TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA HÀNH CHÍNH PHÁP LUẬT TÊN ĐỀ TÀI VẤN ĐỀ THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH V.Trong xã hội mọi thứ luôn vận động từng giờ, từng ngày, các quan hệ xã hội cũng vậy. Khi các tranh chấp phát sinh dẫn đến nhu cầu giải quyết các tranh chấp và đương sự yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết. Nhưng trong quá trình giải quyết tranh chấp đó, đương sự có thể thay đổi ý muốn của mình vì nhiều nguyên nhân như sự việc có biến chuyển, các bên thỏa thuận được với nhau một số hoặc toàn bộ vấn đề tranh chấp hoặc các tác động khác dẫn đến thay đổi mong muốn của người yêu cầu và họ đưa ra yêu cầu thay đổi, bổ sung các yêu cầu đó. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự là phù hợp với nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Vấn đề thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự ở tòa án sơ thẩm, phúc thẩm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề này” cho bài tập học kỳ của mình.NỘI DUNGCHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ1.1. Khái niệm quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sựTrong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền được thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình cho phù hợp với nguyện vọng. Trong từ điển tiếng Việt, “thay đổi” được hiểu là việc “thay cái này bằng cái khác hay đổi khác đi, trở nên khác trước” ; “bổ sung” là “thêm vào cho đầy đủ”. Vậy có thể hiểu thay đổi yêu cầu là việc sửa đổi yêu cầu mà đương sự đã đưa ra ban đầu còn bổ sung là việc đương sự thêm các yếu tố cần thiết để yêu cầu ban đầu trở nên đầy đủ. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu phải thể hiện dưới dạng hình thức và theo trình tự do pháp luật quy định.CHƯƠNG 2: QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨMTheo hướng dẫn tại Công văn 01GĐTANDTC năm 20183 về giải đáp vấn đề nghiệp vụ do Tòa án nhân dân tối cao ban hành thì:Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 236, khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 20151, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA HÀNH CHÍNH & PHÁP LUẬT
TÊN ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN
ĐỀ NÀY BÀI TẬP LỚN
Học phần: Luật Tố Tụng Dân Sự
Mã phách:………
Hà Nội-2023
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ 2
1.1 Khái niệm quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự 21.2 Cơ sở của quy định về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầucủa đương sự 21.2.1 Cơ sở pháp lý 21.2.2 Cơ sở thực tiễn 31.3 Ý nghĩa của quy định về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầucủa đương sự 3
CHƯƠNG 2: QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM 4
2.1 Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự ở Tòa áncấp sơ thẩm 52.1.1 Thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự trong giai đoạnchuẩn bị xét xử sơ thẩm 52.1.2 Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tạiphiên tòa sơ thẩm 62.2 Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự ở tòa áncấp phúc thẩm 8
Trang 32.2.1 Chủ thể có quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung kháng cáo
8
2.2.2 Thời hạn của quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung kháng cáo của đương sự 11
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM 13
3.1 Thực tiễn thực hiện quy định 13
3.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật 15
KẾT LUẬN 17
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Trong xã hội mọi thứ luôn vận động từng giờ, từng ngày,các quan hệ xã hội cũng vậy Khi các tranh chấp phát sinhdẫn đến nhu cầu giải quyết các tranh chấp và đương sự yêucầu tòa án xem xét, giải quyết Nhưng trong quá trình giảiquyết tranh chấp đó, đương sự có thể thay đổi ý muốn củamình vì nhiều nguyên nhân như sự việc có biến chuyển, cácbên thỏa thuận được với nhau một số hoặc toàn bộ vấn đềtranh chấp hoặc các tác động khác dẫn đến thay đổi mongmuốn của người yêu cầu và họ đưa ra yêu cầu thay đổi, bổsung các yêu cầu đó Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu củađương sự là phù hợp với nguyên tắc quyền quyết định và tựđịnh đoạt của đương sự được quy định tại Bộ luật tố tụng dân
sự Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Vấn đềthay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự ở tòa án sơ thẩm,phúc thẩm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn
đề này” cho bài tập học kỳ của mình
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ
1.1 Khái niệm quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương
sự có quyền được thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình chophù hợp với nguyện vọng Trong từ điển tiếng Việt, “thay đổi”được hiểu là việc “thay cái này bằng cái khác hay đổi khác đi,trở nên khác trước” ; “bổ sung” là “thêm vào cho đầy đủ”.Vậy có thể hiểu thay đổi yêu cầu là việc sửa đổi yêu cầu màđương sự đã đưa ra ban đầu còn bổ sung là việc đương sựthêm các yếu tố cần thiết để yêu cầu ban đầu trở nên đầy đủ.Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu phải thể hiện dưới dạng hìnhthức và theo trình tự do pháp luật quy định
Tóm lại, có thể hiểu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu là sựthể hiện của quyền tự định đoạt của đương sự được pháp luậtghi nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, cơ quan, tổchức, cho phép họ được sửa đổi, thêm bớt các đề nghị, đòi hỏi
đó trong quá trình tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật
Trang 7định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[1]
theo đó: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự
có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.”.
Xuất phát từ nguyên tắc này, Khoản 4, Điều 70 củaBLTTDS quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, trong
đó đương sự có quyền “Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc
rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này.”[1]
Xuất phát từ các nguyên tắc trong giao lưu dân sự đó lànguyên tắc bình đẳng địa vị pháp lý giữa các bên, do đó cácquan hệ dân sự được xác lập, thay đổi, chấm dứt dựa trên cơ
sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳnggiữa các chủ thể Vụ việc dân sự khởi đầu khi đương sự có đơnyêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,
do đó trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương
sự hoàn toàn có quyền sửa đổi yêu hoặc bổ sung yêu cầu chophù hợp với thực tế
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của quy định về việc thay đổi, bổ sungyêu cầu của các đương sự ở tòa án sơ thẩm, phúc thẩm làtrong quá trình Tòa án xem xét, giải quyết tranh chấp phátsinh trong đời sống xã hội thì các đương sự yêu cầu thì có thể
có nhiều nguyên nhân khác nhau như sự việc có biến chuyển,các bên thỏa thuận được với nhau một số hoặc toàn bộ vấn
đề tranh chấp hoặc có các tác động khác dẫn đến việc thayđổi mong muốn của người đã yêu cầu và họ đưa ra yêu cầu
Trang 8thay đổi, bổ sung các yêu cầu đó Vì vậy, pháp luật tố tụngdân sự ghi nhận quyền được thay đổi, bổ sung yêu cầu cáccủa đương sự ở tòa án sơ thẩm, tòa án phúc thẩm.
1.3 Ý nghĩa của quy định về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự
Thứ nhất, việc quy định về quyền thay đổi, bổ sung yêucầu của các đương sự là sự thể hiện nguyên tắc quyền quyếtđịnh và tự định đoạt của đương sự, một nguyên tắc cơ bảntrong tố tụng dân sự
Thứ hai, quy định quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu củacác đương sự giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự một cách hiệu quả nhất Bởi các quan hệ xã hội luônluôn biến chuyển, do đó trong quá trình Tòa án giải quyết vụviệc, các đương sự có thể thay đổi mong muốn ban đầu củamình Do đó, quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của các đương
sự sẽ giúp quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được đảmbảo
Thứ ba, quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của các đương
sự còn giúp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự một cách chínhxác, nhanh chóng và dễ dàng hơn Trong quá trình giải quyết
vụ việc dân sự, các đương sự có thể thỏa thuận với nhau,hoặc vì lý do nào đó mà yêu cầu của đương sự được thay đổi,
bổ sung Do đó, việc ghi nhận quyền thay đổi, bổ sung yêucầu của các đương sự sẽ giúp việc giải quyết vụ việc dân sựcủa Tòa án được triệt để hơn
Trang 9CHƯƠNG 2: QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM
Theo hướng dẫn tại Công văn 01/GĐ-TANDTC năm2018[3] về giải đáp vấn đề nghiệp vụ do Tòa án nhân dân tốicao ban hành thì:
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 236,khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[1], việcthay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ đượcHội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầucủa họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầuphản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trongđơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơnyêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, khi được Chủ tọa hỏi
có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêucầu độc lập hay không thì đương sự có quyền trình bày vềviệc thay đổi, bổ sung yêu cầu mà không phải làm lại đơnkhởi kiện, đơn yêu cầu phản tố, đơn yêu cầu độc lập và khôngphải nộp tiền tạm ứng án phí đối với phần yêu cầu thay đổi,
bổ sung đó Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự phảiđược ghi vào biên bản phiên tòa Trường hợp Hội đồng xét xửchấp nhận yêu cầu thay đổi, bổ sung của đương sự thì phảighi rõ trong bản án
2.1 Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương
sự ở Tòa án cấp sơ thẩm
2.1.1 Thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Trang 10Thực tế cho thấy nhiều trường hợp trong giai đoạnchuẩn bị xét xử sơ thẩm, nguyên đơn liên tục thay đổi hoặc
bổ sung yêu cầu hoặc sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án
ra xét xử sơ thẩm thì đương sự mới có thay đổi, bổ sung yêucầu
Theo quy định tại Điều 5, khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều
71, khoản 3 Điều 200, khoản 2 Điều 210, Điều 243 BLTTDS
2015 chỉ quy định về việc nguyên đơn có quyền thay đổi, bổsung yêu cầu khởi kiện và quy định giới hạn việc xem xét,chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơntrong trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm nếu việc thay đổi, bổsung đó của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.Các quy định này là chưa triệt để, chưa giải quyết được nhữngvướng mắc về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện củanguyên đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sư thẩm như: thếnào là thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn?mốc thời điểm cụ thể để xem xét việc chấp nhận hay khôngchấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện? Trườnghợp nào thì chấp nhận hay không chấp nhận việc thay đổi, bổsung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn? Thủ tục tố tụng khinguyên đơn có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện?
Để giải quyết vướng mắc này Tòa án nhân dân tối cao cócông văn số 01/2017/GĐ - TANDTC ngày 07/4/2017[4] giảiđáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án các địa phương,trong đó tại mục 7, Phần IV đã hướng dẫn thực hiện nội dung
như sau: “Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ
sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực
Trang 11hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”.
Như vậy, trường hợp nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêucầu khởi kiện trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm traviệc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì sẽđược chấp nhận
Trường hợp nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện
từ thời điểm Tòa án mở phiên họp trở đi thì việc thay đổi yêucầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ được chấp nhận nếu việcthay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiệnban đầu Hướng dẫn này của ngành Tòa án phù hợp với quyđịnh về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền yêu cầuđộc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan được quy định
tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS 2015“Bị đơn có quyền đưa ra
yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”[1] và
khoản 2 Điều 201 BLTTDS 2015 “Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải”[1]
Tuy nhiên, về khái niệm thay đổi, bổ sung yêu cầu khởikiện; mốc thời điểm cụ thể để xem xét việc chấp nhận haykhông chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện?
Trang 12thủ tục thực hiện thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơntrong giai đoạn chuẩn bị xét xử được thực hiện như nhế nàothì cho đến nay BLTTDS và các văn bản hướng dẫn hiện naycũng chưa quy định và chưa hướng dẫn cụ thể.
2.1.2 Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương
sự tại phiên tòa sơ thẩm
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, việc thay đổi, bổ sung yêucầu của các đương sự được ghi nhận tại điều 243 BLTTDS
2015 quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án, chủ tọa phiêntòa hỏi đương sự về các vấn đề thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu,
Để đảm bảo một mặt tôn trọng quyền tự định đoạt củađương sự nhưng mặt khác không gây khó khăn cho việc giảiquyết vụ việc dân sự của Tòa án, Khoản 1, Điều 244 BLTTDS
2015 quy định việc thay đổi yêu cầu của đương sự tại phiêntòa sơ thẩm không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu
cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu “Hội đồng xét xử
chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm
Trang 13vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”[1]
Hiện nay chưa có văn bản quy định thế nào là vượt quáphạm vi yêu cầu ban đầu Tuy nhiên, thực tiễn xét xử chothấy, những yêu cầu bị xem là vượt quá, và không được tòa
án chấp nhận, thường được thể hiện dưới các hình thức sauđây:
Thứ nhất, vượt quá về giá trị yêu cầu
Đây là trường hợp, khi khởi kiện, phản tố hay có yêu cầuđộc lập, đương sự trong vụ án đưa ra yêu cầu, buộc bên cónghĩa vụ phải thực hiện một nghĩa vụ tài sản được ấn địnhbằng một con số hay giá trị cụ thể Nhưng tại phiên tòa, họ đãthay đổi, bổ sung yêu cầu này, buộc người có nghĩa vụ phảithực hiện một nghĩa vụ về tài sản nhiều hơn so với yêu cầukhởi kiện ban đầu
Thứ hai, vượt quá về chủ thể nghĩa vụ
Khác với yêu cầu vượt quá về giá trị, vượt quá về chủ thểnghĩa vụ là trường hợp, khi khởi kiện, phản tố hay có yêu cầuđộc lập, đương sự trong vụ án chỉ yêu cầu một hoặc một số cánhân, cơ quan, tổ chức nào đó, phải thực hiện một nghĩa vụdân sự nhất định Nhưng tại phiên tòa, ngoài những cá nhân,
cơ quan, tổ chức mà họ đã yêu cầu trước đó, họ còn yêu cầu,buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác cũng phải có tráchnhiệm liên đới trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo nộidung khởi kiện của họ
Thứ ba, vượt quá về quan hệ tranh chấp
Trang 14Đây là trường hợp, khi khởi kiện, phản tố hoặc có yêucầu độc lập, đương sự trong vụ án đưa ra yêu cầu, buộc bên
có nghĩa vụ phải thực hiện một nghĩa vụ dân sự nào đó đối với
họ Nhưng tại phiên tòa, ngoài việc yêu cầu thực hiện nghĩa
vụ như đã thể hiện trong đơn khởi kiện, họ còn yêu cầu người
có nghĩa vụ phải thực hiện một hay một số nghĩa vụ, mà cácnghĩa vụ này hoàn toàn khác với nghĩa vụ đã yêu cầu trướcđó
Như vậy, dù cho ở trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơthẩm hay tại phiên tòa sơ thẩm, quyền thay đổi, bổ sung yêucầu các của đương sự đều được Tòa án ghi nhận và tôn trọng,tuy nhiên vẫn có những giới hạn cụ thể được đặt ra cho cácđương sự khi thực hiện quyền này
2.2 Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương
sự ở tòa án cấp phúc thẩm
2.2.1 Chủ thể có quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung kháng cáo
Theo quy định tại Điều 284 BLTTDS năm 2015
Khoản 1 Điều 284 BLTTDS năm 2015 quy định: “Trường
hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 280 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm
vi kháng nghị ban đầu”.[1]
Quy định này nhằm tôn trọng quan điểm của VKS và củangười ký kháng nghị trong trường hợp họ muốn thay đổi, bổsung kháng nghị, đồng thời, tạo điều kiện để các đương sựchuẩn bị tổ chức việc bào chữa bảo vệ quyền lợi hợp pháp sau
Trang 15khi đã biết rõ thực trạng những nội dung kháng nghị một cách
có hiệu quả nhất Đây là quy định bổ sung và làm rõ hơn sovới khoản 1 Điều 256 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sungnăm 2011)[2], thể hiện ở chỗ trong trường hợp chưa hết thờihạn kháng nghị theo quy định tại Điều 280 BLTTDS năm2015[1] thì việc thay đổi, bổ sung kháng nghị không bị giớihạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu, nghĩa là VKS sẽ đượcquyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không phải chịu bất
kỳ một giới hạn, hạn chế nào Có thể thay đổi, bổ sung mộtphần hoặc toàn bộ kháng nghị so với kháng nghị ban đầu, và
có thể thay đổi cả số lượng và tăng giá trị yêu cầu…
Khoản 2 Điều 284 BLTTDS năm 2015[1] có sửa đổi vềbản chất so với khoản 1 Điều 256 BLTTDS năm 2004: “Trướckhi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, VKS đãkháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưngkhông được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thờihạn kháng nghị đã hết” Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004quy định VKS ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổsung kháng nghị, nghĩa là có thể VKS đã kháng nghị hoặc VKScấp trên trực tiếp sẽ được quyền thay đổi, bổ sung Bộ luật Tốtụng dân sự năm 2015 đã bó hẹp hơn nữa, chỉ còn trao choVKS đã kháng nghị mới có quyền này, như vậy, nếu VKS cùngcấp kháng nghị đối với Tòa án cấp sơ thẩm thì VKS đã khángnghị mới có quyền thay đổi, bổ sung, còn VKS cấp trên, trựctiếp tham gia phiên tòa phúc thẩm và bảo vệ kháng nghị lạikhông có quyền này Điều này, vô hình trung dẫn tới việcthiếu chủ động và tính tự quyết của VKS cấp trên trực tiếp,