Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi ph
Trang 1Luận văn Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 2
Trang 2Phần I: Cơ sở lý luận về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
I.Những vấn đề chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp
1.Khái niệm về chi phí và giá thành sản phẩm
1.1.Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất :
Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định có thể là tháng, quý, năm
Để tiến hành các hoạt động sản xuất, doanh nghiệp phải có ba yếu tố cơ bản:
- Tư liệu lao động như nhà xưởng, máy móc, thiết bị và những tài sản cố định khác
- Đối tượng lao động như nguyên vật liệu, nhiên liệu
- Lao động của con người
Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời là quá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tương ứng Tương ứng với việc sử dụng TSCĐ là chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với việc sử dụng nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu là những chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu; tương ứng với việc sử dụng lao động là chi phí về tiền công, tiền trích BHXH, BHYT
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, mọi chi phí đều được biểu hiện bằng tiền, trong đó chi phí về tiền công, tiền trích BHXH, BHYT là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống, còn chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu là biểu hiện bằng tiền
Trang 3Một doanh nghiệp sản xuất ngoài những hoạt động liên quan đến hoạt động sản xuất ra sản phẩm hoặc lao vụ, còn có những hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác không có tính chất sản xuất như hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý, những hoạt động mang tính chất sự nghiệp Chỉ những chi phí để tiến hành các hoạt động sản xuất mới được coi là chi phí sản xuất Nó khác với chi tiêu - là sự chi ra, sự giảm đi thuần tuý của tài sản doanh nghiệp, không kể các khoản đó dùng vào việc gì và dùng như thế nào Chi phí được ghi vào bên nợ của tài khoản chi phí Chi tiêu là sự hao phí vật chất tại thời điểm tiêu dùng cụ thể, được ghi vào bên có tài khoản tài sản Ta chỉ tính vào chi phí của kỳ hạch toán về tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản xuất ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán Ngược lại chi tiêu có thể cho nhiều mục đích khác ngoài sản xuất như chi tiêu cho quá trình tiêu thụ, chi cho quản lý doanh nghiệp, dùng tiền nộp thuế lợi tức, trả nợ người bán, trả nợ ngân hàng
Chi phí và chi tiêu có bản chất và phạm vi khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau Các khoản chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí Có những khoản chi tiêu thực tế đã phát sinh trong
kỳ nhưng chưa được tính vào chi phí (nguyên vật liệu mua về nhập kho chưa sử dụng, chi phí trả trước), và có những khoản chi tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng
đã được ghi nhận vào chi phí của kỳ hạch toán (chi phí phải trả)
Như vậy, thực chất của chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ), nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nhưng để phục vụ cho quản
lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán tập hợp theo từng thời kỳ: hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo Chỉ những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong thời kỳ mới tính vào chi phí sản
Trang 41.2.Bản chất - chức năng của giá thành sản phẩm :
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành
Như vậy chỉ tiêu giá thành phải gắn với từng loại sản phẩm, cụ thể chỉ tiêu này chỉ được tính xác định đối với một số lượng sản phẩm đã hoàn thành khi kết thúc toàn bộ quy trình sản xuất hay một giai đoạn sản xuất (bán thành phẩm) chứ không tính cho thành phẩm đang còn nằm trên dây chuyền sản xuất
Giá thành có chức năng thông tin và kiểm tra thể hiện trên hai mặt sau:
- Giá thành là giới hạn để bù đắp chi phí : giá thành là mức tối thiểu để xác định khả năng bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho quá trình thực hiện sản xuất và thực hiện giá trị sản phẩm
- Giá thành là căn cứ để lập giá : để bù đắp chi phí bỏ ra và sản xuất kinh doanh có lãi, khi xác định giá bán của sản phẩm phải căn cứ vào giá thành
Giá thành sản phẩm sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có là chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu được cấu thành trong khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị các yếu tố chi phí vào những sản phẩm, công việc
đã hoàn thành
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện, nhằm đạt được mục đích sản xuất được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất tiết kiệm và hạ giá thành
Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Việc tính đúng, tính đủ giá thành giúp cho việc phản ánh đúng tình hình thực hiện và kết quả thực hiện giá thành của doanh nghiệp, xác định đúng đắn kết quả của kỳ kinh doanh
Trang 5Thông qua việc phân tích tỷ lệ hạ giá thành có thể thấy trình độ sử dụng tiết kiệm, hợp lý các yếu tố của quá trình sản xuất, khả năng tập trung công suất máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó giúp các nhà quản lý
có những quyết định phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện thống nhất của quá trình sản xuất, chúng có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất sản phẩm Chi phí sản xuất thể hiện mặt hao phí còn giá thành sản phẩm thể hiện kết quả của quá trình sản xuất do đó chúng giống nhau về mặt chất tức là đều bao gồm những chi phí về lao động sống và lao động vật hoá trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm Nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất
Trên giác độ kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
là hai bước công việc kế tiếp và gắn bó hữu cơ với nhau Chi phí sản xuất trong
kỳ là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn thành
Sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành của sản phẩm hạ hoặc cao Sự chính xác, đầy đủ của công tác tập hợp chi phí sản xuất quyết định tính chính xác của công tác tính giá thành Do vậy, để đảm bảo cho kế toán giá thành một cách kịp thời, nhanh chóng, chính xác phải tổ chức hạch toán chi phí sản xuất thật khoa học và hợp lý Mặc dù có liên quan chặt chẽ với nhau song giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có những mặt khác nhau:
- Xét về thời gian: chi phí sản xuất chỉ gắn với một thời kỳ nhất định còn giá thành sản phẩm liên quan tới nhiều kỳ như chi phí kỳ trước chuyển sang, chi phí phát sinh kỳ này
- Về góc độ giá trị và sản phẩm :
Trang 6+ Chi phí sản xuất là bao gồm toàn bộ chi phí bỏ ra trong một thời kỳ sản xuất kinh doanh, không cần tính đến chi phí đó liên quan đến khối lượng sản phẩm đã hoàn thành hay chưa
+ Giá thành sản phẩm bao gồm những chi phí tính cho khối lượng sản phẩm, lao
vụ hoàn thành trong kỳ mà không cần tính đến chi phí đó phát sinh ở kỳ nào Trong giá thành sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh ở các kỳ trước (chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ), một phần chi phí phát sinh trong kỳ (chi phí trả trước)
và một phần chi phí sẽ phát sinh trong các kỳ sau nhưng được tính trước vào chi phí trong kỳ (chi phí phải trả)
Điểm khác nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là về mặt lượng, thể hiện:
Chi phí sản xuất
dở dang cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí phát sinh
Như vậy, sự lãng phí hay tiết kiệm chi phí sản xuất của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm Do đó quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất
2.Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm :
2.1.Phân loại chi phí sản xuất :
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng không giống nhau Để phục vụ cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kế toán tập hợp chi phí sản xuất cần thiết phải phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau Việc phân loại này sẽ có tác dụng nâng cao tính chi tiết của
Trang 7thông tin chi phí, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, lập kế hoạch, đồng thời tạo cơ sở tin cậy cho việc phấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế của chi phí Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu
2.1.1.Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh:
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí sản xuất vào hoạt động kinh doanh, toàn bộ chi phí được chia làm ba loại:
- Chi phí sản xuất kinh doanh: bao gồm các chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ, quản lý hành chính như chi phí về nguyên vật liệu, tiền lương, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng
- Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí liên quan đến hoạt động
về vốn và đầu tư tài chính như cho thuê tài sản, mua chứng khoán, cho vay …
- Chi phí bất thường: gồm những chi phí ngoài dự kiến: như chi phí về thanh lý, nhượng bán TSCĐ, chi tiền nộp phạt…
Cách phân loại này giúp cho việc phân loại chi phí được chính xác, phục
vụ cho việc xác định chi phí, kết quả của từng loại hoạt động kinh doanh và lập báo cáo tài chính
2.1.2.Phân loại theo yếu tố chi phí :
Phân loại theo yếu tố chi phí để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dụng kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh chi phí Theo quy định hiện hành ở Việt Nam (Thông tư 63/1999/TT-BTC, ngày 7/6/1999), toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành 6 yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu động lực bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
- Chi phí khấu hao TSCĐ : phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ cho tất cả TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 8- Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương: phản ánh các khoản tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất lương phải trả cho người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn: phản ánh phần BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho công nhân viên chức
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh: chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài, chi phí điện, nước, điện thoại, vận chuyển hàng hoá, thành phẩm, tiền trả hoa hồng đại lý, môi giới, uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu, tiền mua bảo hiểm tài sản, tiền thuê kiểm toán, tư vấn, quảng cáo và các dịch vụ mua ngoài khác
- Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ: thuế môn bài, thuế sử dụng đất, thuế tài nguyên, lệ phí cầu phà, chi phí tiếp tân, quảng cáo, tiếp thị , giao dịch đối ngoại, bảo hành sản phẩm
Việc phân loại theo yếu tố chi phí có tác dụng trong việc cung cấp thông tin chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích mức vốn lưu động, lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí
2.1.3.Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm :
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân chia theo khoản mục Cách phân chia này dựa vào công dụng của chi phí và cách phân bổ chi phí cho từng đối tượng
Theo quy định hiện hành, giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) ở Việt Nam gồm các khoản mục chi phí trực tiếp:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu và động lực .sử dụng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp
Trang 9- Chi phí nhân công trực tiếp : gồm các khoản chi trả cho người lao động trực tiếp sản xuất như : tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất lương, chi ăn ca, chi BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất
- Chi phí sản xuất chung: gồm các khoản chi phí chung phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: tiền lương, phụ cấp ăn ca phải trả cho nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ xuất dùng cho phân xưởng, khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền ngoài các chi phí kể trên
Ngoài ra khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ (giá thành tiêu thụ) thì chỉ tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Giá thành tiêu thụ của sản phẩm chỉ được tính toán xác định khi sản phẩm hoặc công việc được tiêu thụ Giá thành tiêu thụ của sản phẩm là căn cứ để tính toán, xác định lãi trước thuế lợi tức của doanh nghiệp
2.1.4 Phân loại theo chức năng của chi phí trong sản xuất kinh doanh:
Dựa vào chức năng hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh và chi phí liên quan đến việc thực hiện các chức năng mà chi phí sản xuất kinh doanh được chia làm 3 loại sau:
- Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: bao gồm những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ trong phạm vi phân xưởng, như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
- Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: bao gồm những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá như chi phí cho nhân viên bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm
- Chi phí thực hiện chức năng quản lý: bao gồm các chi phí quản lý kinh doanh, hành chính và những chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như chi phí nhân viên quản lý doanh nghiệp, chi phí công cụ, vật liệu dùng cho quản lý
Trang 10Cách phân loại này thuận lợi cho công tác kiểm soát và quản lý chi phí, cũng là cơ sở để xác định giá thành sản xuất, giá thành toàn bộ
2.2.Phân loại giá thành sản phẩm:
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế toán giá thành, xác định giá bán, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi tính toán khác nhau:
a Căn cứ vào thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành, giá thành được chia làm ba loại :
- Giá thành kế hoạch: được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên
cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch
- Giá thành định mức: được xác định trước khi bước vào sản xuất sản phẩm trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành cho từng giai đoạn của quá trình sản xuất và của cả quá trình
- Giá thành thực tế: được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm
b Căn cứ vào phạm vi phát sinh chi phí :
- Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất
- Giá thành toàn bộ: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Giá thành toàn bộ
của sản phẩm =
Giá thành sản xuất của sản phẩm +
Chi phí bán hàng +
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 113 Sự cần thiết và nhiệm vụ của tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm Với những thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
do bộ phận kế toán cung cấp, những người quản lý doanh nghiệp nắm được chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thực tế của từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, lao vụ cũng như kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các định mức chi phí
và dự toán chi phí, tình hình sử dụng tài sản, vật tư, lao động tiền vốn, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm làm cơ sở cho việc ra các quyết định quản
lý thích hợp Thông qua việc phân tích và đánh giá những chỉ tiêu này, doanh nghiệp sẽ có những biện pháp nhằm tổ chức sản xuất hợp lý, nâng cao hiệu quả
sử dụng chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Để tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm áp ứng đầy đủ, trung thực và kịp thời yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành của doanh nghiệp, kế toán cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất, đối tượng và phương pháp tính giá thành phù hợp
- Tổ chức tập hợp và phân bổ chính xác từng loại chi phí sản xuất phát sinh cho từng đối tượng
- Lựa chọn phương pháp và xác định chính xác sản phẩm dở dang cuối kỳ
- Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính giá thành và giá thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng các khoản mục quy định
và đúng kỳ tính giá thành đã xác định
Trang 12- Giám sát tình hình thực hiện các định mức chi phí, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, lập các báo cáo chi phí sản xuất và giá thành theo đúng chế độ
II Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất :
1.Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất :
Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có thể tiến hành ở nhiều phân xưởng, bộ phận khác nhau, ở từng địa điểm sản xuất lại có thể sản xuất, chế biến nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc lao vụ khác nhau theo các quy trình sản xuất khác nhau Do đó các chi phí sản xuất cũng phát sinh ở nhiều địa điểm, nhiều bộ phận, liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc cần được tập hợp theo yếu tố, khoản mục chi phí cho những phạm vi, giới hạn nhất định để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm Như vậy việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất thực chất là việc xác định phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất cần được tập hợp
Xác định đúng đắn đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là điều kiện để thực hiện tốt công tác hạch toán chi phí
Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất cần dựa vào các căn cứ sau:
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất :
Nếu doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn: đối tượng hạch toán chi phí có thể là sản phẩm hoặc toàn bộ quy trình công nghệ
Nếu doanh nghiệp có quy trình công nghệ phức tạp: đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến
- Căn cứ vào loại hình sản xuất sản phẩm :
Với loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là từng loại sản phẩm
Với loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tượng hạch toán chi phí sản xuất
có thể là từng đơn đặt hàng hoặc từng loại sản phẩm
Trang 13- Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất của doanh nghiệp:
Với trình độ cao có thể hạch toán chi tiết đối tượng hạch toán chi phí sản xuất ở các góc độ khác nhau nhằm cung cấp thông tin chi phí chi tiết
Với trình độ thấp, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất thường không chi tiết cụ thể
Như vậy đối tượng hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp có thể là:
- Từng phân xưởng, tổ đội sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp
- Từng giai đoạn công nghệ hoặc toàn bộ quy trình công nghệ
2.Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất :
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để phân loại và tập hợp các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí sản xuất Trong mỗi doanh nghiệp có những đối tượng hạch toán chi phí sản xuất khác nhau vì vậy phải có những phương pháp hạch toán chi phí khác nhau cho mỗi loại đối tượng Hiện nay có rất nhiều phương pháp được áp dụng trong các doanh nghiệp Sau đây là một số phương pháp chủ yêú:
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm:
Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh sẽ được tập hợp riêng cho từng sản phẩm riêng biệt không phụ thuộc vào tính chất phức tạp của sản phẩm
Trang 14nghệ sản xuất phức tạp thì các chi phí trực tiếp sẽ được phân bổ cho từng sản phẩm riêng biệt, còn chi phí chung sẽ được phân bổ cho sản phẩm theo các tiêu thức thích hợp
Khi áp dụng phương pháp này thì giá thành sản phẩm sẽ được tính theo phương pháp trực tiếp hoặc tổng cộng chi phí Phương pháp này thường áp dụng
ở các đơn vị sản xuất mang tính đơn chiếc, ít sản phẩm
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo bộ phận chi tiết sản phẩm : Theo phương pháp này các chi phí sản xuất sẽ được tập hợp và phân loại chi tiết theo từng chi tiết hoặc bộ phận cấu thành sản phẩm Cuối kỳ hạch toán giá thành sẽ được xác định bằng tổng cộng số chi phí của các chi tiết, bộ phận cấu thành sản phẩm đó
Phương pháp này khá phức tạp nên thường áp dụng ở các doanh nghiệp chuyên môn hoá sản xuất cao, sản xuất ít sản phẩm hoặc mang tính chất đơn chiếc, có ít bộ phận cấu thành sản phẩm
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm:
Theo phương pháp này sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra sẽ được phân loại thành từng nhóm theo một tiêu thức nào đó và chi phí sản xuất sẽ được tập hợp riêng cho từng nhóm
Khi áp dụng phương pháp này thì giá thành sản phẩm sẽ được xác định theo phương pháp liên hợp, nghĩa là sử dụng đồng thời một số biện pháp như phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ và thường áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm có quy cách khác nhau
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng:
Theo phương pháp này chi phí sẽ được tập hợp riêng cho từng đơn đặt hàng riêng biệt và giá thành sẽ là tổng chi phí phát sinh tính cho từng đơn đặt hàng đó Đối với các chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp thì được tập hợp trực
Trang 15tiếp theo từng đơn hàng riêng, còn chi phí chung sẽ được tập hợp và sau đó phân
bổ cho từng đơn hàng
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo phân xưởng:
Theo phương pháp này các chi phí phát sinh sẽ được tập hợp theo từng đơn vị sản xuất như phân xưởng, tổ đội sản xuất Trong mỗi đơn vị sản xuất này, chi phí lại được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí như sản phẩm, chi tiết sản phẩm
Phương pháp này thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có chia thành nhiều bộ phận, phân xưởng sản xuất riêng lẻ
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ:
Theo phương pháp này các chi phí sản xuất được tập hợp và phân loại theo từng giai đoạn công nghệ, chi phí sẽ được tập hợp và phân loại theo từng loại bán thành phẩm, thành phẩm và giá thành sẽ được xác định theo phương pháp tổng cộng chi phí của các giai đoạn
Phương pháp này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có dây chuyền công nghệ sản xuất phức tạp, sản xuất liên tục
3 Trình tự hạch toán chi phí sản xuất :
Chi phí sản xuất trước hết được biểu hiện bao gồm nhiều loại với tính chất
và nội dung khác nhau Thông qua các phương pháp hạch toán, chi phí sẽ được tính vào các khoản mục của giá thành sản phẩm Chính vì vậy, việc tập hợp chi phí sản xuất được tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa học thì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời được Trình tự này phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp, vào trình độ công tác quản lý và hạch toán Tuy nhiên có thể khái quát chung việc tập hợp chi phí sản xuất qua các bước sau:
Trang 16-Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng hạch toán chi phí, thường là các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và các chi phí nhân công trực tiếp
-Bước 2: Tập hợp, tính toán và phân bổ chi phí của các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ cho từng đối tượng sử dụng - dựa trên cơ sở lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ
-Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm có liên quan
-Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, tính ra tổng giá thành
và giá thành sản phẩm đơn vị
4 Nội dung tổ chức hạch toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp :
4.1.Nguyên tắc hạch toán chi phí sản xuất :
Để hạch toán chi phí sản xuất một cách khoa học, chính xác thì việc hạch toán chi phí sản xuất phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- Phải xác định chính xác, đầy đủ các chi phí sản xuất đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm hay thực hiện lao vụ trong kỳ Bao gồm:
+Tính đúng: là phản ánh một cách trung thực, đúng nội dung kinh tế, đúng đối tượng chịu phí
+Tính đủ: là hạch toán đầy đủ, chính xác các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
- Phản ánh đầy đủ, kịp thời các chi phí phát sinh trong kỳ lên hệ thống các sổ chi tiết và tổng hợp, đáp ứng được các yêu cầu thông tin chi phí cho quản trị doanh nghiệp
4.2.Tổ chức chứng từ ban đầu - cơ sở cho hạch toán chi phí sản xuất :
Cơ sở số liệu của việc hạch toán kế toán là các chứng từ kế toán Muốn tổ chức hạch toán chi phí sản xuất một cách nhanh chóng, chính xác, cần thiết phải
tổ chức chứng từ hạch toán ban đầu (bao gồm lập và luân chuyển chứng từ) một
Trang 17cách đầy đủ, hợp lý đối với các chi phí trực tiếp, xác định việc lập, luân chuyển các chứng từ kế toán khoản mục cần thiết đối với các khoản chi phí chung
Hệ thống các chứng từ gốc được hình thành tại nơi phát sinh chi phí gồm có:
- Hệ thống chứng từ về xuất dùng nguyên vật liệu, công cụ lao động (phiếu xuất kho, biên bản kiểm kê, phiếu báo hỏng, bảng phân bổ nguyên vật liệu công
cụ lao động )
- Hệ thống chứng từ về chi phí tiền lương, BHXH và các khoản chi trả cho việc sử dụng lao động sống như: bảng phân bổ tiền lương và BHXH, được lập tại
bộ phận kế toán tiền lương
- Các chứng từ về chi phí sử dụng TSCĐ (chứng từ về mức khấu hao, chứng từ về chi thuê kho tàng, bến bãi và TSCĐ khác cho kinh doanh )
- Các chứng từ về chi dùng yếu tố vốn bằng tiền trực tiếp chi cho kinh doanh (phiếu chi, báo nợ, hoá đơn, bảng thanh toán )
Các chứng từ trên được chuyển về bộ phận kế toán chi phí kinh doanh để kiểm tra, phân loại và ghi sổ tài khoản Tại đây chi phí được ghi nhận có hệ thống vào những loại tài khoản khác nhau theo nội dung kinh tế và công dụng của chi phí
4.3 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán sử dụng cho hạch toán chi phí sản xuất:
Để theo dõi tình hình phát sinh và tập hợp chi phí sản xuất cho các đối tượng chịu phí, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
Tài khoản 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Bên nợ: Tập hợp các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản
Trang 18Tài khoản 621 cuối kỳ không có số dư và có thể được mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí để phục vụ cho việc tính giá thành cho từng đối tượng
Tài khoản 622: Chi phí nhân công trực tiếp
Bên nợ : Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ
Bên có : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp cho đối tượng tính
giá thành
Tài khoản 622 cuối kỳ không có số dư, được mở chi tiết theo đối tượng hạch toán chi phí
Tài khoản 627: Chi phí sản xuất chung
Bên nợ : Tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ
Bên có : + Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
+ Kết chuyển chi phí sản xuất chung cho đối tượng tính giá thành
Tài khoản 627 cuối kỳ không có số dư, được mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất (nơi phát sinh chi phí)
Tài khoản 627 bao gồm các tài khoản cấp 2 sau:
-6271: Chi phí nhân viên phân xưởng
-6272: Chi phí vật liệu dùng cho phân xưởng
-6273: Chi phí dụng cụ sản xuất
-6274: Chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho sản xuất
-6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài như điện, nước, điện thoại
-6278: Chi phí khác bằng tiền
Tài khoản 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, TK này để tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm
Bên nợ : Tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Bên có : + Các khoản làm giảm chi phí (giá trị phế liệu thu hồi, giá trị sản
Trang 19+ Phản ánh tổng giá thành các sản phẩm dịch vụ hoàn thành
trong kỳ
Dư nợ : Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Tài khoản 154 được chi tiết theo đối tượng tính giá thành
-Tài khoản 631: Giá thành sản xuất
Tài khoản này được dùng để xác định giá thành sản phẩm, lao vụ hoàn thành trong kỳ theo phương pháp kiểm kê định kỳ và được mở chi tiết theo từng đối tượng tính giá
Bên nợ : + Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
+ Tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Bên có : + Phản ánh các khoản làm giảm chi phí
+ Tổng giá thành các sản phẩm, lao vụ hoàn thành trong kỳ
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư
Tài khoản 142: Chi phí trả trước
Chi phí trả trước là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa được ghi nhận là chi phí của kỳ hạch toán đây là những khoản chi phí phát sinh một lần quá lớn hoặc có liên quan đến nhiều kỳ sản xuất do đó sẽ được phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ Chi phí trả trước thường gồm các khoản như: chi phí sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch, giá trị công cụ dụng
cụ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần, các chi phí về bảo hiểm trả trước, chi phí về dịch vụ mua ngoài trả trước, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển Kết cấu của TK này như sau:
Bên nợ : Các khoản chi phí trả trước thực tế phát sinh
Bên có : Các khoản chi phí trả trước đã phân bổ vào chi phí sản xuất kinh
Trang 20Chi phí phải trả là các khoản chi phí phát sinh nhưng chưa được ghi nhận
là chi phí của kỳ hạch toán Đây là những khoản chi phí mà do tính chất hoặc yêu cầu quản lý chi phí mà đã được tính trước vào chi phí của các kỳ hạch toán Chi phí phải trả bao gồm: tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất, chi phí sửa chữa lớn TSCĐ trong kế hoạch, trích trước chi phí ngừng sản xuất theo kế hoạch, chi phí về bảo hành sản xuất dự kiến trích trước, chi phí về lãi vay chưa trả hoặc các chi phí về dịch vụ mua ngoài dự kiến sẽ cung cấp Kết cấu của TK này như sau:
Bên nợ : - Chi phí phải trả thực tế phát sinh
- Phần chênh lệch do chi phí trích trước đã ghi nhận lớn hơn chi
phí thực tế phát sinh được hạch toán giảm chi phí kinh doanh hoặc tính vào thu nhập bất thường
Bên có : Chi phí phải trả ghi nhận trước vào chi phí sản xuất kinh doanh
4.4 Nội dung tổ chức hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp:
4.4.1.Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên:
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi một cách thường xuyên liên tục giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm vất tư, hàng hoá trên sổ kế toán của từng loại
Trang 21áp dụng phương pháp này có ưu điểm là cung cấp thông tin chính xác,
thường xuyên tại mọi thời điểm và tình hình nhập - xuất - tồn vật tư hàng hoá, về
tình hình biến động tăng, giảm chi phí sản xuất mà không phải đợi đến cuối kỳ
để kịp thời có các biện pháp xử lý cần thiết
Nội dung hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên như sau:
Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào sản xuất, chế tạo sản phẩm Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất sản phẩm, loại sản phẩm, lao vụ ) thì hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng đó Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng chi phí không thể tổ chức hạch toán riêng được thì lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý để tiến hành phân bổ Tiêu thức phân bổ có thể định mức theo chi phí nguyên vật liệu có, số giờ chạy máy hay chi phí kế hoạch
Công thức phân bổ như sau:
Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 22Sơ đồ 1 Hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương Ngoài ra chi phí nhân công trực tiếp còn bao gồm các khoản đóng góp cho quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí theo một tỷ lệ nhất định với số tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất
Để tập hợp chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp
Sơ đồ 2: Hạch toán tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp :
kho
Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cuối kỳ
Vật liệu mua ngoài
xuất dùng trực tiếp cho
Vật liệu xuất dùng
trực tiếp chế tạo sản phẩm,
Trang 23 Hạch toán chi phí sản xuất chung :
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm, phát sinh trong phạm vi các phân xưởng sản xuất của doanh nghiệp như chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí Một doanh nghiệp nếu có nhiều phân xưởng có thể mở sổ chi tiết để tập hợp chi phí sản xuất chung cho từng phân xưởng
Trường hợp một phân xưởng trong kỳ nếu có sản xuất nhiều loại sản phẩm thì phải tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho các sản phẩm có liên quan theo các tiêu thức như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Công thức phân bổ như sau:
Mức chi phí sản
xuất chung phân bổ
cho từng đối tượng
=
Tổng chi phí sản xuất chung phân bổ
x
Tiêu thức phân bổ cho từng đối tượng Tổng tiêu thức phân bổ
Để tập hợp chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Trang 24Sơ đồ 3 Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất chung
Hạch toán chi phí trả trước:
Chi phí trả trước là những chi phí thực tế đã phát sinh với quy mô lớn và liên quan đến nhiều kỳ kinh doanh
Việc hạch toán chi phí trả trước nhằm tránh sự đột biến của chi phí sản xuất kinh doanh cũng như đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và lợi nhuận Chi phí trả trước thường gồm các khoản : chi phí sửa chữa TSCĐ ngoài kế hoạch, tiền thuê TSCĐ, giá trị công cụ dụng cụ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần
Chi phí mua ngoài
và chi phí bằng tiền khác
Khấu hao TSCĐ Chi phí trả trước
Chi phí vật liệu,
dụng cụ dùng trong
phân xưởng Chi phí nhân viên
quản lý phân xưởng
Trang 25Sơ đồ 4 Hạch toán tổng hợp chi phí trả trước
Hạch toán chi phí phải trả:
Chi phí phải trả là những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được tính trước vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Mục đích của hạch toán chi phí phải trả là tránh đột biến về chi phí tại kỳ mà nó phát sinh đảm bảo có nguồn
bù đắp chi phí khi nó phát sinh Chi phí phải trả thường gồm: tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất, chi phí sửa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch, lãi vay
sẽ trả Để theo dõi chi phí phải trả, kế toán sử dụng TK 335 - Chi phí phải trả
Sơ đồ 5 Hạch toán tổng hợp chi phí phải trả
Phân bổ dần chi phí trả trước vào các kỳ hạch toán
Trích trước lương phép, lương ngừng việc của công nhân
Chi phí phải trả khác thực tế phát
sinh
Tiền lương phép, lương ngừng việc thực tế phải trả
Trang 26 Hạch toán các khoản thiệt hại sản phẩm hỏng trong sản xuất :
sản phẩm hỏng là những sản phẩm không thoả mãn các tiêu chuẩn về mặt chất lượng và yêu cầu về mặt kỹ thuật của sản xuất về màu sắc, kích cỡ, trọng lượng, cách thức lắp ráp Tuỳ theo mức độ hư hỏng mà sản phẩm hỏng được chia làm hai loại:
- Đối với sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được: là các sản phẩm hỏng về mặt kỹ thuật có thể sửa chữa được và việc sửa chữa có lợi về mặt kinh tế Khoản thiệt hại được theo dõi trên TK142 - Chi phí trả trước
Sơ đồ 6: Hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng có thể sửa chữa
-Đối với sản phẩm hỏng không thể sửa chữa được: là những sản phẩm hỏng về mặt kỹ thuật không thể sửa chữa được hoặc có thể sửa chữa được về mặt
kỹ thuật nhưng lại không có lợi về mặt kinh tế Khoản thiệt hại này được theo dõi
Chi phí sửa chữa sản phẩm hỏng phát sinh
Số thiệt hại tính vào chi phí bất
thường
Trang 27Sơ đồ 7 Hạch toán thiệt hại sản phẩm hỏng không thể sửa chữa được
Hạch toán thiệt hại về ngừng sản xuất:
Trong thời gian ngừng sản xuất do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan (do sửa chữa TSCĐ, sản xuất mang tính thời vụ, do sự cố, thiên tai, hoả hoạn ), các doanh nghiệp vẫn phải bỏ ra một số khoản để duy trì hoạt động như tiền công lao động, khấu hao TSCĐ, chi phí bảo dưỡng ) Những khoản này được coi là chi phí về ngừng sản xuất
Chi phí về ngừng sản xuất được theo dõi trên các TK142 và TK335 như sau:
Sơ đồ 8 Chi phí về ngừng sản xuất trong kế hoạch
Giá trị sản phẩm hỏng không thể sửa chữa
Số thiệt hại tính vào chi phí bất thường
Trang 28Sơ đồ 9.Chi phí về ngững sản xuất ngoài kế hoạch:
Hạch toán chi phí và tính giá thành bộ phận sản xuất kinh doanh phụ: Trong các doanh nghiệp, ngoài các phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh chính còn tổ chức các phân xưởng, các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ nhằm thực hiện cung cấp lao vụ cho sản xuất kinh doanh chính hoặc tận dụng năng lực sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống
Sơ đồ 10 Hạch toán chi phí, giá thành sản xuất kinh doanh phụ
Trích trước chi phí về ngừng sản xuất
TK 154
Kết chuyển chi phí sản xuất kinh doanh phụ
h sản phẩm, lao
vụ hoàn thàn
h
TK 1421 TK152,111,214
Tập hợp chi phí phát sinh trong thời gian ngừng
Thiệt hại thực
Trang 29 Hạch toán chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp :
Kế toán sử dụng tài khoản 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang để tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Sơ đồ 11 Tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
(Phương pháp kê khai thường xuyên )
Giá thành các sản phẩm hoàn thành nhập kho
Trang 30 Khái quát hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên
Sơ đồ 12.hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường
TK 632 Giá thành
các SP hoàn thành tiêu thụ
Kết chuyển chi phí NVLTT
Kết chuyển chi phí NCTT
Giá thành các SP hoàn thành Kết chuyển
và phân bổ chi phí SXC
Chi phí vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí SXC phát sinh
Trang 314.4.2.Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ :
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên , liên tục giá trị hiện có, tình hình biến động tăng, giảm các loại vật
tư, thành phẩm (hàng tồn kho nói chung) trên sổ kế toán tổng hợp của từng loại hàng tồn kho mà chỉ căn cứ vào kết quả kiểm kê cuối kỳ để phản ánh giá trị vật
tư, thành phẩm tồn kho từ đó xác định chi phí có liên quan đến hàng tồn kho trong kỳ
Khác biệt chủ yếu của phương pháp kiểm kê định kỳ so với phương pháp
kê khai thường xuyên là về hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh trên TK621 không ghi theo từng chứng từ xuất mà chỉ ghi một lần tại thời điểm cuối
kỳ sau khi kiểm kê đánh giá phản ánh giá trị hàng tồn kho
Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :
Sơ đồ 13 Hạch toán CPNVLTT(phương pháp KKĐK)
Kết chuyển
giá trị NVL
chưa dùng
Giá trị nguyên vật
liệu tăng
Chi phí NVLTT (xác định được sau Giá trị vật liệu chưa
dùng cuối kỳ
Trang 32 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung :
Về tập hợp chi phí, kế toán tiến hành tương tự như đối với phương pháp kê khai thường xuyên Cuối kỳ, toàn bộ chi phí tập hợp cho từng đối tượng tính giá thành về TK631 chứ không kết chuyển về TK154 như phương pháp kê khai thường xuyên
Trang 33Sơ đồ 14 Hạch toán CP NCTT và CP SXC (phương pháp KKĐK)
Khái quát hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ : Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ có thể được khái quát như sau:
Kết chuyển chi phí sản xuất chung
Kết chuyển chi phí nhân công trực
Trang 34Sơ đồ 15: Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp KKĐK
III.Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ và tính giá thành sản phẩm:
1.Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
Trong các doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm dở dang là những sản phẩm còn đang trong quá trình sản xuất, chế tạo, đang nằm trong dây chuyền sản xuất hoặc đã hoàn thành một vài khâu chế biến nhưng vẫn còng phải tiếp tục được gia công thêm mới trở thành thành phẩm Để tính được giá thành sản phẩm cần thiết phải đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, tức là xác định số chi phí sản xuất tính cho sản phẩm dở dang phải chịu
TK631
TK 154
Kết chuyển giá trị sản phẩm đở dang đầu kỳ
TK 627 TK111,611,3
34
Xuất NVL cho
sản xuất
Chi phí NCTT
Chi phí SXC
phát sinh trong kỳ
Kết chuyển chi phí NVLTT
Kết chuyển chi phí NCTT
Kết chuyển chi phí SXC
Kết chuyển giá trị SP
dở dang cuối kỳ
Trang 35Cuối kỳ, tại thời điểm tính giá thành, sau khi kiểm kê số lượng các sản phẩm dở dang tại các bộ phận sản xuất thì tuỳ theo đặc điểm, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm, yêu cầu quản lý trong từng doanh nghiệp mà có thể áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau:
Với bán thành phẩm: có thể tính theo chi phí thực tế hoặc kế hoạch
Với sản phẩm đang chế tạo dở dang: có thể áp dụng một trong các phương pháp:
a.Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVL chính hoặc chi phí NVL trực tiếp
Theo phương pháp này ta chỉ tính chi phí NVL chính hoặc chi phí NVL trực tiếp cho sản phẩm dở dang Còn các chi phí khác tính hết cho sản phẩm hoàn thành
Số lượng SP hoàn thành +
Để đảm bảo đánh giá chính xác giá trị sản phẩm dở dang, phương pháp này chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến trong sản phẩm dở dang, còn các
Trang 36chi phí nguyên vật liệu chính phải xác định dựa theo thực tế sử dụng cho mỗi đơn vị sản phẩm
Số lượng SP hoàn thành +
Số lượng SP
dở dang CK Các chi phí bỏ dần vào theo tiến độ sản xuất (thường bao gồm chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) tính cho sản phẩm dở dang được xác định dựa theo công thức:
Số lượng SP hoàn thành +
Số lượng SP hoàn thành tương đương
Từ đó xác định được :
Giá trị SP dở dang
Chi phí NVL chính tính cho SP dở dang +
Chi phí chế biến tính cho SP dở dang
c Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVL chính và 50 % chi phí chế biến: Phương pháp này tương tự như phương pháp ước tính sản lượng tương đương chỉ khác là giả định mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang là 50 %
d Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí kế hoạch hoặc định mức:
Phương pháp này căn cứ vào định mức tiêu hao (hoặc chi phí kế hoạch) cho các khâu, các bước, các công việc trong quá trình chế tạo sản phẩm để xác định giá trị sản phẩm dở dang:
Giá trị SP
dở dang =
Tổng số lượng SP dở dang cuối kỳ ở từng công đoạn x
Chi phí định mức ở từng công đoạn
Trang 37Phương pháp này áp dụng thích hợp với các doanh nghiệp đã xây dựng được định mức chi phí sản xuất hợp lý và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp định mức
Trên cơ sở chi phí sản xuất đã hạch toán và giá trị sản phẩm dở dang đã xác định, kế toán tiến hành tính giá thành sản phẩm
2.Tính giá thành sản phẩm
2.1 Đối tượng tính giá thành sản phẩm :
Đối tượng tình giá thành sản phẩm là các sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm
Đối tượng tính giá thành có nội dung khác với đối tượng hạch toán chi phí sản xuất Xác định đối tượng hạch toán chi phí là căn cứ để kế toán tổ chức ghi
sổ chi tiết, tổ chức ghi chép ban đầu và tổ chức tập hợp phân bổ chi phí sản xuất hợp lý Còn việc xác định đối tượng tính giá thành lại là căn cứ để kế toán giá thành tổ chức các bảng tính giá thành sản phẩm, lựa chọn phương pháp tính giá thành thích hợp, tổ chức công việc tính giá thành hợp lý phục vụ cho việc quản
lý và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và tính toán xác định giá phí hàng bán, xác định giá bán các sản phẩm, dịch vụ, ra quyết định trong việc chấp nhận các đơn đặt hàng đặc biệt, lập kế hoạch kiểm tra các hoạt động Việc xác định đối tượng tính giá thành cần dựa trên các căn cứ sau:
- Đặc điểm quy trình công nghệ:
Với sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng Với sản phẩm phức tạp thì đối tượng tính giá thành có thể là bán thành phẩm ở từng bước chế tạo hoặc thành phẩm ở giai đoạn chế biến cuối cùng
- Loại hình sản xuất
Với loại hình sản xuất đơn chiếc và hàng loạt nhỏ, đối tượng tính giá thành
là từng sản phẩm hay từng loạt sản phẩm
Trang 38Với sản xuất hàng loạt, khối lượng lớn thì đối tượng tính giá thành có thể
là sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm
- Yêu cầu và trình độ quản lý
Với trình độ quản lý cao có thể chi tiết đối tượng tính giá thành ở các giác
Để tính giá thành sản phẩm có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Tuỳ từng điều kiện cụ thể của doanh nghiệp ta chọn phương pháp thích hợp Sau đây là một số phương pháp chủ yếu
a, Phương pháp tính giá thành giản đơn (trực tiếp ):
Phương pháp này thường áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có không đáng kể như các doanh nghiệp khai thác than, quặng, hải sản , các doanh nghiệp sản xuất động lực (điện, nước, hơi nước, khí đốt ) Do số lượng mặt hàng ít nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất được tiến hành theo sản phẩm và đối tượng hạch toán cũng
là đối tượng tính giá thành
Trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ và chi phí sản xuất
dở dang đã xác định, giá thành sản phẩm hoàn thành được xác định theo công thức:
Trang 39
Giá thành đơn vị sản phẩm =
Theo phương pháp này đối tượng hạch toán chi phí là từng bước, từng giai đoạn công nghệ, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng của quy trình công nghệ
Tổng giá
thành thực tế =
CPSX dở dang đầu kỳ +
CPSX phát sinh trong kỳ -
CPSX dở dang cuối kỳ
Trang 40sản phẩm
x
Giá thành kế hoạch (định mức) của từng loại sản phẩm
Tổng giá thành kế hoạch (định mức ) của nhóm SP
Giá
thành đơn vị sản phẩm (từng loại)
= Giá thành thực tế từng loại sản phẩm
Theo phương pháp này đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là theo từng phân xưởng hoặc địa điểm phát sinh chi phí, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành theo chất lượng hoặc quy cách kích cỡ khác nhau
Để tính giá thành trước hết kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi quy cách các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, từ đó dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá