995, và Myanmar cùng Lào lần lượt gia nhập vào năm 1997, giúp tổ chức mở rộng quy mô Vào ngày 30-4-1999, Campuchia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN sau hội nghị tại Hà Nội, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình hợp nhất khu vực Từ năm 1999, Đông Timor đã tách khỏi Indonesia, nâng số thành viên của ASEAN hiện nay lên 11, phản ánh sự phát triển bền vững của tổ chức trong bối cảnh hội nhập khu vực và toàn cầu.
Các nước ASEAN nằm chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á, với ngoại lệ là Lào, và đều tiếp xúc với biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương quốc tế và phát triển du lịch Tổng diện tích của ASEAN là hơn 4,6 triệu km², chiếm hơn 3% diện tích toàn cầu, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như dầu mỏ và khí đốt tập trung ở Indonesia, Brunei và Việt Nam Ngoài ra, khu vực này còn sở hữu trữ lượng thiếc lớn tại Malaysia và Thái Lan, góp phần nâng cao tiềm năng phát triển kinh tế của các nước ASEAN.
Lan, Inđônêxia; đồng có nhiều ở Philippin; vàng tập trung ở Philippin và Inđônêxia…
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN với tư cách thành viên đầy đủ vào năm 1995 tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Brunei, sau khi đã được mời tham dự các cuộc họp ngoại trưởng ASEAN ở Singapore (1993), Thái Lan (1994) và nhiều cuộc họp khác Từ đầu năm 1994, Việt Nam đã tích cực tham gia các dự án hợp tác ngành của ASEAN trên năm lĩnh vực then chốt gồm khoa học kỹ thuật, văn hoá thông tin, môi trường, y tế và du lịch Hiện nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các hoạt động của ASEAN với tư cách thành viên đầy đủ và gia nhập Khu Mậu Dịch Tự Do ASEAN từ năm 1996 Bên cạnh đó, Việt Nam còn ký tuyên bố ASEAN, còn gọi là Tuyên bố về Tầm nhìn ASEAN, thể hiện cam kết thúc đẩy hợp tác và phát triển bền vững trong khu vực.
Bangkok) Hiện nay tổ chức này có 10 hội viên bao gồm 5 nước hội viên nguyên thuỷ và 5 hội viên gia nhập sau này là
1 Cơ cấu tổ chức của ASEAN
Cơ cấu tổ chức hiện tại của ASEAN đã được hình thành qua quá trình hoàn thiện từng bước trong gần 30 năm phát triển Quá trình này phản ánh sự trưởng thành và thích nghi của tổ chức nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực hiệu quả hơn Việc xây dựng cơ cấu tổ chức phù hợp đã góp phần nâng cao vai trò của ASEAN trong đảm bảo ổn định, hòa bình và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực.
Khi mới thành lập vào năm 1967, bộ máy ASEAN còn rất giản đơn với 4 đầu mối chính: Hội nghị hàng năm của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM), Ủy ban Thường trực ASEAN (ASC) để điều phối công việc hàng ngày, các Ủy ban chuyên trách bao gồm các chuyên gia và quan chức trong các lĩnh vực cụ thể, cùng Ban thư ký Quốc gia tại mỗi nước thành viên, đảm nhiệm công việc thay mặt quốc gia và phục vụ các cuộc họp ASEAN.
Sau quá trình hoàn thiện, cơ cấu tổ chức của ASEAN đã hình thành rõ ràng qua các quyết định tại các Hội nghị Cấp cao ASEAN các năm 1976, 1977, 1987 và đặc biệt là 1992 Các quyết định này đã xác lập và củng cố chức năng của từng bộ phận trong tổ chức, giúp xây dựng một cơ cấu tổ chức vững chắc, phù hợp với mục tiêu hợp tác và phát triển chung của ASEAN.
ASEAN hiện nay như sau :
Các cơ quan hoạch định chính sách
Hội nghị những người đứng đầu Nhà nước/chính phủ ASEAN (ASEAN Summit)
Hội nghị Cấp cao ASEAN, còn gọi là ASEAN Summit, là cơ quan quyền lực cao nhất của ASEAN, nhằm đề ra phương hướng và chính sách chung cho hoạt động của tổ chức Hội nghị lần thứ 4 tại Singapore năm 1992 xác định các lãnh đạo chính phủ ASEAN họp chính thức mỗi 3 năm và họp không chính thức ít nhất 1 lần trong khoảng thời gian đó để đưa ra các quyết định lớn Đây là diễn đàn quan trọng để ASEAN định hình hướng phát triển và đưa ra các quyết sách chiến lược trong khu vực.
ASEAN lần thứ 5, giữa các cuộc họp Cấp cao chính thức 3 năm một lần, hàng năm đều họp Cấp cao không chính thức.
Hội nghị Bộ trưởng ASEAN (ASEAN Ministerial Meeting- AMM)
Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN hàng năm, còn gọi là Hội nghị Bộ trưởng và Điều phối ASEAN (AMM), được thành lập theo Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 AMM có vai trò quan trọng trong việc đề ra các chính sách và phối hợp hoạt động của ASEAN nhằm thúc đẩy hợp tác và phát triển khu vực Hội nghị này giúp các bộ trưởng ngoại giao ASEAN thống nhất về các hướng đi chiến lược, củng cố mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia thành viên.
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 2 năm 1977 tại Kuala Lumpur, các lãnh đạo chính phủ ASEAN nhất trí cho phép các Bộ trưởng liên quan tham dự AMM khi cần thiết AMM và AEM có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động của mình lên các Người đứng đầu chính phủ ASEAN tại các Hội nghị Cấp cao, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ trong khu vực.
Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Ministers-AEM)
AEM được thể chế hoá tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 2 năm
Năm 1977, tại Kuala Lumpur, Malaysia, đã diễn ra hội nghị chính thức của Hiệp hội Các nước Đông Nam Á (ASEAN) và các tổ chức liên quan Ngoài các cuộc họp chính thức hàng năm, AEM (Nhóm Các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN) còn tiến hành các cuộc họp không chính thức khi cần thiết để chỉ đạo các hợp tác kinh tế trong khu vực AEM có nhiệm vụ báo cáo về kết quả công việc của mình lên các nhà lãnh đạo chính phủ ASEAN tại các Hội nghị Cấp cao, đảm bảo sự phối hợp và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của ASEAN.
Trong AEM, Hội đồng AFTA (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN) được thành lập theo quyết định của Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 năm 1992 tại Singapore Nhiệm vụ của hội đồng này là theo dõi, phối hợp và báo cáo việc thực hiện chương trình ưu đãi quan thuế có hiệu lực chung (CEPT) của AFTA.
Hội nghị Bộ trưởng các ngành:
Trong những năm đầu của ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng ngành đã được tổ chức khi cần thiết để thảo luận về hợp tác trong lĩnh vực cụ thể Hiện nay, ASEAN đã chính thức thiết lập cơ chế hội nghị thường xuyên nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế và phát triển khu vực hiệu quả hơn.
Bộ trưởng tài chính (AFMM) và Hội nghị Bộ trưởng Giao thông vận tải
(ATM) và các hội nghị Bộ trưởng năng lượng, Khoa học công nghệ và môi trường, Lao động, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Lâm nghiệp, v.v
Các hội nghị cấp Bộ trưởng hoặc tương đương khác
Một số nguyên tắc hoạt động chính
Trong hơn ba thập kỷ tồn tại và phát triển, ASEAN đã xây dựng và khẳng định các nguyên tắc chính làm nền tảng cho quan hệ nội khối và với các quốc gia khác; những nguyên tắc này được thể hiện rõ trong nhiều văn kiện, đặc biệt là các nguyên tắc cốt lõi đã thống nhất trong các văn bản của ASEAN.
2.1 Các nguyên tắc nền tảng cho quan hệ giữa các quốc gia thành viên và với bên ngoài
Trong quan hệ giữa các nước ASEAN, luôn tuân thủ năm nguyên tắc chính quy định trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali) Hiệp ước này được ký kết tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ I tại Bali vào năm 1976, thể hiện cam kết của các quốc gia thành viên về sự hòa bình, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau trong khu vực Các nguyên tắc này đóng vai trò then chốt thúc đẩy sự phát triển ổn định và bền vững của ASEAN.
Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc;
Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;
Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thân thiện;
Không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực;
Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.
2.2 Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội
Chính sách hợp tác quan trọng của ASEAN được quyết định dựa trên nguyên tắc nhất trí, nghĩa là mọi quyết định đều phải nhận được sự đồng thuận của tất cả các thành viên Nguyên tắc này đảm bảo quá trình đàm phán lâu dài, qua đó cân nhắc kỹ lưỡng lợi ích quốc gia của từng nước thành viên Đây là nguyên tắc cốt lõi được áp dụng trong các cuộc họp và hoạt động của ASEAN, thúc đẩy sự đoàn kết và thống nhất trong khu vực.
2.2 Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của
ASEAN là nguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc này thể hiện trên
ASEAN đặt sự bình đẳng giữa các nước thành viên, bất kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, trong việc đóng góp và chia sẻ quyền lợi Hoạt động của ASEAN được duy trì dựa trên nguyên tắc luân phiên, tất cả các nước thành viên đều có cơ hội đảm nhận vai trò chủ trì các cuộc họp từ cấp chuyên viên đến cấp cao Địa điểm tổ chức các cuộc họp cũng được phân đều nhằm đảm bảo sự công bằng và phối hợp hiệu quả theo thứ tự luân phiên theo bảng chữ cái tiếng Anh (A, B, C).
Để thúc đẩy nhanh các chương trình hợp tác kinh tế ASEAN, trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Singapore năm 1992, các nước ASEAN đã nhất trí nguyên tắc 6-X Nguyên tắc này cho phép một hoặc một nhóm các quốc gia thành viên ASEAN triển khai các dự án kinh tế trước mà không cần chờ đợi tất cả các nước cùng tham gia, qua đó tạo điều kiện thuận lợi và đẩy nhanh tiến trình hợp tác kinh tế khu vực.
Trong quan hệ giữa các nước ASEAN, các nguyên tắc mềm dẻo như có đi có lại, không đối đầu, thân thiện được hình thành và duy trì qua hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau Các nguyên tắc này không chính thức, không thành văn bản nhưng được áp dụng rộng rãi nhằm giữ gìn đoàn kết nội bộ ASEAN và bảo vệ bản sắc chung của Hiệp hội Đồng thời, các nước ASEAN tránh tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí để duy trì sự hòa hợp và ổn định trong khu vực.
ASEAN và Việt Nam
Với 40 năm phát triển ngày càng vững mạnh, Hiệp hội đã đạt được những thành tựu đáng kể trong các hoạt động của mình Không những làm cho mỗi nước thành viên trong Hiệp hội phát triển tốt hơn mà ASEAN còn được đánh giá là khu vực phát triển năng động trên thế giới Tuy nhiên trên con đường đi đến những thành công đó, không phải là không vấp phải những khó khăn và những kết quả nhiều khi không như mong muốn Trước hết phải nói đến đó là việc các nước thành viên còn nghĩ nhiều đến quyền lợi riêng, ít quan tâm đến lợi ích chung của ASEAN Vì vậy mà chúng ta cần phải chỉ cho họ thấy rằng ủng hộ ASEAN là rất có lợi, ASEAN sẵn sàng tìm mọi cách vì lợi ích của mọi thành viên
Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt là một trong những khó khăn chủ yếu của doanh nghiệp, đặc biệt khi các quốc gia khác cũng đang tìm cách giảm giá để cạnh tranh Việt Nam có thể giảm giá và xuất khẩu hàng hóa như giày dép và hàng dệt may sang các nước ASEAN như Campuchia, Lào, Thái Lan để mở rộng thị trường Tuy nhiên, các quốc gia trong khu vực đang mất dần lợi thế cạnh tranh khi các nhà sản xuất hàng dệt may và quần áo đã chuyển sản xuất sang các quốc gia Trung Đông và Ai Cập để cạnh tranh về chi phí, gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị phần của các doanh nghiệp trong khu vực Đông Nam Á.
Sự hợp tác giữa các nước ASEAN là yếu tố then chốt để tăng cường sức mạnh và phát triển của cộng đồng Để vượt qua những khó khăn và thử thách, ASEAN đang xây dựng và thực hiện Hiến chương ASEAN như một khuôn khổ pháp lý chung, thúc đẩy các nước thành viên hợp tác trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội và xây dựng thị trường thống nhất Hiến chương ASEAN sẽ quy định rõ các nguyên tắc và biện pháp mà các quốc gia thành viên cần tuân thủ nhằm hướng tới sự thống nhất và phát triển bền vững của toàn khối.
ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, trong đó Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một khối ASEAN phát triển thịnh vượng và vững chắc Việt Nam đã góp phần xây dựng các quy định chung của ASEAN, tích cực tham gia vào tất cả các hội nghị và đóng góp lớn vào các quyết định chung của khối.
Việt Nam đã tham gia ASEAN được 12 năm và từ đó phát huy vai trò cùng vị thế đã được khẳng định trong suốt thời gian này Đoàn Việt Nam luôn chủ động tích cực tham gia các hoạt động của ASEAN và đóng góp thiết thực vào các vấn đề quan trọng của Hội nghị, góp phần vào tương lai phát triển bền vững của ASEAN Ngoài ra, Việt Nam còn là một cầu nối hiệu quả giúp ASEAN thâm nhập sâu vào thị trường Trung Quốc - nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, thúc đẩy hợp tác kinh tế và tăng cường quan hệ đối tác chiến lược giữa các bên.
Việt Nam tích cực thúc đẩy thực hiện các chương trình và kế hoạch hành động chính của ASEAN để xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh Chính sách này nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, xóa đói giảm nghèo, và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân trong khu vực Việt Nam còn duy trì vai trò chủ đạo của ASEAN trong các tiến trình khu vực do chính ASEAN khởi xướng, góp phần thúc đẩy hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững trong khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam hiện nay là thành viên không thể thiếu của ASEAN, đóng góp hiệu quả vào các sáng kiến và chương trình của tổ chức Với vai trò tiên phong trong cải cách chính sách và phát triển kinh tế, Việt Nam nổi bật trong các nước thành viên mới tại Đông Dương Bên cạnh đó, Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hướng đi tương lai của ASEAN, không kém phần quan trọng so với các quốc gia sáng lập tổ chức này.
Việt Nam đã hoàn thành vai trò điều phối viên trong quá trình hội nhập của ngành hậu cần ASEAN, với chiến lược hội nhập ngành này dự kiến được ký tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 39 tại Manila, Philippines Bên cạnh đó, Việt Nam đóng vai trò trung tâm trong quan hệ kinh tế giữa ASEAN và Liên minh châu Âu (EU), tham gia Nhóm tầm nhìn ASEAN-EU để đề xuất các biện pháp thiết lập đối tác kinh tế toàn diện, trong đó có Khu vực thương mại tự do ASEAN-EU (FTA) Ba tháng trước, các bộ trưởng kinh tế ASEAN và Ủy viên Thương mại EU đã thống nhất tổ chức các vòng đàm phán về FTA, với Việt Nam được cử làm đồng chủ tịch phía ASEAN trong liên ủy ban ASEAN-EU về FTA.
Ngoài những đóng góp tích cực vào việc xây dựng các điều khoản của Hiến chương ASEAN, Việt Nam chủ động thúc đẩy các vấn đề quan trọng như thực hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong khu vực Việt Nam cũng tích cực thúc đẩy thực hiện Tuyên bố của các bên liên quan về Biển Đông (DOC) để duy trì hòa bình và ổn định Trong hợp tác ASEAN và các đối tác đối thoại, Việt Nam cùng các nước ASEAN thúc đẩy nhiều biện pháp mở rộng và nâng cao quan hệ đối ngoại của ASEAN qua các diễn đàn như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á, và Diễn đàn Khu vực ASEAN.
KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ASEAN
KINH TẾ THÁI LAN
Người Thái có nguồn gốc từ vùng núi An-Tai, đông bắc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc từ hơn 4500 năm trước Họ từng di cư xuống khu vực hiện nay là Thái Lan, hình thành nên nền văn minh đặc trưng của dân tộc Thái Vào năm 1238, người Thái đã thành lập vương quốc Phật giáo Sukhothai tại miền Bắc Thái Lan, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa và nhà nước Thái Đến thế kỷ 13-15, vương quốc Sukhothai dần thay thế ảnh hưởng của Đế chế Khmer đang suy yếu, góp phần xác định hình dạng chính trị và văn hóa của Thái Lan hiện đại.
Năm 1283, người Thái bắt đầu có chữ viết, mở ra bước phát triển văn hóa và ghi chép lịch sử Trong quá trình mở rộng lãnh thổ, họ di chuyển thủ đô xuống phía nam và năm 1350 đặt trụ sở tại thành phố Ayuthaya (cách Bangkok phía bắc 70 km) Đến năm 1431, quân Xiêm cướp phá thành phố Angkor, mang về nhiều bảo vật và trang phục của văn hóa Hindu, đồng thời hòa nhập lễ nghi và phong cách ăn mặc của người Khmer vào văn hóa của Xiêm.
Hơn 400 năm người Thái chiến tranh liên tục với Miến Điện, khiến kinh đô Ayuthaya bị phá hủy Năm 1767, tướng Thái gốc Hoa Taksin nổi lên chống quân Miến Điện, giành lại độc lập cho đất nước Sau đó, ông dời thủ đô về Thonburi, bên bờ sông Chao Phraya đối diện Bangkok, mở ra kỳ mới cho lịch sử Thái Lan dưới triều đại của vua Rama I.
(1782) lên ngôi và chọn Bangkok (hay "Thành phố của các thiên thần") làm kinh đô.
Trước năm 1932, Thái Lan theo chế độ quân chủ chuyên chế, nơi quyền lực tập trung trong tay vua và chính quyền truyền thống Sau cuộc cách mạng tư sản năm 1932 do nhóm sĩ quan trẻ lãnh đạo, Thái Lan chuyển sang chế độ quân chủ lập hiến, mở ra kỷ nguyên mới với hệ thống chính trị dân chủ hơn Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử chính trị của đất nước, hướng tới nền dân chủ và tăng cường vai trò của quốc hội.
Vào ngày 10 tháng 12 năm 1932, vua Prachadhipok (Rama VII) đã phê duyệt bản hiến pháp đầu tiên của Thái Lan, mở ra kỷ nguyên mới cho nền chính trị quốc gia Sau hơn 60 năm, Thái Lan đã có 16 bản hiến pháp khác nhau, chịu ảnh hưởng của nhiều cuộc đảo chính, nhưng Hiến pháp 1932 vẫn đóng vai trò là nền tảng pháp lý căn bản của đất nước Cuối cùng, vào thập kỷ 1980, Thái Lan chính thức chuyển hướng sang con đường dân chủ, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển chính trị của quốc gia.
Năm 1997, Thái Lan trở thành trung tâm của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, khiến đồng baht sụt giá mạnh từ 25 xuống còn 56 baht đổi 1 đô la Tuy nhiên, đến năm 2007, đồng baht đã phục hồi và tỷ giá đã đạt 33:1, thể hiện khả năng phục hồi của nền kinh tế Thái Lan sau khủng hoảng.
Thái Lan có diện tích 514.000 km², tương đương với tổng diện tích của Việt Nam và Lào, xếp thứ 49 trên thế giới về diện tích Quốc gia này là đất rộng thứ ba ở Đông Nam Á, sau Indonesia và Myanmar.
Thái Lan là mái nhà chung của nhiều vùng địa lý đa dạng, phù hợp với các khu vực kinh tế khác nhau Phía Bắc nổi bật với địa hình đồi núi, trong đó đỉnh cao nhất là Doi Inthanon cao 2.576 mét Phía Đông Bắc là Cao nguyên Khorat, có biên giới tự nhiên dài theo dòng sông Mekong Trung tâm đất nước chủ yếu là vùng đồng bằng sông Chao Phraya, đổ ra Vịnh Thái Lan, góp phần phát triển nền nông nghiệp và đô thị Phía Nam mở rộng dần về phía bán đảo Mã Lai, tạo thành eo đất Kra, địa hình chiến lược nối liền các vùng đất.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa mang đến thời tiết nóng và mưa nhiều từ giữa tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, khiến đất canh tác ở hầu hết các vùng trong cả nước có độ màu mỡ thấp do mưa rửa trôi Từ tháng 10 đến giữa tháng 3, khí hậu chuyển sang khô và lạnh dưới ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, tác động tiêu cực đến hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt người dân.
Eo đất phía Nam luôn luôn nóng, ẩm.
Thái Lan là quốc gia nổi bật với sự đa dạng của các loài động vật quý hiếm như hổ, voi và bò tót khổng lồ, đang sinh sống trong môi trường tự nhiên phong phú Tuy nhiên, nhiều loài động vật này hiện đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng ngày càng nghiêm trọng Chính vì vậy, bảo vệ các loài động vật quý hiếm tại Thái Lan trở thành nhiệm vụ cấp bách nhằm duy trì sự cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học của quốc gia.
2.Thái Lan qua các thời kỳ kinh tế khác nhau
2.1.1 Khái quát về kinh tế
Trong số các nước ASEAN-5, Thái Lan chưa từng là thuộc địa, tuy nhiên nền kinh tế của nước này lại phụ thuộc lớn vào các quốc gia phương Tây Thái Lan phải đối mặt với sự kiểm soát chặt chẽ về hàng hóa và thương mại từ các nước kiểm soát nền kinh tế toàn cầu, ảnh hưởng đáng kể đến chính sách độc lập của đất nước.
Trước năm 1960, Thái Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu với nền kinh tế manh mún chủ yếu dựa vào các xí nghiệp nhỏ tư nhân và một số công ty cỡ vừa thuộc sở hữu nhà nước Mặc dù mong muốn trở thành một nền công nghiệp hiện đại, Thái Lan đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình chuyển đổi kinh tế.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam còn hạn chế, trong đó tài nguyên rừng có giá trị lớn nhất là gỗ tếch nhưng đang bị khai thác tràn lan bởi các công ty nước ngoài, khiến trữ lượng ngày càng suy giảm Khoáng sản chủ yếu gồm thiếc và một số loại khác, nhưng trữ lượng còn lại không đáng kể, ảnh hưởng đến tiềm năng khai thác trong tương lai.
Dân số Thái Lan đã tăng nhanh, đạt hơn chục triệu người, trong đó khoảng 13 triệu người trong độ tuổi lao động chủ yếu hoạt động trong ngành nông nghiệp, chiếm tới 82% Chất lượng lao động còn thấp và số người có trình độ học vấn rất hạn chế Vào đầu thập niên 60, Thái Lan chỉ có ba trường đại học, trong đó chỉ hai trường đào tạo kỹ sư cơ khí và ngành khoa học kinh tế Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 85%/năm, đồng thời khả năng tích lũy và huy động vốn của nhân dân còn rất hạn chế.
Trong những năm 1960, Thái Lan chủ yếu là một nước nông nghiệp với 90% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần chiếm đến 50% GDP quốc gia Gạo là một trong những loại ngũ cốc quan trọng hàng đầu trong nền nông nghiệp Thái Lan Tuy nhiên, hơn 70% hộ nông dân Thái Lan vẫn sống trong đói nghèo, phản ánh rõ ràng về mức độ phát triển của ngành nông nghiệp nước này Mặc dù xảy ra khủng hoảng dầu mỏ vào những năm 1973, nhưng nền kinh tế Thái Lan vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng, trung bình đạt 7,6% mỗi năm từ năm 1967 đến 1996.
KINH TẾ SINGAPORE
1 Sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Xinhgapo và nguyên nhân
Xu hướng phát triển thần kỳ của Xinhgapo trong hơn ba thập niên cuối thế kỷ 20 đã ghi nhận thành công vượt bậc Đặc biệt, quốc gia này là một trong số ít nền kinh tế trên thế giới chuyển đổi từ nền kinh tế đang phát triển sang nền kinh tế phát triển trong giai đoạn đó Sự chuyển đổi này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế và thu hút đầu tư quốc tế Những thành công này chứng tỏ khả năng đổi mới và thích nghi của Xinhgapo trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng tăng.
Từ sau năm 1965, kinh tế Singapore bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển mới nhờ vào chiến lược kinh tế đối ngoại hiệu quả Nhờ chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế, nền kinh tế Singapore đã trở thành một phần không thể thiếu của nền kinh tế thế giới Kết quả rõ ràng là nền kinh tế Singapore đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy xây dựng vị thế kinh tế vững chắc của quốc gia.
Từ 1965- 1995, GNP của Xinhgapo tăng 13,2 lần, bình quân mỗi năm tăng 9%, GDP tăng 13,9 lần, bình quân mỗi năm tăng 9,2%;
Trong đó năm 1970 so với năm 1965 GNP tăng 1,9 lần, bình quân mỗi năm tăng 13,7%, GDP tăng 1,95 lần, bình quân mỗi năm tăng 14,3%;
Năm 1980 so với 1970 GNP tăng 2,29 lần, bình quân mỗi năm tăng 8,6%, GDP tăng 2,37 lần, bình quân mỗi năm tăng 9%;
Tương tự năm 1990 so với 1980 GNP tăng 2,04 lần, bình quân mỗi năm tăng 7,4%, GDP tăng 1,99 lần, bình quân mỗi năm tăng 7,1%.
Để hiểu vì sao nền kinh tế Singapore đạt được mức tăng trưởng nhanh chóng, chúng ta cần phân tích hai yếu tố chính: các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến nền kinh tế của quốc gia này và khả năng điều chỉnh linh hoạt của Singapore trong đối mặt với biến động Chính nhờ sự linh hoạt trong các chính sách và chiến lược ứng phó, cùng với các tác động từ yếu tố bên ngoài như giao thương quốc tế và đầu tư nước ngoài, đã giúp Singapore duy trì đà tăng trưởng ấn tượng.
- Các yếu tố bên ngoài
Trong giai đoạn này, các quốc gia tư bản phát triển đang trải qua tình trạng thừa vốn, làm tăng nhu cầu quốc tế hóa sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển thu hút vốn đầu tư Ngoài ra, Singapore sở hữu vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, quân sự và kinh tế, trở thành địa bàn hấp dẫn nhất để thu hút đầu tư trong khu vực.
Chính phủ Singapore thực hiện chiến lược hướng ngoại bằng cách tập trung phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu, ưu tiên các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, kéo sợi, chế biến gỗ và thực phẩm để giảm tình trạng thất nghiệp Trong những năm 1970, chính phủ tập trung phát triển công nghiệp nặng đòi hỏi nhiều vốn đầu tư Đến thập kỷ 1980, Singapore chuyển hướng phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao như luyện kim, chế tạo máy móc chính xác phục vụ các lĩnh vực hàng không, vũ trụ, quang học và y học, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy nền kinh tế bền vững.
Chính phủ Singapore đã có chính sách ưu đãi đặc biệt dành cho các doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vực của mình Chính phủ cũng đặc biệt chú trọng phát triển ngành công nghiệp lọc dầu và chế biến trong nước Nhờ đó, Singapore đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu, góp phần nâng cao nền kinh tế quốc gia.
Xinhgapo đã tận dụng tối đa lợi thế địa lý của mình để phát triển các ngành dịch vụ, tài chính và thương mại quốc tế, trong đó cảng Xinhgapo giữ vai trò trung tâm Thành lập từ năm 1964, Cơ quan cảng Xinhgapo (PSA) đã chuyển mình từ một cảng nhỏ với vài chục tàu biển thành một hệ thống dịch vụ vận chuyển biển hiện đại gồm nhiều cầu cảng, kho bãi và hàng chục nghìn tàu đi khắp thế giới Nhờ những cải cách hợp lý, đến năm 1980, Xinhgapo trở thành cảng container lớn nhất thế giới về số lượng container bốc dỡ Hiện nay, Xinhgapo được biết đến như một trung tâm trung chuyển hàng hóa khổng lồ, với chính sách “cạnh tranh để mở” để thu hút đầu tư, nhưng trong lĩnh vực cảng biển và dịch vụ hàng hải, quốc gia này vẫn giữ vị thế độc quyền.
Ngành dịch vụ du lịch tại Singapore đang phát triển mạnh mẽ, trở thành nguồn thu ngoại tệ quan trọng của quốc gia Chính phủ Singapore đã đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, khang trang để nâng cao trải nghiệm cho du khách và thúc đẩy ngành du lịch phát triển bền vững.
Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài được xây dựng nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu, trong đó có các ưu đãi đặc biệt dành cho các ngành nghề ưu tiên Việc phân loại ngành nghề rõ ràng giúp xác định các lĩnh vực có tiềm năng phát triển và thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nước ngoài đầu tư Các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành đạt tiêu chuẩn phát triển bền vững, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Nhờ đó, Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để các ngành nghề này phát triển mạnh mẽ, đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Những xí nghiệp sản xuất hàng hướng về xuất khẩu.
Những xí nghiệp mở rộng.
Chính sách huy động vốn đầu tư trong nước nhấn mạnh việc xây dựng quỹ dự phòng trung ương (CPS) thông qua chính sách tiết kiệm bắt buộc Theo đó, mọi người dân đều phải nộp một khoản trong tiền lương của họ vào quỹ tiết kiệm cho đến tuổi 55, mang lại lợi ích lớn từ việc tiết kiệm này Chính sách này đã có tác động tích cực mạnh mẽ đến hoạt động đầu tư trong nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.
Chính phủ Singapore tập trung nâng cao vai trò trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua các chính sách về giáo dục và đào tạo nghề Hệ thống pháp luật nghiêm minh và bộ máy hành chính trong sạch của Singapore đảm bảo môi trường ổn định và minh bạch, tạo đà thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
Nền kinh tế Singapore đạt tốc độ tăng trưởng cao chủ yếu nhờ vào việc đẩy mạnh đầu tư vào các ngành và lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh Thay vì dựa vào vay nợ, Singapore tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài, giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Và trong sự tăng trưởng đó, không thể không kể đến sự đóng góp của ngành dịch vụ.
2 Sự đóng góp của hoạt động dịch vụ vào kinh tế Xinhgapo
Ngành dịch vụ của Xinhgapo luôn chiếm tỷ trọng cao trong GDP trong giai đoạn (1968 1991) được thể hiện qua bảng:
Bảng 1 : Tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP (%) từ (1968 – 1991)
Năm Tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP (%) Năm Tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP (%)
(Nguồn : Tư liệu kinh tế bảy nước thành viền ASEAN- 2002)
Ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của Singapore, luôn vượt quá 59%, cho thấy đây là lĩnh vực đóng góp chính vào nền kinh tế quốc gia Điều này phản ánh rõ vai trò quan trọng của ngành dịch vụ trong sự phát triển kinh tế của Singapore.
Biểu đồ1 : Tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP của Xinhgapo
Tỷ trọng ngành dich vụ trong GDP của Xinhgapo
Từ bảng số liệu và đồ thị, ta có thể nhận thấy rõ vai trò quan trọng của ngành dịch vụ trong GDP của Singapore, góp phần lớn vào nền kinh tế của quốc gia Mặc dù tỷ trọng của ngành dịch vụ có lúc giảm, nhưng về mặt tuyệt đối, ngành này vẫn ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể, thể hiện sức mạnh của ngành dịch vụ trong nền kinh tế Singapore Để hiểu rõ hơn về vai trò của ngành dịch vụ, cần phân tích các mô hình kinh tế cụ thể phản ánh sự đóng góp của lĩnh vực này vào tổng thể nền kinh tế Singapore.
2.1 Mô hình chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước phụ thuộc vào 3 khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Bảng 2:Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước phân theo ba khu vực(%).
Năm GDP Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
(Nguồn : Tư liệu kinh tế bảy nước thành viền ASEAN- 2002)
Bảng số liệu cho thấy chỉ số phát triển dịch vụ luôn cao nhất so với ngành công nghiệp và nông nghiệp, thường gần bằng hoặc thậm chí vượt hơn chỉ số phát triển kinh tế, đặc biệt là vào các năm 1978, 1982, 1990, 1991, 2001 Điều này khẳng định sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành dịch vụ và tầm ảnh hưởng lớn của nó đối với nền kinh tế quốc gia Singapore.
CSPT là chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước
CSNN là chỉ số phát triển tổng sản phẩm nông nghiệp
CSCN là chỉ số phát triển tổng sản phẩm công nghiệp
CSDV là chỉ số phát triển tổng sản phẩm dịch vụ
CSTP phụ thuộc vào CSNN, CSCN, CSDV theo mô hình
CSPT= b1 +b2*CSNNi +b3*CSCNi +b4*CSDVi +Ei
Khi hồi quy CSPT theo CSNN, CSCN và CSDV bằng phương pháp OLS ta có :
KINH TẾ MALAYSIA
1.Kết quả sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế
1.1 GDP và GDP bình quân đầu người
Tăng trưởng kinh tế của Malaysia đã có sự cải thiện liên tục từ năm 1957 đến nay, đặc biệt từ năm 1970 đến 1996, với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 6,7% mỗi năm Sau khủng hoảng tài chính năm 1997-1998, Malaysia đã áp dụng các biện pháp đúng đắn như ấn định tỷ giá và kiểm soát vốn để vượt qua khủng hoảng Từ năm 1999 trở đi, nền kinh tế Malaysia đã phục hồi khá nhanh và duy trì đà tăng trưởng ổn định.
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1997-2006 (%)
Ngoại trừ năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nền kinh tế Malaysia đã ghi nhận mức tăng trưởng âm (-7,6%), nhưng các năm tiếp theo đều có mức tăng trưởng cao và ổn định Từ năm 1999, nền kinh tế Malaysia đã phục hồi nhanh chóng với tăng trưởng GDP đạt 6,1%, năm 2000 đạt 8,3%.
Năm 2001, nền kinh tế Malaysia chỉ tăng trưởng 2,4% do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu, nhưng từ năm 2002 trở đi, nền kinh tế đã hồi phục mạnh mẽ với mức tăng trưởng lần lượt là 4,1%, 5,6% vào năm 2003, 7,1% năm 2004, 5,1% năm 2005, và ước đạt 5,3% vào năm 2006 Điều này cho thấy chính sách kinh tế - xã hội của Chính phủ Malaysia, như việc ấn định tỷ giá và kiểm soát vốn, đã góp phần thúc đẩy sự phục hồi kinh tế hiệu quả Tốc độ hồi phục nhanh chóng của nền kinh tế Malaysia là chỉ số quan trọng chứng minh tính bền vững của quá trình tăng trưởng trong giai đoạn này.
1 2 Cơ cấu ngành kinh tế
Malaysia thể hiện rõ sự tăng trưởng bền vững lâu dài và chất lượng tăng trưởng qua quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nhanh chóng, từ nền kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp sang nền công nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Từ giữa những năm 1970, tỷ trọng của ngành công nghiệp trong GDP bắt đầu vượt qua ngành nông nghiệp Đến năm 1980, tỷ trọng nông nghiệp đã giảm còn 22%, và đến năm 1998, con số này giảm còn 12% Hiện tại, tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP là khoảng 9,7%, cho thấy xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ của nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp.
2003 Trong khi đó, tỷ trọng của khu vực công nghiệp đã tăng nhanh trong cùng thời kỳ, từ 38% năm 1980 lên 48% năm 1998 và đạt mức 48,5% vào năm 2003
Khu vực công nghiệp chế tạo thể hiện rõ chất lượng của quá trình tăng trưởng sản xuất thông qua sự phát triển mạnh mẽ và liên tục, đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế trong suốt giai đoạn phát triển nhanh Năm 1997, khu vực này chiếm tới 35% GDP, đồng thời tạo ra nhiều việc làm chất lượng cao cho nền kinh tế đất nước Ngành công nghiệp không chỉ tập trung vào xuất khẩu mà còn đáp ứng tốt các nhu cầu tiêu dùng trong nước, đặc biệt là các sản phẩm gia dụng như đồ điện, điện tử, may mặc, góp phần giảm nhập khẩu và thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu trong thời kỳ phát triển.
Ngành dịch vụ là lĩnh vực ưu tiên phát triển trong chiến lược kinh tế của Malaysia, đạt được nhiều thành tựu vững chắc qua các năm Chính phủ Malaysia đặc biệt quan tâm đến cải cách và nâng cao chất lượng ngành dịch vụ để tăng tính cạnh tranh cho các sản phẩm truyền thống, hướng tới việc đưa Malaysia trở thành trung tâm gia công hàng đầu khu vực Các ngành dịch vụ hiện đại như tài chính, ngân hàng, viễn thông và công nghệ cao không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế Trong đó, lĩnh vực du lịch nổi bật với vị trí là nguồn thu lớn thứ hai, sau ngành công nghiệp chế tạo Các dịch vụ bổ trợ như hàng không, hạ tầng, khách sạn, nhà nghỉ, siêu thị hiện đại và khu vui chơi giải trí liên tục được xây dựng theo hướng hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, góp phần vào thành công của chính sách phát triển du lịch Malaysia.
Tăng trưởng nhanh và ổn định ở Malaixia đạt được là do một số nhân tố sau:
Malaixia đã chứng kiến mức tăng trưởng đáng kể trong thương mại nhờ vào độ mở cửa rộng của nền kinh tế khu vực và toàn cầu Trong thập kỷ 1980, thương mại của Malaysia đã phát triển mạnh mẽ, phản ánh tác động tích cực của chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Điều này giúp đất nước thu hút đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
1990 Xuất khẩu đã trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của Malaixia. Xuất khẩu trong giai đoạn này tăng 10,6%/năm và 6,5% trong thời kỳ 1990 -
Trong năm 2004, tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Malaysia đạt 14,6%, với kim ngạch xuất khẩu năm 2003 là 118,577 tỷ USD, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành thương mại Đồng thời, nhập khẩu cũng tăng lần lượt 11,3% và 6,5%, giúp thúc đẩy tỷ trọng thương mại so với GDP của Malaysia tăng lên rõ rệt, vượt qua nhiều quốc gia khu vực Tỷ lệ thương mại trên GDP của Malaysia đã tăng từ 176,7% năm 1987 lên khoảng 271% vào những năm gần đây, phản ánh sự mở rộng quy mô và vai trò ngày càng quan trọng của thương mại trong nền kinh tế quốc gia.
1997 và đạt mức cao hơn so với con số 75,9% của Inđônêxia và 153% củaThái Lan trong cùng năm đó.
Thứ hai, sự phát triển lành mạnh của khu vực kinh tế tư nhân trong nước đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Trong suốt thập kỷ qua, tốc độ tiêu dùng tư nhân đã gia tăng mạnh mẽ, thể hiện sự phục hồi và mở rộng của thị trường nội địa Điều này góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
1980 và 1990, với tốc độ tăng trung bình là 3,7%/năm trong toàn thời kỳ và 6,8% trong thời kỳ 1990 – 1997.
Vào thứ ba, Malaysia đã thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, nhanh chóng thay đổi cơ cấu kinh tế của đất nước Trong giai đoạn đầu, do xuất phát điểm là một nền nông nghiệp lạc hậu, nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế Tuy nhiên, từ năm 1983, Malaysia bắt đầu thực hiện chính sách tự do hóa kinh tế, nới lỏng luật lệ và khuyến khích tư nhân tham gia vào các hoạt động kinh doanh Chính sách này bao gồm chủ trương tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước và hoạt động kinh doanh, dẫn đến kết quả tích cực vào cuối thập kỷ, góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế quốc gia.
Từ năm 1980, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Nhiều doanh nghiệp mới được thành lập đã tham gia vào mọi hoạt động kinh tế và mang lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh Sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động.
2 Đánh giá kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu Đi liền với quá trình chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa của Malaixia là sự gia tăng năng suất lao động xã hội Năng suất lao động tăng lên đáng kể đóng góp trực tiếp vào tăng GDP của nền kinh tế, giá trị gia tăng cho một công nhân đã tăng từ 10.160 Ringgit năm 1985 lên 10.867 năm 1988, tức mức tăng 2,2% một năm Trong những khu vực tiên phong của nền kinh tế như khu vực công nghiệp chế tạo, năng suất tăng nhanh gần gấp 3 lần so với năng suất toàn bộ nền kinh tế, tức khoảng 6,5% một năm (thời kỳ 1985 – 1988) Trong khu vực nông nghiệp,năng suất lao động cũng tăng ở mức 2,5% một năm trong cùng thời kỳ và giải phóng được đáng kể lực lượng lao động cho công nghiệp Tốc độ tăng trưởng năng suất trong nền kinh tế còn đạt mức cao hơn trong thời kỳ trước khủng hoảng, từ 1991 - 1995 Tính cho cả nền kinh tế, năng suất lao động đo bằng GDP trên một công nhân theo giá cố định của năm 1978, đã tăng với tốc độ 5,1% một năm Đến năm 2004, năng suất lao động xã hội của Malaixia đạt 11.276,2 USD cao gấp 2,5 lần mức năng suất của Thái Lan.
Quá trình tăng trưởng của Malaysia gắn liền với việc nâng cao năng lực cạnh tranh, thể hiện qua thứ hạng liên tục tăng trên bảng xếp hạng quốc tế Trong năm 2003, Malaysia đứng thứ 29/102 nước, nhưng đến năm 2004, vị trí này tụt xuống 3 bậc, đứng ở vị trí 31/104 với 4,88 điểm, trước khi vượt lên đứng thứ 24/117 nước vào năm 2005 với 4,9 điểm Năm 2005, các chỉ số thành phần của Malaysia đều có sự tiến bộ rõ rệt, như chỉ số công nghệ tăng 2 bậc từ vị trí 27 lên 25/117, chỉ số thể chế công tăng 9 bậc từ 38 lên 29/117, và chỉ số môi trường vĩ mô cũng tăng 1 bậc từ 20 lên 19, phản ánh khả năng cạnh tranh và năng lực kinh doanh ngày càng được nâng cao.
2005, xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh kinh doanh đều ở vị trí thứ 23.
Nền kinh tế Malaysia và nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á chủ yếu phát triển dựa vào tích luỹ vốn vật chất Tuy nhiên, sự đóng góp của yếu tố năng suất tổng thể (TFP) trong tăng trưởng kinh tế của Malaysia vẫn còn hạn chế.
Bảng 2: Vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế của Malaixia (%)
Tốc độ tăng TFP Đóng góp của TFP trong việc tăng GDP