BÙI VĂN LƯƠNG Chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI GIAI ĐOẠN MANG THAI TẠI TRẠI NGUYỄN VĂN KHANH, HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG KHÓA LU
Trang 1BÙI VĂN LƯƠNG
Chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI GIAI ĐOẠN MANG THAI TẠI TRẠI NGUYỄN VĂN KHANH, HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI VĂN LƯƠNG
Chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI GIAI ĐOẠN MANG THAI TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN KHANH, HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Giảng viên hướng dẫn: TS ĐOÀN QUỐC KHÁNH
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em đã được học tập, đào tạo về kiến thức và đi đôi thực hành ở trường và sau thời gian thực tập tại trại lợn Nguyễn Văn Khanh, em luôn nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của thầy cô, bạn bè và cô chú, anh chị kĩ thuật ở trại lợn nơi e công tác thực tập tốt nghiệp thời gian sáu tháng vừa qua Đến Nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Thành công này không chỉ có nỗi lực của bản thân em mà còn có sự giúp đỡ của rất nhiều người luôn bên em
Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, cùng với các thầy giáo, Cô giáo giảng viên trong khoa đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập lý thuyết tại trường và đã tạo mọi điều kiệm để
em hoàn thành tốt kháo luận cũng như hành trang cho công tác và công viếc sau này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Đoàn Quốc Khánh đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này
Một lần nữa cho phép em gửi lời cảm ơn tới thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi thú y, cùng gia đình bạn bè đã động viên giúp đỡ cho em Em xin chân thành cảm ơn và kính chúc toàn thể các thầy, các cô lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống
Sâu sắc tận đáy lòng em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Bùi Văn Lương
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lượng cám cho lợn nái ngoại mang thai tại trại (kg cám tinh/nái/ngày) 16
Bảng 2.2: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 25
Bảng 3.1: Lịch làm việc trong tuần 34
Bảng 3.2: Lịch sát trùng chuồng trại của trại 37
Bảng 3.3: Công tác phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn tại trại 38
Bảng 4.1: Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Nguyễn Văn Khanh 3 năm gần đây 41
Bảng 4.2: Kết quả số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trang trại lợn Nguyễn Văn Khanh, Thanh Hà, Hải Dương 42
Bảng 4.3: Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 42
Bảng 4.4: Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 44
Bảng 4.5: Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái tại trại bằng vắc xin 45
Bảng 4.6: Kết quả theo dõi bệnh viêm tử cung qua các tháng theo dõi 46
Bảng 4.7: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung 47
Bảng 4.8: Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại Nguyễn Văn Khanh 48
Trang 5Ml : Mililit Nxb : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự
TT : thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 3
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 3
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 3
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 4
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 5
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại 5
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 7
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 8
2.2.1 Đối với lợn nái 8
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 12
2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn nái giai đoạn mang thai 18
2.2.4 Những hiểu biết về bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái giai đoạn mang thai 22
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 29
2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 29
Trang 72.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước 31
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 33
3.1 Đối tượng 33
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hảnh 33
3.3 Nội dung thực hiện 33
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 33
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 33
3.4.2 Phương pháp thực hiện 33
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 40
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Nguyễn Văn Khanh 41
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn tại trại 42
4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái tại trại 43
4.3.1 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 43
4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái tại trại bằng vắc xin 44
4.4 Kết quả theo dõi và điều trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái giai đoạn mang thai nuôi tại trại 45
4.4.1 Kết quả theo dõi bệnh viêm tử cung tại trại 45
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung tại trại 46
4.5 Kết quả thực hiện các công việc khai thác tại trại 47
Phần 5 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC TẬP CỦA CHUYÊN ĐỀ 55
Trang 8kỳ năm trước (quý II đạt 816,2 nghìn tấn, tăng 3,3%) tổng sản lượng thịt các loại trong ngành chăn nuôi
Theo Cục Thú y, lũy kế từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 11/2/2020, bệnh Dịch tả lợn châu Phi (ASF) đã xảy ra tại 8.548 xã thuộc 667 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là gần 6 triệu con với tổng trọng lượng gần 350.000 tấn, chiếm 9% tổng trọng lượng lợn của cả nước
Trong đó, tháng 12/2029 đã buộc phải tiêu hủy 38.172 con, giảm 97%
so với tháng 5/2019 (tháng cao điểm, buộc phải tiêu hủy 1,27 triệu con lợn); tháng 1/2020 buộc phải tiêu hủy 12.037 con (giảm 99% so với tháng 5/2019); tháng 2/2020 (đến ngày 11/02/2020), buộc phải tiêu hủy 6.2029 con
Có 8200 xã (chiếm 96% tổng số xã có dịch) đã qua 30 ngày; trong đó
30 tỉnh, thành phố có 100% số xã đã qua 30 ngày; 29 tỉnh, thành phố có trên 85% số xã đã qua 30 ngày Hiện nay có 348 xã thuộc 116 huyện của 33 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 286.532 con chưa qua 30 ngày
Trang 9Song đó dịch tả lợn châu Phi đang được kiểm soát, đàn lợn dần được khôi phục nhưng việc tái đàn còn chậm, giá lợn giống ở mức cao khiến các hộ
có nguồn vốn hạn hẹp chưa thể khôi phục sản xuất, các hộ có đủ điều kiện lại thận trọng tái đàn do tâm lý lo ngại dịch quay trở lại Ước tính tổng số lợn của
cả nước tháng Sáu năm 2020 giảm 7,5% so với cùng thời điểm năm
2019 Tổng số lợn của cả nước tháng 6/2020 đạt 23,05 triệu con, trong khi
tháng 6/2019 đạt 24,92 triệu con Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng
ước tính đạt 1.636,9 nghìn tấn, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 816,2 nghìn tấn, tăng 3,3%)
Với vị trí hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững Bên cạnh đó
là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, qy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn với chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng
Chính vì vai trò quan trọng đó, yêu cầu khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn trong chăn nuôi ngày càng trở nên cấp thiết Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã đưa các đợt thực tập tốt nghiệp tại cơ sở vào trong chương trình học Giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ sở trước khi tốt nghiệp
là rất quan trọng đối với mỗi sinh viên để củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề và rực cháy ngọn lửa đam mê, có phong cách làm việc đúng đắn Qua đó, chúng tôi nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khi ra trường trở
Trang 10thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiến, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành chuyên đề:
“Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái giai đoạn mang thai tại trại lợn Nguyễn Văn Khanh, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương”
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích của chuyên đề
- Đánh giá tình hình chăn nuôi của trang trại
- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang bầu
- Xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại
- Thành thạo quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
- Phân tích được quy trình vệ sinh,phòng và trị một số bệnh thường gặp
ở đàn lợn nái tại trại
- Chăm chỉ chịu khó học hỏi để nâng cao kiến thức tay nghề của bản thân
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn Nguyễn Văn Khanh thuộc xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Trại được xây dựng trên một cánh đồng cách ly với khu dân cư với tổng diện tích của trại là 5 ha Các dãy chuồng lợn trong trại được xây dựng theo hướng Đông Bắc Cách trại 100 m về phía Đông có dòng sông Thái Bình chảy qua, thuận tiện về nguồn nước sản xuất Bao quanh trại là cánh đồng lúa và cây chuối nên trại hoàn toàn cách ly với khu dân Trang trại được xây dựng và thành lập từ năm 2010 do ông Nguyễn Văn Khanh làm chủ đầu
tư có sự liên kết với công ty cổ phần Green Feed và công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam
Huyện Thanh Hà nằm ở phía Đông Nam tỉnh, phía Bắc giáp huyện Nam Sách, phía Đông giáp huyện Kim Thành, phía Nam giáp thành phố Hải Phòng, phía Tây giáp thành phố Hải Dương Huyện được chia làm 4 khu là
Hà Nam, Hà Đông, Hà Tây và Hà Bắc
Xã Tiền Tiến thuộc khu Hà Tây của huyện Thanh Hà, có sông Thái Bình (ở phía Tây Nam) chảy qua Giao thông bộ có đường 390A chạy từ Ngã
Ba Hàng (đường 5 cũ) qua địa phận xã Tiền Tiến về huyện lỵ, xuôi xuống bến Gùa, kéo dài đến phà Quang Thanh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
Trang 12Huyện Thanh Hà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa Hạ nóng
ẩm mưa nhiều, mùa Đông lạnh khô, ít mưa và có khí hậu nóng ẩm bao trùm
Do đó trại lợn Nguyễn Văn Khanh cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu này Nhiệt
độ trung bình mùa Đông ổn định dưới 20°C, mùa nóng có nhiệt độ trung bình trên 25°C - 27°C Lượng mưa theo quy ước chung, thời kì có lượng mưa ổn định trên 100 mm tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, còn mùa khô có lượng mưa tháng ổn định dưới 100 mm bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Thanh Hà bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa Hạ nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10 Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa Đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa
Hè (tháng 7) là 12°C Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương)
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại lợn Nguyễn Văn Khanh: 1 chủ trại Nguyễn Văn Khanh
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại
- Trại lợn nằm trên một cánh đồng cách ly với khu dân cư, tổng diện tích của trại là 5 ha, chia làm 2 khu chính riêng biệt là: khu sinh hoạt chung và khu chăn nuôi, ngoài ra còn có hồ cá, thủy đình, vườn cây ăn quả,và vườn hoa phong lan đột biến bạc tỷ của ông Khanh
Trong đó khu sinh hoạt chung gồm: nhà điều hành, phòng ở của chủ trại, phòng ngủ của công nhân, phòng ăn, phòng tiếp khách Các phòng đều
Trang 13được lăn sơn, nền lát đá hoa, mái bắn tôn, phòng ngủ có tủ đựng quần áo Ngoài ra, còn có 2 tủ lạnh ở nhà bếp để cất thức ăn, tivi ở phòng tiếp khách được lắp truyền hình cáp phục vụ nhu cầu giải trí sau giờ làm việc Nhà bếp xây dựng khang trang, sạch sẽ, có đầy đủ dụng cụ, có bếp ga để thuận tiện trong việc nấu ăn
Khu chăn nuôi gồm: nhà tắm sát trùng trước khi vào trại, nhà ăn và nghỉ trưa của công nhân, nhà kho chứa cám và kho thuốc thú y, dãy chuồng cách ly dành cho lợn hậu bị, phòng pha chế tinh, chuồng mang thai, chuồng lợn đẻ, chuồng lợn thịt, nơi xử lý phân
- Hệ thống chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng bao gồm:
1 chuồng bầu với 2 dãy chuồng bao gồm 217 ô, mỗi ô có kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô dành cho lợn nái bầu và 6 ô dành cho lợn đực giống với kích thước 4 m × 5 m/ô Chuồng nái bầu thiết kế theo từng dãy, chúng chỉ cần diện tích nhỏ bằng phần của lợn nái đẻ nằm để di chuyển tiến lùi và nằm không thể quay đầu, có máng ăn cho từng con và vòi uống nước tự động
1 chuồng đẻ gồm 2 dãy chuồng bao gồm 56 ô có kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô: Chuồng nái đẻ và nuôi con được thiết kế có vùng cho lợn con và vùng cho lợn mẹ riêng biệt để tránh hiện tượng lợn mẹ đè lên lợn con khi chúng nằm Có nơi tập ăn riêng (bổ sung thức ăn sớm) Chuồng chia thành 2 khu vực rõ rệt Lợn nái nằm và di chuyển ở giữa, có khung khống chế Có máng ăn cho lợn mẹ và vòi uống nước tự động, các thanh chắn có độ cao hợp
lý Hai bên vùng lợn nái nằm là lợn con hoạt động Nền chuồng của lợn con thiết kế bằng nhựa Nền chuồng của lợn mẹ bằng đan bê tông
3 chuồng lợn thịt có tổng 44 ô với kích thước 6 m × 7 m/ô: lợn thịt thường được nuôi trong các ô rộng và nuôi thành từng nhóm từ 35 - 40 con/ô, mỗi ô khoảng 42 m2 Chuồng nuôi lợn thịt có thể thiết kế đa dạng các kiểu, có nền có độ dốc tốt và dễ thoát nước Máng ăn tự động để con nào cũng ăn được tiêu chuẩn ăn của chúng Có vòi uống nước tự động có thể 5 vòi/ô
Trang 14Ngoài ra ở mỗi dãy chuồng lợn thịt còn có 1 ô rộng 8 - 10 m2 ở phía cuối dãy chuồng nơi gần quạt thông gió để chứa các con lợn bệnh trong thời gian chữa bệnh cho chúng
1 chuồng cách ly nái hậu bị và đực giống với tổng 10 ô chuồng có kích thước là 3 m × 4 m/ô
- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có chậu sát trùng trước mỗi cửa chuồng Mỗi khu chuồng riêng biệt đều có bể vôi sống riêng
- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống, tắm cho lợn, nước
xả gầm, xả máng, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên
bể chứa được xử lý và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng, ô chuồng khác nhau
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại
4 Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất
Trang 155 Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
6 Cơ sở vật chất tốt thuận lợi cho quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng
2.1.4.2 Khó khăn
1 Trại được xây dựng trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn
2 Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử
lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
- Giống: các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn
Theo ông Phạm Hữu Doanh và cs, (2003) [3] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (lợn Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt
từ 20 - 25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi
Trang 16khối lượng cơ thể đạt 50 - 55 kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
- Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992) [8], chỉ rõ Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188, 5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế cám thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234, 8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của trong trong cơ thể không đạt mức cần thiết
Trang 17tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo ông Phạm Hữu Doanh
và cs, (2003) [3] cho rằng: không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên
vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
* Sự thành thục về thể vóc
Theo ông Nguyễn Đức Hùng và cs, (2003) [7], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 -
120 kg mới nên cho phối
2.2.1.2 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ
Trang 18thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi
đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính
Theo ông Nguyễn Thiện và cs, (1993) [18], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
- Giai đoạn trước khi chịu đực: lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40 giờ, với lợn nội là 25 - 30 giờ
- Giai đoạn chịu đực: lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30 giờ
- Giai đoạn sau chịu đực: lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực
* Thời điểm phối giống thích hợp
Theo ông Nguyễn Thiện và cs, (1993) [18] trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ
Trang 19lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
2.2.1.3 Quá trình mang thai và đẻ
Sau thời gian lưu lại ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết trong cơ thể mẹ thời gian chửa như sau: progesterol trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất là vào ngày chửa thứ 20, sau đó nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì
ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterol giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì
ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng hai tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất (Trần Thanh Vân và cs, 2017) [19])
Theo ông Trần Văn Phùng và cs, (2004) [13] cho biết: thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (113 - 116 ngày), chia làm 2 thời kỳ:
- Thời kỳ chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
Thời kỳ chửa kỳ 2: là thời gian lợn chửa từ ngày thứ 85 đến khi đẻ
2.2.1.4 Sự tiết sữa của lợn nái
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ, do những kích thích vào đầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc vú mẹ những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng hypothalamus, từ đó tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytocin tiết vào máu,kích
tố này kích thích lợn nái tiết sữa Do tác động của oxytocin trong máu khác nhau cho nên các tuyến vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau Những vú
ở phần ngực tiết nhiều sữa hơn những vú ở phần sau
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản
2.2.2.1 Những hiểu biết về quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn mang thai
Trang 20Theo ông Trần Văn Phùng và cs,[ (2004)] vấn đề quan trọng nhất trong công tác chăm sóc, quản lý lợn nái giai đoạn mang thai đó là: phòng ngừa sảy thai, nghĩa là cần phải làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng
và phát dục bình thường, tránh các tác động cơ giới gây đẻ non hoặc sảy thai, nhất là trong giai đoạn mang thai ở kỳ thứ II
Những nguyên nhân gây sảy thai có thể là: nền chuồng hoặc sân chơi không bằng phẳng, mấp mô, làm cho lợn bị trượt ngã, cửa ra vào làm cho lợn chen chân xô nhau, do đánh đuổi lợn quá gấp, do tắm nước quá lạnh hoặc quá đột ngột,
- Vận động
Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái mang thai kỳ
I chú ý cho lợn nái vận động, nhất là đối với những lợn nái quá béo Thực tế đã chứng minh rằng, ở một cơ sở chăn nuôi khó khăn về mặt tài chính, tiêu chuẩn
và khẩu phần ăn cho lợn còn thấp, nhưng nếu chú ý chăn thả nhiều, được vận động hợp lý, kết hợp với một số thức ăn mà lợn tự tìm kiếm được sẽ làm cho lợn mẹ khỏe mạnh, thai sinh trưởng và phát triển tốt, lợn con có sức sống cao
Thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 lần/ngày với 60 - 90 phút/lần Lợn nái mang thai ở kỳ II thì hạn chế vận động, trước khi đẻ 1 tuần chỉ cho lợn đi lại trong sân
* Chuồng trại
Chuồng trại phải đảm bảo đúng quy định cho lợn nái mang thai, theo từng thời kỳ Mật độ nhốt: mang thai kỳ I mỗi ô từ 3 - 5 con, mang thai kỳ II mỗi ô nhốt 1 con Trong chăn nuôi công nghiệp ở giai đoạn mang thai kỳ II
có thể nhốt mỗi con một ô Trước khi đẻ 1 tuần chuyển lợi nái mang thai lên chuồng đẻ
Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông
Cần tạo không khí yên tĩnh, thoải mái cho lợn nái nghỉ ngơi dưỡng thai Không gây tiếng ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng đến lợn
Trang 21Mỗi nái mang thai có một thẻ theo dõi về tình hình mang thai như: ngày phối, ngày đẻ dự kiến, lứa đẻ, những biến cố xảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai, tỷ lệ chết thai, để có biện pháp xử lý đề phòng
* Tắm chải
Tắm chải cho lợn mang thai là rất cần thiết, có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, gây cảm giác dễ chịu, lợn cảm thấy thoải mái kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Ngoài ra còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái khi đẻ Việc tắm cho lợn nái giai đoạn mang thai cần được tiến hành hằng ngày, đặc biệt trong mùa hè nóng bức, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn nái
- Công tác thú y đối với lợn nái mang thai
Từ 3 - 5 ngày trước ngày đẻ dự kiến, ô chuồng lợn nái cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng Crezin 5% hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái khi đẻ
Trước đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng bằng cách trộn vào cám hoặc tiêm Có thể sử dụng IVOMEXC liều 1ml cho 33 kgTT tiêm dưới
da hoặc COFAVIT 500, liều 4 ml/nái tiêm bắp
Hằng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem lợn có sốt nóng hay không
Công tác tiêm phòng:
Tiêm phòng định kỳ các loại vắc xin như: Dịch tả, Tụ - Dấu, Lepto 2 lần/nái/năm Chú ý không tiêm phòng cho lợn nái những loại vắc xin trên khi lợn nái mang thai ở giai đoạn từ sau khi phối đến 60 ngày sau phối trừ trường hợp có dịch bệnh xảy ra
Quy trình tắm ghẻ: thường xuyên phát hiện ghẻ để điều trị kịp thời Ngoài ra trước ngày đẻ dự kiến 14 ngày cần phải được tắm ghẻ và sau đó 1 tuần tắm lại lần 2 Đây là điều kiện bắt buộc để phòng lợn mẹ bị ghẻ lây sang
Trang 22cho lợn con ngay từ khi sơ sinh
Cần tiêm vắc xin E.coli cho lợn nái mang thai vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước đẻ, liều lượng 2 ml/con tiêm bắp
2.2.2.2 Những hiểu biết về nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn man thai
Theo ông Trần Văn Phùng và cs,[ (2004)] cần cung cấp đủ dinh dưỡng cho lợn mái mang thai để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển bào thai, nhu cầu duy trì cho bản thân con mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với nái tơ còn cần thêm dinh dưỡng để cho bản thân tiếp tục lớn lên
Giai đoạn chửa kỳ I, II dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14%, năng lượng trao đổi không dưới 2900 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp Nhưng ở giai đoạn II mức ăn cần tăng từ 15 - 20% so với giai đoạn mang thai kỳ I, bào thai chưa phát triển mạnh vì vậy nhu cầu dinh dưỡng cho lợn nái giai đoạn này là
để duy trì cơ thể, một phần rất nhỏ để nuôi thai Giai đoạn chửa kỳ II, tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, vì vậy cần cung cấp chất dinh dưỡng cho bào thai ở cuối kỳ này để lợn con sinh ra đạt khối lượng sơ sinh theo yêu cầu của từng giống Đối với lợn Landrace (đan mạch) có khối lượng sơ sinh khoảng 1,4 kg/con, lợn Yorkshire có khối lượng sơ sinh khoảng 1,3 kg/con, lợn Móng Cái khoảng 0,5 - 0,7 kg/con
Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái mang thai trong một ngày cần chú ý các yếu tố sau: giống và khối lượng cơ thể lợn nái, giai đoạn mang thai, thể trạng nái, tình trạng sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Ví dụ: lợn nái mang thai kỳ II cho ăn nhiều hơn nái mang thai
kỳ I, nái mang thai gầy cho ăn nhiều hơn so với nái bình thường, vào mùa đông khi nhiệt độ dưới 150C thì cho lợn ăn nhiều hơn 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt độ chuồng là 25 - 300C để tăng khả năng chống rét cho lợn
Đối với lợn nái mang thai lần đầu, có thể cho ăn tăng từ 10 - 15% vì ngoài dinh dưỡng nuôi thai cần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho phát triển cơ thể con nái
Trang 23Đối với lợn nái sau khi tách con, cần tăng thức ăn để tăng số trứng rụng
sẽ làm tăng số con đẻ ra trên lứa Thời gian cho ăn tăng phụ thuộc vào tuổi cai sữa cho lợn con, nếu cai sữa từ 21 - 28 ngày cho ăn tăng từ 8 - 10 ngày, nếu cai sữa lúc 35 ngày thì cho ăn tăng khoảng 3 - 7 ngày Lượng thức ăn cho ăn còn phụ thuộc vào thể trạng con mẹ, nếu thể trạng gầy cho ăn nhiều hơn, nếu béo cho ăn như lợn có thể trạng bình thường
Đối với lợn nái nội có khối lượng khoảng 65 - 80 kg/con, trong một ngày nái mang thai kỳ I cho ăn 1,1 - 1,2 kg/con thức ăn tinh và 1 - 2 kg/con thức ăn xanh Giai đoạn chửa kỳ II cho ăn tăng thêm khoảng 20 - 25% so với lợn nái chửa kỳ I, mức cho ăn từ 1,4 - 1,5 kg thức ăn tinh Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm thức ăn đạm để phòng tránh bệnh sưng vú do căng sữa sau đẻ
Số bữa cho ăn trong ngày: cho ăn ngày 2 bữa sáng - chiều, cần cung cấp đủ nước uống sạch cho lợn nái đang mang thai
Bảng 2.1: Lượng cám cho lợn nái ngoại mang thai tại trại
Nái gầy Nái bình
thường Nái béo
Cai sữa 1 - 7 ngày 567s Tự do Tự do 1,5
Trang 24Ngày 113 sau phối 567s 1,5 1,5 1,5 Ngày cắn ổ đẻ 567s 0 - 0,5 0 - 0,5 0 - 0,5
Nguồn cám cho lợn nái mang thai: nếu là chăn nuôi công nghiệp chúng
ta sử dụng cám tinh hỗn hợp và bổ sung thêm rau xanh càng tốt, mang thai
kỳ I và từ 2 - 3 kg/nái mang thai kỳ II Đối với lợn nái nuôi theo phương thức nhỏ, tận dụng các loại cám có sẵn như: cám gạo, ngô, bột sắn, đậu tương hoặc phối trộn với các loại cám đậm đặc theo tỷ lệ thích hợp
Cám của lợn nái mang thai yêu cầu phối trộn nhiều loại cám, mùi vị thơm ngon, không bị mốc hỏng, cám có phẩm chất tốt
Gần đến thời gian đẻ cần giảm lượng cám nhưng vẫn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng bằng cách cho ăn những loại cám có giá trị dinh dưỡng cao
Không cho lợn nái ăn các loại cám đã hết hạn sử dụng, cám bị ôi thiu, mốc, các loại chất kích thích dễ gây sảy thai như lá thầu dầu, khô dầu bông, hoặc bổng bã rượu Không nên sử dụng cám nhiều khô dầu cho lợn nái mang thai, sẽ làm cho cơ bắp và mỡ lợn con biến tính, lợn con đẻ ra yếu, tỷ lệ nuôi sống thấp
Không cho lợn nái mang thai ăn quá nhiều cám vào 35 ngày đầu sau phối giống có chửa
Ảnh hưởng của chế độ ăn không đúng đối với lợn nái chửa
Cho lợn nái ăn quá nhiều
Về mặt kinh tế: lẵng phí cám, giảm lợi nhuận chăn nuôi
Về mặt kỹ thuật: lợn nái sẽ béo lên, tỷ lệ chết phôi cao đặc biệt giai đoạn 35 ngày sau phối giống, chân lợn mẹ yếu, dễ đè chết con trong giai đoạn nuôi con Tiết sữa kém vì tuyến mỡ chèn ép tuyến sữa Lợn nái béo thường đẻ khó, đẻ kéo dài
Cho lợn ăn thiếu so với nhu cầu
Trang 25Lợn nái mang thai sẽ gầy dẫn đến thể chất kém, giảm sức đề kháng với bệnh tật
Không đủ dinh dưỡng dự trữ cho kỳ tiết sữa dẫn đến năng suất sữa thấp, lợn con còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Thời gian động dục trở lại sau khi tách con kéo dài làm giảm số lứa trên năm và tăng thêm chi phí về cám Tỷ lệ hao mòn lợn mẹ cao dẫn đến giảm thời gian khai thác do đó sớm bị loại thải
2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn nái giai đoạn mang thai
2.2.3.1 Phòng bệnh
Với tiêu chí ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trườ ng, mầm bệnh, vât ̣chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị, bệnh phải kết hợp ̣nhiều biện pháp khác nhau
Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phúc [(2005)] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo ông Lê Văn Tạo và cs, [(1993)] vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là
vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đườ ng tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thứ c ăn bị nhiễm vi khuẩn,
điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E coli,
bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất
Trang 26cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải đượcvệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiêt ̣độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 300C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng
và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
Trang 27chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, vi rút, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, AND,…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó, chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
2.2.3.2 Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs,[ (2012)], nguyên tắc để điều trị bệnh là: + Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, [(2012)], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện
vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô
Trang 28hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống cám tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
Trang 29- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tích tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, truyền nước sinh lý…
2.2.4 Những hiểu biết về bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái giai đoạn mang thai
Bệnh sản khoa xuất hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Tỷ lệ mắc bệnh còn phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường Khi con nái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận sinh dục trong đường sinh dục mở, máu, sản dịch ra nhiều ở đó tạo ra nhiều khả năng cho vi khuẩn xâm nhập Kỹ thuật đỡ
đẻ cho lợn cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng mắc bệnh
Mắc bệnh ở lợn nái có nhiều nguyên nhân khác nhau
bị biến dạng nên nhau thai không tróc hoàn toàn gây sót nhau, thối rữa
- Lợn nái nhập nội cũng dễ bị mắc bệnh, do chưa thích nghi với điều kiện môi trường
- Yếu tố ngoại cảnh như: chuồng trại vệ sinh kém, vệ sinh bộ phận sinh dục nái trước và sau đẻ cò kém, kỹ thuật đỡ đẻ không đứng, khu vực chuồng trại có mầm bệnh,
Bệnh còn xảy ra khi điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý kém, lợn nái chửa ít vận động, thời tiết thay đổi đột ngột
Trang 30Sức đề kháng của cơ thể phụ thuộc trước hết vào dinh dưỡng Dinh dưỡng phải đảm bảo đủ về cả lượng và chất
Đặc điểm bệnh viêm tử cung
Là quá trình bệnh lý xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ, quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức cảu các lớp hay các tầng của thành tử cung gây rối loạn sinh sản từ đó gây ảnh hưởng tới khả năng sinh sản, thậm chí làm cho gia súc cái mất khả năng sinh sản
Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Do tử cung bị tổn thương, sót nhau sau đẻ Bệnh phát triển do nuôi dưỡng không đủ chất Do đưa vào cơ quan sinh dục những chất kích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở bộ máy sinh dục lợn
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
Khi phối giống trực tiếp lợn đực bị mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những lợn nái khác bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền qua cho lợn khỏe
Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, theo đó vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung kế phát
Lợn nái sau khi đẻ bị sót nhau xử lý không triệt để dễ dẫn tới viêm tử cung
Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao,…
Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục của lợn nái trước và sau đẻ không sạch; trong thời gian lợn đẻ cổ tử cung mở, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm
Trang 31Do nấm xâm nhập
Ngoài các nguyên nhân trên bệnh viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung trong thời gian động dục (do lúc đó cổ tử cung mở)
Bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Triệu chứng bệnh viêm tử cung
Theo ông Nguyễn Văn Thanh (2010) [17], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy
Luật: sáng sốt nhẹ 39 - 390C chiều 40 - 410C Con vật ăn khém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhều hơn Trong trường hợp thai chết lưu
âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi có dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn