Tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ thì đã có khá nhiều cóng trình, nhưng nghiên cứu về ảnh hưởng của PNTR tới quan hệ này thì chưa nhiều; một trong n
Trang 1TRƯỜNG ĐAI HỌC NGOẠI THÍ/; ?NG
sã KINH 11 m KINH ĨXIANƯ (ti ốc tlí
Trang 2T H Ư V Ì Ì N Ì
HGOA I J : MO'
Ly.oĩ?Õ3
Hà Nội - Tháng 11/2007 ị 100^ ì
Trang 4MỤC LỤC LỜI M Ở Đ Ầ U Ì
C H Ư Ơ N G ì: M Ộ T số V Ấ N Đ Ể L Ý L U Ậ N V Ề QUY C H Ê T H Ư Ơ N G
MẠI BÌNH T H Ư Ờ N G VĨNH VIỄN V À Ả N H H Ư Ở N G C Ủ A N Ó TỚI
QUAN H Ệ T H Ư Ơ N G MẠI SONG P H Ư Ơ N G 3
ì MỘT SỐ NỘI DUNG c ơ BẢN VỀ QUY CHẾ T H Ư Ơ N G MẠI BÌNH
T H Ư Ờ N G VĨNH VIỄN 3
1 Khái niễm Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn 3
2 Những nội dung cơ bản của Quy chế thương mại bình thường vĩnh
viễn 5
2.1 Quá trình phê chuẩn Quy chếthương mại bình thường vĩnh viễn 5
2.2 Nội dung chính của Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn 7
li TÍNH TẤT Y Ế U C Ủ A VIỆC PHÊ CHUẨN QUY C H Ế T H Ư Ơ N G MẠI
BÌNH T H Ư Ờ N G VĨNH VIỄN GIỮA HOA K Ỳ V À VIỆT N A M 13
1 Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiễn nay 13
2 Quan điểm và nguyên tắc của Hoa Kỳ và Viễt Nam về quan hễ thương
mại giữa hai nước 15
2.1 Quan điểm và nguyên tắc của Hoa Kỳ trong quan hệ thương mại với Việt
Nam 15
2.2 Quan điềm và nguyên tắc của Việt Nam trong quan hệ thương mại với
Hoa
Kỳ 18
3 Lợi ích của Viễt Nam và Hoa Kỳ khi Quy chế thương mại bình thường
IU MỘT SỐ TIÊU CHÍ Đ Á N H GIÁ ẢNH H Ư Ở N G C Ủ A QUY C H Ế
T H Ư Ơ N G MẠI BÌNH T H Ư Ờ N G VĨNH VIỄN TỚI QUAN HỆ T H Ư Ơ N G
Trang 5MẠI SONG P H Ư Ơ N G V À KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC SAU
1. Một số tiêu chí đánh giá ảnh hưởng của Quy chế thương mại bình
thường vĩnh viễn tới quan hệ thương mại song phương 24
2 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong quan hệ thương mại vói Hoa kỳ từ
sau khi có Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn 25
2.1 Những kinh nghiệm Trung Quốc tận dụng cơ hội do Quy chế thương mại
bình thưởng vĩnh viễn mang lại 25
2.2 Những kinh nghiệm của Trung Quốc khi đối diện với những thách thức,
khó khăn sau Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn 28
C H Ư Ơ N G n: T Á C Đ Ớ N G CỦA QUY C H Ế T H Ư Ơ N G MẠI BÌNH
T H Ư Ờ N G VĨNH VIỄN Đ ố i VỚI QUAN H Ệ T H Ư Ơ N G MẠI VIỆT
NAM - HOA K Ỳ 32
ì KHÁI Q U Á T VỀ QUAN HỆ T H Ư Ơ N G MẠI VIỆT NAM - HOA K Ỳ T Ừ
1.Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã có nhiều chuyển biến từ
ảnh hưởng của Hiệp định Thương mại song phương (BTA) 32
2 Một vài nhận định về quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ giai
đoạn trước khi có Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn 38
li THỰC TRẠNG V À D ự B Á O ẢNH H Ư Ở N G CỦA QUY CHẾ T H Ư Ơ N G
MẠI BÌNH T H Ư Ờ N G VĨNH VIỄN ĐẾN QUAN HỆ T H Ư Ơ N G MẠI VIỆT
NAM-HOA K Ỳ 41
1 Thực trạng ảnh hưởng của Quy chế thương mại bình thường vĩnh
viễn đến quan hệ thương mại hai nước 41
LI Quy chế thương mại bình thưởng vĩnh viễn đã có ảnh hưởng tích cực tới
quan hệ thương mại hai nước 41
Trang 61.2 Những khó khăn và thách thức đặt ra với quan hệ thương mại Việt Nam
-Hoa kỳ sau Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn 49
2 Dự báo về ảnh hưởng của Quy chê thương mại bình thường vĩnh viễn
đến quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ trong thời gian tới 59
2 ỉ Khá năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng
mạnh sau PNTR 60
nhịp hơn 61 2.3 Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ về hàng hoa dịch vụ cũng sẽ
phát triền mạnh 64
C H Ư Ơ N G m: M Ộ T số Ý KIÊN V Ề VIỆC P H Á T TRIỂN QUAN H Ệ
T H Ư Ơ N G M Ạ I VIỆT N A M - HOA K Ỳ T R Ê N cơ SỞ QUY C H Ế
T H Ư Ơ N G MẠI BÌNH T H Ư ấ N G VĨNH VIỄN TRONG THấI GIAN
TỚI 66
ì MỘT SỐ VẤN Đ Ề ĐẶT RA TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM - HOA KỲ SAU QUY CHẾ THƯƠNG MẠI BÌNH THƯỜNG VĨNH
VIỄN 66
1 Vấn đề hoàn thiện nhận thức và hành động của cả hai bên Việt Nam
-Hoa Kỳ để tận dụng cơ hội mà PNTR mang lại 66
2 Tiếp tục hoàn thiện môi trường thương mại giữa hai nước sau PNTR.68
3 Tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, tăng
cường tiếp xúc để xúc tiến các cơ hội mới cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ
trong quan hệ thương mại giữa hai nước 69
li QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM - HOA KỲ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA QUY CHẾ THƯƠNG MẠI
BÌNH THƯỜNG VĨNH VIỄN 71
Trang 71 Quan điểm của Việt Nam về đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế 71
2. Định hướng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ sau
Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn 72
HI C Á C GIẢI PHÁP C ơ B Ả N N H Ằ M THỨC Đ A Y QUAN H ả T H Ư Ơ N G
M Ạ I VIảT N A M - HOA K Ỳ 82
1 Giải pháp đối vói các doanh nghiệp 82
2 Giải pháp phát triển của một số ngành nước ta trong quá trình đẩy
mạnh quan hệ thương mại với Hoa Kỳ 85
2.1 Ngành dệt may 85 2.2 Ngành thúy sản 88
3 Giải pháp của Nhà nước để đẩy mạnh phát triển quan hệ thương mại
92
Trang 8NHỮNG C H Ữ VIẾT T Ắ T TRONG KHOA L U Ậ N
APEC Asia - Pacifíc Economic
Hiệp hội các quôc gia Đông Nam A
BTA Bilateral Trade Agreement Hiệp định thương mại song phương
GATT General Agreement ôn Tariffs
and Trade
Hiệp ước chung vê thuê quan và
mậu dịch
NTR Normal Trade Relation Quy chế thương mại bình thường
PNTR Permanent Normal Trade
TNC Transnational company Công ty xuyên quôc gia
WTO World Trade Organization Tố chức thương mại thế giới
Trang 9L Ờ I M Ở Đ Ẩ U
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Toàn cầu hoa kinh tế đã trở thành xu thế tất yếu của thòi đại Phù hợp với xu thế này, Việt Nam đã và đang tham gia tích cực và hiệu quả vào các tổ chức thương mại quốc tế và khu vực Gần đây, việc trở thành viên của Tổ chức thương mại thế giới và ký kết Quy chế thương mại bình thưững vĩnh viễn với Hoa Kỳ là những sự kiện quan trọng và thành tựu đáng ghi nhận trong quan hệ thương mại của Việt Nam vái thế giói
Quy chế PNTR giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ký kết ngày 20/12/2006 là bước ngoặt rất lớn để hai nước bình thưững hoa hoàn toàn quan hệ Đây là cơ
sở để phát triển quan hệ thương mại và là cơ hội làm ăn của các doanh nghiệp hai nước Với Việt Nam, việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng trở nên trọn vẹn hơn khi có dược PNTR Việt Nam sẽ tận dụng cơ hội này như thế nào để ngày càng trở thành môi trưững đấu tư hấp dẫn, đối tác tin cậy với các nước trong đó có Hoa Kỳ? Làm thế nào để Việt Nam chủ động, tích cực và hiệu quả hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế; và cụ thể hơn, mau chóng thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và
"làm thuê" ? Đây cũng là một trong những lý dò dể em lựa chọn đề tài này
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ thì đã có khá nhiều cóng trình, nhưng nghiên cứu về ảnh hưởng của PNTR tới quan hệ này thì chưa nhiều; một trong những lí do là tính từ thữi điểm Hoa Kỳ ký kết (12
- 2006) đến nay, Việt Nam mới chỉ được hưởng PNTR chưa đầy một năm Khoa luận này là một trong những tìm tòi đầu tiên để góp phần nhận thức hiện tượng mới mẻ này
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 10Khoa luận này sẽ phân tích, đánh giá ảnh hưởng của PNTR tới quan hệ thương mại Việt N a m - Hoa Kỳ, chỉ ra hiện trạng và vấn đề đặt ra đồng thời cũng dưa ra một số ý kiến để góp phần thúc đọy quan hệ này trong then gian
tới
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đ ề tài tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của PNTR tói quan hệ thương mại Việt N a m - Hoa Kỳ thời gian từ 12 - 2006 đến nay và triển vọng ảnh hưởng của nó trong những năm tới
Tuy tên dề tài là "Ảnh hưởng của Quy chế thương m ạ i bình thường vĩnh viễn (PNTR) đến quan hệ thương mại Việt - Mỹ", nhưng trong các văn bản chính thống hiện nay không dùng khái niệm Việt - M ỹ nữa m à là Việt Nam - Hoa Kỳ Vì vậy, trong nội dung luận văn, em x i n dược sử dụng thuật ngữ Việt Nam - Hoa K ỳ thay cho cụm từ " Việt - M ỹ " trong tên khoa luận
5 Phương pháp nghiên cứu
Đ ề tài được tiếp cận và phàn tích theo phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích tổng hợp và phương pháp thống kề, so sánh
6 K ế t cấu: Ngoài Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, khoa luận
gồm L ờ i nói đầu, N ộ i dung và Kết luận với 98 trang; phần N ộ i dung có 3 chương:
Chương ì: M ộ t số vấn đề lý luận về Quy chế thương mại bình thường vĩnh
viễn và ảnh hưởng của nó tới quan hệ thương mại song phương
Chương É: Tác động của Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn đối với quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Chương in: M ộ t số ý kiến về việc phát triển quan hệ thương mại Việt N a m
- Hoa Kỳ trên cơ sở Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn trong thời gian tới
Trang 11NỘI DUNG Chương ì
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ QUY CHÊ T H Ư Ơ N G MẠI BÌNH THƯỜNG VĨNH VIỄN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA N Ó TỚI QUAN HỆ T H Ư Ơ N G MẠI SONG P H Ư Ơ N G
L MỘT SỐ NỘI DUNG cơ BẢN VẾ QUY CHẾ THƯƠNG MẠI BÌNH THƯỜNG VĨNH VIỄN
Có một số quan niệm cần được làm rõ trước k h i d i vào nghiên cứu Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR)
Thương mại là toàn bộ hoạt động trao đổi hàng hoa thông qua mua và bán
các hàng hoa, dịch vụ, các chứng từ có giá trị Theo Luật thương mại của Việt Nam, hoạt động thương mại là thặc hiện một hay nhiều hành v i thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoa, cung ứng dịch v ụ và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thặc hiện các chính sách kinh tế - xã hội D o sặ phát triến của khoa học, công nghệ và tiến trình hội nhập, hình thái tổ chức thị trường và phương thức hoạt động thương mại cũng đã thay đối Ngày nay, khái niệm thương mại bao g ồ m một phạm v i rộng lớn, bao trùm lên m ọ i hoạt động kinh tế của các quốc gia, v ớ i 4 nội dung
cơ bản: hàng hoa, dịch vụ, đầu tư và các yếu tố thương mại liên quan đến sờ hữu trí tuệ
Quan hệ thương mại là hoạt động mua và bán các loại hàng hoa, dịch vụ
được diễn ra giữa các chủ thể của hoạt động thương mại Chủ thể của quan hệ thương mại là khá đa dạng, có thể là các cá nhân, tổ chức - doanh nghiệp, các quốc gia hoặc nhóm quốc gia
Trang 12Trong nền văn minh thương mại hiện đại, tính chất của quan hệ thương mại giữa các quốc gia vói nhau có thể có nhiều cấp độ Ngoài lợi ích kinh tế là điều quy định căn bản nhất, quan hệ thương mại giữa các quốc gia còn bị chi phối bởi nhiều quan hệ ngoài kinh tế khác mà điển hình là mức độ "ấm hay lạnh" của quan hệ ngoại giao, theo đó tính chất của quan hệ thương mại có thể bình thường hay không bình thường (bị cấm vận hay được hưởng những ưu đãi )
Điều này lại bị quy định bởi pháp luật và quy chế thương mại Đó là những còng cụ pháp lí mà một quốc gia này tạo ra để điều chỳnh những quan
hệ thương mại với nước khác Nói cách khác, đó chính là mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế Kinh tế có sức mạnh tất yếu và có khả năng quy định chính tri, song bên cạnh đó, yếu tố chính trị - mà cụ thể là chính sách thương mại của một quốc gia cũng có thể tạo nên những hỗ trợ, khuyến khích hay
"rào cản" và qua đó, tác động manh mẽ đến quy m ô và tính chất quan hệ thương mại giữa cấc nước
Trường hợp Chính phủ Hoa Kỳ thiết lập Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam vừa qua là ví dụ điển hình cho mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế nêu trên
PNTR là chữ viết tắt của Permanent Nơrmal Trade Relation nghĩa là quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn PNTR là quy chế ưu đãi thương mại mà hầu hết các nước có quan hệ thương mại bình thường với Hoa Kỳ được hưởng PNTR với nội dung chính là bãi bỏ việc áp dụng đạo luật bổ sung Jackson - Vanik được Hoa Kỳ đặt ra trong quan hệ thương mại song phương Nó đưa một nước nào đó ra khỏi danh sách bị Hoa Kỳ hạn chế các hoạt động thương mại
Như vậy, sau PNTR tất cả hàng hóa trao đổi giữa Hoa Kỳ và nước đó sẽ được đối xử bình đẳng theo các quy định và hiệp định của WTO Việc thông qua Quy chế này sẽ dẫn đến bình thường hóa hoàn toàn quan hệ thương mại
Trang 13Nó vưà tạo ra nhiều cơ hội vừa đặt ra nhiều yêu cầu mối cho việc phát triển quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ và nước được hưởng PNTR
Đây chính là ảnh hưởng to lớn và cũng không ít phức tạp từ PNTR tới quan hệ thương mại giữa hai nước
2 Những nội dung cơ bản của Quy chế thương mại bình thưậng vĩnh viễn
2.1 Quá trình phê chuẩn Quỵ chế thương mại bình thường vĩnh viễn
Quan hệ Việt Nam - Hoa kỳ là một quan hệ khá đặc biệt trong thế kỷ
XX Hai nước từng là đối thủ nay đã trở thành đối tác, và để đi tới PNTR, cả hai nước đã cùng vượt qua nhiều chặng phát triển trong quan hệ ngoại giao, kinh tế
Năm 1974, theo đạo luật Jackson - Vanik, Hoa Kỳ dặt Việt Nam vào danh sách các nước bị hạn chế các hoạt động thương mại
Năm 1994, Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam
Ngày 12-7-1995, Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao Đây được coi là sự kiện lịch sử trong quan hệ ngoại giao hai nước Đi đôi với việc bình thưậng hóa quan hệ ngoại giao, hai nước bắt đầu cuộc đàm phán để bình thưậng hóa quan hệ kinh tế thương mại Cuộc đàm phán về Hiệp định
Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã diễn ra tới 4 năm với l o phiên đàm phán
Ngày 1372001, hai bên ký được Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ (BTA) và có hiệu lực kể từ ngày 10-12-2001 Đây là một Hiệp định Thương mại song phương được ký kết dựa trên các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới Nội dung của BTA gồm 4 điểm cốt lõi sau: Thứ nhất là thương mại hàng hoa, thứ hai là về bản quyền và tài sản trí tuệ, thứ ba là về thương mại dịch vụ và thứ tư là hoat đông đẩu tu Các nôi dung này đuơc cu thể hoa bằng các hiệp định: Chẳng hạn, tháng 7-2003 Việt Nam ký Hiệp định dệt may; sau đó là Hiệp định song phương về họp tác đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC, ký ngày 26-3-1998), Thỏa thuận khung (Eximbank, ký ngày 9-12-
Trang 14-1999), Hiệp định Hàng không (ký ngày 4-12-2003) và Thỏa thuận cung cấp
bảo hộ pháp lý cho người sờ hữu bản quyền (ký ngày 16-4-1997) V.V
Song muốn có được PNTR, phía Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam phải đáp ứng "cả gói" Bao gồm: một là thực hiện đầy để Hiệp định Thương mại, hai là phải kết thúc đàm phán song phương gia nhập WTO và ba là, giải quyết một
số vấn đề "nhạy cảm" khác mà Hoa Kỳ quan tâm (chẳng hạn vấn để "dân chể", "nhân quyền", "tôn giáo" )
Liên quan đến yêu cầu kết thúc đàm phán song phương gia nhập WTO, ngày 31-5-2006, Việt Nam và Hoa Kỳ đã chính thức kết thúc đàm phán song phương Việt Nam đã mờ thêm cho Hoa Kỳ 3 ngành dịch vụ và 30 phân ngành dịch vụ so với Hiệp định Thương mại v ề thuế, Việt Nam đã cam kết
9600 dòng thuế Để được coi là nền kinh tế thị trường, Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam thời kỳ tối thiểu 12 năm (Trung Quốc là 15 năm), về hàng dệt may, Hoa
Kỳ đồng ý bỏ hạn ngạch và chúng ta phải chấp nhận bỏ trợ cấp ngành dệt may, trợ cấp công nghiệp liên quan đến các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài đã cấp phép có thời kỳ quá độ 5 năm Thời kỳ quá độ dành cho thuế từ
5 đến 7 năm, cho dịch vụ từ Ì đến 5 năm Đã có phiên đàm phán, Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam phải chấp nhận điều kiện tự vệ đặc biệt đối với tất cả hàng xuất khấu như Trung Quốc Việt Nam đã giải thích: Trung Quốc là cường quốc thứ
4 thế giới về kinh tế, về thương mại, Trung Quốc là cường quốc đứng thứ 3, trong khi Việt Nam mới đứng thứ 50 về xuất khẩu và đứng thứ 47 về nhập khẩu nên không thể so sánh như nhau Nhiều nước ểng hộ quan điểm này và cuối cùng Việt Nam đã loại bỏ được vấn đề tự vệ đặc biệt
Ngày 9-12-2006, cả Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ thông qua PNTR cho Việt Nam với số phiếu thuận ờ Hạ viện là 212, phiếu không thuận là 184; Thượng viện 79 phiếu thuận trên 9 phiếu chống Ngày 20-12-2006, Tổng thống Hoa Kỳ G Bu-sơ đã ký Dự luật cả gói HR 6111, trong đó có luật thiết lập Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam
Trang 15Quy chế PNTR với nội dung chính là bãi bỏ việc áp dụng đạo luật bố sung Jackson - Vanik áp đặt đối với Việt Nam từ năm 1974, đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước bị Hoa Kỳ hạn chế các hoạt động thương mại Như vậy, tất cả hàng hóa trao đổi giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đều sẽ đưủc đối xử bình đắng theo các quy định và hiệp định của WTO
Việc thông qua Quy chế PNTR đã dẫn đến bình thường hóa hoàn toàn
và tạo cơ hội phát triển cho quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
2.2 Nội dung chính của Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn
Xét về thực chất, Quy chế PNTR đưủc kiến tạo bởi các quy chế, chế định về quan hệ thương mại như Quy chế Tối huệ quốc (MEN) Tu chính án Jackson- Vanik (Hoa Kỳ gọi MEN là NTR- Normal Trade Relation, nghĩa là quan hệ thương mại bình thường) Có thể xem việc đạt đưủc những quy chế này là các bước cần thiết dể đi tới PNTR
Quy chế Tối huệ quốc (MFN)
Trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, không phải với ai và lúc nào người ta cũng đối xử như nhau Đối với nước có quan hệ bình thường, không
có gì đặc biệt, người ta dùng hàng rào mậu dịch (Trade barrier) nhằm đánh thuế cao vào hàng hoa nhập khẩu của nước ngoài và nhiều biện pháp khác để bảo vệ nền sản xuất trong nước Với những nước có quan hệ trên mức bình thường, người ta dành những điều kiện thuận lủi - đặc biệt là quy chế thuế quan - cho nước đưủc ưu đãi nhất (The Most Favoured Nation, viết tắt là MEN - Tối huệ quốc) Theo quy định của WTO, các nước thành viên chính thức của tổ chức này phải tôn trọng vô điều kiện một nguyên tắc rất căn bản là Quy chế tối huệ quốc (MFN) Lịch sử hình thành và phát triển chế độ Tối huệ quốc đã có trên 200 năm
Vào năm 1948, Hoa Kỳ tham gia Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) - tổ chức tiền thân của WTO Tại thời điểm đó, Hoa Kỳ đồng ý trao Quy chế Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các quốc gia thành viên
Trang 16khác Quy chế này cũng được trao cho một số quốc gia không phải là thành viên của GATT: N ă m 1951, Quốc hội Hoa Kỳ yêu cầu Tổng thống Harry Truman thu hồi lại quy chế MFN đã được trao cho Liên bang Xô viết cũ và các nước xã hội chủ nghĩa khác Trong suốt thời kỳ "Chiến tranh lạnh", hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa phải đứng trước hai lựa chọn: hoặc là không được trao MFN hoặc là phải đáp ứng một số điều kiển nhất định để được trao quy chế này Tính tới tháng 5-1997, Aíghanistan, Cuba, Lào, CHDCND Triều Tiên, Viểt Nam, Serbia và Montenegro là những nước nằm ngoài danh sách NTR/MFN N ă m 2001, Viểt Nam được trao NTR nhưng trên cơ sờ xem xét theo từng năm
Năm 1984, quy chế MEN chính thức được GATT (Hiểp định chung về thuế quan và mậu dịch) dưa vào điểu Ì của GATT (nay tổ chức này đổi tên là
Tổ chức Mậu dịch quốc tế - WTO) Điều lể này là cơ sở quan trọng để cấc nước hội viên cho nhau hưởng chế độ tối huể quốc, qua đó tạo điều kiển thuận lợi cho hoạt dộng thương mại phát triển giữa các nước thành viên
MFN là một phần của nguyên tắc "không phân biểt đối xử" Nghĩa là các bên tham gia trong quan hể kinh tế thương mại sẽ dành cho nhau những điều kiển ưu đãi mà mình đã hoặc sẽ dành cho các nước khác
Nguyên tắc này dược hiểu theo hai cách:
+ Cách Ì: tất cả những ưu đãi và miền giảm mà một bên tham gia trong các quan hể kinh tế - thương mại quốc tế đã hoặc sẽ dành cho bất kỳ một nước thứ ba nào, thì cũng dành cho bên tham gia kia được hưởng một cách không điều kiển
+ Cách 2: hàng hoa di chuyển từ một bên tham gia trong quan hể kinh tế thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia kia sẽ không phải chịu mức thuế và các tổn phí cao hơn, không bị chịu những thủ tục phiền hà hem so với hàng hoa nhập khẩu từ nước thứ ba khác
Trang 17MFN là một nguyên tắc điều chỉnh các mối quan hệ thương mại và kinh
tế giữa các nước trên cơ sở các hiệp định, hiệp ước ký kết giữa các nước một cách bình đẳng và có đi có lại cùng có lợi Do đó xét theo góc độ pháp luật quốc tế thì điều chủ yếu của quy chế tối huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền, mà là đảm bảo sằ bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế
Mục đích của việc sử dụng nguyên tắc MEN trong thương mại quốc tế
là nhằm chống phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế, làm cho điều kiện cạnh tranh giữa các bạn hàng ngang bằng nhau nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước phát triển Mức độ và phạm vi áp dụng nguyên tắc MEN phụ thuộc vào mức độ quan hệ thân thiện giữa các nước với nhau
Hai là, áp dụng chế độ tối huệ quốc không điều kiện: là nguyên tắc nước này cho nước khác hưởng chế độ MEN mà không kèm theo diều kiện ràng buộc
Để đạt được chế độ tối huệ quốc của một quốc gia khác, có hai phương pháp thằc hiện:
+ Thông qua đàm phán song phương để ký kết các hiệp định thương mại
+ Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Luật của WTO quy định tất cả thành viên của WTO dành cho nhau quan hệ thương mại bình thường, Quy chế đối xử tối huệ quốc vô điều kiện và ngay lập tức
Như vậy, đạt được MFN có thể được coi là bước thứ nhất để có những cải thiện trong quan hệ thương mại giữa nước nào đó với Hoa Kỳ
Trang 18Tu chính án Jackson - Vanik
Các nước muốn có PNTR phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản sau: Một là tuân thủ theo các điều khoản Jackson-Vanik của Bộ Luật Thương mại năm 1974 Bộ Luật nay bao gồm thẩm quyền thương lượng ký hiệp đinh với các nước khác, việc lập ra cơ quan đại diện buôn bán Hoa Kỳ và điều khoản định hướng các hoạt động buôn bán, sự đền bù tỉn thất cho các ngành công nghiệp gây ra bởi sự cạnh tranh nhập khẩu Các quy định đó còn liên quan tới việc thực thi các quyền buôn bán của Hoa Kỳ theo các hiệp định buôn bán tại điều 301 Luật này điều chỉnh quan hệ buôn bán với các nước có nền kinh tế phi thị trường cùng với Điều 406 về các hành vi lũng đoạn phi thị trường Điều luật này cũng bao gồm hệ thống tỉng quát về ưu tiên (GSP) Các điều khoản này cũng quy định Tỉng thống Hoa Kỳ phải khẳng định một quốc gia không từ chối hoặc cản trờ quyền hoặc cơ hội di cư của công dân nước mình
Hai là đã ký kết Hiệp định thương mại song phương (BTA) với Hoa Kỳ
Từ khi Việt Nam và Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm
1995, Hoa Kỳ vẫn áp đặt Tu chính án Jackson - Vanik đối với Việt Nam, với nội dung chủ yếu là không cho phép Việt Nam tiếp cận những chương trình
hỗ trợ của Chính phủ Hoa Kỳ và chỉ cấp Quy chế quan hệ thương mại bình thường với một số điều kiện
Một điều khoản trong Jackson -Vanik cũng cho phép Tỉng thống hàng năm ra quyết định ngưng áp dụng Tu chính án để cho phép cấp NTR cho một quốc gia nào đó Theo luật của Mỹ, quyết định miễn áp dụng chỉ có giá trị trong vòng một năm Vì vậy, hàng năm, chính quyền và Quốc hội đều phải bày tỏ thái độ về việc áp dụng Tu chính án Jackson - Vanik đối với Việt Nam
Ke từ 1998, năm nào Mỹ cũng ra quyết định miễn trừ Tu chính án Vanik đối với Việt Nam Các quyết định này luôn được Quốc hội Mỹ chấp thuận với số phiếu năm sau cao hơn năm trước
Trang 19Jackson-Như vậy, để thông qua Quy chế PNTR cho Việt Nam, Quốc hội Mỹ phải đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước buộc phải tái gia hạn việc miễn trừ điều luật bổ sung Jackson-Vanik
Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR)
* PNTR là quy chế un đãi thương mại mà hầu hết các nước có quan hệ thương mại bình thường với Mỹ được hường Việc chưa dược hưỳng PNTR chỉ diễn ra trong quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ và một nước khác từng bị Hoa Kỳ coi là thù địch hoặc bị coi là chưa có nền kinh tế thị trường thực thụ Quan hệ này vốn bị hạn chế, nay được trỳ lại bình thường nhờ PNTR Trước hết theo quy định của WTO, các nước thành viên chính thức của
tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này phải tôn trọng vô điều kiện một nguyên tắc rất căn bản của WTO là Quy chế tối huệ quốc (MFN) Đến lượt mình, quy chế MFN, về bản chất lại đòi hỏi các nước thành viên phải đối xử bình đắng, không được phân biệt đối với những hàng hoa và dịch vụ tương tự được nhập khấu từ bất cứ thành viên nào của WTO
Mặt khác theo quy định, một thành viên của WTO chỉ có thể thực hiện việc miễn áp dụng MFN cho một thành viên khác trong WTO với điều kiện ràng buộc là phải được sự chấp thuận của ít nhất 3/4 tổng số thành viên WTO cũng quy định, một thành viên của tổ chức này có thể vì lý do chính trị, hoặc
lý do kinh tế, kỹ thuật nào khác, không áp dụng nguyên tắc MFN, hoặc nguyên tắc khác của WTO đối với những thành viên mới gia nhập WTO Trong trường họp này, thành viên không muốn áp dụng nguyên tắc MFN nói trên của WTO sẽ phải tuyên bố các nghĩa vụ và cơ chế, nhất là cơ chế xử lý tranh chấp, không được áp dụng trong quan hệ thương mại đối với thành viên mới gia nhập đó
Hiện nay Hoa Kỳ đã dành Quy chế tối huệ quốc (MFN) hoặc Quy chế thương mại bình thường (NTR) hoặc Quy chế thương mại bình thường vĩnh
Trang 20viễn (PNTR) cho hầu hết các quốc gia, chỉ trừ một số nước mà Hoa Kỳ gọi là
xã hội chủ nghĩa hoặc có nền kinh tế phi thị trường
* PNTR gồm các nội dung cơ bản như sau:
- Hoa Kỳ húy bỏ áp dệng đạo luật Jackson -Vanik 1974 đối với Việt Nam;
- Quy định trinh tự thủ tệc để xác định các khoản ữợ cấp không được phép;
- Quy định trách nhiệm tham vấn giữa hai nước liên quan tới vấn đề ừợ cấp
- Quy định sự tham gia và tham vấn của các bên liên đới trong các vệ điều tra về các trợ cấp không được phép;
- Quy định về công tác trọng tài và áp đặt hạn ngạch đối với những mặt
bị xác định là có nhận các khoản các trợ cấp không được phép
* Các thủ tệc của Hoa Kỳ về cấp quy chế PNTR
Bước Ì: Nền Hành pháp Hoa Kỳ, đại diện là Tổng thống, sẽ trình bản Thỏa thuận Hoa Kỳ - Việt Nam về kết thúc đàm phán WTO lên Hạ viện dưới dạng một dự luật
Bước 2: Dự luật này sẽ được giới thiệu tại ủ y ban Chính sách thương mại của cả Hạ viện và Thượng viện
Bước 3: Dự luật này sẽ lần lượt được chuyển lên toàn thể Hạ viện, rồi Thượng viện để thảo luận và bỏ phiếu theo những thủ tệc thông thường mà không cần điều kiện gì đặc biệt hay "quyền đàm phán nhanh" của tồng thống đối với các thỏa thuận thương mại với các đối tác khác của Hoa Kỳ
Sau khi thủ tệc này được thông qua, cũng đồng nghĩa với việc chính thức hủy bỏ khoản IV của Tu chính án Jackson - Vanik áp dệng đối với nước chưa dược PNTR; Quốc hội Hoa Kỳ có 60 ngày để thông qua dự luật này, sau
đó chuyển cho tổng thống
Tổng thống Hoa Kỳ sẽ ký và ban hành việc thực hiện việc dành Quy chế PNTR bằng một công báo Đến đây, có thể coi PNTR đã chính thức có hiệu lực
Trang 21lĩ TÍNH TẤT YÊU CỦA VIỆC PHÊ CHUẨN QUY CHẾ THƯƠNG MẠI BÌNH THƯỜNG VĨNH VIỄN GIỮA HOA KỲ VÀ VIỆT NAM
1 Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
- Hội nhập kinh tế quốc tế là khách quan bắt nguồn từ xu thê toàn cầu hoa kinh tế thế giới
Có những m ố i liên hệ khách quan quy định x u thế này Toàn cầu hoa kinh tế khởi nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất tiên tiến, m à lực lượng sản xuất m ớ i xuất hiện từ những tiến bộ khoa hục công nghệ hiện đại Cuộc cách mạng khoa hục - công nghệ mới m ở ra từ thế kỷ X X vói nhiều công nghệ hiện đại như tin hục, sinh hục, công nghệ hạt nhân, công nghệ vũ trụ và công nghệ vật liệu mới Tiến vào thế kỷ X X I các công nghệ trên còn phát triển vũ bão, đạt nhiều thành tựu m ớ i to lớn hơn Những thành tựu khoa hục - công nghệ hiện đại nhanh chóng được áp dụng vào sản xuất và đời sống nên tạo ra những năng lực sản xuất mới, tạo năng suất lao động cao, tạo ra những tính năng mới cho thiết bị, công nghệ và sản phẩm tiêu dùng Toàn bộ
sự phát triển đó làm cho lực lượng sản xuất tiên tiến xuất hiện và nó buộc các nền k i n h t ế phải quan hệ với nhau M ộ t trong những đòi h ỏ i của lực lượng sản xuất mới là thiết lập quan hệ kinh tế toàn cầu
T h ế kỷ X X I đang chứng kiến một thực tế toàn cầu hóa sâu rộng và triệt
để trên phạm v i toàn thế giới Quá trình toàn cầu hoa diễn ra trên m ụ i khâu của quá trình tái sản xuất từ đầu tư đến sản xuất, k i n h doanh, thương mại và tiêu dùng Toàn cầu hoa từ luật lệ, thể chế, chính sách đến nghiệp vụ, kỹ thuật sản xuất, kinh doanh, từ nội dung đến các hình thức hoạt động kinh tế N h ư vậy toàn cầu hoa kinh tế là kết quả phất triển tất yếu khách quan của lực lượng sản xuất m ớ i và cách mạnh khoa hục - công nghệ hiện đại
Tuy Việt N a m chưa phải là đối tượng hàng đầu trong chính sách Châu
Á - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, song một nước Việt N a m đổi mới, m ở cửa,
đa phương hoa quan hệ đối ngoại, hội nhập vào các nước k h u vực Đóng N a m
Trang 22Á là không trái với tính toán chiến lược của Hoa K ỳ ở k h u vực này Trước hết,
sự bành trướng mạnh mẽ của Nhật Bản và các nước công nghiệp m ớ i ở Châu
Á cùng với sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc đã làm cho Hoa Kỳ phải lo ngại và tìm cách củng cố vai trò của mình tại k h u vực này N h ư vậy, Việt N a m không nằm ngoài mục tiêu m ở rộng ảnh hưởng sang Châu Á của Hoa Kỳ
H ơ n nữa, Việt Nam cùng các nước A S E A N khác dã được nằm trong danh sách "các thấ trường lớn đang nổi lên", "các thấ trường xuất khẩu l ớ n " của Hoa Kỳ M ặ t khác, chính sách mở cửa và đổi m ớ i của Việt Nam đã làm cho lợi ích của cả hai phía từng bước xích lại gần nhau H o a K ỳ tìm thấy ở Việt Nam - một thành viên của A S E A N đầy năng động và triển vọng phát triển, một thấ trường rộng lớn với trên 80 triệu dân, giàu tài nguyên và giá nhân công rẻ Do vậy, phát triển quan hệ kinh tế thương mại với Việt Nam, Hoa K ỳ cũng có lợi ích cả về kinh tế lẫn chính trấ trong các vấn đề an ninh
k h u vực và phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước
- Xu thê toàn cầu hoa kinh tế cũng đặt ra bài toán vé hội nhập kinh
tê quốc tể cho mọi quốc gia
H ộ i nhập và phát triển, hội nhập và độc lập tự chủ về kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và đấnh hướng xã hội chủ nghĩa là những bài toán lớn, khó khăn m à Việt Nam phải tìm được l ờ i giải hợp lý H a i mươi năm đổi mới, Đảng, N h à nước và nhân dân ta đã chọn con đường tích cực và chủ động h ộ i nhập kinh tế quốc tế để phát triển kinh tế, để nâng cao vấ trí độc lập tự chủ kinh tế, để tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa
Cùng vói việc khẳng đấnh x u thế khách quan của h ộ i nhập kinh tế quốc
tế cũng phải thấy rằng hội nhập diễn ra nhanh hay chậm, với mức độ nào là phụ thuộc vào chủ trương, đường l ố i của Đảng và N h à nước ta Chính N h à nước trong vai trò lãnh đạo quản lý, từ nhận thức về x u thế khách quan của hội
Trang 23nhập kinh tế quốc tế m à chủ động lựa chọn l ộ trình, hình thức và nội dung hội nhập thích hợp cho nền kinh tế đất nước
K i n h tế Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển từ nền
k i n h t ế k ế hoạch tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trưởng định hướng xã hội chủ nghĩa H ộ i nhập kinh tế quốc tế là hội nhập vào nền kinh tế thị trưởng hiện đại, hoạt động theo các nguyên tắc của kinh tế thị trưởng Thực hiện đổi mới kinh tế Việt Nam bắt đầu từ việc thiết lập các cơ sở nền tảng cho sản xuất hàng hoa đến việc hình thành đầy đủ, đồng bộ các yếu tố tạo dựng nền kinh tế thị trưởng Vì vậy đổi m ớ i và mở cửa hội nhập có quan hệ gắn bó chặt chẽ, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển
Đ ố i với Việt Nam, nhận thức rõ x u thế toàn cầu hoa kinh tế và tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán trong suốt thởi kỳ đổi mới Điều này thể hiện rõ trong tiến trình hội nhập của Việt Nam Điển hình là quá trình Việt Nam gia nhập WTO Trong l ộ trình ấy, PNTR chính là cái "cánh cửa cuối cùng" Điều đó lại liên quan tới quan hệ chính trị - kinh tế khá đặc thù giữa Hoa Kỳ và Việt Nam
2 Quan điểm và nguyên tác của Hoa Kỳ và Việt Nam về quan hệ thương mại giữa hai nước
2.1 Quan điểm và nguyên tắc của Hoa Kỳ trong quan hệ thương mại với Việt Nam
Quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ vái Việt Nam là một quan hệ khá đặc biệt bởi lịch sử quan hệ giữa hai nước vốn là đối thủ gần đây mói trở thành đối tác Hai nước còn khá nhiều khác biệt về trình độ, kiểu tổ chức kinh tế thị trưởng và cả những khác biệt về ý thức hệ Đ ặ c điểm này cũng ảnh hưởng tới quan điểm và nguyên tắc của Hoa Kỳ trong quan hệ thương mại với Việt Nam
- Quan hệ thương mại của Hoa Kỳ với Việt Nam trước tiên được xây dựng trên cơ sở của 2 nguyên tắc dược thể hiện trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ như sau:
Trang 24"Nguyên tắc quan hệ buôn bán bình thường - NTR (Normal Trade
Relations) hay còn gọi là Quy chế Tối huệ quốc - MFN (Most Favoured Nation) Giải thích về nguyên tắc này ở Khoản Ì Điều Ì Chương Ì của Hiệp định BTA nêu rõ: "Mỗi bên dành ngay lập tức và vô điều kiện cho hàng hóa
có xuất xứ tại hoặc được xuất khẩu tổ lãnh thố của Bên kia sự đoi xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho hàng hóa tương tự có xuất xứ tại hoặc được xuất khẩu tổ lãnh thổ của bất cứ nước thứ ba nào khác trong tất cả các vấn đề có liên quan tới:
A.Mọi loại thuế quan và phí đánh vào hoặc có liên quan đến việc nhập khẩu hay xuất khẩu, bao gồm cả các phương pháp tính các loại thuế quan và phí đó;
B Phương thức thanh toán đối với hàng nhập khẩu và xuất khẩu, và việc chuyển tiền quốc tế của các khoản thanh toán đó;
c Những quy định và thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu, kể cả những quy định về hoàn tất thủ tục hải quan, quá cảnh, lưu kho và chuyển tải
D Mọi loại thuế và phí khác trong nước đánh trực tiếp hoặc gián tiếp vào hàng nhập khẩu;
E Luật, quy định và các yêu cầu khác có ánh hường đến việc bán, chào bán, mua, vận tải, phân phối, lưu kho và sử đụng hàng hóa trong thị trường
F Việc áp dụng các hạn chế định lượng và cấp giấy phép
Nguyên tắc đối xử quốc gia là nguyên tắc nhằm tạo ra môi trường kinh
doanh bình đắng cho hàng hóa nhập khau so với hàng hóa sản xuất trong nước Nguyên tắc này được giải thích ở Điều 2, chương Ì của Hiệp định BTA như sau:
A Mỗi bên Việt Nam và Mỹ, không bên nào được trực tiếp hoặc gián tiếp dùng các loại thuế và phí nội địa đánh vào sản phẩm nhập khẩu tổ Bên kia cao hơn so với mức thuế và phí mà sản phẩm nội địa phải chịu
Trang 25B Hàng nhập khẩu có xuất xứ từ đối tác phải được đối x ử tương tự như hàng hóa nội địa về luật điều tiết, các quy định, các yêu cầu khác có ảnh hưởng đến việc bán hàng, chào hàng, mua hàng, vận tải và phân phối hàng hóa, lưu kho và sử dụng hàng
c Bên phía Việt Nam cũng như Bên phía Hoa K ỹ không được soạn thảo thêm những quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng riêng đối v ớ i hàng nhập khấu từ đối tác, nhằm tạo ra trở ngại cho hoạt động nhập khẩu hoặc nhằm bảo
hộ sản xuất trong nước vì điều này sẽ làm cho hàng nhập khấu khó cạnh tranh hơn
D Việc xây dựng những rào cản về kỹ thuật: tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường, chất lượng sản phẩm quy định với hàng nhập khẩu phải phù họp v ớ i các quy định của Tổ chức WTO và các quy định này không mang tính chất hạn chế thương mại, không quy định cao hơn so v ớ i quy định cho sản phẩm nội địa" [27]
- Ngoài ra, còn có một số quan điểm khác cũng có tính chi phối quan hệ thương mại giữa Hoa Kỹ với Việt Nam Hoa Kỹ nhận thức được rằng Việt Nam có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược toàn cầu của mình; chính sách thương mại vói Việt Nam trước hết là vì lợi ích của Hoa Kỹ và qua dó tác động dể gây ảnh hưởng, lôi kéo kinh tế Việt Nam theo hướng thị trường tư bản chủ nghĩa Việt Nam là "một thị trường lớn đang nổi lên" và thu hút sự quan tâm không chỉ của Hoa Kỹ Tranh giành ảnh hưởng và xác lập vai trò của Hoa Kỹ vói Việt Nam thông qua quan hệ thương mại hai nước, qua đó buộc Việt Nam "mở cửa" hơn nữa và phụ thuộc hơn nữa vào Hoa Kỹ không chỉ trên lĩnh vực kinh tế Ngoài ra, Hoa Kỹ cũng có thể lợi dụng những lỏng lẻo của Việt Nam trong quản lý kinh tế để trục lợi cho các doanh nghiệp nước này ÍTMưvTỊĩl
ItSiíí" DA 1
Hạc!
h a a a i i n u e à e
tộọjh
Trang 26Các quan điểm và nguyên tắc trên và lợi ích của Hoa Kỳ đã khách quan quy định rằng, quan hệ thương mại hai nước cần có được những chuyển biến mạnh hơn, mà PNTR là một việc làm cần thiết để hai bên có những bước đi xa hơn
2.2 Quan điểm và nguyên tắc của Việt Nam trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ
Hợp tác kinh tế là ưu tiên hàng đầu của Việt Nam trong quan hệ với Hoa Kỳ Là một nền kinh tế lớn và phát triển nhất thế giới, Hoa Kỳ chiếm một
vị trí quan trọng trong chính sách đổi mới của Việt Nam nói chung và chính sách đồi ngoại của Việt Nam nói riêng Việt Nam mong muồn tiếp cận thị trường rộng lớn của Hoa Kỳ, tiếp thu nguồn vồn đầu tư, kỹ thuật, công nghiệp tiên tiến, những kinh nghiệm quản lý hiện đại Mặt khác, thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ cũng là một biện pháp nhằm làm cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới
Mặc dù xem Hoa Kỳ là đồi tác chiến lược trong quá trình thực hiện công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước, Việt Nam cũng đã đưa ra 5 nguyên tắc cơ bản cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước Những nguyên tắc này gồm:
- Tôn trọng độc lập chủ quyền quồc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi
- Việc Hoa Kỳ giành cho Việt Nam những ưu đãi về quan hệ thương mại không chỉ đem lại lợi ích cho Việt Nam mà còn là lợi ích của Hoa Kỳ và các công ty của quồc gia này
- Việt Nam tôn trọng luật lệ và tập quán quồc tế, sẽ từng bước điều chỉnh,
bổ sung các luật lệ, cơ chế của mình theo hướng phù hợp với mức độ phát triển của nền kinh tế, hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam
- Việt Nam chấp nhận tuân thủ những quy định của GATTẠVTO, sẽ thực hiện từng bước theo sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế còn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, do vậy, Việt Nam có quyền được hưởng sự hỗ trợ của các nước phát triển, trong đó có Hoa Kỳ
Trang 27- Hệ thống pháp luật của hai nước còn nhiều khác biệt: Việt Nam mối chỉ
ở giai đoạn đáu của tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Vì thế, Việt Nam cần có lộ trình thích hợp để thực hiện các cam kết của mình Bằng việc đưa ra 5 nguyên tắc cơ bản nêu trên, Việt Nam mong muốn phát triển quan hệ kinh tế nói chung và quan hệ thương mại, đầu tư nói riêng với Hoa Kẳ trên cơ sở không bị phán biệt, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, có tính đến trình độ phát triển kinh tế còn thấp và đang trong quá trình chuyển đổi của mình Hơn thế nữa, những nguyên tắc này thể hiện rõ sự quyết tâm của Việt Nam trong việc hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Như vậy, từ các quan điểm và nguyên tắc trên, quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kẳ đã có cơ sờ dể dần đi tối bình thường hoa quan hệ về mọi mặt (Xem Phụ lục, trang 99)
3 Lợi ích của Việt Nam và Hoa Kẳ khi Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn được phê chuẩn
Quan hệ thương mại hai nước Việt Nam và Hoa Kẳ chỉ được coi là bình thường khi PNTR được ký kết Đây là bước ngoặt rất lớn để hai nước bình thường hóa hoàn toàn quan hệ kinh tế - thương mại Đặc biệt, việc Quốc hội
Mỹ thông qua PNTR với Việt Nam trong thời điểm Quốc hội Việt Nam cũng
đã thông qua Nghị định thư gia nhập WTO, đã thể hiện thiện chí của Mỹ trong việc ủng hộ Việt Nam trờ thành thành viên chính thức của WTO Nếu không có PNTR của Hoa Kẳ thì Việt Nam khó vào được WTO, hoặc có vào được thì ý nghĩa không lớn lắm Gần như đã thành thông lệ quốc
tế là chưa một nước nào vào WTO mà không được sự đồng ý của Hoa Kẳ Có PNTR, việc Việt Nam trờ thành thành viên WTO trở nên trọn vẹn hơn PNTR, xét về pháp lý, là "cánh cửa cuối cùng" trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và bình thường hóa hoàn toàn quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kẳ Và việc mở ra cánh cửa này không chỉ đáp
Trang 28ứng nguyện vọng của nhân dân và các doanh nghiệp Việt Nam, mà còn phù hợp với mong muốn của nhân dân cũng như các doanh nghiệp Hoa Kỳ, mang lại cơ hội ngang bằng và những lợi ích to lớn cho cả hai bên
Với các doanh nghiệp Việt Nam, việc thông qua PNTR sẽ giúp các doanh nghiệp yên tâm có kế hoạch làm ăn lâu dài với thị trường Hoa Kỳ Mặt khác, có PNTR sẽ là cơ sấ để sau này Hoa Kỳ xem xét các mức thuế ưu đãi cho Việt Nam, tạo điều kiện để hàng hoa của Việt Nam có thể thâm nhập mạnh mẽ hơn nữa vào thị trường nước này Chúng ta biết rằng không phải tất
cả biểu thuế của Hoa Kỳ đều có chênh lệch, nước này chỉ áp dụng điều này cho một số mặt hàng mình bảo hộ Đặc biệt với các mặt hàng may mặc, hải sản, thủ công mỹ nghệ vốn là thế mạnh của các nước đang phát triển và Việt Nam, nếu không được hưấng chênh lệch thì những mặt hàng này không cạnh tranh được Thực tế, khi được hưỏng MFN, xuất khẩu của Việt Nam như may mặc, hải sản, thủ công mỹ nghệ phát triển rất nhanh Theo Hiệp định BTA, phía Hoa Kỳ sẽ không áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam, vì vậy sắp tới hàng dệt may Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ không còn chịu hạn ngạch như những năm trước đây Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là việc thông qua PNTR sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ sẽ được đối
xử bình đẳng hơn
Ông Lương Văn Tự - Thứ trưấng Bộ Thương mại, kiêm trưấng đoàn đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam khẳng định: sau khi PNTR được thông qua, kim ngạch thương mại - buôn bán hai chiều Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ tăng hơn rất nhiều [13] Hoa Kỳ hiện là một thị trường xuất khẩu rất lớn đối với Việt Nam N ă m 2001 khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại BTA với Hoa Kỳ, chúng ta mới giải quyết được 3.600 dòng thuế, khi đó kim ngạch
xuất khẩu đã tăng gấp nhiều lần, còn bây giờ khi vào WTO với hơn lo nghìn
dòng thuế được giải quyết, cơ hội sẽ là rất lớn
Trang 29Riêng về đầu tư, việc thông qua PNTR sẽ giúp thúc đẩy hai quĩ OPIC
và Eximbank của Hoa Kỳ hoạt động tốt hơn Trong đó, quĩ OPIC là quĩ bảo đảm vấn đề đầu tư của doanh nghiệp Hoa Kỳ ra nước ngoài, còn quĩ Eximbank liên quan đen vấn đề bảo đảm tín dụng xuât khâu, nên có thê nói chắc chắn đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam sẽ tăng mạnh trong thời gian tới Trong các cuộc tranh chấp (vốn được coi là chuyện "bình thường" trong quan hệ kinh tế quốc tế), các vụ tranh chấp thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ dược phán xể công bằng, bình dẳng hơn Ví dụ, các vụ kiện chống bán phá giá, sau khi thông qua PNTR, Hoa Kỳ sẽ không thể đơn phương áp dụng các qui tắc thương mại riêng đối với các công ty Việt Nam như trong các vụ kiện chống bán phá giá cá ba sa, tôm như trước đây Thay vào đó, các tranh chấp thương mại sẽ được đưa ra Tồ chức Thương mại thế giói (WTO), nơi các thành viên đều có quyền thương mại binh đắng
Sau khi PNTR được thông qua, quan hệ thương mại song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ tăng khoảng 15 ti USD vào năm 2010 Trong đó, cán cân thương mại sẽ nghiêng hẳn về phía Việt Nam Khối lượng xuất khẩu các mặt hàng Việt Nam như dệt may, da giày, thủy hải sản sẽ liên tục gia tăng Hàng nông sản Hoa Kỳ sẽ tràn vào Việt Nam, nhưng ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu cà phê, hạt điều, cao su vào Hoa Kỳ Với việc thông qua PNTR, quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa kỳ sẽ mạnh mẽ hơn, bình đẳng hơn và ổn định hơn PNTR giúp các doanh nghiệp Hoa Kỳ xác định rõ hơn Việt Nam là một đối tác chiến lược cần hoạch định phương hướng làm ăn, kỷ kết các họp đồng dài hạn Điều này sẽ giúp không chỉ tăng mạnh quan hệ thương mại mà còn thu hút thêm đáng kể đầu tư của các công ty Hoa Kỳ vào Việt Nam Theo ông David Knapp, chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) tại Việt Nam, các công ty Hoa Kỳ sẽ có nhiều cơ hội hơn trong các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ v ề phía 84 triệu người tiêu dùng Việt Nam, việc áp dụng Qui chế PNTR sẽ tăng cường những
Trang 30lợi ích mà người tiêu dùng có được từ việc Việt Nam gia nhập WTO Cụ thê,
họ "sẽ hường lợi từ những lựa chọn mua sắm đa dạng hơn, chất lượng cao hom và giá thấp hơn nhờ cạnh tranh và tính mờ gia tăng" Cơ hội sẽ mờ rộng cho 40 triệu lao động nhờ việc tham gia mạnh mẽ hơn của khu vực tư nhân Đồng thời, họ sẽ có cơ hội được đào tạo tốt hơn khi Việt Nam cỳi thiện tính cạnh tranh của mình Ông khẳng định các công ty Hoa Kỳ sẽ chi đầu tư vào những nền kinh tế có chính sách tốt, cởi mờ và dựa vào luật pháp Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ làm tăng mạnh đầu tư từ các công ty Hoa Kỳ vì các nhà đầu tư tin tưởng rằng Việt Nam sẽ thực hiện đúng các cam kết gia nhập WTO Bên cạnh sự kiện này, chính tốc độ tăng trường GDP, công nghiệp hóa, lực lượng lao động dồi dào, tình hình chính trị ổn định cũng là những nhân
tố thu hút các nhà đầu tư Hoa Kỳ [11]
Hơn ai hết, chính các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã nhận thức sâu sắc rằng: với hơn 80 triệu dân, lực lượng lao động dồi dào, lại luôn ờ "tóp 10" nền kinh
tế có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới, Việt Nam không chỉ là một thị trường đầy tiềm năng cho các sỳn phẩm của Hoa Kỳ, mà còn là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước này Chính vì vậy, việc thông qua PNTR cho Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nghị sĩ, doanh nghiệp và đông đỳo người tiêu dùng Hoa Kỳ 120 thành viên trong "Liên minh ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO" của Hoa Kỳ đã gửi thư tới từng Hạ nghị sĩ, khuyến nghị
Hạ viện nhanh chóng thông qua dự luật mang mã số H.R 5602 về việc trao Quy chế PNTR cho Việt Nam trước tháng 8/2006 Bức thư nêu rõ: "Việc Quốc hội phê chuẩn trao PNTR cho Việt Nam là cần thiết để cộng đồng doanh nghiệp Mỹ có thể tranh thủ được những lợi thế m à việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ đem lại Không có PNTR, Hoa Kỳ sẽ là nước thành viên WTO duy nhất không tiếp cận được thị trường mới đang mở cửa cho hàng hóa và dịch vụ" [21]
Trang 31Ke từ ngày quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được thiết lập (12/7/1995), mặc dù còn có những khác biệt, những mặc cảm do chiến tranh
để lại, nhưng không thể không thùa nhận quan hệ này đã ngày càng phát triển sống động, thiết thực và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực Kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai bên đã tăng vọt sau khi Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực (12/2001) Xuỷt khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng mạnh từ 1,053 tỷ USD năm 2001 lên 5,276 tỷ USD năm
2004 và đạt gần 7 tỷ USD vào năm 2005 Hoa Kỳ đã nhanh chóng trờ thành thị trường xuỷt khẩu lớn nhỷt của Việt Nam với 5 mặt hàng chủ lực: dệt may, thủy sản, giày dép, đồ gỗ nội thỷt và nông lâm sản Việt Nam đứng thứ 4 trong số các nước xuỷt khẩu giày dép vào Hoa Kỳ, với tổng kim ngạch tăng trung bình 4 0 % - 50%/ năm; đứng thứ 5 về xuỷt khẩu hàng dệt may và xếp thứ lo trong số các nhà xuỷt khẩu đồ gỗ lớn nhỷt vào quốc gia này
Và nếu nhìn vào giá trị kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ khoảng 1.700
- 1.800 tỷ USD mỗi năm, thì đây là một thị trường to lớn, đầy tiềm năng đối với hàng hóa Việt Nam Quan hệ đầu tư giữa hai nước được coi là chưa mỷy khởi sắc, nhưng đến nay, Hoa Kỳ cũng đã có trên 250 dự án đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký khoảng 2 tỷ USD, trở thành một trong 10 nước và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhỷt tại Việt Nam Với tiềm năng to lớn của Hoa Kỳ về vốn, công nghệ, với những nỗ lực của Việt Nam về cài cách và mở cửa thị trường, đặc biệt là sau khi Việt Nam có được PNTR, gia nhập WTO, chắc rằng quan hệ đầu tư giữa hai nước sẽ có những bước tiến mới, phù hợp với mong muốn và lợi ích của cả hai bên
Thực tế trên đã chứng minh, lợi ích của người dân, của các doanh nghiệp và của mỗi quốc gia chính là khởi nguồn và mục tiêu phát triển của quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ trong những năm qua Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế toàn cầu hóa kinh tế, khi mà lợi ích và sự phát triển
Trang 32của quốc gia này luôn có mối quan hệ mật thiết với lợi ích và sự phát triển của quốc gia khác
Việc Hoa Kỳ thông qua PNTR với Việt Nam không gì khác hơn là sự phản ánh xu thế ấy
ra MỘT số TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG QUY CHÊ THƯƠNG MẠI BÌNH THƯỜNG VĨNH VIÊN TỚI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VÀ KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC SAU KHI CÓ QUY CHẾ NÀY
1 Một Số tiêu chí đánh giá ảnh hưởng của Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn tói quan hệ thương mại song phương
Để đánh giá sự ảnh hưởng của PNTR với quan hệ thương mại song phương, chúng ta cừn quan tâm đến một số tiêu chí sau:
- Thứ nhất, đó là vấn đề hàng hoa xuất nhập khẩu Tiêu chí này phản ánh diễn biến xuất nhập khẩu hàng hoa trong quan hộ thương mại song phương kể từ khi ký kết PNTR Có thể thông qua những diễn biến về các nhóm mặt hàng xuất khẩu mở rộng nhiều hay ít, doanh nghiệp tham gia hoạt động làm ăn với Hoa Kỳ tăng hay không tăng để thấy được ảnh hưởng của PNTR với lĩnh vực này
- Thứ hai, dó là vấn đề thị trường - lượng xuất nhập khẩu từ nước được hưởng PNTR chiếm bao nhiêu phừn trăm thị trường Hoa Kỳ và ngược lại, kể
từ trước khi ký PNTR và sau khi ký PNTR Điều quan trọng là "độ mở" của thị trường hai nước sau PNTR sẽ tác động như thế nào đến cán cân thương mại của hai quốc gia Vấn đề này lại liên quan tới hạn ngạch và cơ chế tự bảo vệ thị trường của mỗi nước
- Thứ ba, là quy mô, tốc độ xuất nhập khẩu của hàng hoa dịch vụ cùng những vấn để có liên quan tới lĩnh vực này chẳng hạn những quy định, thoa thuận song phương giữa Hoa Kỳ và nước được hưởng PNTR Trong xã hội hiện đại, lĩnh vực dịch vụ có vai trò rất quan trọng với kinh tế của một đất
Trang 33nước Nó xác định trình độ, quy mô phát triển, khả năng tham gia toàn cẩu hoa kinh tế thông qua quan hệ thương mại
- Thứ tư, là vấn đề liên quan đến quan hệ thương mại giữa hai nước về các yếu tố liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Báo cáo về Triển vọng Kinh tế Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới năm 2002 đã khờng định tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí tuệ đối với các nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay và phát hiện ra rằng "Với các mức thu nhập khác nhau thì quyền sở hữu trí tuệ (IPR) thường gắn liền với thương mại và các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn hơn và nhờ vậy có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn" Chang hạn như tính riêng ở Hoa Kỳ thì các nghiên cứu trong thập kỷ vừa qua
đã ước tính rằng hơn 5 0 % lượng hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ hiện nay phụ thuộc vào việc bảo vệ các loại sở hữu trí tuệ so với dưới 1 0 % trước đây 50 năm" [7] Đây là một vấn đề hết sức "nhạy cảm" vì gắn liền với lợi ích và xuất hiện thường xuyên trong quan hệ thương mại quốc tế, đặc biệt là đối với Hoa
Kỳ
2 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong quan hệ thương mại vói Hoa
kỳ từ sau khi có Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn
Trung Quốc được hưởng quy chế PNTR trước Việt Nam khoảng 5 năm (2001) những kinh nghiệm của nước này trong việc tận dụng cơ hội và vượt qua những thách thức từ PNTR để phát triển quan hệ thương mại vói Hoa Kỳ
và các nước khác cần được chúng ta nghiên cứu và học hỏi
2.1 Những kinh nghiệm Trung Quốc tận dụng cơ hội do PNTR mang lại
Trước tiên là Trung Quốc đã biết tận đụng PNTR dể tăng nhanh tốc độ phát triển N ă m 2001 thu nhập bình quân của Trung Quốc là 1.030 USD/người, hiện nay đạt 1.700 USD/người, tăng 70% Trung Quốc hiện là một nền kinh tế lớn, vượt cả Anh và Pháp: Xuất khẩu năm 2001 là 226 tỉ USD, hiện nay - 2006 là hơn 750 tỉ USD
Trang 34Từ lợi thế do PNTR mang lại, Trung Quốc đã biết phát huy tốt những lợi thế vốn có Lợi thế dễ thấy của Trung Quốc là hàng dệt may Có thể thấy được vấn đề này qua việc bùng nổ mặt hàng này Theo số liệu do Trung Quốc công
bố mới đây, trong năm 2006, các doanh nghiệp Trung Quốc đã xuất khẩu hàng may mặc trị giá 95,2 tỷ USD, tăng 28,9% và các sỹn phẩm hàng dệt trị giá 48,8
tỷ USD, tăng 18,7% so với năm trước đó Các khách hàng ờ châu Âu, Bắc Mỹ đều muốn đặt hàng tại Trung Quốc, vì cơ sở hạ tầng đỹm bỹo, có hệ thống đường cao tốc, hệ thống cỹng hiện đại, vận chuyển hàng thông thoáng, đúng hợp đồng, chi phí giỹm Năm 2006 kim ngạch xuất khấu hàng dệt may đạt hơn
4 tỷ USD, chiếm khoỹng 7 % khối lượng hàng dệt may của Trung Quốc Trung Quốc cũng biết khơi mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước mình sau thuận lợi mà PNTR mang lại số liệu từ UNCTAD (tại APEC CEO Summit 2006), cho biết thu hút đầu tư nước ngoài năm 2005 chỹy vào các nước đang phát triển 334 tỷ USD, chiếm khoỹng 36,5% trong tổng số đầu tư FDI của thế giới Những năm gần đây, các nước Đông Á, Đông Nam Á là sự lựa chọn
ưu tiên của các nhà đầu tư Khu vực này năm 2005 thu hút được 165 tỷ USD, đạt 18% dòng chỹy của FDI thế giới Riêng Trung Quốc đã chiếm 72 tỷ USD (Hồng Rông 36 tỷ USD; kế là Singapore 20 tỷ USD, Indonesia 5 tỷ USD, Thái Lan và Malaysia cùng đạt gần 4 tỷ USD ; Việt Nam khoỹng 2 tỷ USD - tính theo vốn thực hiện) Từ năm 2007 đến năm 2011 dự kiến FDI vào Trung Quốc mỗi năm sẽ đạt khoỹng 87 tỷ USD và chiếm khoỹng 6% tổng FDI toàn cầu Rõ ràng Trung Quốc là môi trường hấp dẫn lớn đối với dòng FDI
Trung Quốc cũng biết tận dụng cơ hội mới của hội nhập và PNTR và đang trở thành một nhà đầu tư lớn ra nước ngoài, thông qua lập quỹ ngoại hối
và đầu tư vào nước thứ ba Theo Báo cáo về triển vọng đầu tư toàn cầu trước năm 2011 ba nước Trung Quốc, Nhật Bỹn và Ân Đ ộ hiện chiếm 3 0 % tổng FDI trên toàn cầu Chính phủ Trung Quốc ngày 29/9/2007 vừa công bố, Quỹ Đầu tư Nhà nước Trung Quốc đã chính thức đi vào hoạt động, với tên viết tắt
Trang 35là CIC, sờ hữu số vốn khổng lồ 200 tỷ USD, xếp hạng khoảng t h ứ 5 thế giới
về tổng giá trị vốn số tiền này chỉ chiếm gần một phần sáu nguồn d ự trữ ngoại tệ cỹa Trung Quốc và nước này chỹ trương sử dụng hiệu quả nguôn ngoại hối d ự trữ thông qua quỹ trên N ă m 2006, Trung Quốc đã có trong tay một nguồn d ự trữ ngoại tệ nhiều nhất thế giới - lên tới khoảng Ì 300 tỷ USD Nhằm hạn chế mức nhập khẩu hàng hóa cao t ừ thị trường Hoa K y gây nên tình trạng thâm hụt cán cân thương mại ngày càng tăng, Trung Quốc đã thực hiện chiến lược gia tăng xuất khẩu sang thị trường M ỹ thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động đầu tư vào các quốc gia thứ ba, trong đó M ỹ - Latinh
là một thị trường trọng điểm Trung Quốc đã tuyên bố một loạt d ự án đầu tư với tổng trị giá lên tới 100 tỷ USD sẽ được triển khai trước năm 2015 và tập trung chỹ yếu tại Brazil, Argentina, Chile, Columbia và Venezuela Trong hai năm gần đây, đầu tư cỹa Trung Quốc vào M ỹ Latinh và các châu lục khác đã tăng 7 0 %
Chỹ động cải tạo môi trường đầu tư trong nước theo hướng hội nhập với các thông lệ quốc tế cũng là một kinh nghiệm cẩn được nhìn nhận Chính nhờ làm tốt việc này m à Trung quốc đã khai thác được nhiều l ợ i t h ế từ PNTR mang lại Tiến hành cải cách một cách đồng bộ và hệ thống các lĩnh vực có liên quan đến nhà nước; Đ ẩ y nhanh việc thiết lập hệ thống dịch vụ công; Cải cách m ồ i quan hệ giữa chính quyển trung ương và địa phương đồng thời tiến hành cải cách khu vực công, điều chỉnh lại các quan hệ l ợ i ích cỹa tăng trường
và phát triển, m ở rộng tổng cầu và cải cách hành chính M ớ i đây, Đ ạ i h ộ i Đảng Cộng sản Trung quốc lần thứ x v n còn đưa ra tiêu chí phát triển khoa học, hài hoa, bền vững về sinh thái trong phát triển
K i n h nghiệm thực tiễn cỹa Trung Quốc vừa qua còn cho thấy tầm quan trọng đặc biệt cỹa việc huy động quản lý, giám sát và sử dụng các nguồn lực
để thực hiện phát triển bền vững Xác định rõ huy động và quản lý các nguồn lực là trách nhiệm cỹa toàn cộng đồng Việc rà soát lại luật pháp và cơ chế
Trang 36nghiên cứu và hình thành những cơ chế và hình thức huy động, quản lý, sử dụng, giám sát, đánh giá hiệu quả của các nguồn lực đầu tư cho phát triển theo những tiêu chuẩn sau: Các nguồn lực được huy động và quản lý một cách thống nhất, đảm bảo hiệu quả tớng thể theo các nguyên tắc phát triển bền vững; đảm bảo việc phân bớ ưu tiên nguồn lực; tăng cường quan hệ đối tác với các tớ chức quốc tế, các nước, thực hiện tốt các cam kết quốc tế về phát triển bền vững
2.2 Những kinh nghiệm của Trung Quốc khi đối diện với những thách thức, khó khăn sau Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn
Thực tiễn của quan hệ thương mại Trung quốc với Hoa kỳ sau PNTR cũng cho biết, không phải mọi thứ đều tốt đẹp Kinh nghiệm này cho biết có thể, quan hệ thương mại Việt Nam với Hoa Kỳ sẽ phải đối diện với một số thách thức sau:
Trung Quốc cũng đã từng gặp cơ chế tự vệ đặc biệt và đương đầu với hạn ngạch một số mặt hàng xuất khẩu vào Hoa Kỳ Trước sự phát triển mạnh
mẽ nhiều mặt hàng của Trung quốc, các công ty dệt may Mỹ và EU lo ngại hàng dệt may Trung Quốc sẽ lại tràn vào 2 thị trường lớn này Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) đã hạn chế nhập hàng dệt may xuất khẩu của Trung Quốc từ tháng 1/2006 Hệ thống hạn ngạch áp đặt này sẽ hết hạn vào cuối năm 2007 Sau khi bị Mỹ và EU hạn chế nhập khấu hàng dệt may, Trung Quốc đang chuyển trọng tâm từ thị trường nước ngoài vào thị trường trong nước Hơn 6 9 % hàng dệt may và quần áo xuất khẩu của Trung Quốc đã xuất sang thị trường ASEAN và các nước châu Phi Điều đó cho biết một kinh nghiệm đối phó của Trung Quốc: cần đa dạng hoa thị trường để chống lại biện pháp rào cản hay hạn ngạch của Mỹ
Ngoài ra, có khá nhiều các vụ kiện tụng về vấn đề sở hữu bản quyền, nhất là sở hữu trí tuệ đã diễn ra giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ trong thời gian gần đây Gần như ngay sau khi PNTR của Hoa Kỳ thông qua với quan hệ
Trang 37thương mại với Trung Quốc thì lập tức vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ nổi cộm trong quan hệ thương mại giữa hai nước này Trung Quốc một mặt đấu tranh, giải trình mặt khác đã phải chấp nhận và tuân thủ theo luật pháp quốc tế
và quy định của Hoa Kỳ về lĩnh vểc này
M ộ t kinh nghiệm cần được chú ý là phải liên kết với nhiều quốc gia khác
dể tạo đối trọng với M ỹ và các đối tác lớn Trung Quốc là cường quốc về dệt may và da giày, song trước sức ép của việc Hoa Kỳ đặt ra các hạn ngạch và cơ chế tể bảo vệ trong quan hệ thương mại, Trung Quốc cũng đã khôn ngoan quốc tế hoa vấn đề này Chẳng hạn, Hiệp hội Công nghiệp dệt may của 10 nước và vùng lãnh thổ châu Á gồm Trung Quốc, Ấ n Đ ộ , Việt Nam, Sri Lanca, Pakistan, Bangladesh, Hàn Quốc, Campuchia, Hồng Rông và M a Cao,
đã thông qua các điều khoản thành lập Liên đoàn M a y mặc châu Á nhằm thúc đẩy hoạt động trao đổi thông tin và tăng cường quan hệ hợp tác vì lợi ích của các thành viên
Trung Quốc cũng đã phải nỗ lểc hoàn thiện về chính sách và pháp luật Sau PNTR, Trung Quốc đã xác định có 4 yếu tố yếu tố liên quan tới năng lểc cạnh tranh m à nhà nước chịu trách nhiệm: trước hết là hệ thống luật pháp thông thoáng; t h ứ hai, bộ máy hành chính vì dân và vì doanh nghiệp; t h ứ ba, tạo cơ sở hạ tầng có khả năng làm giảm chi phi trong giá thành; thứ tư, chính sách đào tạo nguồn nhân lểc cho doanh nghiệp Trong 4 yếu tố đó thì yếu tố cạnh tranh về nguồn nhân lểc và cơ sờ hạ tầng sẽ là nguồn cạnh tranh dài hạn
và quyết định nhất Song trểc tiếp nhất vẫn là hỗ trợ của nhà nước trong các dịch vụ đăng ký và xử lý tranh chấp thương hiệu, tư vấn kế toán, thuế, thủ tục xuất - nhập khẩu; các dịch vụ tài chính - ngân hàng, thành lập các kho ngoại quan ở trong nước và ở nước ngoài, phát triển hệ thống giao thông vận tải qua biên giới thuận lợi, nhanh, an toàn, rẻ để tăng cường sể l u n chuyển, thông thương hàng hóa, dịch vụ giữa thị trường trong nước và quốc tế Vì những nỗ lểc cải thiện môi trường kinh doanh như vậy, trong những năm gần đây đánh
Trang 38giá của quốc tế về môi trường dầu tư Trung Quốc liên tục có cải thiện, năm
2006 cũng đã thăng 10 hạng (từ hạng 93 lên 83)
PNTR cũng góp phần đặt ra và làm rõ thêm nhiều mặt cẩn hoàn thiện trong chiến lược phát triển bền vững, hài hoa của Trung Quốc Tăng trường kinh tế rất nhanh (khoảng trên 1 0 % GDP/ năm) vừa qua có phần bị trả giá bậi tổn thất về tài nguyên thiên nhiên, sự xuống cấp của môi trường, gia tăng về khoảng cách giàu nghèo và các dịch vụ công bất cập trước nhu cầu tăng rất nhanh của xã hội Sức ép đó đòi hỏi nước này phải đánh giá "toàn diện vai trò của Chính phủ đối v ớ i phát triển bền vững" Theo đó, một thách thức lớn là chuyến m ô hình nhà nước là chủ đạo hiện nay sang m ô hình do thị trường chủ đạo Trung Quốc đang đồng thời tiến hành cải cách k h u vực công, điều chỉnh lại các quan hệ l ợ i ích trong tăng trường và phát triển, m ờ rộng tổng cầu và cải cách hành chính
Hài hoa về mặt xã hội là một tiêu chí m à Trung Quốc hướng t ớ i trong chiến lược phát triến bền vững của mình M ộ t trong những nội dung đó là giảm khoảng cách phát triển giữa các vùng Trước đây, Trung Quốc tập trung mạnh vào phát triển các tình duyên hải miền Đông nơi có điều kiện thuận l ợ i cho phát triến kinh tế Ngày nay, Trung Quốc còn chú trọng t ớ i phát triển các tỉnh miền Tây Tiếp theo là cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội và khu vực dịch vụ công theo hướng coi con người là trung tâm M ộ t trong những giải pháp của Trung Quốc là thiết lập hệ thống bảo hiểm hưu trí ờ k h u vực nông thôn Hiện nay tại 31 tỉnh và khu tự trị đã thực hiện chính sách này v ớ i sự tham gia của khoảng 54 triệu nông dân song đến nay hiệu quả còn thấp
Kết luận chương Ì
Trong quan hệ thương mại Việt N a m - Hoa Kỳ, Quy chế PNTR có vai trò rất quan trọng N ó là cánh cửa cuối cùng m ậ ra để quan hệ thương mại và nhiều lĩnh vực khác giữa hai nước thật sự bình thường hoa Chính việc Hoa Kỳ phê chuẩn PNTR cũng xác nhận vị thế chính thức của Việt N a m với tư cách là
Trang 39thành viên đầy đủ của WTO Nhìn chung, quan hệ thương mại hai nước từ sau PNTR sẽ là một chặng phát triển mới với nhiều lợi ích to lớn cho cả hai bên Tuy vậy, từ kinh nghiệm của những nước đã từng dược hưởng PNTR như Trung Quốc, chúng ta có thể thấy, PNTR không hoàn toàn là thuận lợi Cũng như các nước khác, Việt Nam sau khi được hưởng PNTR trong quan hệ thương mại với Hoa Kị sẽ phải nỗ lực rất nhiều để hội nhập vào thị trường rộng lớn có mãi lực cao nhưng tương đối khó tính này Theo đó, không chỉ quan hệ thương mại giữa hai nước mà nhiều lĩnh vực khác cũng phải điều chỉnh để tận dụng cơ hội và khắc phục những khó khăn thách thức
Trang 40Chương n
T Á C Đ Ộ N G C Ủ A QUY C H Ế T H Ư Ơ N G MẠI B Ì N H T H Ư Ờ N G VINH VIỄN Đ Ố I VỚI QUAN H Ệ T H Ư Ơ N G M Ạ I
VIỆT NAM - HOA K Ỳ
ì KHÁI QUÁT CHUNG VẾ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA
KỲ Từ 2001 ĐẾN NAY
Để thấy được ảnh hưởng khá to lớn của PNTR với quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, cần có một cái nhìn có tính so sánh giữa hai giai đoạn trước và sau khi có Quy chế này
Ì, Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã có nhiều chuyển biến
Nhìn tổng quát, có thể thấy những chuyển biến rất nhanh chóng và mạnh
mẽ trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong những năm thực hiện BTA Quan hệ thương mại giữa hai nước kể từ khi ký kết Hiệp đụnh Thương mại song phương đã có những bước phát triển nhanh và mạnh mẽ
Từ khi Hiệp đụnh BTA có hiệu lực, Hoa Kỳ trao cho Việt Nam Quy chế Thương mại bình thường/ Quy chế tối huệ quốc (NTR/MFN) Cụ thể, Hoa Kỳ phải cắt giảm thuế suất nhập khẩu trung bình đối với hàng nhập khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ từ 4 0 % xuống còn 4%, trong khi Việt Nam chỉ cắt giảm thuế suất đối với 261 hạng mục thuế quan Điều này đồng nghĩa với việc thụ trường to lớn của Hoa Kỳ đã được mở rộng cho hàng hóa của Việt Nam BTA đã góp phần làm thay đổi diện mạo thụ trường của hàng xuất khẩu Việt Nam Nếu so sánh số liệu tương đối về mức tăng xuất nhập khẩu trong thời gian trên chúng ta có thể thấy quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển nhanh chóng Từ một thụ trường tương đối nhỏ, Hoa Kỳ đã vượt qua các nước khác và trở thành thụ trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Chỉ trong hai năm 2002 và 2003 (từ khi có Hiệp đụnh BTA) Việt Nam đã xuất