Kết quả lai tạo đã tạo ra các con lai cho màu lông phù hợp với thị hiếu của người dân, chất lượng thịt thơm ngon, có khả năng sinh trưởng tốt, thích nghi với khí hậu của từng vùng, từng
Trang 1LÙ THỊ HƯỚNG
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ
PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN GÀ THỊT (♂Ri x ♀Lương Phượng) NUÔI TẠI TRUNG TÂM KHẢO NGHIỆM VÀ CHUYỂN GIAO GIỐNG CÂY
TRỒNG VẬT NUÔI – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2017 – 2021
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 2LÙ THỊ HƯỚNG
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ
PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN GÀ THỊT (♂Ri x ♀Lương Phượng) NUÔI TẠI TRUNG TÂM KHẢO NGHIỆM VÀ CHUYỂN GIAO GIỐNG CÂY
TRỒNG VẬT NUÔI – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi - Thú y Lớp: K49 – CNTY N01
Khóa học: 2017 – 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Bích Đào
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Vậy là quãng đường 4 năm học tập dưới mái trường Đại học gần đi đến những bước cuối cùng Trải qua những tháng ngày đèn sách, học tập và rèn luyện không ngừng nghỉ cùng với những kì thực tập, thực tế gian lao nhưng đầy bổ ích để chúng em trau dồi kiến thức và trải nghiệm thực tế cuộc sống – đây là hành trang vững chắc cho cuộc sống sau này của mỗi chúng em khi bước ra ngoài xã hội Cùng với sự nỗ lực học hỏi của bản thân, sự quan tâm hướng dẫn tận tình của thầy cô và bạn bè xung quanh đến nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, cùng các thầy, cô giáo đã tận tình dìu dắt, chỉ dậy, quan tâm và giúp đỡ chúng em trong suốt thời gian qua Đặc biệt là sự quan tâm, giúp đỡ của cô
giáo TS Nguyễn Thị Bích Đào đã chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn em, định
hướng đi cho em, để em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Từ Trung Kiên và cô giáo Trần Thị Hoan đã tạo điều kiện thuận lợi, quan tâm giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực tập tại cơ sở
Do kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót trong cách hiểu vấn đề và lỗi trình bày Em rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo để bài khóa luận tốt nghiệp này hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong công tác giảng dạy và trong cuộc sống!
Em xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 06 năm 2021
Sinh viên
Lù Thị Hướng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 4
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 5
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trung tâm 7
2.1.4 Công tác chăn nuôi 9
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề 10
2.2.1 Một số đặc điểm của giống gà Ri lai (♂Ri x ♀Lương Phượng) 10
2.2.2 Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và đánh giá sức sinh trưởng của gà 12 2.2.3 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà 20
2.2.4 Đặc điểm sinh lí hô hấp 22
2.2.5 Các bệnh hay gặp ở gà thịt 26
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 31
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 31
Trang 5PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 34
3.1 Đối tượng 34
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34
3.3 Nội dung thực hiện 34
3.4 Phương pháp thực hiện 34
3.4.1 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin 34
3.4.2 Dinh dưỡng và thức ăn cho gà 35
3.4.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 37
3.4.4 Thực hiện các công tác chuẩn bị và quy trình nhập gà con về trại … 38
3.4.5 Chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà……… ……41
PHẦN 4 KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI………47
4.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà 47
4.2 Công tác phòng bệnh bằng vệ sinh sát trùng và phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho gà 49
4.2.1 Công tác phòng bệnh bằng vệ sinh sát trùng 49
4.2.2 Công tác phòng bệnh bằng vaccine 50
4.2.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gà 52
4.3 Khả năng thu nhận thức ăn và hiệu quả kinh tế đem lại 56
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH KHI THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tốc độ vận chuyển thức ăn trong đường tiêu hóa của gà 22
Bảng 2.2 Tần số hô hấp trong một phút của một số loài gia cầm 24
Bảng 2.3 Nhu cầu O2 và lượng CO2 thải ra sau một 1 giờ tính trên lkg thể trọng của các loại gà như sau 25
Bảng 3.1 Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp 42
Bảng 3.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợpcho gà (giai đoạn từ 1 – 28 ngày tuổi) 44
Bảng 3.3 Thành phần và giá trị dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợpcho gà (giai đoạn từ 29 ngày tuổi – xuất bán) 45
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống tính đến tuần tuổi thứ 12 của đàn gà (%) 47
Bảng 4.2 Kết quả theo dõi khối lượng của gà qua các tuần tuổi (gam/con) 48
Bảng 4.3 Sinh trưởng tuyệt đối của gà qua các giai đoạn 49
Bảng 4.4 Lịch vaccine phòng bệnh cho gà thịt 50
Bảng 4.5 Kết quả phòng bệnh bằng vaccine cho đàn gà 52
Bảng 4.7 Lượng thức ăn tiêu thụ trong 12 tuần tuổi 56
Bảng 4.8 Chi phí chăn nuôi gà từ 0-12 tuần tuổi 57
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Vị trí các cơ quan bên trong của gia cầm mái 20
Hình 2.2: Giải phẫu học túi khí 23
Hình 3.1 Bảng thông tin dinh dưỡng có trong 100g ngô 36
Hình 3.2 Vị trí cắt mỏ cho gà……….42
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây, chăn nuôi gà đã và đang phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng Tổng đàn gia cầm của cả nước tại thời điểm tháng 12/2019 đạt 467 triệu con, tăng 14,2% so với cùng thời điểm năm 2018; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng cả năm ước đạt 1.278,6 nghìn tấn, tăng 16,5% so với năm 2018 (Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam, 2020) Với chăn nuôi truyền thống quy mô vừa và nhỏ phát triển nhanh, nhất là trong giai đoạn vừa qua dịch tả lợn Châu Phi xảy ra, thì người dân đang dần dần chuyển đổi sang chăn nuôi gia súc khác Điều này đòi hỏi nước ta luôn phải đẩy mạnh công tác giống, lai tạo giữa các giống gà bản địa với nhau hoặc lai tạo với giống gà nhập nội với gà địa phương để đáp ứng nhu cầu của người chăn nuôi
Ở nước ta, các giống gà bản địa hiện đang được nuôi phổ biến như gà
Ri, Mía, Chọi , chúng có sức sống cao, thuộc nhóm giống gà lông màu có ngoại hình đẹp, chất lượng thịt ngon Tuy nhiên với nhược điểm tầm vóc không lớn, sinh trưởng chậm, năng suất thịt, trứng thấp dẫn đến không đáp ứng được đủ nhu cầu của người dân cũng như xu hướng chăn nuôi hiện nay
Chính vì vậy, cần lai tạo các giống gà bản địa với các giống gà nhập nội có năng suất cao nhưng chất lượng thịt còn chưa ngon để tạo ra gà lai phát huy những ưu thế lai của giống đem lại hiệu quả kinh tế cao
Gà Lương Phượng (LP) có nguồn gốc từ Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc, được nhập vào nước ta đã trở thành giống gà lông màu chăn thả phổ biến ở nhiều địa phương Gà Lương Phượng có đặc điểm dễ nuôi, nhanh lớn, ít bệnh, năng suất cao, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, một mái sản xuất 120 - 130 gà con, gà thịt nuôi 10 tuần tuổi đạt khối lượng 1,5 - 1,6kg, tiêu tốn 2,4 - 2,6kg thức ăn/kg tăng
Trang 10trọng Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1999) [1] thì gà Lương Phượng nuôi thịt đến 65 ngày tuổi đạt khối lượng từ 1,5-1,6kg, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng từ 2,4 đến 2,6kg, tỷ lệ nuôi sống 95% Song chất lượng thịt ít được ưa chuộng bởi lượng mỡ dưới da cũng như mỡ bụng nhiều
Việc lai tạo giữa các giống gà nội với các giống gà thả vườn nhập nội
đã và đang được áp dụng Kết quả lai tạo đã tạo ra các con lai cho màu lông phù hợp với thị hiếu của người dân, chất lượng thịt thơm ngon, có khả năng sinh trưởng tốt, thích nghi với khí hậu của từng vùng, từng địa phương ở nước
ta, trong đó có gà Ri lai (♂Ri x ♀Lương Phượng) Đã có nhiều nghiên cứu
đánh giá sức sản xuất thịt của con lai và đều khẳng định con lai (♂Ri x
♀Lương Phượng) có khả năng sinh trưởng tốt trong các điều kiện, phát huy được những ưu thế lai vượt trội Với chăn nuôi muốn đem lại hiệu quả cao không những đòi hỏi con giống tốt mà còn phải có kỹ thuật chăn nuôi tốt từ chuồng trại cho đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh hợp lý
Xuất phát từ thực tế trên, em thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn gà thịt (♂Ri x ♀Lương Phượng) nuôi tại Trung tâm Khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên’’
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
Trang 111.2.2 Yêu cầu
- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà thịt (♂Ri
x ♀Lương Phượng) đạt hiệu quả cao
- Áp dụng được quy trình phòng và trị bệnh cho đàn gà thịt (♂Ri x
♀Lương Phượng)
- Nắm được chi tiết tình hình chăn nuôi tại trang trại
- Đánh giá hiệu quả quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà
- Chăm chỉ học hỏi, luôn luôn tìm hiểu các vấn đề,
- Không ngại khó ngại khổ;
- Làm việc với tinh thần hăng say, yêu nghề Chủ động sáng tạo trong công việc, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ mà cơ sở phân công
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trung tâm Khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Cách trung tâm thành phố khoảng
6 km về phía Tây Ranh giới của trung tâm được xác định như sau:
- Phía Đông và phía Bắc giáp khu vườn cây ăn quả của khoa Công nghệ sinh học
- Phía Tây giáp trại lợn của khoa Chăn nuôi thú y
- Phía Nam giáp vườn hoa Tường Vi garden của khoa Công nghệ sinh học
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
*Khí hậu
Khí hậu tại Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc miền khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, được chia làm 4 mùa rõ rệt: xuân - hạ - thu – đông (có mùa đông lạnh giá, ít mưa, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều) Là một trong các tỉnh chịu ảnh hưởng của gió
Trang 13Với khí hậu như vậy trong chăn nuôi cần chú ý tới công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi Về mùa đông còn có gió mùa Đông Bắc gây rét và có sương muối ảnh hưởng xấu đến cây trồng và vật nuôi
* Diện tích, đất đai
Xã Quyết Thắng có tổng diện tích là 1.292,78 ha, trong đó:
- Diện tích đất trồng lúa và hoa màu: 565 ha
- Diện tích đất lâm nghiệp: 199 ha
- Diện tích đất chuyên dùng: 170 ha
Diện tích đất chủ yếu là đất đồi bãi, độ dốc lớn, thường xuyên bị xói mòn, rửa trôi nên độ màu mỡ kém, dẫn đến năng suất cây trồng thấp, việc canh tác gặp nhiều khó khăn Cùng với sự gia tăng dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng,…diện tích đất nông nghiệp và đất hoang hóa có xu hướng ngày một giảm, gây khó khăn trong phát triển chăn nuôi Chính vì thế, trong những năm tới cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa ngành trồng trọt và chăn nuôi để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ngành nông nghiệp
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Những năm gần đây, kinh tế xã Quyết Thắng tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa dạng về ngành nghề và nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có Trên cơ sở đó, nhanh chóng xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp
- Dân cư: Xã Quyết Thắng có tổng dân số là 10837 (tháng 4 năm 2020) người Bao gồm rất nhiều dân tộc cùng tham gia sinh sống Đại đa số là dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu,…
- Y tế: Trạm y tế của xã được khánh thành và hoạt động từ tháng 6/2009 với nhiều trang thiết bị hiện đại; là nơi thường xuyên khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân
Trang 14- Giáo dục: Địa bàn xã là nơi tập trung nhiều trường học lớn và trụ sở chính của Đại học Thái Nguyên và các trường thành viên như: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, trường Đại học Khoa học, Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, cùng một số trường Trung học phổ thông vùng cao Việt Bắc và các trường trung học cơ sở, trường tiểu học khác Đây là điều kiện thuận lợi giúp cho trình độ dân trí của người dân được nâng lên rõ rệt, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao Trong những năm vừa qua, xã đã hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập trung học cơ sở
- An ninh chính trị: Xã có dân cư phân bố không đồng đều, gây ra không
ít khó khăn cho phát triển kinh tế cũng như quản lý xã hội Khu vực các nhà máy, trường học, trung tâm tập trung đông dân cư, nhiều cư dân từ nhiều nơi đến cư trú, học tập và làm việc nên việc quản lý xã hội ở đây khá phức tạp
- Quyết Thắng là một xã trực thuộc thành phố Thái Nguyên, có cơ cấu kinh tế đa dạng với nhiều thành phần kinh tế hoạt động đồng thời Các ngành kinh tế Công nghiệp Quyết Thắng đang dần được đô thị hóa, nhiều dự án quy hoạch trung hạn và ngắn hạn đã và đang được thực hiện, trọng điểm là dự án đường Bắc Sơn kéo dài Trong những năm gần đây, xã Quyết Thắng đã thu hút nhiều dự án lớn vào đầu tư, với hàng loạt các tập đoàn kinh tế, các Công
ty đầu tư trên địa bàn xã như: Công ty TNHH một thành viên điện cơ hóa chất
15, Công ty TNHH xây dựng và TM Hữu Huệ, Công ty CP chè Tân Cương Hoàng Bình, Chợ Z115, đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của xã
- Nông nghiệp - Dịch vụ: Luôn có mối quan hệ hữu cơ hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đang có sự chuyển dịch
từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ
- Về sản xuất nông nghiệp: Khoảng 80% số hộ dân sản xuất nông nghiệp
Trang 15- Về Lâm nghiệp: Xã tiến hành việc trồng cây gây rừng phủ xanh đất trống đồi trọc Hiện nay đã phủ xanh được phần lớn diện tích đất trống đồi trọc của xã Đã có một phần diện tích đến tuổi được khai thác
- Về dịch vụ: Đây là một ngành mới đang có sự phát triển mạnh, tạo thêm việc làm và góp phần tăng thu nhập cho người dân
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trung tâm
Trung tâm Khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi được
thành lập năm 2016, theo Quyết định thành lập số 113/QĐ.TCCB ngày
25/01/2016 của Hiệu Trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
*Chức năng của trung tâm
- Nghiên cứu chọn tạo giống, khảo nghiệm giống cây trồng, vật nuôi thích nghi điều điện sinh thái khu vực phía Bắc Nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi, xây dựng thương hiệu nông sản cho các tỉnh khu vực phía Bắc
- Tổ chức sản xuất và kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi, phục vụ nhu cầu sản xuất cho thị trường khu vực phía Bắc Tư vấn về lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi
- Lập dự án quy hoạch phát triển sản xuất giống cây trồng, vật nuôi cho các địa phương khu vực phía Bắc
- Liên kết với các cơ quan ngoài trường để tổ chức nghiên cứu, cung cấp các dịch vụ phát triển sản xuất nông nghiệp
- Đào tạo nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp
- Là địa bàn đào tạo, thực hành, thực tập nghề nghiệp về lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi cho sinh viên các ngành đào tạo trong trường và các ngành khác nếu có nhu cầu
* Nhiệm vụ
- Tổ chức triển khai nghiên cứu chọn tạo, khảo nghiệm các giống cây trồng, vật nuôi mới
Trang 16- Triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
- Làm các dự án phát triển về giống cây trồng vật nuôi, kỹ thuật canh tác tiên tiến
- Tham gia đào tạo nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp hay các bậc học: Đại học, Cao học, Nghiên cứu sinh
- Đây là nơi thực tập và thực hành cho sinh viên ở các khoa Chăn nuôi thú y, Nông học,…
- Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: Các sản phẩm rau, củ, quả, cây trồng, vật nuôi,
- Trang trại gà trong Trung tâm Khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi là đơn vị trực thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng nên mang những điều kiện tự nhiên đặc trưng của xã Quyết Thắng, thuận lợi cho phát triển chăn nuôi và thú y
* Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất trại gà
Trại gà trực thuộc Trung tâm Khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi, được khoa Chăn nuôi thú y trực tiếp quản lý và điều hành Có
1 cán bộ quản lý trực tiếp tại trại và phụ trách công tác kỹ thuật của trại Ngoài ra còn có các sinh viên thực tập tốt nghiệp và các nhóm sinh viên rèn nghề Các mô hình đề tài NCKH của giảng viên và sinh viên khoa Chăn nuôi Thú y
- Trại được thiết kế nằm xa khu dân cư
- Tổng diện tích 7100 m²
- Gồm 2 dãy chuồng
- Mỗi dãy có 3 ô chuồng, có thể nuôi được 2000 gà
- Nền chuồng bằng bê tông, xung quang là bê tông xây lên và hệ thống lưới chắn
- Lối đi trước cửa chuồng được lát gạch hoa sạch sẽ
Trang 17- Mái chuồng là mái tôn (thiết kế dạng 4 mái đảm bảo độ thông thoáng)
- Hệ thống đèn điện, quạt công suất lớn đầy đủ phục vụ công tác chăn nuôi, nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Mỗi chuồng được lắp đặt cố định 2 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng sưởi được trang bị đầy đủ
- Máng ăn, máng nước trong các ô chuồng được treo đầy đủ
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu vực khác đều được đổ bê tông
- Hệ thống nước tiện lợi, chảy thẳng đến khu chăn nuôi theo đường ống nước được bơm từ bể lớn, nước xả gầm,…
- Kho chứa thức ăn: Trần đóng kín, có sàn cách mặt đất 30cm để chứa thức ăn tránh nắng mưa, ẩm ướt, tránh chuột và động vật gây hại đến nguồn thức ăn
- Các công trình phụ trợ khác: Nhà kỹ thuật, khu nhà ở nhân viên của trại được tách biệt với khu chăn nuôi gồm: Các phòng ở, phòng bếp, phòng tắm,
vệ sinh, Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh Có nhà kho phục vụ cho việc cất giữ bảo quản đồ dùng và các trang thiết bị chăn nuôi
- Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, máy phun sát trùng tự động, máy cắt cỏ, máy cắt mỏ gà,…
2.1.4 Công tác chăn nuôi
Hiện nay trang trại đang có: 200 gà Ri lai (♂Ri x ♀Lương Phượng) đang được nuôi theo hướng nuôi thịt, nuôi phục vụ công tác thực hành thí nghiệm, 1000 chim cút nuôi phục vụ công tác nghiên cứu khoa học của các bạn sinh viên khoa Chăn nuôi thú y của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, hơn 200 con gà lông xước, hơn 120 đôi gà H'mông đen đẻ lấy trứng
ấp, 1 đôi dê đang nuôi bảo tồn nguồn gen và nghiên cứu đề tài khoa học
Trang 18Hiện tại Trung tâm Khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thực hiện quy trình chăn nuôi gia cầm với 2 loại gà chính đó là gà sinh sản và gà thịt Nguồn thức ăn được
sử dụng trong trại bao gồm thức ăn hỗn hợp của Công ty thức ăn chăn nuôi Phú Sỹ và Công ty thức ăn chăn nuôi An Nghĩa và thức ăn tự phối trộn Trong toàn bộ quá trình chăn nuôi và hoạt động, trang trại chăn nuôi trong Trung tâm Khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng vật nuôi luôn tuân theo và hoàn thành tốt quy định chặt chẽ cũng như luôn tuân thủ hướng dẫn và quy đình của nhà trường Từ đó luôn đảm bảo tốt về công tác chăn nuôi cũng như công tác an toàn trong trang trại Tại trại gà còn thường xuyên tổ chức các buổi học tập cũng như thực hành vô cùng bổ ích cho các bạn sinh viên khoa Chăn nuôi Thú y, từ đó nâng cao tay nghề và hiểu biết của sinh viên về gia cầm Ngoài ra, tại đây còn phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, các hoạt động về môi trường được thực hiện thường xuyên tại trại như vệ sinh tẩy uế, sát trùng xung quanh trại để phòng chống bệnh cho gà Hàng tuần, các bạn sinh viên thực tập tại đây còn tổ chức công tác dọn vệ sinh xung quanh trại, thu gom rác thải, xử lý rác thải sinh hoạt và rác thải chăn nuôi, phát quang cỏ phía trước và sau trại
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề
2.2.1 Một số đặc điểm của giống gà Ri lai (♂Ri x ♀Lương Phượng)
Gà Ri là giống gà nội địa đã có từ rất lâu đời, kiêm dụng (nuôi lấy trứng, thịt), được nuôi phổ biến nhất mọi vùng, mọi miền (tập trung nhiều ở miền Bắc và Trung) Tùy theo sự chọn lọc trong quá trình chăn nuôi mà giống này hình thành nên các giống gà Ri có thể hình, màu sắc khác nhau ít nhiều ở mỗi địa phương Thân hình nhỏ bé, chân ngắn Thông thường và phổ biến nhất, thì gà mái có lông màu vàng và nâu nhạt, điểm các đốm đen ở cổ, đầu cánh và chót đuôi Gà trống có bộ lông sặc sỡ nhiều màu nhất là lông cổ và
Trang 19lông đuôi chiếm ưu thế nhất là lông màu vàng đậm và tía sau đó là vàng nhạt hoặc trắng ở cổ Rất ít khi thấy gà Ri có màu lông thuần nhất Gà Ri là giống nhẹ cân, gà mái 1,2 - 1,8kg, gà trống 1,8 - 2,3kg Màu da vàng hoặc trắng, da chân vàng Mào cờ có răng cưa, màu đỏ và phát triển ở con trống Tích và dái tai màu đỏ, có khi xen lẫn ánh bạc Chân có hai hàng vảy màu vàng, đôi khi xen lẫn màu vàng đỏ tươi Gà Ri thành thục sinh dục sớm (14,1 ngày) Gà mái sức đẻ năm đầu 100 - 120 trứng, trứng nặng 40 - 45g, vỏ màu trắng Gà đẻ theo từng đợt 15 - 20 trứng, nghỉ đẻ và đòi ấp Gà có đặc điểm nổi bật là dễ nuôi, sức đề kháng cao, sức chống chịu với thời tiết và bệnh tật cao, cần cù chịu khó kiếm ăn, nuôi con khéo Gà Ri thích hợp với nuôi chăn thả, chịu đựng tốt điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng, tuy nhiên độ sinh sản thấp Trong tương lai khi mà ngành gia cầm nuôi các giống cao sản phát triển thì là
Ri có thể sẽ được coi như là một đặc sản (Theo Nguyễn Duy Hoan (1999) [1]
Để đáp ứng nhu cầu của sản xuất về giống gà thịt năng suất, chất lượng thịt thơm ngon Hiện nay các trung tâm giống đã lai tạo được các dòng gà lai thịt: gà Ri lai phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Giống lai với ưu điểm gà
có chất lượng thịt thơm, ngon và chịu đựng tốt với điều kiện nuôi kham khổ Hiện nay, gà ri được sử dụng phổ biến để lai với các giống gà lông màu có năng suất cao hơn như: gà Lương Phượng, gà Sasso, gà Kabir, gà Mía tạo tổ hợp gà Ri lai phục vụ sản xuất chăn nuôi gà thương phẩm lấy thịt Ưu thế lai làm tăng mức trung bình giữa con lai so với 2 giống gốc, hai dòng thuần nhất
là đối với các tính trạng số lượng (Nguyễn Văn Thiện (1996) [2]) Con lai thường có sức chống chịu bệnh tốt hơn, sức sản xuất và phẩm chất tốt hơn
Gà Ri lai – Đây là giống gà được tạo ra từ con lai giữa gà trống Ri với
gà mái Lương Phượng có sức đề kháng cao, ít bị bệnh tật, thời gian tăng trưởng ngắn, thịt thơm ngon, cho trọng lượng trung bình đạt từ 1,8 – 2kg/con rất phù hợp với nhu cầu sử dụng của khách hàng nên rất được giá Giống gà
Trang 20Ri lai thích nghi được mọi khu vực và hiện đang là nguồn thu nhập lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ gia đình trên cả nước
2.2.2 Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và đánh giá sức sinh trưởng của gà
2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng
Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và sự phân chia của các tế bào trong cơ thể (Trần Văn Thăng (2017) [15]) Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [3] cho biết: Midedorpho
A F (1867) là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau
đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi Cũng như các loài vật nuôi khác, sự sinh trưởng của gà tuân theo quy luật chung và trải qua 2 giai đoạn chính đó là giai đoạn trước khi nở và giai đoạn sau khi nở Quá trình sinh trưởng phải thông qua 3 quá trình là phân chia để tăng số lượng tế bào, tăng thể tích tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào
Nói đến sinh trưởng không thể không nói đến phát dục bởi vì sinh trưởng và phát dục là sự phát triển chung của cơ thể Trần Văn Thăng (2017) [15] cho biết: Phát dục là một quá trình thay đổi về chất, tức là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống Quá trình phát dục diễn ra từ khi trứng được thụ tinh, qua các giai đoạn khác đến khi trưởng thành Sinh trưởng, phát dục ở gia súc, gia cầm luôn tuân theo quy luật nhất định, đó là: Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn,
Trang 21quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều, quy luật sinh trưởng phát dục
có tính chu kỳ
Về mặt sinh học sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein nên người ta thường lấy mặt tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng Trong chăn nuôi gia cầm, việc nghiên cứu sinh trưởng cần chú ý xác định khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sinh trưởng mà rất dễ thực hiện Vì vậy cần tiến hành theo dõi khối lượng cơ thể liên tục qua các tuần tuổi và tính mức độ tăng khối lượng, do tính trạng này có liên quan đến hiệu suất sử dụng thức ăn
2.2.2.2 Các giai đoạn sinh trưởng của gà
Ở sinh vật từ khi hình thành phôi tới khi trưởng thành, khối lượng và thể tích cơ thể tăng lên Điều này trước tiên là số lượng tế bào tăng lên, các cơ quan bộ phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng và kích thước Từ
đó, dẫn đến khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên Sự lớn lên của cơ thể là
là do sự tích lũy các chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất Mozan (1997)
đã đưa ra khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác (Theo Chambers J R 1990) [16])
Trần Đình Miên và Hoàng Kim Đường (1992) [3] đã khái quát như sau:
“Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là
sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn
bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”
Đối với gà, quá trình tích lũy các chất thông qua quá trình trao đổi chất
đó là sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào, số lượng tế bào và dịch thể trong mô bào ở giai đoạn phát triển đầu của phôi trên cơ sở tính di truyền Sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn dần của các mô, đó là sự tăng lên về kích
Trang 22thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn gà con và giai đoạn trưởng thành
* Giai đoạn gà con
Giai đoạn này gà sinh trưởng rất nhanh do lượng tế bào tăng nhanh, một số bộ phận của cơ quan nội tạng còn chưa phát triển hoàn chỉnh như các men tiêu hoá trong hệ tiêu hoá chưa đầy đủ do vậy thức ăn giai đoạn này cần chú ý đến thức ăn dễ tiêu, vì thức ăn giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến tốc
độ sinh trưởng của gà Quá trình thay lông diễn ra trong cùng giai đoạn này là quá trình phát triển sinh lý, nó làm thay đổi quá trình trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu, do đó cần chú ý đến hàm lượng của các chất dinh dưỡng và axit amin thiết yếu như: Methionine, tryptophan, lysine trong khẩu phần thức ăn
* Giai đoạn gà trưởng thành
Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đã phát triển hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục Quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong giai đoạn này một phần để duy trì cơ thể, một phần để tích lũy mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn giai đoạn gà con
2.2.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà với những mức độ khác nhau như di truyền, tính biệt, tốc độ mọc lông, các điều kiện môi trường, nuôi dưỡng chăm sóc
* Ảnh hưởng của dòng, giống
Tốc độ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào loài, giống, dòng, cá thể Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) [4] khi nuôi gà thịt Tam Hoàng ở 85 ngày tuổi cho thấy dòng 882 có khối lượng trung bình đạt 1418 g trong khi dòng Jiangcun chỉ đạt 1248 g
Các loài gia cầm khác nhau thì có khả năng sinh trưởng hoàn toàn khác nhau Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân
Trang 23(1998) [6] cho thấy tốc độ tăng trưởng tương đối của một số giống gà ở các giai đoạn tuổi là hoàn toàn khác nhau Ở tháng thứ nhất của gà 150%, của vịt
là 180%, của ngỗng là 170%, ở tháng thứ năm lần lượt là 20%, 4% và 7%
* Ảnh hưởng của tính biệt
Ở gia cầm tốc độ sinh trưởng giữa 2 giới có sự khác nhau về trao đổi chất, đặc điểm sinh lý, tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể Thường thì con trống có tốc độ sinh trưởng mạnh hơn con mái Sự khác nhau này được giải thích thông qua tác động của các gen liên kết giới tính North M.O (1990) [20] kết luận: lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 2 tuần tuổi 5%, 3 tuần tuổi trên 11%, 5 tuần tuổi trên 17%, 6 tuần tuổi trên 20%, 7 tuần tuổi trên 23%, 8 tuần tuổi trên 27%
Theo nghiên cứu của Trần Thanh Vân và cs (2015) [5]: Ở gà hướng thịt, giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi, con trống nặng hơn con mái 180 - 250 g
Tiêu tốn thức ăn cho tăng trọng có liên quan đến tính biệt, biện pháp nuôi dưỡng và những tác động kỹ thuật Do vậy, để làm hạ thấp tiêu tốn thức
ăn cần cho ăn theo nhu cầu phù hợp với đặc điểm sinh lý, cải thiện khả năng tăng khối lượng, giảm thời gian nuôi dưỡng, đồng thời kết hợp với quá trình chọn lọc (H Pingel (1984) [21])
* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến từng mô khác nhau, gây nên sự biến đổi trong quá trình phát triển của mô này đối với mô khác, dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến biến động di truyền về sinh trưởng
Theo Chanbers J R (1990) [16], thì tương quan giữa trọng lượng của
gà và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 - 0,9) Chi phí thức ăn chiếm tới 70% giá thành trong chăn nuôi gà, do vậy để có năng suất cao trong ngành chăn nuôi ta phải lập ra những khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo cân đối trên
cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm trong từng giai đoạn nuôi
Trang 24Ngoài ra để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, axit amin và năng lượng Cũng như bất kỳ vật nuôi nào, protein
là thành phần cấu trúc quan trọng nhất của cơ thể gia cầm Protein có hàng loạt đặc tính mà không thể có ở bất cứ một hợp chất hữu cơ nào khác Khác với gluxit và lipit, trong cấu trúc của protein bao giờ cũng có nitơ (16%) Phần lớn các trường hợp là có lưu huỳnh, đôi khi có phốt pho Do đó cơ thể động vật nói chung và gia cầm nói riêng không thể tạo ra protein từ gluxit và lipit, mà bắt buộc phải đấy protein từ thức ăn hàng ngày một cách đều đặn, một số lượng đầy đủ và theo một tỷ lệ thích hợp so với các chất dinh dưỡng khác (Nguyễn Duy Hoan (2010) [8])
Theo Lê Hồng Mận và Cs (2003) [7] cho biết: Nhu cầu protein thích hợp cho gà Broiler cho năng suất cao đã được xác định, các tác giả nhấn mạnh tỉ lệ giữa năng lượng và protein trong thức ăn cũng rất quan trọng, để phát huy được khả năng sinh trưởng tối đa cần phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng với sự cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, axit amin với năng lượng Rece và cs (1985) đã khẳng định hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Broiler tăng khi tăng hàm lượng protein trong khẩu phần Onwudikie 1983 cũng có nhận xét tương tự nhưng cho rằng nó bị giảm khi mức protein trong khẩu phần vượt quá 26% ở giai đoạn từ 4 - 8 tuần tuổi (Nguyễn Duy Hoan, 2010) [8]
Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm
* Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi
Trang 25thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm
Đặc điểm di truyền của giống và ngoại cảnh có tác động qua lại với nhau, nghĩa là cùng một kiểu gen nhưng ở các môi trường khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau Cho nên việc cần thiết là phải tạo ra môi trường phù hợp với kiểu gen đó để phát huy tối đa tiềm năng di truyền của giống Jaap và Moris (1997) [17] đã phát hiện ra những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng
- Yếu tố nhiệt độ:
Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [5] với gà Broiler và gà hậu bị, nhiệt độ ngày thứ nhất cần phải đảm bảo 32 - 340C; ngày thứ 2 - 7 là 300C; tuần thứ hai là 260C; tuần thứ ba là 220C; tuần thứ tư là 200C
Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới (Wesh Bunr K W ET - AT, 1992 [18])
Nir (2002) [19] qua nghiên cứu đã chỉ ra rằng với nhiệt độ môi trường
350C ẩm độ tương đối 66% đã làm giảm quá trình tăng khối lượng cơ thể 30 - 35% ở gà trống 20- 30% ở gà mái so với điều kiện thích hợp về khí hậu Thông thường khi nhiệt độ cao khả năng ăn của gia cầm giảm
- Ẩm độ môi trường:
Ẩm độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của gia cầm Khi ẩm độ tăng làm cho chất độn chuồng dễ ẩm ướt, thức ăn dễ bị ẩm mốc làm ảnh hưởng xấu tới gà, đặc biệt là khí NH3 do vi khuẩn phân huỷ axit uric trong phân và chất độn chuồng làm tổn thương đến hệ hô hấp của gà, tăng khả năng nhiễm bệnh cầu trùng, Newcastle, CRD dẫn tới làm giảm khả năng sinh trưởng của gà
Trang 26- Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng:
Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất
nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm
Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [5], với gà broiler giết thịt sớm 38 -
42 ngày tuổi, thời gian chiếu sáng như sau: 3 ngày đầu chiếu sáng 24/24 giờ, cường độ chiếu sáng 20 lux/m2, ngày thứ tư đến kết thúc, thời gian chiếu sáng giảm xuống còn 23/24 giờ, cường độ chiếu sáng còn 5 lux/m2 Khi cường độ chiếu sáng cao, gà hoạt động nhiều do đó làm giảm tốc độ tăng khối lượng Với chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mùa hè cần che ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào chuồng nhưng vẫn đảm bảo thông thoáng, ánh sáng được phân bố đều trong chuồng, hoặc có thể sử dụng bóng đèn có cùng công suất
để tránh gà tụ tập vào nơi có ánh sáng mạnh hơn Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
- Độ thông thoáng trong chuồng nuôi có vai trò quan trọng trong việc giúp gà đủ O2, thải CO2 và các chất độc khác Thông thoáng làm giảm ẩm độ, điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi từ đó hạn chế bệnh tật
- Tốc độ gió và nhiệt độ không khí có ảnh hưởng tới tăng khối lượng của gà, gà con nhạy cảm hơn gà trưởng thành Đối với gà lớn cần tốc độ lưu thông không khí lớn hơn gà nhỏ
* Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt
Mật độ nuôi nhốt cũng là một yếu tố quan trọng để chăn nuôi đạt hiệu quả cao Nếu mật độ nuôi nhốt cao thì chuồng nhanh bẩn, gà ít không gian hoạt động dẫn đến gà có thể bị stress, kém ăn, lớn chậm, mổ nhau Cùng với
đó lượng khí thải NH3, CO2, H2S,… độ ẩm cao làm cho vi sinh vật phát triển mạnh gây ảnh hưởng tới sự phát và sức khỏe của đàn gà, gà dễ bị cảm nhiễm với bệnh, tỷ lệ đồng đều thấp, tỷ lệ chết cao, cuối cùng làm giảm hiệu quả
Trang 27trong chăn nuôi Ngược lại mật độ nuôi nhốt thấp thì chi phí chuồng trại cao gây lãng phí và khó quản lý đàn gà Vì vậy tùy vào mô hình chăn nuôi, khối lượng theo từng giai đoạn của cơ thể gà, mùa vụ nuôi,… mà người chăn nuôi điều chỉnh mật độ nuôi cho hợp lý, giúp đàn gà khỏe mạnh và mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
2.2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng của gia cầm
Có nhiều cách đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm Hiện nay các nhà chọn giống và các nhà chăn nuôi thường áp dụng phương pháp định lượng là: Cân khối lượng cơ thể định kỳ, xác định mức tăng khối lượng cơ thể theo thời gian
Khối lượng cơ thể từng thời điểm là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ xác định được khả năng sinh trưởng tại một thời điểm nhất định của cơ thể, nhưng không chỉ ra được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng của các phần trong cơ thể, trong một khoảng thời gian, ở các độ tuổi khác nhau
* Sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ
thể hay của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng, nghĩa là các thời điểm thực hiện các phép đo Các thông số thu được qua các lần cân, đo là biểu hiện sự sinh trưởng tích lũy
Đường biểu diễn khả năng sinh trưởng tích lũy lý thuyết có dạng hình chữ S Chúng ta có thể so sánh đường biểu diễn kết quả thực tế với đường lý thuyết
để xem xét những ảnh hưởng của chăm sóc nuôi dưỡng, điều kiện thời tiết, khí hậu đến khả năng sinh trưởng của vật nuôi (Trần Văn Thăng (2017) [15])
* Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ
thể hay từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn bị thời gian
* Sinh trưởng tương đối: Đây là tỷ lệ phần trăm giữa phần khối lượng
tăng lên so với trung bình cộng khối lượng giữa hai lần khảo sát, nó biểu thị
Trang 28tốc độ sinh trưởng của đàn gà sau một thời gian nuôi dưỡng Qua đó, người chăn nuôi biết nên tác động như thế nào vào thời điểm nào là phù hợp nhất để
có lượng tăng khối lượng của gà tốt nhất với lượng thức ăn ít nhất
2.2.3 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà
Các cơ quan tiêu hóa của gia cầm bao gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tuyến tụy
Sự hình thành các cơ quan tiêu hóa ở dạng nếp gấp của phôi gà bắt đầu từ ngày ấp thứ 2 (tức sau 24 giờ)
Hình 2.1: Vị trí các cơ quan bên trong của gia cầm mái
- Tiêu hóa ở miệng: Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ
có vai trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về phía trong để đưa thức ăn về phía thực quản, nuốt nguyên vẹn cả thức ăn sau khi thấm một lượng nhỏ nước bọt giúp làm dính và bôi trơn thức ăn dễ chuyển vào thực quản Các tuyến ở khoang miệng gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu là nước bọt và dịch nhầy Trong nước bọt có chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với men
Trang 29eo nhỏ, khối lượng 4 - 6g Thức ăn chịu tác động của dịch vị có chứa men pepsin, axit clohidric và một số chất khác: Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên Khoang mũi và miệng thông về phía hầu, còn phía trước hầu có khe hô hấp ở thanh quản Thực quản: Thực quản phình to thành diều Diều gà hình túi, trong diều có thể chứa được 100 - 120g thức ăn Trong diều thức ăn được thấm ướt chịu tác động của nhiệt trương lên làm mềm và một phần hydrat cacbon được phân hủy dưới tác dụng của men amylase Thức ăn từ thực quản xuống dạ dày rất nhanh
- Dạ dày: Từ diều, thức ăn được đưa vào dạ dày tuyến Dạ dày tuyến được cấu tạo từ cơ nhầy musin Thức ăn sau khi được làm ướt sẽ được chuyển đến dạ dày cơ Đây là một túi có dạng hình đĩa cấu tạo từ lớp cơ rất dày và khoẻ Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá mà chỉ có chức năng nghiền nhỏ và trộn đều thức ăn với dịch vị của dạ dày tuyến Dưới tác dụng của men dịch vị
dạ dày Protein được phân giải thành peptone và các axit amin
- Ruột non: Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào ruột non, tại đây có các men của dịch ruột và tuyến tuỵ làm giảm nồng độ axit tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của men phân giải protein và gluxit trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu Ở ruột, gluxit được phân giải thành các monosaccarit nhờ men amylaza của dịch tuỵ
và một phần của dịch ruột, protit được phân giải đến pepton và polipeptit, tiếp
đó các mem proteolyse của dịch tuỵ sẽ phân giải thành các axit amin, lipit thì được chuyển hoá thành glyxerin và các axit béo nhờ men lipaza Chất xơ được tiêu hoá một lượng nhỏ ở manh tràng nhờ quá trình hoạt động của các vi khuẩn (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [1]) Quá trình tiêu hoá trong ruột bắt đầu ở tá tràng và kết thúc ở hồi tràng Tại đây hoạt động tiêu hoá diễn ra 85 - 95% Ở gà, hấp thu các chất dinh dưỡng từ bộ máy tiêu hoá vào máu và lympho đều tiến hành chủ yếu ở ruột non, bao gồm các sản phẩm phân giải
Trang 30protit, lipit, gluxit, khoáng, vitamin và nước Chính vì vậy, khi gà mắc bệnh cầu trùng sẽ gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến cơ thể gà Ở manh tràng quá trình phân giải các chất trên còn tiếp tục diễn ra nhờ men ở đường ruột tồn tại
và do vi sinh vật tiết ra nhưng rất ít Thức ăn được giữ lại trong đường tiêu hoá của gà trong thời gian ngắn Ở gà con thức ăn đi qua đường tiêu hoá hết 4-5 giờ Với gà trưởng thành là 7 - 8 giờ Chính đặc điểm này làm cho gà sau khi nuốt phải noãn nang cầu trùng sẽ cùng thức ăn di chuyển nhanh xuống đường tiêu hóa, xuống ruột non, manh tràng, trực tràng, nên quá trình xâm nhập của cầu trùng vào biểu mô ruột xảy ra rất nhanh, vòng đời của cầu trùng ngắn (5 - 7 ngày)
Tốc độ vận chuyển các chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa phụ thuộc vào loại thức ăn, hàm lượng dinh dưỡng, tuổi, trạng thái sinh lý, sức sản xuất của gia cầm (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Tốc độ vận chuyển thức ăn trong đường tiêu hóa của gà
Tuổi gà (ngày) Chiều dài ruột
Hoan, 1998 [6])
2.2.4 Đặc điểm sinh lí hô hấp
Trong quá trình trao đổi chất, mô bào tiêu hao oxy và các chất dinh dưỡng, sinh ra CO2 và các sản vật khác Quá trình tiêu hao O2, và sinh CO2,
Trang 31trong tế bào gọi là "hô hấp mô bào" Quá trình trao đổi khí giữa cơ thể với ngoại cảnh là hô hấp phổi, ở động vật đơn bào, tế bào trao đổi chất khí trực tiếp với ngoại cảnh Động vật đa bào trao đổi chất khí phải nhờ các cơ quan
hô hấp Côn trùng có hệ thống khí quản phân bố toàn thân, còn ở động vật cao đẳng thì có phổi
Cấu trúc cơ quan hô hấp của gia cầm có những đặc điểm khác với gia súc Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7 Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: Phần xương và phần sụn Xoang mũi nằm ở
mỏ trên
Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ổ cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế quản, ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sổng từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi
và loài: Ngỗng trưởng thành – 30g, gà tây – 25g, vịt 20g, gà – 9g Chức năng chính của phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí
Hình 2.2: Giải phẫu học túi khí
Trang 32Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí (hình 2.2) Các túi khí
là sự mỏ rộng và tiếp dài của phế quản Phía ngoài các túi khí được bao bọc bởi màng thanh dịch với các sợi mô liên kết, bên trong có niêm mạc với biểu
mô rung Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4 đôi xếp đối xứng, còn một túi khí đơn Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí chia ra làm 2 loại: một loại chứa khí hít vào (đôi túi bụng, đôi túi khí ngực sau) và một loại chứa khí thở ra (đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí xương đòn và túi khí cổ) Cơ chế hô hấp gồm động tác hít vào và động tác thở ra Tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức
ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ Chim tước có tần số hô hấp là 90 - 120 trong một phút, còn ở ngỗng là 20 - 40, gà tây 15 - 20, bồ nông 4 Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống 30 - 40% (Nguyễn Duy Hoan, 1998 [6])
Bảng 2.2 Tần số hô hấp trong một phút của một số loài gia cầm
Loài gia cầm Gia cầm trưởng thành Gia cầm non
Trang 33Để xác định vai trò hô hấp của các túi khí, người ta dùng phương pháp chọc thủng các túi khí rồi tính toán lượng khí hô hấp Nếu chọc thủng 2 túi khí bụng thì lượng khí hít vào sẽ giảm xuống khoảng 15%, còn nếu chọc thủng 4 túi khí ngực thì giảm tới 29% Như vậy 4 túi khí ngực chứa lượng khí nhiều hơn 2 túi khí bụng, mặc dù 2 túi khí bụng có dung tích lớn hơn tới 2 lần Nếu chọc thủng túi khí xương đòn thì lượng khí hít vào thay đổi không đáng kể Nếu phá hủy toàn bộ các túi khí thì lượng khí hít vào giảm đi một nửa Vai trò quan trọng của các túi khí ở gia cầm là tham gia tích cực trong quá trình hô hấp và trao đổi nhiệt trong cơ thể Khi hít khí lạnh vào làm cho
cơ thể chống được sự tăng nhiệt độ của cơ thể Các túi khí còn là điểm tựa cho các cơ quan khác Các túi khí giúp cho sự thăng bằng trong khi bay và giảm tần số hô hấp tới mức tối thiểu Ngoài ra còn có tác dụng kích thích hấp thu các chất dinh dưỡng cũng như bài tiết phân
Bảng 2.3 Nhu cầu O2 và lượng CO2 thải ra sau một 1 giờ tính trên lkg
thể trọng của các loại gà như sau
Nhu cầu O2 (lít) CO2 thải ra (lít)
Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50% Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy ) quá trình trao đổi chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100% (Nguyễn Duy Hoan, 1998 [6])
Hiện nay phần lớn các bệnh gặp trên gia cầm thường là các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa và hô hấp như: Viêm ruột hoạt tử, Salmonella, E Coli, CRD, Vì vậy, nắm được những đặc điểm cơ thể nói chung và về tiêu hóa, hô hấp nói riêng là vô cùng quan trọng để quá trình chăn nuôi thuận lợi,
Trang 34đàn vật nuôi khỏe mạnh, hạn chế tối đa số con bị nhiễm bệnh, tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
- Nguyên nhân: Chủ yếu do cầu trùng thuộc giống Eimeria gây ra gà từ
9 - 10 ngày tuổi bắt đầu mắc bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm cao nhất là từ 15 đến 45 ngày tuổi Gà bị nhiễm do nuốt phải noãn nang cầu trùng có trong thức ăn, nước uống Bệnh xảy ra quanh năm nhưng nhiều nhất là vào vụ xuân hè khi thời tiết thất thường, nóng ẩm Kolapxki và Paskin (1980) [14] cho biết: Bệnh cầu trùng gà là một bệnh ở gà con từ 10 - 18 ngày tuổi (đôi khi bệnh cũng có
ở gà 4 - 6 tháng tuổi) Trong điều kiện các cơ sở chăn nuôi gia cầm, gà 3 - 4 tuần tuổi nhạy cảm và nhiễm cầu trùng nặng nhất với tỷ lệ chết cao
- Triệu chứng: Khi gà bị bệnh thường xuyên ủ rũ, ăn ít, uống nhiều
nước, xù lông, cách xõa, chậm chạp, phân dính xung quanh hậu môn, phân loãng, sệt, có màu socola hoặc đen như bùn
- Bệnh tích:
+ Cầu trùng manh tràng: Manh tràng sưng to và chưa đầy máu
Trang 35+ Cầu trùng ruột non: Ruột non căng phồng, xuất huyết, bề mặt ruột có những đốm trắng xám, bên trong có dịch nhầy màu hồng
- Điều trị:
Diclasol Hi (Diclazuril): Liều dùng 0.2ml/10kg thể trọng uống liên tục
trong 3 ngày
Vitamin K: Liều dùng 100g/ 150-200l nước dùng cho 800-1000kg TT/ ngày
Hạ sốt: Pha nước cho uống
* Bệnh hen gà (hay còn được gọi là bệnh CRD)
- Nguyên nhân và phương thức truyền lây: Đây là một bệnh mãn tính,
do vi khuẩn Mycoplasma gây ra, có thể lây từ bố mẹ qua trứng Theo Nguyễn
Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2001) [12] tác nhân gây bệnh CRD là
Mycoplasma gallisepticum, tỷ lệ nhiễm bệnh ở miền Bắc Việt Nam là 51,6%
ở gà thương phẩm, còn gà giống là 10%, tỷ lệ đẻ trứng giảm 20 - 30%
- Triệu chứng: Bệnh dẫn đến các hệ lụy như viêm túi khí, viêm niêm
mạc xoang mũi và khó thở Bệnh thường xuất hiện chủ yếu ở gà con trong giai đoạn từ 3 tuần đến 3 tháng tuổi (gà từ 2 – 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác), thường hay phát bệnh khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao
khi mắc bệnh gà sẽ mang mầm bệnh này suốt đời Mức độ phát bệnh nặng nhẹ phụ thuộc vào vệ sinh của chuồng trại, điều kiện khí hậu và sức đề kháng của gà Bệnh có thể sớm nhận biết thông qua các triệu chứng như gà phải vươn cổ để thở, có tiếng rít khi thở, mắt sưng, chậm lớn và thường xuyên vẩy mỏ
Nếu kết hợp với E coli gây ra E coli – CRD (C-CRD)
- Phòng bệnh: Thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông
thoáng, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho uống thuốc để phòng bệnh
Trang 36- Điều trị: Doxycycline liều 25mg/kg thể trọng kết hợp với Bromhexine
liều 50mg/kg thể trọng uống liên tục: 3 - 5 ngày
- Triệu chứng: Khi mắc bệnh, gà sẽ có những biểu hiện như:
+ Kém ăn, bỏ ăn, lông xù, mào thâm
+ Phân có màu xanh hoặc vàng
+ Chảy nước mắt, nước mũi
+ Diều càng phồng thức ăn, khi dốc ngược gà xuống dưới thấy có nước chảy ra
- Biện pháp phòng trị bệnh:
+ Khi phát hiện đàn gà có dấu hiệu mắc bệnh, chủ đàn cần nhanh
chóng cho uống hoặc chích vacxin toàn đàn, kể cả những con đã từng được làm vacxin trước đó
+ Sau đó tiến hành vệ sinh khử trùng chuồng trại, máng ăn, máng uống, môi trường xung quanh
+ Bổ sung các loại thuốc giúp cao nâng cao sức đề kháng như sung chất điện giải như ADE-BComplex-C, VITA C-10S, Electrolyte
+ Sử dụng kháng sinh phổ rộng tránh nhiễm trùng kế phát
+ Sau khi hết liệu trình sử dụng kháng sinh thì cho gà uống thuốc giải độc gan Novitech YL và giải độc thận Renal cleaner giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi