Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, n
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2017 - 2021
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2017 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Thị Hồng Phúc
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập ở trường và sau thời gian thực tập tại trại lợn của Công ty cổ phần Thiên Thuận Tường, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của thầy cô, bạn bè và anh chị kỹ thuật ở trại lợn Nay tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Thành công này không chỉ là nỗ lực của cá nhân mà còn có sự giúp đỡ của nhiều người
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, cùng với các thầy giáo, cô giáo trong khoa đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập lý thuyết tại trường và đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa luận cũng như hành trang cho công tác sau này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phan Thị Hồng Phúc đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này
Một lần nữa cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới Thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, cùng gia đình bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi Tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc toàn thể các thầy, các cô lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Lâm
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho lợn hậu bị ngoại (kg cám tinh/con/ngày) 14
Bảng 3.1 Lịch làm việc trong tuần 32
Bảng 3.2 Lịch sát trùng chuồng trại của trại 34
Bảng 3.3 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn hậu bị tại trại 35
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn nuôi của Công ty Cổ Phần Thiên Thuận Tường 41
Bảng 4.2 Tổng số lợn hậu bị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại Công ty Thiên Thuận Tường 42
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 43
Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn hậu bị qua các tháng 44
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 45
Bảng 4.6 Kết quả phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn hậu bị tại trại 46
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán một số bệnh xảy ra trên đàn lợn hậu bị 47
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn hậu bị trong thời gian thực tập 48
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại 49
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
cs : Cộng sự LMLM : Lở mồm long móng Nxb : Nhà xuất bản
ml : mililit PGS : Phó giáo sư STT : Số thứ tự
TS : Tiến sĩ
TT : Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 4
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 5
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại 5
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 7
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 8
2.2.1 Đối với lợn hậu bị 8
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn hậu bị 12
2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn hậu bị giai đoạn từ 30kg đến trước khi phối giống 14
2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp xảy ra trên đàn lợn hậu bị 18
2.3 Tổng quan nghiên cứu trong nước và ngoài nước 28
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
Trang 7Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31
3.1 Đối tượng 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hảnh 31
3.3 Nội dung thực hiện 31
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.2 Phương pháp thực hiện 32
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại Công ty Thiên Thuận Tường, TP Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh 41
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn hậu bị tại trại 42
4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn hậu bị tại trại 44
4.3.1 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 44
4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn hậu bị 45
4.4 Kết quả theo dõi và điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn hậu bị 46
4.4.1 Kết quả chẩn đoán bệnh 46
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh đàn lợn hậu bị 48
4.5 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại 49
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53 MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO CHUYÊN ĐỀ
Trang 8bị dịch tả lợn châu Phi), sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng cả năm 2020 giảm 9% và sản lượng quý IV tương đương cùng kỳ năm 2018
Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn với chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức
ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng
Chính vì vai trò quan trọng đó, yêu cầu khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn trong chăn nuôi ngày càng trở nên cấp thiết Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã đưa các đợt thực tập tốt nghiệp tại cơ sở vào trong chương trình học Giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ sở trước khi ra trường
Trang 9là rất quan trọng đối với mỗi sinh viên để củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn Qua đó, tôi nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, khi ra trường trở thành một cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực
hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn lợn đực, cái hậu bị giai đoạn từ 30kg đến trước khi phối giống tại trại lợn Công ty cổ phần Thiên Thuận Tường, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
Nâng cao hiểu biết của bản thân về các bệnh hay xảy ra đối với lợn hậu
bị giai đoạn từ 30kg đến trước khi phối giống và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất trong ngành chăn nuôi hiện nay
Học tập, rèn luyện kỹ năng phát hiện lợn nái động dục và kỹ năng huấn luyện nhảy giá cho lợn đực
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
Không ngại khó khăn, gian khổ, luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trang 10Theo dõi tỉ mỉ, làm việc cẩn trọng, có ý thức trách nhiệm cao
Ham học hỏi kiến thức từ cán bộ kỹ thuật, công nhân viên tại cơ sở, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân
Nắm vững kiến thức đã học, áp dụng vào thực tiễn sản xuất
Tuân thủ nội quy tại cơ sở, ý thức kỷ luật cao
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn của Công ty CP Thiên Thuận Tường nằm trên địa phận tổ 2, khu 1, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Trại hoạt động từ giữa năm 2007 Đây là trại lợn tư nhân do ông Trần Hòa làm chủ đầu
tư kiêm giám đốc công ty
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Cẩm Phả là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc
Bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó, trại lợn của Công
ty CP Thiên Thuận Tường cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng
- Nhiệt độ trung bình năm là 23ºC, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 39ºC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 12ºC
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 2.567,8 mm/năm Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tổng lượng mưa chiếm 80 - 90% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô thì lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 10 - 20% tổng lượng mưa cả năm
- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trong khu vực khá cao, trung bình tháng thấp nhất đạt 78% (tháng 10) và độ ẩm tương đối trung bình tháng cao nhất đạt 88% (tháng 3)
- Bão, giông: Mỗi năm tỉnh Quảng Ninh (trong đó có thành phố Cẩm Phả) chịu ảnh hưởng trung bình của 5 - 6 đợt bão, năm nhiều có thể lên tới 9 -
10 đợt Bão thường tới cấp 8 - 9, đặc biệt đã có những cơn bão cấp 12 Tháng
Trang 127, tháng 8 là những tháng bão hay đổ bộ vào Quảng Ninh Các cơn giông thường xảy ra trong mùa hè, trung bình mỗi tháng có 5 ngày
- Chế độ gió mùa: Mùa đông thường chịu ảnh hưởng của gió Bắc, Đông Bắc, mỗi năm từ 3 - 4 đợt Mùa hè chủ yếu là gió Nam, Đông Nam Tốc
độ gió trung bình năm là 3 - 3,4 m/s
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
* Đội ngũ quản lý, kĩ thuật, công nhân bao gồm: Một giám đốc công
ty là chú Trần Hòa, một quản lí trực tiếp ở trại, hai nhân viên kỹ thuật của công ty Cargill, 3 nhân viên kỹ thuật của công ty Deheus, chín công nhân, hai người làm bếp phụ trách nấu ăn cho trại, hai sinh viên thực tập của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và một bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung, gác lối ra vào trại
Với đội ngũ cán bộ, công nhân viên như trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau gồm tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng thương phẩm Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại Ngoài ra, mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán cho từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại
* Nguồn thuốc và thức ăn:
- Thuốc sử dụng của trại chủ yếu do Công ty TNHH Dược HANVET cung cấp
- Thức ăn được cung cấp bởi Công ty TNHH Deheus và Công ty TNHH Cargill
2.1.3 Cơ sở vật chất của trại
a) Về thiết kế xây dựng
Trại có quy mô rộng lớn được thiết kế xây dựng quy hoạch rất hiện đại Khu nhà ăn, nhà ở, khu vệ sinh tách biệt với khu chăn nuôi
Trang 13- Nhà ở của quản lí, cán bộ kỹ thuật, công nhân mới được xây dựng khang trang sạch sẽ Nhà ở có hai tầng gồm có: 1 phòng họp, 7 phòng ngủ có thể đủ chỗ cho 25 người ở Các phòng đều được ốp lát gạch hoa sạch sẽ, có điều hòa
- Nhà ăn được xây dựng cạnh nhà ở tiện cho việc ăn uống ngủ nghỉ
- Khu vệ sinh được xây dựng mới có nóng lạnh, tủ để đồ riêng cho từng
cá nhân
Trại có tổng số 9 chuồng nuôi từ C1 đến C9: C1 là chuồng nuôi đực, C2 chuồng hậu bị, C3 chuồng bầu, C4 chuồng đẻ có tổng số 150 ô đẻ, C5 chuồng cai sữa, C6, C7 chuồng nuôi thịt, C8 chuồng cách ly
b) Điện, nước
- Trại có quy mô chăn nuôi khá lớn nên việc đầu tư cho điện nước rất hiện đại Có trạm biến áp riêng để đảm bảo được nguồn điện luôn được ổn định, có máy phát điện công suất lớn tránh trường hợp mất điện
- Nguồn nước cung cấp cho trại chủ yếu là nước sạch đi mua từ ngoài được ô tô chuyên chở vào do trại được xây dựng ở gần sông cửa biển nên nước đều bị nhiễm mặn hết
c) Chuồng bầu
Chuồng C3 gồm có 2 nửa:
Nửa 1 là hình thức nuôi theo đàn đảm bảo phúc lợi được sống bầy đàn Nửa 2 là hình thức nuôi theo từng con, mỗi con 1 lồng sắt với thiết kế cho mỗi con là 2,1m × 0,7m
Chuồng được xây dựng kín có các cửa sổ đón nắng có quạt, hút giàn mát đảm bảo ấm vào mùa đông thoáng mát vào mùa hè
Hệ thống ăn silo tự động, nước uống tự động
d) Chuồng nái nuôi con
Chuồng C4 gồm có 150 ô nuôi nhốt Trang thiết bị hiện đại nhập từ Đan Mạch về
Trang 14e) Chuồng cai sữa
Được xây dựng cạnh chuồng đẻ có lối đuổi lợn từ chuồng đẻ sang chuồng cai sữa để thuận tiện cho việc tách lợn
Có hệ thống silo cho ăn tự động Có quạt hút giàn mát đèn úm đầy đủ
f) Chuồng thịt
Là chuồng C6, C7 được xây dựng hiện đại có trần bằng tôn,có quạt hút, giàn làm mát, đặc biệt là có hệ thống silo chăn tự động giúp giảm nhân công lao động
g) Chuồng cách ly
Chuồng C8 là nơi tôi chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn hậu bị nhập Canada
về Có thiết kế tương tự như chuồng C6, C7
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại
- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
- Trang trại nhập các giống lợn cụ kỵ, ông bà từ công ty có uy tín từ nước ngoài nên đảm bảo được chất lượng con giống là tốt nhất
2.1.4.2 Khó khăn
- Lợn giống nhập ngoại nên khả năng thích nghi với khí hậu Việt Nam kém nên đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc đặc biệt
Trang 15- Do yêu cầu nghiêm ngặt của việc phòng bệnh cho đàn lợn vì vậy việc
đi lại ra vào khu chăn nuôi hạn chế nhiều vấn đề, nên công nhân thường xuyên xin thôi việc dẫn đến thay đổi công nhân liên tục làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc đàn lợn
- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao
- Giá thức ăn chăn nuôi ngày một tăng cao cũng một phần làm ảnh hưởng tới công tác chăn nuôi của trang trại
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1 Đối với lợn hậu bị
2.2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng
* Đặc điểm sinh trưởng, cơ sở di truyền của sự sinh trưởng
Sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu cho các khái niệm cũng phần nào khác nhau
Theo Trần Đình Miên và cs (1975) [17], sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
Để xác định sinh trưởng người ta dùng phương pháp cân định kì khối lượng và đo kích thước các chiều của cơ thể Ở lợn thường đo 4 chiều: dài thân, vòng ngực, cao vây, vòng ống Thời điểm đo thường ở các tháng tuổi:
sơ sinh 1, 2, 4, 6, 8, 10, 12, 18, 24, 36
* Sự phát triển các cơ quan trong cơ thể
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn, các tổ chức khác nhau được ưu tiên tích luỹ khác nhau Các hệ thống chức năng như hệ thần
Trang 16kinh, hệ tiêu hoá, tuyến nội tiết được ưu tiên phát triển trước hết Sau đó là bộ xương, hệ thống cơ bắp và cuối cùng là mô mỡ
Cơ bắp là phần quan trọng tạo nên sản phẩm thịt lợn Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể, từ lúc sơ sinh đến khi trưởng thành, số lượng các bó cơ và sợi cơ ổn định Tuy nhiên, giai đoạn lợn còn nhỏ đến khoảng 60kg trong cơ thể có sự ưu tiên cho sự phát triển các tổ chức nạc
Đối với mô mỡ, sự tăng lên về số lượng và kích thước tế bào mỡ là nguyên nhân chính gây nên sự tăng về khối lượng của mô mỡ Ở giai đoạn cuối của quá trình phát triển trong cơ thể lợn có quá trình ưu tiên phát triển và tích luỹ mỡ
2.2.1.2 Sự thành thục về tính và thể vóc
* Sự thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
- Giống: các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [2] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (lợn Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ
20 - 25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần,
ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng
cơ thể đạt 50 - 55 kg Ở lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) động dục muộn hơn
Trang 17so với lợn lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau
- Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992) [10] chỉ rõ: Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế cám thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmone oestrogen và progesterone làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều
đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng và
Trang 18phát triển Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [2] cho rằng: không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
* Sự thành thục về thể vóc
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [13], tuổi thành thục về thể vóc
là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 -
120 kg mới nên cho phối
2.2.1.2 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và rụng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính
Trang 19Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [28], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
- Giai đoạn trước khi chịu đực: lợn nái kêu rít, âm hộ sưng to, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40 giờ, với lợn nội là 25 - 30 giờ
- Giai đoạn chịu đực: lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30 giờ
- Giai đoạn sau chịu đực: lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực
Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [28] trứng rụng tồn tại trong tử cung
2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ
lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn hậu bị
Kỹ thuật chăm sóc cái hậu bị rất quan trọng, làm sao cho cái hậu bị khi đến tuổi phối giống đạt khối lượng yêu cầu, đảm bảo thành thục về tính
và thể vóc
Trang 20Chăm sóc lợn cái hậu bị là một khâu khó đòi hỏi lợn không được quá gầy yếu dẫn đến sức sinh sản kém, đồng thời tránh quá béo lợn sẽ khó động dục Như vậy khẩu phần ăn cho lợn cần phù hợp, theo từng tháng tuổi
Giai đoạn từ sau cai sữa đến 5 tháng tuổi cho lợn ăn tự do để lợn phát triển hết mức Từ 6 tháng tuổi phải cho ăn theo khẩu phần quy định, có thể nhốt lợn cái hậu bị gần chuồng lợn đực giống để gây kích thích động dục cho lợn
Trước khi phối giống 1 tháng cân cho lợn ăn hạn chế để lợn cái không quá béo, nếu không lợn quá béo sẽ ảnh hưởng đến sinh sản
Gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn tăng trưởng đến thành thục (sơ sinh đến dưới 90 Kg)
- Mục tiêu: nái phát triển cân đối về thể hình, phát triển khung xương (nhu cầu Ca, P, Mg cao hơn lợn thịt) nên lợn hậu bị sau khi được chọn lọc phải được nuôi nhốt riêng (mật độ 1,2 m2/con) và cho ăn khẩu phần riêng theo từng giai đoạn phát triển
- Chuồng trại luôn sạch sẽ, thoáng mát, tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn tuổi
- Thức ăn luôn đảm bảo chất lượng, không để bị ôi chua, kiểm soát được tất cả các loại độc tố nấm mốc
- Đảm bảo nguyên tắc vệ sinh thú y, an toàn dịch bệnh
Giai đoạn thành thục đến phối giống
- Mục tiêu: lợn hậu bị phát triển thể hình hoàn chỉnh, hạn chế quá mập hoặc quá ốm
- Lợn hậu bị đạt trọng lượng 90 Kg (22 tuần tuổi) phải được ăn thức ăn dành riêng cho hậu bị
- Chọn lọc lần cuối về ngoại hình: thể trạng, bộ phận sinh dục, da lông, chân móng
- Vệ sinh chăm sóc tốt để hạn chế bệnh liên quan đến chân móng và cơ quan sinh dục
Trang 21- Giám sát khẩu phần ăn để đảm bảo nái hậu bị không quá mập hoặc quá ốm
- Kích thích lên giống bằng cách cho tiếp xúc với lợn đực thí tình và ghi chép ngày lên giống lần 1, 2, 3
Bảng 2.1: Lượng thức ăn cho lợn hậu bị ngoại (kg cám tinh/con/ngày)
(Nguồn: kỹ sư trại cung cấp)
2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn hậu bị giai đoạn từ 30kg đến trước khi phối giống
2.2.3.1 Phòng bệnh
Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp ̣nhiều biện pháp khác nhau
Chăm sóc, nuôi dưỡng
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [25], vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là
vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đườ ng tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm vi khuẩn,
điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E coli,
bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả
Trang 22năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt
Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng
và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
Trang 23cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
2.2.3.2 Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [12], nguyên tắc để điều trị bệnh là: + Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [12], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện
vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng
Trang 24kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dung đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tích tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, truyền nước sinh lý…
Trang 252.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp xảy ra trên đàn lợn hậu bị
2.2.4.1 Hội chứng hô hấp ở lợn
- Nguyên nhân
Bệnh viêm phổi do Mycoplasma, còn gọi là bệnh suyễn lợn do vi khuẩn
Mycoplasma hyponeumoniae (MH) gây ra Đặc điểm của bệnh là ho kéo dài
nhiều tuần, lợn chậm lớn, sức đề kháng yếu Nếu kết hợp với các vi trùng gây viêm phổi khác sẽ tạo nên tình trạng viêm phổi nặng với triệu chứng sốt cao,
ho nhiều, khó thở
Tajima và Yagihashi (1982) [32] cho biết, Mycoplasma hyopneumoniae
có kích thước khá nhỏ bằng khoảng 1/5 vi trùng (400 - 1200mm, bộ gene khoảng 893 - 920kb) Tế bào vi khuẩn không có vách mà chỉ có một lớp màng rất linh động và là vi khuẩn thuộc loại gram (-), tuy nhiên không thể quan sát dưới kính hiển vi quang học Sức đề kháng: MH bị bất hoạt sau 48 giờ trong điều kiện khô, nhưng có thể tồn tại đến 17 ngày trong môi trường nước mưa ở nhiệt độ 2 - 7°C Trong phổi tồn tại 2 tháng ở âm 25°C và từ 9 - 11 ngày ở nhiệt
độ 1 - 6 °C và chỉ 3 - 7 ngày ở nhiệt độ 17 - 25°C
- Triệu chứng
+ Thể mãn tính: Triệu chứng chính là họ nhiều, với đặc điểm là họ khan, kéo dài trong nhiều tuần, không thấy có dấu hiệu chảy nước mũi và sốt Lợn tăng trọng chậm, thể mãn tính ít gây các triệu chứng điển hình do đó ít được các nhà chăn nuôi để ý, tuy nhiên thể bệnh này gây thiệt hại kinh tế lớn nhất do lợn chậm lớn và tiêu tốn thức ăn nhiều
+ Thể mang trùng: Thường xảy ra trên lợn giống hoặc lợn nuôi thịt có thời gian nuôi trên 6 tháng tuổi Nguyên nhân dẫn đến tình trạng mang trùng
là do giai đoạn nuôi hậu bị đã nhiễm bệnh thể mãn tính Khi lớn dần, vai trò
gây bệnh của Mycoplasma cũng giảm bớt, từ đó dẫn đến hiện tượng mang
trùng Hiện tượng mang trùng trên lợn có thể kéo dài rất lâu: Từ nhiều tháng
Trang 26đến nhiều năm và là nguồn chính lây lan bệnh trong đàn lợn Trên lâm sàng không thấy rõ các triệu chứng, thỉnh thoảng có những cơn ho nhẹ, tốc độ tăng trọng giảm thấp đến 15%
+ Thể viêm phổi phức hợp: Thường hay xảy ra trên lợn con giai đoạn
sau cai sữa, sau khi đã nhiễm Mycoplasma vài tuần và điều kiện nuôi dưỡng
không tốt, các vi khuẩn khác trong đường hô hấp phát triển gây phụ nhiễm làm trầm trọng thêm tình trạng viêm phổi với các triệu chứng: họ nhiều, thở nhanh, rất khó thở sau cơn ho, bệnh tiến triển trong 2 - 3 tuần thì giảm dần, tỉ
lệ chết thấp nhưng tốc độ tăng trưởng rất chậm Nếu cảm nhiễm nặng lợn sẽ sốt cao, bỏ ăn, rất khó thở, tỉ lệ chết khoảng 20 - 25% Các lợn được chữa khỏi thường bị còi, bệnh tích viêm phổi tồn tại đến lúc giết mổ
- Phòng bệnh
Hiệu quả của các biện pháp phòng bệnh viêm phổi do Mycoplasma phụ
thuộc rất nhiều vào các biện pháp quản lý đàn lợn Cần phải tạo được môi trường thuận lợi cho đàn lợn như không khí sạch sẽ, thông gió thường xuyên, nhiệt độ ấm áp và mật độ trong chuồng phù hợp Trong dãy chuồng không nên nuôi lẫn lộn các đàn lợn có lứa tuổi cách nhau quá 3 tuần
- Điều trị
Những kháng sinh có hiệu lực điều trị với Mycoplasma là novagentylo
+ analgin, tetracycline, tylosin và tiamulin Nên phối hợp các loại kháng sinh
điều trị bệnh viêm phổi do Mycoplasma Nếu điều trị sớm thì đạt được hiệu
quả chữa bệnh cao Vắc xin đã được tìm thấy để giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh, nhưng không ngăn chặn các bệnh xảy ra từ trong toàn bộ số lợn mắc bệnh
2.2.4.2 Hội chứng tiêu chảy ở lợn
- Nguyên nhân
Tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hoá, có liên quan đến rất nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên
Trang 27nhân thứ phát Song dù bất cứ nguyên nhân nào gây ra tiêu chảy thì hậu quả của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá và cuối cùng là dẫn đến nhiễm trùng Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân bị tiêu chảy ở lợn là do một số nguyên nhân sau đây:
+ Do vi khuẩn: Trong đường ruột của lợn có rất nhiều vi sinh vật sinh sống Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng một hệ sinh thái Hoạt động sinh lý của hệ tiêu hoá chỉ diễn ra bình thường khi hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái cân bằng này bị phá vỡ dẫn đến lợn bị tiêu chảy
Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng, khi gặp điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hoá sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh
Bình thường E coli cư trú ở ruột già và phần cuối của ruột non, nhưng
khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào thành ruột, đi vào máu đến các nội tạng Ở trong các cơ quan nội tạng, vi khuẩn này tiếp tục phát triển và cư trú làm cho con vật rơi vào trạng thái bệnh lý
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6] cho biết, khi sức đề kháng của cơ
thể giảm sút E coli thường xuyên cư trú trong đường ruột của lợn thừa cơ
sinh sản rất nhanh và gây nên sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột nên gây tiêu chảy
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [18], khi xét nghiệm phân gia súc khoẻ và gia súc bị tiêu chảy đã nhận thấy trong phân lợn thường xuyên có các
loại vi khuẩn hiếu khí: E coli, Salmonella, Streptococcus, Bacilus subtilis,… Khi lợn bị tiêu chảy thì E coli, Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm
E.coli có sẵn trong đường ruột của lợn, nhưng không phải lúc nào cũng
gây bệnh mà chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của lợn giảm sút do chăm sóc nuôi dưỡng kém, điều kiện thời tiết thay đổi đột ngột, các bệnh kế phát
Trang 28Khi nghiên cứu về E coli và Salmonella trong phân lợn tiêu chảy và lợn
không tiêu chảy, Nguyễn Thị Ngữ (2005) [20] cho biết, ở lợn không tiêu chảy có
83,30% - 88,29% số mẫu có E coli, 61,00% - 70,50% số mẫu có mặt
Salmonella Trong khi đó, ở mẫu phân của lợn bị tiêu chảy có tới 93,7% - 96,4%
mẫu phân lập có E coli và 75,0% - 78,6% số mẫu phân lập có Salmonella
+ Do virus: Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng, virus cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn Nhiều tác giả nghiên cứu đã kết luận 1 số
virus như Rotavirus, TGE, Parvovirus, Adenovirus có vai trò nhất định gây
hội chứng tiêu chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ta chảy ở thể cấp tính
TGE (Transmisssible gastro mteritis) được chú ý nhiều trong hội chứng
tiêu chảy ở lợn TGE gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở nuôi tập chung khi thời tiết rét, lạnh Ở lợn, virus nhân lên mạnh nhất ở niêm mạc của không tràng và
tá tràng, rồi đến hồi tràng, chúng không sinh sản trong dạ dày và kết tràng
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [14], virus TGE (Transmisssible
gastro enteritis) có sự liên hệ đặc biệt với các tế bào màng ruột non Khi virus
xâm nhập vào tế bào, nó nhân lên và phá huỷ tế bào trong 4 -5 giờ Các thức
ăn vào sẽ không tiêu hoá được ở lợn nhiễm virus TGE Các chất dinh dưỡng
không được tiêu hoá, nước không được hấp thụ, lợn tiêu chảy, mất dịch, mất chất điện giải và chết
+ Do ký sinh trùng: Ký sinh trùng ký sinh trong hệ tiêu hoá là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Ký sinh trùng ngoài việc lấy đi dinh dưỡng của lợn, tiết độc tố đầu độc cho lợn, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu
Trang 29cho quá trình nhiễm trùng Có nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra bệnh tiêu chảy như sán lá ruột lợn, giun đũa lợn Theo Phan Lục và Phạm Văn Khuê (1996) [16] sán lá ruột lợn và giun đũa lợn ký sinh làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa gây viêm ruột ra chảy
+ Do các nguyên nhân khác:
- Do thời tiết, khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể lợn Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột: Nóng quá, lạnh quá, mưa, gió, độ ẩm không khí cao đều là yếu tố tác động trực tiếp đến lợn, đặc biệt là lợn con
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3] các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng thay đổi bất thường của điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, vì các phản ứng thích nghi của cơ thể lợn con còn yếu
Theo Sử An Ninh (1993) [21] khi lợn bị lạnh, ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó lợn dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh
- Do chăm sóc nuôi dưỡng
Chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò vô cùng quan trọng trong chăn nuôi Việc thực hiện đúng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ giúp nâng cao sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và các vitamin cũng là nguyên nhân làm lợn dễ mắc bệnh
Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, cũng là nguyên nhân làm cho lợn con bị tiêu chảy Vậy cần có phương thức chăm sóc nuôi dưỡng tốt, khẩu phần ăn hợp lý để hạn chế bệnh viêm ruột cho lợn
Trang 30Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protein và axit amin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng globulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển gây bệnh
Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể lợn, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường Thiếu một vitamin
sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa
- Do stress
Sự thay đổi yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận chuyển đi
xa đều là các tác nhân gây stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả giảm sút sức khỏe lợn và bệnh tật trong đó có tiêu chảy (Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3])
Theo Sử An Ninh và cs (1981) [22] bệnh tiêu chảy lợn con có liên quan đến trạng thái stress Hầu hết, lợn con bị bệnh tiêu chảy có hàm lượng Cholesterrol trong huyết thanh giảm thấp
- Triệu chứng:
Lợn con mắc bệnh lúc đầu ăn bình thường Sau đó lợn ít ăn hoặc bỏ ăn, gầy nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo nhợt nhạt, hai chân sau đứng co dúm lại và run rẩy, đuôi dính đầy phân, khi lợn đi ỉa rặn nhiều, lưng uốn cong, bụng thóp lại, thể trạng đờ đẫn, ít vận động
+ Thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh, thường sau 2 - 12 giờ kể từ khi bỏ
ăn, lợn bỏ ăn hoàn toàn đi xiêu vẹo, loạng choạng, thích nằm bẹp một chỗ, mõm tím tái, thở thể bụng khó khăn, phân lỏng màu trắng lầy nhầy, mùi tanh thối Lợn nằm co giật yếu dần rồi chết
+ Thể cấp tính: Lợn chết chậm hơn, thường sau 2 - 4 ngày kể từ khi bỏ
ăn, lợn ỉa chảy, mất dinh dưỡng, nước, khoáng, yếu rồi chết dần
Trang 31+ Thể mãn tính: Lợn ỉa chảy liên miên, phân lúc nước lúc sền sệt, mùi khó chịu, hậu môn dính phân, bẩn, lợn gây sụt, xù lông, nếu không chết thì cũng còi cọc
+ Thể mãn tính: Đặc trưng là tăng sinh tế bào Trong khi tế bào tăng sinh
có các đại thực bào với các hạt nhân màu trắng sáng Hiện tượng này tạo nên u
xơ gan, lách sưng to và đỏ xám hoặc đỏ sẫm, đôi khi có màu đen, rìa lách cong Niêm mạc ruột bị tổn thương, có vết loét Thận không có biến đổi đặc trưng, phổi viêm đôi khi có ổ mủ Tim sưng, hơi nhão, xoang bao tim chứa đầy nước vàng, cơ tim xuất huyết
- Các biện pháp phòng bệnh:
+ Vệ sinh phòng bệnh
Trong chăn nuôi khâu vệ sinh là hết sức quan trọng và cần thiết Vệ sinh tạo ra môi trường tốt, làm tăng sức đề kháng nhằm ngăn ngừa mầm bệnh lây lan Thực hiện nghiêm ngặt các khâu như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi cách ly động vật mới nhập, động vật ốm luôn là những biện pháp cần thiết trong khâu vệ sinh phòng bệnh
Như vậy, việc đảm bảo tốt kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng như thức ăn đảm bảo chất lượng, tập cho lợn con ăn sớm, đảm bảo tốt vệ sinh chuồng nuôi, vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất quan trọng nhằm hạn chế tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy
Trang 32+ Phòng bệnh bằng vắc xin
Phòng bệnh bằng vắc xin là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là những bệnh có nguyên nhân là vi sinh vật Vắc xin là chế phẩm sinh học được bào chế từ các vi sinh vật gây bệnh, trong đó mầm bệnh
đã bị giết chết hay giảm độc không còn khả năng gây bệnh, khi đưa vào cơ thể có khả năng tạo miễn dịch trong cơ thể lợn sản sinh ra kháng thể Vắc xin phòng tiêu chảy lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo ra miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khách quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh
Qua nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy, có thể chế tạo vắc xin phòng E.coli hiệu quả bằng cách lấy vi khuẩn E.coli có trong chất chứa đường ruột của lợn bị tiêu chảy cho vào sữa và cho lợn mẹ ăn canh trùng đó trước khi đẻ
1 tháng cho kết quả phòng tiêu chảy ở lợn con tốt, phương pháp này hiện nay vẫn đang được dùng ở Mỹ
Bên cạnh các loại vắc xin phòng E coli, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu chế vắc xin phòng Salmonella Hiện nay, trên thế giới đang nghiên cứu ra nhiều loại vắc xin phòng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn
Mỹ đã sản xuất ra vắc xin đa giá thành phần gồm E coli, Salmonella
choleraesuis Hungari chế vắc xin chủng Salmonella có bổ trợ gluco
+ Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Chế phẩm sinh học là môi trường nuôi cấy một loại vi sinh vật có lợi nào đó khi đưa vào cơ thể có tác dụng bổ sung các vi sinh vật hữu ích, giúp duy trì và lập lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa
Các chế phẩm sinh học, trong đó, có chế phẩm probiotic đã được nghiên cứu và sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Những nghiên cứu hệ vi sinh vật đường ruột, sử dụng probiotic trong phòng trị bệnh cho lợn,