1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực Trạng Công Tác Giáo Dục Sức Khỏe Của Hộ Sinh Cho Sản Phụ Sau Sinh Tại Bệnh Viện Bắc Thăng Long Năm 2022.Pdf

48 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Công Tác Giáo Dục Sức Khỏe Của Hộ Sinh Cho Sản Phụ Sau Sinh Tại Bệnh Viện Bắc Thăng Long Năm 2022
Tác giả Bùi Thị Diên
Người hướng dẫn ThS. Bùi Thị Khánh Thuận
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng Sản phụ khoa
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÙI THỊ DIÊN THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA HỘ SINH CHO SẢN PHỤ SAU SINH TẠI BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG NĂM 2022 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÙI THỊ DIÊN

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA HỘ SINH CHO SẢN PHỤ SAU SINH TẠI BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG NĂM 2022

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÙI THỊ DIÊN

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA HỘ SINH CHO SẢN PHỤ SAU SINH TẠI BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG NĂM 2022

Chuyên ngành: Điều dưỡng Sản phụ khoa

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS Bùi Thị Khánh Thuận

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của quý thầy cô cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập và thực hiện chuyên đề

Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Thầy Trần Quang Tuấn, bộ môn Điều dưỡng Sản phụ khoa, các thầy cô giảng dạy của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn: Ths.Bùi Thị Khánh Thuận, đã tận tình hướng dẫn, động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc Bệnh viện Bắc Thăng Long, Tập thể y bác sỹ, hộ sinh cán bộ khoa Sản đã cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu về lĩnh vực điều dưỡng, tạo mọi điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và hoàn thành chuyên đề này

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến những người thân yêu trong gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè gần xa, đặc biệt là các anh chị em cùng khóa đã động viên, giúp đỡ tôi

về tinh thần và vật chất để tôi hoàn thành chuyên đề này

Nam Định, ngày … tháng … năm 2022

Học viên

Bùi Thị Diên

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp “Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của hộ sinh cho sản phụ sau sinh tại Bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2022” là kết quả của quá trình tự thực hiện và báo cáo của bản thân dưới sự hướng dẫn của Giảng viên ThS Bùi Thị Khánh Thuận không sao chép bất kỳ chuyên đề tốt nghiệp nào trước đó Chuyên đề tốt nghiệp có tham khảo các tài liệu, giáo trình, thông tin theo danh mục tài liệu tham khảo của làm luận văn tốt nghiệp

Nam Định, ngày … tháng … năm 2022

Học viên

Bùi Thị Diên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG, HÌNH ẢNH vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1 Cơ sở lý luận …3

1.1 Khái niệm và các thuật ngữ liên quan đến GDSK 3

1.2 Những thay đổi của sản phụ sau sinh 5

1.3 Nội dung tư vấn GDSK cho sản phụ sau sinh 6

1.3.1 Theo dõi sự thu hồi tử cung 6

1.3.2 Theo dõi sản dịch 7

1.3.3 Vết khâu tầng sinh môn 8

1.3.4 Sự tiết sữa 8

1.3.5 Chế độ dinh dưỡng: 10

1.3.6 Chế độ nghỉ ngơi: 11

1.3.7 Tình dục sau đẻ: 11

1.3.8 Chế độ vệ sinh: 12

1.3.9 Theo dõi, chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh ngày đầu sau đẻ 12

1.3.10 Những BPTT thích hợp cho phụ nữ sau đẻ 13

1.3.11 Vận động sau đẻ: 13

1.3.12 Chế độ dùng thuốc sau đẻ: 14

1.3.13 Hướng dẫn tự theo dõi bất thường sau đẻ giai đoạn tại nhà: 14

2 Cơ sở thực tiễn 14

2.1 Tình hình GDSK trên Thế giới 14

2.2 Tình hình GDSK tại Việt Nam 15

2.2.1 Các quy định về truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh 15

1.2.2.Tình hình TT - GDSK sinh sản đang được triển khai ở Việt Nam 16

CHƯƠNG 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 19

Trang 6

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 19

2.1.1 Giới thiệu về Bệnh viện Bệnh viện Bắc Thăng Long 19

2.1.2 Giới thiệu về Khoa Sản Bệnh viện Bắc Thăng Long 19

2.2 Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe cho sản phụ sau sinh của hộ sinh tại bệnh viện 21

2.2.1 Thông tin chung về người bệnh tham gia khảo sát 21

2.2.2 Thực trạng công tác GDSK cho sản phụ sau sinh 22

CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN 29

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 29

3.2 Tình hình công tác giáo dục sức khoẻ của hộ sinh cho sản phụ sau sinh tại Bệnh viện Bắc Thăng long 30

3.3 Những ưu điểm và những tồn tại 32

3.3.1 Về ưu điểm 33

3.3.2 Những điểm tồn tại 33

2.3.3 Đề xuất giải pháp khắc phục 34

KẾT LUẬN 34

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Tổ chức y tế thế giới

Tử cung Sản dịch Tầng sinh môn

Kế hoạch hoá gia đình

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, HÌNH ẢNH

Hình 1.3 Tháp cân đối dinh dưỡng (Viện dinh dưỡng quốc gia – Bộ Y

tế)

11

Hình 1.5 Đỡ đẻ da kề da và cho trẻ thực hiện bữa bú đầu tiên ngay sau

sinh

26

Bảng 2.2 Tình hình theo dõi toàn trạng dấu hiệu sinh tồn tại phòng hậu

sản

23

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Mục tiêu của Tổ chức Y tế thế giới cũng như tất

cả các thành viên khác là : Sức khỏe cho mọi người ( Health for People)

Theo WHO, sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và

xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật Có rất nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe con người bao gồm : xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị, môi trường và sinh học Giáo dục sức khỏe được dùng những phương pháp

và kỹ thuật học thích hợp để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người thông qua một loạt quá trình được sử dụng để thay đổi những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe Năm 2011, Bộ Y tế ban hành “ Hướng dẫn công tác Điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” Trong đó, việc tư vấn hướng dẫn giáo dục sức khoẻ là nhiệm vụ đầu tiên trong 12 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh Thông tư nêu rõ bệnh viện cần có qui định rõ ràng và tổ chức các hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khoẻ phù hợp; Người bệnh nằm viện phải được Điều dưỡng viên, hộ sinh viên tư vấn, giáo dục sức khoẻ, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện

và sau khi ra viện [3] Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ y tế cũng có các tiểu mục đánh giá việc hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khoẻ cho người bệnh[16]

Chính vì vậy truyền thông giáo dục sức khỏe là nhiệm vụ số 1 trong 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu mà Đảng, Nhà nước và ngành Y tế luôn coi trọng và khẳng định công tác TT-GDSK là một phần không thể thiếu được trong sự nghiệp bảo

vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Đẩy mạnh hoạt động TT-GDSK là rất cần thiết và

là cách tiếp cận có hiệu quả cho chăm sóc sức khỏe cộng đồng TT-GDSK là hoạt động mang tính xã hội và áp dụng các phương pháp hợp lý để thông tin và gây tác động đến quyết định của mỗi cá nhân và cộng đồng nhắm nâng cao sức khỏe, bao gồm quá trình giúp đỡ, động viên để mọi người hiểu được vấn đề sức khỏe của họ và từ đó lựa chọn được cách giải quyết vấn đề thích hợp TT-GDSK là một quá trình thường xuyên, liên tục và lâu dài và nó tác động đến ba lĩnh vực của đối tượng được TT-GDSK: Kiến thức của đối tượng về vấn đề sức khỏe, thái độ của đối tượng đối với vấn

đề sức khỏe và thực hành hay hành vi ứng xử của đối tượng để giải quyết vấn đề sức

Trang 10

về chăm sóc sinh sản, nhất là trong thời gian ngay sau đẻ và đặc biệt với những sản phụ đẻ lần đầu Thiếu kiến thức về chăm sóc hậu sản cũng như chăm sóc trẻ sau đẻ có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và bé

Vì vậy, chăm sóc sức khỏe sau sinh và cụ thể hơn là công tác giáo dục sức khoẻ cho sản phụ là một vấn đề hết sức quan trọng nhằm hạn chế các tai biến, giảm tỷ lệ tử vong sau đẻ Thực hiện tốt công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe sẽ giúp nâng cao được nhận thức và giảm được tình trạng bệnh tật cho sản phụ và cho trẻ Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện chuyên đề “Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của hộ sinh cho sản phụ sau sinh tại khoa Sản tại Bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2022” với hai mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của hộ sinh cho sản phụ sau sinh tại khoa Sản tại Bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2022

2 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao công tác giáo dục sức khỏe của hộ sinh cho sản phụ sau sinh tại khoa sản tại bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2022

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm và các thuật ngữ liên quan đến GDSK

Giáo dục sức khỏe (GDSK) cũng giống như giáo dục chung, đó là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người Phát triển những thực hành lành mạnh theo ý muốn, mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe Định nghĩa này nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe là:

Kiến thức của con người về sức khỏe

Thái độ của con người về sức khỏe

Thực hành của con người về sức khỏe

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) nêu rõ: Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Mục tiêu của Tổ chức Y tế thế giới cũng như tất cả các thành viên khác là: Sức khỏe cho mọi người (Health for People), mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi tất cả mọi thành viên trong cộng đồng cùng tham gia tích cực vào việc thực hành các hành vi sức khỏe lành mạnh và cải thiện môi trường sức khỏe tốt cho cộng đồng.Với định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới: Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật Từ định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy rằng có rất nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe con người bao gồm: xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị, môi trường và sinh học Giáo dục sức khỏe được dùng những phương pháp và kỹ thuật học thích hợp để bảo vệ

và nâng cao sức khỏe cho mọi người thông qua một loạt quá trình được sử dụng để thay đổi những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe

GDSK không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là quá trình tác động qua lại hai chiều và hợp tác giữa người giáo dục sức khỏe với đối tượng được giáo dục sức khỏe Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự học, quá trình đó diễn ra thông qua sự

nổ lực của người học (đối tượng được giáo dục sức khỏe) với sự giúp đỡ, tạo ra hoàn

Trang 12

cảnh thuận lợi của người dạy Người làm công tác giáo dục sức khỏe không chỉ dạy cho học viên của mình mà còn học từ học viên của mình Thu nhận thông tin phản hồi

là vấn đề hết sức quan trọng mà người làm công tác giáo dục sức khỏe cần phải hết sức coi trọng, để kịp thời điều chỉnh bổ sung những thông tin thiếu sót làm cho các chương trình giáo dục sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng

GDSK không chỉ là cung cấp các thông tin chính xác , đầy đủ về sức khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe con người như: nguồn lực hiện có, môi trường sống, ảnh hưởng môi trường lao động việc làm, yếu tố hổ trợ xã hội, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe Vì thế GDSK sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giúp cho mọi người hiểu được hoàn cảnh riêng của họ và chọn các hành động bảo vệ, tăng cường sức khỏe phù hợp Cũng từ định nghĩa trên cho thấy giáo dục sức khỏe là một quá trình nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không phải là một công việc có thể làm một lần là xong Vì vậy, để thực hiện công tác giáo dục sức khỏe chúng ta phải có sự đầu tư tài lực, vật lực, nhân lực thích đáng, hết sức kiên trì thì mới đem lại hiệu quả cao

Mọi người đều công nhận rằng những vấn đề sức khỏe có nhiều nguyên nhân đa dạng và chúng tương tác lẫn nhau Những nguyên nhân này có thể là những hành vi sức khỏe cá nhân, những điều kiện môi trường, những chính sách y tế không phù hợp , giảm các chương trình y tế hoặc các dịch vụ y tế

Mục tiêu giáo dục sức khỏe, Giáo dục sức khỏe góp phần thực hiện một trong những quyền của con người là quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Mục tiêu cơ bản của giáo dục sức khỏe là giúp cho mọi người:

- Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ

- Hiểu rõ những điều gì họ có thể làm được để giải quyết những vấn đề sức khỏe, bảo

vệ và tăng cường sức khỏe bằng những khả năng của chính họ cũng như sự giúp đỡ từ bên ngoài

- Quyết định những hành động thích hợp nhất để tăng cường cuộc sống khỏe mạnh

Vị trí và tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe

Vị trí và mối liên quan của giáo dục sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

Trang 13

Trong những năm gần đây, vai trò của GDSK ngày càng có vị trí quan trọng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu Chăm sóc sức khỏe ban đầu đáp ứng những nhu cầu sức khỏe thiết yếu của đại đa số nhân dân với giá thành thấp nhất có thể chấp nhận được Thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu là trách nhiệm của các cán bộ y tế, của các cơ sở y tế và cũng là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và cộng đồng Trong nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, truyền thông và giáo dục sức khỏe có vị trí hết sức quan trọng Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu , Giáo dục sức khỏe giữ vị trí quan trọng bậc nhất, bởi vì nó tạo điều kiện để chuẩn bị , thực hiện và củng cố kết quả các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu khác

Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe:

- Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe

- Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người

- Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm tỷ lệ mắc bệnh , tỷ lệ tàn phế và

tỷ vong nhất là ở các nước đang phát triển

- Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế

Truyền thông GDSK

Truyền thông giáo dục sức khoẻ là nội dung đầu tiên trong tám nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu mà Hội nghị Alma - Am đã đề ra năm 1978 và cũng là nội dung đầu tiên trong 10 nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu của Việt Nam, đó là: Giáo đục sức khoẻ nhằm giúp cho mọi người có kiến thức tối thiểu và cơ bản nhất để họ có thể

tự phòng bệnh cho mình, cho gia đình, người thân và cho xã hội; để họ có thể xử trí đúng khi bị ốm đau, bệnh tật và để họ thay đổi những cách nghĩ và nếp sống có hại cho sức khoẻ Với vai trò quan trọng như thế, trong các hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân nhất là tại tuyến y tế cơ sở, công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ được xếp vào Chuẩn 1, Chuẩn quốc gia về y tế theo Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT của

Bộ Y tế Y tế cơ sở có điều kiện gần dân, sát dân, là tuyến đầu trong phòng chống dịch bệnh nên việc củng cố các hoạt động thuyền thông GDSK tại tuyến y tế cơ sở có

ý nghĩa lớn trong công tác chăm sóc và BVSK nhân dân

1.2 Những thay đổi của sản phụ sau sinh

Trong thời kỳ người phụ nữ có thai, các cơ quan sinh dục và vú có những thay đổi để đáp ứng nhu cầu mang thai Sau khi đẻ, ngoại trừ vú vẫn phát triển để tiếp tục tiết sữa, các cơ quan sinh dục khác dần dần trở lại bình thường về giải phẫu và sinh lý

Trang 14

như trước khi có thai Thời kỳ đó gọi là thời kỳ sau đẻ, dài 6 tuần [15], [17]

Trong khoảng thời gian này, có những vấn đề cần theo dõi là sự co hổi tử cung, tiết sản dịch, sự tiết sữa, những thay đổi tổng quát khác và phát hiện nhiễm trùng hậu sản

Ngay sau khi sinh người sản phụ sẽ có những vấn đề lớn sau sinh như các triệu chứng bình thường của sản phụ ngay sau sinh (sản dịch, vết khâu/vết cắt, sữa và việc nuôi con) đặc biệt trong những ngày đầu Theo nhiều nghiên cứu thì tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về thai nghén, hậu sản và nuôi con là khá thấp [11] Do đó hầu hết các bà mẹ gặp vấn đề về việc thay đổi lớn này

Sau khi sinh người phụ nữ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về cơ thể: đau đớn phải trải qua do quá trình sinh con, thậm chí phải mổ đẻ, đau có thể kéo dài một vài tuần sau sinh Những vấn đề về tâm lý như khi con ra đời, người mẹ thường cảm thấy mình trở nên xấu xí và không còn sự hấp dẫn nữa Họ thường phải thay đổi về cách sống để chăm sọc con, đặc biệt đối với những người lần đầu làm mẹ, thường quá lo lắng về trách nhiệm làm mẹ của mình, mong muốn là người mẹ hoàn hảo Có một tỷ lệ khoảng 70-80% các bà mẹ có những cảm giác buồn thoáng qua, còn gọi là “baby blues” - buồn sau sinh, là một trạng thái biến đổi cảm xúc nhẹ, xuất hiện trong vòng mấy ngày đầu sau khi sinh con [8] Những biểu hiện chính của buồn sau sinh gồm: giảm khí sắc, dao động cảm xúc, buồn rầu, ủ rũ, lo âu, dễ cáu gắt, rối loạn giấc ngủ Các rối loạn này kéo dài khoảng 5-10 ngày rồi tự mất đi hoàn toàn Đây là do thay đổi hormon sau sinh Nhưng nếu những biểu hiện này kéo dài hơn hai tuần, bạn đã mắc trầm cảm Ngay sau khi sinh, sự sụt giảm nhanh chóng nồng độ estrogen và progesterone, nồng độ hormon tuyến giáp thyroid cũng giảm, dẫn đến mệt mỏi, trầm cảm Suy giảm nồng độ hormon cùng với sự thay đổi về huyết áp, chức năng của hệ miễn dịch và những biến đổi về chuyển hóa mà bà mẹ sau sinh phải trải qua là một phần trong căn nguyên gây trầm cảm

Do đó sản phụ cần được tư vấn giải thích những vấn đề liên quan đến chăm sóc sau sinh, cách nuôi con bằng sữa mẹ, cũng như giải thích các vấn đề mà sản phụ còn lo lắng

1.3 Nội dung tư vấn GDSK cho sản phụ sau sinh

1.3.1 Theo dõi sự thu hồi tử cung

Có thể theo dõi sự co hồi TC hàng ngày bằng cách đo chiều cao TC, tính từ khớp

Trang 15

mu tới đáy TC Sau khi đẻ TC cao khoảng 13 - 15cm, ở dưới rốn 2 khoát ngón tay Mỗi ngày chiều cao TC thu lại 1 cm và đến ngày thứ 12- 13 thì không nắn thấy TC trên khớp mu nữa

Vì trong TC có nhiều máu cục và sản dịch nên thỉnh thoảng TC có cơn co bóp mạnh để tống máu cục và sản dịch ra ngoài, những cơn co bóp mạnh này làm thai phụ thấy đau, nên gọi là cơn đau TC

Hiện tượng co bóp TC thường xảy ra trong những ngày đầu sau đẻ, mức độ đau

ít nhiều tùy theo cảm giác của từng người, nhưng thường đẻ càng nhiều lần càng đau,

vì TC càng cần phải co bóp mạnh hơn những lần đẻ trước để đẩy máu cục và sản dịch

TC và âm đạo bị thoái hoá và bong ra

Tính chất: trong 3 ngày đầu, SD gồm toàn máu loãng và máu cục nhỏ nên có

Trang 16

màu đỏ sẫm Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 8, SD loãng hơn, chỉ còn là một chất nhầy lẫn ít máu nên có màu lờ lờ máu cá Từ ngày thứ 9 trở đi, SD không có máu, chỉ là một dịch trong

Mùi: SD có mùi tanh nồng, độ pH kiềm Nếu bị nhiễm khuẩn, SD sẽ có mùi hôi,

1.3.3 Vết khâu tầng sinh môn

Nếu tầng sinh môn bị rách hay cắt khi sinh thì có thể khâu lại Vết khâu tầng sinh môn cần được kiểm tra (xem có bị sưng nề, bầm tím, đỏ, đau nhiều, có tụ máu âm

hộ, âm đạo, chân chỉ có mủ ) và sát khuẩn 3 lần mỗi ngày bằng thuốc sát trùng, sản phụ nên tự rửa sau khi tiểu tiện, thay băng vệ sinh sạch nhiều lần trong ngày, tránh tình trạng ẩm ướt kéo dài, vết khâu tầng sinh môn sẽ chậm liền và dễ nhiễm trùng, tập đi tiểu, ngồi dậy đi lại, tránh bị táo bón Kháng sinh thường được bác sỹ cho sử dụng trong 5 ngày Nếu vết khâu tầng sinh môn tốt và lớp da khâu bằng chỉ không tiêu thì thường sẽ được cắt chỉ vào ngày thứ 5 sau sinh [15],[18]

Những sản phụ sinh mổ hay sinh thường có cắt TSM thì phải giữ vệ sinh để tránh viêm nhiễm, đặc biệt phải thường xuyên vệ sinh, lau khô để tránh nhiễm trùng Nếu xuất hiện hiện tượng sung tấy, rỉ máu phải đi thăm khám bác sỹ [15]

1.3.4 Sự tiết sữa

- Cơ chế sinh lý bài tiết sữa

Sữa mẹ là chất dinh dưỡng để người mẹ nuôi con sau khi sinh Sữa mẹ được các

tế bào tuyến vú tiết ra ngay từ khi người mẹ thụ thai dưới tác động của các nội tiết tố

và được tích luỹ trong các xoang sữa

Sữa còn được bài tiết theo cơ chế phản xạ: Khi trẻ bú sẽ kích thích lên núm vú tạo ra các xung động thần kinh đi từ núm vú truyền lên não bộ của người mẹ kích thích vào tuyến yên Những xung động thần kinh này kích thích tuyến yên sản xuất ra Prolactin

và Oxytoxin

Trang 17

Prolactin là nội tiết tố của thuỳ trước tuyến yên, được sản xuất vào ban đêm Đến tuyến vú, Prolactin kích thích các tế bào của tuyến vú tiết ra sữa Sữa tiết ra được chứa trong hệ thống các xoang và ống sữa

Trong khi đó, Oxytoxin cũng là một nội tiết tố tiết ra từ thuỳ sau tuyến yên có tác dụng làm co các cơ xung quanh tế bào bài tiết sữa để đẩy sữa từ các nang sữa vào ống dẫn sữa và tập chung ở các xoang sữa

Khi trẻ bú tạo ra áp lực âm ở trong khoang miệng, khi đó sữa từ các khoang chứa chẩy theo ống sữa ra núm vú và chẩy vào khoang miệng của trẻ Hiện tượng trẻ bú sữa là một phản xạ tự nhiên mang tính bẩm sinh di truyền

Việc trẻ bú mẹ có vai trò hết sức quan trọng cho việc duy trì sự tiết sữa của người mẹ Nếu người mẹ không cho con bú có thể mất sữa sau khi sinh trong một thời gian ngắn[1], [5], [9], [21]

- Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ:

Các nghiên cứu về sữa mẹ đều khẳng định rằng sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo đối với trẻ nhỏ Sữa mẹ vừa dễ hấp thu lại dễ tiêu hoá Mặt khác sữa mẹ chứa nhiều các chất miễn dịch giúp trẻ bú mẹ có sức đề kháng với một số bệnh trong thời gian đầu đời nhất là trong vòng 6 tháng đầu

Tất cả các thành phần có trong sữa mẹ đều không gây dị ứng cho trẻ vì vậy bú

mẹ là sự đảm bảo an toàn cho trẻ tránh được các tác nhân có thể gây dị ứng qua đường tiêu hoá

Dưới góc độ tâm lý, trẻ bú mẹ sẽ tạo được mối quan hệ gần gũi yêu thương của người mẹ với con, hình thành tình mẫu tử Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng tình mẫu

tử hình thành sớm có thể giúp người mẹ tránh được các rối loạn tâm lý sau sinh như trầm cảm, lo âu

Trên phương diện kế hoạch hoá gia đình NCBSM còn là một BPTT hữu hiệu: Trong thời gian cho trẻ bú, cơ thể người mẹ sẩy ra hiện tượng ức chế sự rụng trứng như vậy giảm nguy cơ có thai ngoài ý muốn sớm[21]

- Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ:

- Cho bú sớm sau sinh trong vòng 1 giờ sau đẻ để tận dụng nguồn sữa non [9]

- Cho con bú đúng tư thế

- Chế độ ăn uống và sử dụng thuốc khi cho con bú: Ăn đủ 4 thành phần như ô vuông thức ăn, hợp khẩu vị, luôn thay đổi để không bị chán, cần uống nhiều nước để

Trang 18

tiết sữa tốt Khi sử dụng thuốc cần đúng chỉ định của thầy thuốc

- Cho trẻ bú theo yêu cầu

- Cai sữa khi trẻ 24 tháng trở lên, không được cai sữa khi trẻ đang ốm, khi trời rét quá hoặc nóng quá Trong trường hợp cần cai sớm thì cũng chỉ nên cai sữa khi trẻ tối thiểu 12 tháng [9]

- Trong vòng 6 tháng đầu cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ, không cho trẻ ăn thêm thức ăn khác, không cần cho trẻ uống nước

- Vệ sinh núm vú trước và sau khi con bú

Hình 1.2 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

- Sản phụ nên cho con bú sữa mẹ sớm ngay sau sinh nếu không có chống chỉ định của bác sỹ vì sữa mẹ kinh tế hơn, tiện dụng, dễ bảo quản, cho con bú sẽ thắt chặt tình cảm mẹ con, giúp tử cung co hồi tốt hơn trong thời kỳ hậu sản, có thể phòng thiếu máu, mẹ chậm có kinh lại 8 tháng sau sinh, có thể ngừa thai được 6 tháng đầu sau sinh, giảm nguy cơ ung thư vú ở mẹ Trước và sau mỗi lần cho bú nên làm vệ sinh vú sạch

sẽ bằng nước ấm [1], [5]

1.3.5 Chế độ dinh dưỡng:

Sau khi sinh, các bà mẹ thường bị mất máu nhiều nên cần được bồi dưỡng, ăn những thực phẩm giàu dinh dưỡng Sản phụ không cần phải kiêng khem bất cứ thứ gì, nhưng nên ăn thức ăn dễ tiêu, tránh ăn nhiều các gia vị như ớt, hạt tiêu…, không uống bia rượu vì sẽ ảnh hưởng đến tiết sữa, hạn chế đồ lạnh, hải sản đông lạnh trong 6 tuần

Trang 19

đầu sau sinh Để có đủ sữa, ngoài việc tích cực cho con bú, các bà mẹ nên uống đủ 3 lít nước mỗi ngày (nước lọc, nước đậu nành, nước hoa qủa…)[3]

Hình 1.3: Tháp cân đối dinh dưỡng (Viện dinh dưỡng quốc gia - Bô Y tế)

1.3.6 Chế độ nghỉ ngơi:

Do bị tổn thất nhiều năng lượng nên việc nghỉ ngơi sau sinh ở phụ nữ đóng vai trò quan trọng, tốt cả cho sức khỏe thể chất lẫn tinh thần, nhất là những bà mẹ trẻ sinh con lần đầu Trong thời gian nghỉ ngơi, được mọi người quan tâm hỏi thăm là liệu pháp tinh thần tốt, giúp sản phụ khỏe và hồi phục nhanh

Phụ nữ sau sinh phải được nghỉ lao động trong vòng từ 4-6 tháng để lấy lại sức, đồng thời có thời gian và sức khỏe để chăm sóc con Mỗi ngày được ngủ ít nhất 7-8 giờ

Trang 20

Cần kiêng quan hệ tình dục một thời gian tối thiểu từ 3-6 tuần sau đẻ Sau khi thực hiện những điều kiện thận trọng nói trên thì chuyện quan hệ tình dục trở lại là chuyện khi nào hai vợ chồng muốn Nên quan hệ tình dục sau sinh từ 7 đến 8 tuần và áp dụng biện pháp tránh thai phù hợp [11]

1.3.8 Chế độ vệ sinh:

- Vệ sinh thân thể: Phụ nữ sau khi sinh không nên kiêng tắm, vệ sinh thân thể sớm sẽ làm sạch các tế bào chết trên da, giúp da sang khỏe tránh viêm nhiễm Nên tắm bằng nước ấm, trong phòng kín gió [15], [11]

- Trong giai đoạn có sản dịch người phụ nữ cần rửa bộ phận sinh dục và thay khố ngày 3-4 lần Sau khi sạch sản dịch chế độ vệ sinh bộ phận sinh dục ngo

1.3.9 Theo dõi, chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh ngày đầu sau đẻ [2]

- Theo dõi, chăm sóc 2 giờ đầu

* Cho mẹ: Sản phụ vẫn nằm ở phòng đẻ Nếu mẹ và con đều bình thường, vẫn để cho con nằm tiếp xúc da kề da trên bụng mẹ và hướng dẫn bà mẹ cách cho con bú

Theo dõi: Thể trạng, mạch, huyết áp, co hồi TC, ra máu tại các thời điểm 15phút/ lần/

2 giờ đầu

* Cho con: Nằm tiếp xúc da kề da với mẹ, cho con bú ngay trên bụng mẹ

Theo dõi: - Tình trạng thở, trương lực cơ, màu sắc da, nhịp tim

- Toàn trạng: thân nhiệt, tiêu hóa: 15-20 phút/ lần/2 giờ đầu

- Theo dõi, chăm sóc từ giờ thứ 3 đến hết ngày đầu:

* Cho mẹ: Đưa mẹ và con về phòng

- Theo dõi thể trạng, mạch, huyết áp, co hồi TC, ra máu 1 giờ/lần

- Hướng dẫn mẹ cho con bú sớm và đúng cách

- Hướng dẫn mẹ cách chăm sóc con, theo dõi chảy máu rốn

- Hướng dẫn mẹ và gia đình (bố) biết chăm sóc, phát hiện các dấu hiệu bất thường và báo ngay nhân viên y tế khi mẹ chảy máu nhiều, đau bụng tăng, nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt…

Theo dõi từ giờ thứ 7: Toàn trạng, co hồi TC (rắn tròn), băng vệ sinh (kiểm tra lượng máu mất)

* Cho con: Luôn để con nằm cạnh mẹ, chú ý giữ ấm cho trẻ

Theo dõi trẻ 1 giờ/1 lần

Trang 21

- Hướng dẫn bà mẹ nhận biết dấu hiệu bất thường của con: trẻ bỏ bú, không thở, tím tái, chảy máu rốn…

Theo dõi từ giờ thứ 7: Theo dõi trẻ 6 giờ/lần Toàn trạng: thở (có khó thở?), màu sắc

da (có tím tái? có vàng không? sờ có lạnh không?), rốn (có chảy máu?), tiêu hóa, bú mẹ: có bú mẹ được không? đã ỉa phân su chưa?)

1.3.11 Vận động sau đẻ:

- Sau đẻ, cho sản phụ nằm nghỉ tại giường 6-8 giờ, nhưng có thể co duỗi chân tay, trở mình Sau 12 giờ cho sản phụ ngồi dậy, đi lại quanh giường Nên tập thể dục nhẹ nhàng để tránh táo bón, giúp ăn ngon và làm cho các cơ thành bụng chóng hồi phục trở lại bình thường Một tuần lễ sau đẻ có thể làm những việc nhẹ nhàng

- Cần tránh lao động nặng, đặc biệt là gánh gồng, mang xách nặng trong thời kỳ hậu sản để khỏi gây ra sa sinh dục [1], [3], [5]

- Ra khỏi giường vận động sớm có thể thúc đẩy sự hồi phục của cơ thể, đồng thời

có lợi cho việc co bóp trở về vị trí cũ của tử cung, đưa sản dịch thoát ra ngoài, làm giảm khả năng bị nhiễm khuẩn và còn có thể làm giảm khả năng mắc các bệnh tật trong thời kỳ sau đẻ, làm cho bàng quang phục hồi chức năng tốt, tránh nhiễm khuẩn tiết niệu, gia tăng công năng đường ruột, tăng cảm giác muốn ăn, tránh táo bón

- Vận động sớm sau khi mổ có thể giảm bớt nguy cơ dính ruột, nhưng khi mới vận động không nên vận động quá lâu để tránh bị mệt, vận động tăng dần theo thời gian Thời gian bắt đầu ra khỏi giường và vận động có sự khác nhau tùy tình trạng cơ thể của mỗi người Với những người mẹ thể chất yếu hay đẻ khó phải mổ thì không nên cố gắng vận động sớm

- Những bài tập này sẽ giúp co khít cơ niệu đạo, cơ âm đạo, tránh bị són tiểu sau này, trường hợp bị táo bón có thể chườm ấm, tắm nước ấm, massage vùng xương mu, massage vùng bụng theo chiều kim đồng hồ

Trang 22

1.3.12 Chế độ dùng thuốc sau đẻ:

Khi cần phải sử dụng thuốc phải được sự chỉ định của thầy thuốc

1.3.13 Hướng dẫn tự theo dõi bất thường sau đẻ giai đoạn tại nhà:

Khi có các dấu hiệu sau phải đến cơ sở y tế khám ngay:

- Đau bụng, ra máu nhiều, sốt, đau tức vú, hoa mắt chóng mặt, đau đầu, tiểu ít…

- Tình trạng sức khỏe con: quấy khóc, bỏ bú, vàng da, nôn trớ…

- Uống vắc xin bại liệt lần 1

3 03 tháng - Tiêm vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván - VGB - Hib mũi 2

- Uống vắc xin bại liệt lần 2

4 04 tháng - Tiêm vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván - VGB - Hib mũi 3

- Uống vắc xin bại liệt lần 3

5 09 tháng - Tiêm vắc xin sởi mũi 1

6 18 tháng - Tiêm vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván mũi 4

- Tiêm vắc xin sởi - rubella (MR)

tháng tuổi

- Vắc xin Viêm não Nhật Bản mũi 1

- Vắc xin Viêm não Nhật Bản mũi 2 (hai tuần sau mũi 1)

- Vắc xin Viêm não Nhật Bản mũi 3 (một năm sau mũi 2)

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Tình hình GDSK trên Thế giới

Trên thế giới, TTGDSK đã được xem là có vai trò quan trọng trong CSSK Năm

1978, tại Alma-Ata, thủ đô nước cộng hòa Kazakhstan, Tổ chức Y tế Thế giới phối

Trang 23

hợp với Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc tổ chức hội nghị Quốc tế về CSSKBĐ Hội nghị đã đề ra chiến lược “Sức khỏe cho mọi người đến năm 2000” Và để thực hiện các mục tiêu của chiến lược, hội nghị đã đề ra 8 nội dung CSSKBĐ, trong đó TTGDSK được xếp ở vị trí số một [28]

GDSK tại Đài Loan tập trung vào nhiều chủ đề, không giới hạn như: GDSK cho học sinh để tăng cường sức khỏe, giúp các bậc phụ huynh có thông tin dạy học sinh hiểu được các bệnh cụ thể và kiến thức y tế cơ bản

Heinig MJ, Dewey KG nghiên cứu tại Hoa Kỳ năm 2004 về những ảnh hưởng của việc cho bú đối với cơ thể bà mẹ cho thấy: cho bú có tác dụng tốt với bà mẹ cả trong thời kỳ hậu sản và giai đoạn sau Cho bú trong thời kỳ hậu sản thúc đẩy sự trở lại bình thường nhanh chóng của tử cung liên quan đến tác dụng của Oxytocin Cho bú còn dẫn đến sự trở lại nhanh hơn của trọng lượng cơ thể sau khi mang thai Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy có mối liên quan giữa cho bú và giảm béo phì Cho bú cũng ảnh hưởng đến chuyển hóa Glucid và Lipid Mặc dù hiệu quả lâu dài chưa được biết đến, nhưng cho bú có thể ngăn ngừa sự phát triển tiếp theo của bệnh tiểu đường và bệnh tim Cho bú trì hoãn sự trở lại của hiện tượng rụng trứng và giúp bà mẹ tránh thai nếu cho bú vô kinh [30]

Trên thế giới, mặc dù lợi ích của việc cho trẻ bú sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh đã được chứng minh nhưng tỷ lệ trẻ được bú sớm rất khác nhau ở các nước

Ví dụ: Phần Lan 77%, Thụy Sĩ 67%, Ba Lan 65%, Anh 46%, Colombia 49%, ấn Độ 16%, Indonesia 8% Ở châu Á, hơn 80% số trẻ sơ sinh không được bú sữa mẹ trong vòng 24h đầu sau đẻ [29],[30],[31]

2.2 Tình hình GDSK tại Việt Nam

2.2.1 Các quy định về truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh

- Quyết định 4858 QĐ-BYT ngày 03/12/2013 về bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện Trong 83 tiêu chí thì có 13 tiêu chí liên quan đến tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh [6]

- Thông tư 07/2014/TT-BYT ngày 25/02/2014 của Bộ Y tế quy định về quy tắc ứng

xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế Thông tư quy định: Tư vấn giáo dục sức khỏe là hướng dẫn người bệnh hoặc người đại diện hợp pháp của người bệnh thực hiện chế đồ điều trị và chăm sóc

- Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn công tác

Trang 24

điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện đã xác định nhiệm vụ chăm sóc người bệnh toàn diện là: “Lấy người bệnh làm trung tâm, đáp ứng các nhu cầu điều trị, sinh hoạt hàng ngày, nhằm đảm bảo an toàn, chất lượng và hài lòng của người bệnh” Với 12 nội dung chăm sóc toàn diện được quy định trong thông tư thì nội dung đầu tiên là tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe Chính vì vậy giáo dục sức khỏe cho người bệnh là nhiệm vụ của mỗi cán bộ y tế cần phải rèn luyện đểthực hiện tốt kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh và gia đình người bệnh [3]

- Theo quyết định số 1352/QĐ-BYT ngày 21/4/2012 của Bô Y tế về chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam có 25 tiêu chuẩn thì tiêu chuẩn 14 đã chỉ rõ điều dưỡng phải có năng lực xác định nhu cầu và tổ chức hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho

cá nhân, gia đình và cộng đồng

1.2.2 Tình hình TT – GDSK đang được triển khai ở Việt Nam

Ở nước ta nhận thức được vai tò quan trọng của TT-GDSK trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế rất quan tâm đến hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị đã khẳng định công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sức khỏe là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là giải pháp chủ yếu để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Truyền thông giáo dục sức khỏe góp phần tích cực trong tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về y tế, trang thiết bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại với sức khỏe, phòng chống dịch bệnh và tham gia hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng, góp phần tại ra sự bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe

Truyền thông GDSK là hoạt động không thể thiếu được trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Hiện nay ở nước ta hệ thống TT-GDSK đã được hình thành từ tuyến cơ sở đến tuyến trung ương Trong những năm qua, công tác TT-GDSK có nhiều cố gắng trong việc tuyên truyền bảo vệ sức khỏe nhân dân

TT-GDSK cho sản phụ ở Việt Nam đã đưa vào chương trình mục tiêu quốc gia

về Chăm sóc sức khỏe sinh sản tuyên truyền GDSK dưới nhiều hình thức như truyền thông gián tiếp được triển khai rộng khắp tại các tỉnh/thành phố thông qua các kênh truyền thông khá phổ biến như phát thanh, truyền hình; truyền thanh qua hệ thống loa

Ngày đăng: 15/02/2023, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Y tế (2001), Quyết định của bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành qui định nhiệm vụ kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các cơ sở y tế, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành qui định nhiệm vụ kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các cơ sở y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2001
5. Bộ Y tế(2008), Điều dưỡng Sản phụ khoa, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng Sản phụ khoa
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
6. Bộ Y tế(2016), Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2016
7. Bộ Y tế và Liên hợp quốc tại Việt Nam (2011), “Đánh giá người đỡ đẻ có kỹ năng ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá người đỡ đẻ có kỹ năng ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế và Liên hợp quốc tại Việt Nam
Năm: 2011
8. Bộ Y tế và Quỹ dân số Liên hợp quốc (2011), Báo cáo rà soát thực hiện can thiệp về làm mẹ an toàn, tập trung vào cấp cứu sản khoa và chăm sóc sơ sinh giai đoạn 2006-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát thực hiện can thiệp về làm mẹ an toàn, tập trung vào cấp cứu sản khoa và chăm sóc sơ sinh giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Bộ Y tế, Quỹ dân số Liên hợp quốc
Năm: 2011
9. Bộ Y tế - Số 4637/QĐ-BYT-2014: Quyết định về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2014
10. Đại học Y Hà Nội (2015), Giáo trình Bệnh viện học Sản phụ khoa. NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bệnh viện học Sản phụ khoa
Tác giả: Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2015
11. Phạm Văn Linh và Cao Ngọc Thành (2007), Sản phụ khoa, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phụ khoa
Tác giả: Phạm Văn Linh, Cao Ngọc Thành
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
12. Đại học điều dưỡng Nam Định, Giáo trình Giáo dục sức khỏe (2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục sức khỏe
Tác giả: Đại học điều dưỡng Nam Định
Năm: 2013
13. Bộ Y Tế (2012), “Kế hoạch hành động quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản tập trung vào làm mẹ an toàn và chăm sóc sơ sinh tại Việt Nam 2011 – 2015”, Hà Nội, tr.45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản tập trung vào làm mẹ an toàn và chăm sóc sơ sinh tại Việt Nam 2011 – 2015
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2012
14. Bộ Y Tế (2016), “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2016
15. ĐH Điều dưỡng Nam Định (2012), “Chăm sóc bà mẹ sau đẻ và trẻ sơ sinh” Tài liệu đào tạo hộ sinh đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc bà mẹ sau đẻ và trẻ sơ sinh
Tác giả: ĐH Điều dưỡng Nam Định
Nhà XB: Tài liệu đào tạo hộ sinh đại học
Năm: 2012
16. Bộ Y Tế (2016), Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Bộ Y Tế
Năm: 2016
17. Điều dưỡng sản phụ khoa, “Chăm sóc sản phụ trong thời kì hậu sản trang 256”, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng sản phụ khoa
Nhà XB: NXB Y học
18. Dương Thị Cương (2006), “Hậu sản thường và bệnh lý”, Sản khoa hình minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu sản thường và bệnh lý
Tác giả: Dương Thị Cương
Nhà XB: Sản khoa hình minh
Năm: 2006
19. Bộ Y Tế (2017) Lịch tiêm chủng cho trẻ em ban hành theo Thông tư số 38/2017/TT-BYT ngày 17/10/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch tiêm chủng cho trẻ em ban hành theo Thông tư số 38/2017/TT-BYT ngày 17/10/2017
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Bộ Y Tế
Năm: 2017
20. Phan Trường Duyệt (2010), “Phòng chống 5 tai biến sản khoa”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống 5 tai biến sản khoa
Tác giả: Phan Trường Duyệt
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
21. ĐH Điều dưỡng Nam Định, Điều dưỡng Nhi Khoa ( 2012- 2013), Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng Nhi Khoa
Tác giả: ĐH Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2012-2013
22. Lê Thị Hoàng Uyên (2016), Tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đến 6 tháng và các yếu tố liên quan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đến 6 tháng và các yếu tố liên quan
Tác giả: Lê Thị Hoàng Uyên
Năm: 2016
26. Bùi Minh Tiến (2021) Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chăm sóc sau sinh của bà mẹ sinh con lần đầu tại bệnh viện Phụ sản Thái Bình.* TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chăm sóc sau sinh của bà mẹ sinh con lần đầu tại bệnh viện Phụ sản Thái Bình
Tác giả: Bùi Minh Tiến
Năm: 2021

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w