1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận tốt nghiệp các hoạt động chính của tái cấu trúc doanh nghiệp và thực tiễn hoạt động trái cấu trúc doanh nghiệp tại các doanh nghiệp trong ngành viễn thông việt nam

110 1,3K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các hoạt động chính của tái cấu trúc doanh nghiệp và thực tiễn hoạt động trái cấu trúc doanh nghiệp tại các doanh nghiệp trong ngành viễn thông Việt Nam
Tác giả Phạm Kiều Trang
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thúy Anh
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 12,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cả hai cáp độ tái cấu trúc doanh nghiệp nói trên chỉ phù hợp trong thập niên 90 cùa thế kỷ 20, đặc biệt là tại các quịc gia tư bàn phát triền, vì khi đó hầu hết các doanh nghiệp đều mới

Trang 2

T R Ư Ờ N G ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

C H U Y Ê N N G À N H KINH DOANH QUỐC TÊ

42 - QTKD ThS Nguyễn Thúy Anh

Hà Nội -11/2007

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI M Ỏ Đ À U 4

C H Ư Ơ N G ì: C Á C HOẠT Đ Ộ N G C H Í N H C Ủ A TÁI C Ấ U T R Ú C DOANH

NGHIỆP 4

1 Khái niệm tái cấu trúc doanh nghiệp 4

1.1 Quá trình hình thành khái niệm tái cấu trúc doanh nghiệp 4

Ì 2 Khái niệm về tái cấu trúc doanh nghiệp 6

2 Vai trò của tái cấu trúc doanh nghiệp 9

2 Ì Tại sao doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc? 9

2.1.1 Tái cấu trúc xuất phát từ áp lực bên ngoài 9

2.1.2 Tái cấu trúc xuất phát từ áp lực bên trong 13

2.2 Vai bò của tái cấu trúc doanh nghiệp 14

"9 2.2.1 Vai trò cùa tái cấu trúc doanh nghiệp đối với nền kinh tế 14

2.2.2 Vai trò của tái cáu trúc doanh nghiệp đoi với doanh nghiệp 15

3.3 Các hoạt động chính của tái cấu trúc doanh nghiệp 17

C H Ư Ơ N G l i : T H Ự C TIỄN HOẠT Đ Ộ N G TÁI C Á U T R Ú C C Á C DOANH

NGHIỆP TRONG N G À N H VIỄN T H Ô N G VIỆT NAM 34

1 Tông quan về ngành viễn thông thế giói 34

Ì Ì Lịch sử phát triển 34

Ì 2 Các dịch vụ chính của ngành viễn thông 35

Ì 3 X u thế phát triển về công nghệ trong ngành viễn thông 37

Trang 4

Khóa luận lốt nghiệp

Ì 4 X u hướng phát triển của thị trường viễn thông thế giới 39

2 Tổng quan về ngành viễn thông Việt Nam 42

2.1 Sơ lược về ngành viễn thông Việt Nam 42

2.1.1 Những cột móc quan trọng trong lịch sứ ngành viễn thông Việt

Nam 42 2.1.2 Tinh hình hiện nay của ngành viễn thông Việt Nam 43

3 Thực tiễn tái cấu trúc tại các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam 51

3.1 Thực trạng chung 51

3.2 Hoạt động tái cấu trúc tại Tổng Công ty Viễn thông Quân đội - Viettel

Telecom 54

3.2.1 Giới thiệu Vietteỉ Telecom 54

3.2.2 Hoạt động tái cấu trúc tại Viettel Telecom 58

3.3 Hoạt động tái cấu trúc tại Công ty Thông tin Viễn thông Điện

lực-EVNTelecom 67

3.3.2 Hoạt động tái cấu trúc tại EVNTelecom 69

3.3.3 Đánh giá 75

3.4 Đánh giá chung về hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp tại các doanh

nghiệp trong ngành viễn thông Việt Nam 76

C H Ư Ơ N G HI: M Ộ T SỚ GIẢI P H Á P T H Ú C Đ Ả Y HOẠT Đ Ộ N G TÁI C Á U

T R Ú C TRONG N G À N H VIỄN T H Ô N G VIỆT NAM 78

1 Dự báo xu hướng phát triển của ngành viễn thông Việt Nam 78

1.3 Dịch vụ Internet, dịch vụ điện thoại cùng với các dịch vụ giá trị gia

tăng tiếp tục phát triển 79

Ì 4 Chuyển hướng thị trường mục tiêu sang thị trường nông thôn 82

Trang 5

Ì 5 Giá cước viễn thông tiếp tục giảm 82

2 D ự báo xu hướng tái cấu trúc doanh nghiệp trong ngành viễn thông

Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 82

2 Ì Cổ phần hóa trờ thành hoạt động tái cấu trúc trọng tâm của các doanh

nghiệp viễn thông Việt Nam 83

2.2.1 Tải cấu trúc cơ cấu tể chức bộ máy 84

2.2.2 Hoạt động sáp nhập/Mua lại 85

3 M ộ t sợ giãi pháp thúc đẩy hoạt động tái cấu trúc tại các doanh

nghiệp Viễn thông Việt Nam 87

3.1 Thường xuyên triển khai các hoạt động tái cấu trúc 87

3.2 Đây mạnh quá trình cợ phần hóa trong các doanh nghiệp viễn thông 89

3.3 Á p dụng các hoạt động tái cấu trúc mới trên thế giới 90

3.4 Xây dựng chính sách đãi ngộ hợp lý 91

3.5 Nâng cao chất lượng định giá doanh nghiệp 93

3.6 ứ n g dụng phần mềm hoạch định các nguồn lực-ERP hỗ trợ tái cấu trúc95

4 Kiến nghị đợi vói Nhà nước 97

4 Ì Hoàn thiện khung pháp lý về tái cấu trúc doanh nghiệp 97

4.2 Xây dựng các tổ chức, thể chế hỗ trợ doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc

98

K É T L U Ậ N 99 DANH M Ụ C TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O l o i

Phạm Kiều Trang Lóp A3 - Q T K D - K42

Trang 6

Khóa luận tốt nghiệp

ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á

B M I : Business Monitor International-Tạp chí Kinh tế B M I

Bộ BCVT : Bộ Bưu chính Viễn thông (tiền thân của Bộ TT & TT)

Bộ TT & TT: Bộ Thông tin và Truyền thông

ITU : Liên minh Viễn thông thế giới

NGN : Next Generaition Network-Mạng thế hệ tiếp theo

TPG : Texas Paciíĩc Group-Tập đoàn của M ỹ

UPU : Liên minh Bưu chính thế giới

VNPT : Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam

WTO : World Trade Organization-Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng Ì - Một số thương vụ sáp nhập lớn trên thế giới nhữne năm gần đây 21

Biêu đồ Ì: Mật độ điện thoại/100 dân của Việt Nam những năm gần đây 44

Biêu đồ 2: Tồng số thuê bao điện thoại Việt Nam những năm gần đây 44

Biếu đồ 3: Mật độ viễn thông của Việt Nam so với các nước Châu Á 46

Biêu đô 4: Thị phần dịch vụ di động các doanh nghiệp viễn thông 48

Việt Nam (tính đến hết quý 1/2007) 48

Biểu đồ 5: Tốc độ phát triển thuê bao ngành viễn thông Việt Nam những năm

gần đây 49 Biêu đồ 6: Tốc độ phát triển thuê bao điện thoại di động Viettel qua các thời

kấ 57

Sơ đồ Ì: M ô hình tổ chức 4 lớp giảm xuống 2 lớp của Viettel 60

Sơ đồ 2: Sáp nhập các công ty thành viên thành Viettel Telecom 62

Sơ đồ 3: Quá trinh tách nhập, giải tác các phòng ban của EVNTelecom 70

Sơ đồ 4 : Cơ cấu Tổ chức hiện tại của EVNTelecom 71

Sơ đồ 5,6: Quy trình công văn đến/đi 73

Trang 8

Khóa luận lốt nghiệp

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết cùa đề tài

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay và đặc biệt sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đang dần dần mờ cửa toàn bộ thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước tự do cạnh tranh Không còn hỗ trợ của Nhà nước, các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với nhểng cạnh tranh gay gắt từ phía các Tập đoàn nước ngoài, đặc biệt là từ các thương hiệu lớn trên thế giới Đe có thể cạnh tranh tại thị trường nội địa và vươn ra thị trường quốc tế, các doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và nâng cao hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp Tái cấu trúc doanh nghiệp nhằm tìm ra một m ô hình gọn nhẹ, linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh là yêu cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp hiện nay

Hiểu chung nhất "tái cấu trúc là một chuỗi các hoạt động nhằm tái cơ cấu lại kết cấu tài sản, kết cấu tài chính và hoạt động điều hành doanh nghiệp nham giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển" Doanh nghiệp cần tiến hành cấu trúc

có thế là doanh nghiệp mong muốn tăng trường, doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả và đặc biệt là các doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản

Ngành viễn thông là một trong nhểng ngành có triền vọng phát triển lớn tại Việt Nam và thực sự cũng đang phát triển với tốc độ nhanh chóng Trong đó, tốc độ phát triển Internet là từ 35-37% liên tục trong nhiều năm, tốc

độ phát triển thuê bao di động đạt 1 4 2 % vào năm 2000 và nhểng năm gần đây đạt khoảng trên dưới 50 % năm [18] Tuy nhiên, các doanh nghiệp viễn thông trước đây vốn đã quen "độc quyền" hay được sự bào hộ cùa Nhà nước giờ đây phải cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp viễn thòng lớn trên thế giới các doanh nghiệp này sẽ gặp rất nhiều khó khăn, bất lợi Ngoài ra, chính bản thân các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam còn phải cạnh tranh lẫn nhau nhàm giành thế chù động tại thị trường trong nước Các chuyên gia cùa TPG nhận

Phạm Kiều Trang Ì L ó p A3 - Q T K D - K42

Trang 9

định, thị trường viễn thông Việt Nam tuy rộng lớn nhưng có tới 6 nhà khai thác viễn thông như hiện nay là khá nhiều [23] Vì vậy, yêu cầu đặt ra với các doanh nghiệp viễn thông là phải tái cấu trúc để khẳng định vị thế cùa mình nâng cao khả năng cạnh tranh; hoặc phải liên kết, sáp nhập đê tận dụng lợi thê mủi bên để cùng nhau tồn tại và phát triển Tái cấu trúc doanh nghiệp tại các doanh nghiệp trong ngành viễn thông hiện nay là việc làm tất yếu, vì vậy em

đã chọn đề tài cho khóa luận của mình là: "Các hoạt động chính cùa tái cấu trác doanh nghiệp và thực tiễn hoạt động tái cấu trúc tại các Doanh nghiệp trong ngành viễn thông Việt Nam"

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu lý luận chung về tái cấu trúc doanh nghiệp, các hoạt động chính của tái cấu trúc doanh nghiệp; tinh hình tái cấu trúc tại thị trường viễn thông Việt Nam; tiếp đó đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động tái cấu trúc tại một số doanh nghiệp trong ngành; cuối cùng đưa ra một số biện pháp nhằm thúc đấy hiệu quà hoạt động tái cấu trúc tại các doanh nghiệp nói trên

3 Phạm v i và đối tượng nghiên cứu

Đ ố i tượng nghiên cứu của khóa luận: Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel Telecom) doanh nghiệp có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay và Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVNTelecom) doanh nghiệp mới tham gia thị trường viễn thông

Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về tái cấu trúc doanh nghiệp, thực tiễn hoạt động tái cấu trúc tại một số doanh nghiệp viễn thông Việt Nam

4 Phưong pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó đặc biệt chú trọng tới các phương pháp điều tra, phân tích, lôgic, so sánh đối chiếu, tống kết thực tiễn

Phạm Kiều Trang 2 Lóp A3 - Q T K D - K42

Trang 10

Khóa luận tét nghiệp

5 Kết cấu cùa khóa luận

Ngoài L ờ i mở đầu, Tài liệu tham khảo và Kết luận, Khóa luận gồm 3 chương như sau:

Chương ì: Các hoạt động chính cùa tái cấu trúc doanh nghiệp

Chương li: Thực tiễn hoạt động tái cấu trúc tại một số doanh nghiệp trong ngành viễn thông Việt Nam

Chương IU: Một số giải pháp thúc đẩy quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp

trong ngành viễn thông Việt Nam

Phạm Kiều Trang 3 Lóp A 3 - Q T K D - K 4 2

Trang 11

CHƯƠNG ì CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA TÁI CẤU TRÚC

DOANH NGHIỆP

Ị Khái niêm tái cấu trúc doanh nghiệp

1.1 Q u á trình hình thành khái niệm tái cấu trúc doanh nghiệp

"Tái cấu trúc doanh nghiệp" có tên khác là "tái cơ cẩu doanh nghiệp ",

thuật ngữ tiếng Anh gọi chung là "restructuring", là một khái niệm không

mới đối với thế giới cũng như tại Việt Nam Trong khoảng thời gian vài chục năm trờ lại đây, khái niệm tái cấu trúc doanh nghiệp đã trờ nên phức tạp hơn

do có sự thay đối về thực tiễn môi trường kinh doanh và xu hướng toàn cắu hóa kinh tế quốc tế

Vào khoảng thập kỷ 90 cùa thế ký trước tái cấu trúc doanh nghiệp được nhìn nhận theo hai cấp độ khác nhau

ơ cấp độ thứ nhất, tái cấu trúc doanh nghiệp được coi là việc sắp xếp lại cơ cấu tô chức Nếu tái cấu trúc doanh nghiệp chỉ đơn giàn là việc sắp xếp lại cơ cấu tố chức, điều đó có nghĩa là không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thê tiến hành tái cấu trúc Theo đó chì một số doanh nghiệp có đù một

số yếu tố nhất định mới có thể tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp

Thứ nhất doanh nghiệp đó phải có sự ổn định trong kinh doanh, ít có những biến động và thách thức từ bên ngoài Những biến động và thách thức này có thề thay đổi thậm chí làm đào lộn phương thức làm việc hoặc phương thức quàn lý hiện tại của doanh nghiệp

Thứ hai trong nội bộ doanh nghiệp không có xung đột lớn về lợi ích hoặc về quan diêm chiến lược Đ ố i với những doanh nghiệp không đảm bảo được các yếu tố nêu trên thì việc đơn thuắn "sắp xếp lại cơ cấu tổ chức" sẽ không có hiệu quả Cách hiêu như trên mới chì cho thấy bề nổi của tái cấu trúc doanh nghiệp, chưa nêu bật được bản chất cùa hoạt động này Lúc đó, tái

Phạm Kiều Trang 4 Lóp A3 - Q T K D - K42

Trang 12

Khóa luận tốt nghiệp

cấu trúc doanh nghiệp chỉ là vẽ lại sơ đồ tô chức, đặt lại tên cho các bộ phận, sắp xếp, phân chia doanh nghiệp thành các phòng, ban, đặt ra chức danh cho các cá nhân Điều này chì đúng một phần Đúng là khi đưa ra nhùng tên gọi mới thì cách hiểu của các nhàn viên trong doanh nghiệp về nội dung công việc cũng vì thế khác đi Thông qua việc sắp xếp cơ cấu, những phương thức phịi hợp công việc mới cũng được hình thành T ó m lại nếu tái cấu trúc được hiêu theo kiểu sắp xếp lại cơ cấu tổ chức như thế trên thì chỉ phù hợp với những công ty đang hoạt động trong điều kiện ổn định và chì gặp vấn đề bất hợp lý trong tổ chức

Ớ cấp độ thứ hai, tái cấu trúc được hiếu là việc chuyến đôi từ làm việc không theo hệ thịng, không theo quy trình, sang làm việc có bài bàn và

chuyên nghiệp hơn sắp xếp lại cơ cấu tổ chức đơn thuần cũng tạo ra sự thay

địi, nhưng sự thay địi này chỉ mang tính tự phát, phụ thuộc vào việc sị đông

có tư duy giịng nhau hay không Đê khắc phục phần nào tính tự phát và lệ thuộc đó, thời gian sau này các doanh nghiệp đã tiến hành hệ thịng hóa và ban hành các văn bản biến quá trình công việc thành các quy trinh và m ô tà chi tiết về các quy trình đó, mục đích là để mọi nhân viên trong doanh nghiệp đều phải làm việc theo một tiêu chuẩn chung, không phụ thuộc vào cá tính của mỗi người Như vậy, ở cấp độ này tái cấu trúc doanh nghiệp là việc hệ thịng hóa và quy trinh hóa các công việc của doanh nghiệp

Cả hai cáp độ tái cấu trúc doanh nghiệp nói trên chỉ phù hợp trong thập niên 90 cùa thế kỷ 20, đặc biệt là tại các quịc gia tư bàn phát triền, vì khi đó hầu hết các doanh nghiệp đều mới phát triển về qui mô, điếm yếu của các doanh nghiệp này là thiếu một cơ cấu tổ chức có cấu trúc, đế có thế tiến tới chuyên môn hoa lao động, thay cho cách quản lý năng động nhưng lộn xộn theo kiểu "xưởng thù công" như trước đây

Dần dần tái cấu trúc doanh nghiệp nhăm vào cơ cấu tô chức và qui trình hoa, văn bản hoa hệ thịng làm việc đã trờ nên không còn phù hợp, không hỗ

Phạm Kiều Trang 5 Lóp A3 - Q T K D - K42

Trang 13

trợ được cho các hoạt động của doanh nghiệp Các hoạt động tái câu trúc doanh nghiệp như đã đề cập ờ trên không còn được sử dụng nữa, yêu cầu đặt

ra là phải có những khái niệm mới phù hợp với hoàn cành hơn thay thê Sau này, theo nhận định của nhiều chuyên gia, tái cấu trúc doanh nghiệp cần phải bao gứm các mục tiêu chính như: thay đổi tư duy quản lý m à trọng tâm là nhận thức chiến lược; cải cách công tác quản lý, m à trọng tâm là phân định các vai trò, cách thực thi trách nhiệm của Hội đứng Quăn trị và Ban Giám dóc; tái cấu trúc lại các quá trình kinh doanh, trên cơ sờ đó định hình m ô hình

và cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện và định hướng kinh doanh của doanh nghiệp, phát triền năng lực kinh doanh và quản lý trên cơ sờ các quá trình, việc phát triển năng lực này không phải chỉ là kỹ năng nghiệp vụ, mà nằm ờ khả năng két hợp các kỹ năng của đội ngũ trong việc tạo ra một năng lực cốt lõi cùa toàn hệ thống

1.2 K h á i niệm về tái cấu trúc doanh nghiệp

Như đã tình bày ờ phần trên, tái cấu trúc doanh nghiệp không còn là một khái niệm mới đối với thế giới cũng như tại Việt Nam Có rát nhiêu cách nhìn nhận, khái niệm khác nhau về tái cấu trúc doanh nghiệp Ngược lại cũng

có ý kiến cho ràng không có một khái niệm cụ thê nào về tái câu trúc doanh nghiệp do mỗi doanh nghiệp có các vấn đề và cách nhìn nhận khác nhau và chì nên hiểu tái cấu trúc doanh nghiệp là một quá trình "động" Trong phàn này, tác giã khóa luận sẽ đưa ra một số khái niệm đơn giản và nhận định của các chuyên gia về tái cấu trúc doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất, theo từ điển trực tuyến bách khoa toàn thư Wikipedia định nghĩa, tái cấu trúc doanh nghiệp là: "Restructuring is the corporate management term for the act o f partially dismantling or otherwise reorganizing a company for the purpose o f making Ít more efficient and thereíore more proíĩtable ít generally involves selling o f f portions o f the company and making severe staff reductions.[24]

Phạm Kiều Trang 6 L ớ p A3 - Q T K D - K42

Trang 14

Khóa luận lốt nghiệp

Tạm dịch là: "Tái cấu trúc là một hoạt động trong chuỗi hoạt động quản trị doanh nghiệp Hoạt động này nhằm thay đổi một phần hay thậm chí sắp xếp lại một công ty với mục đích làm cho công ty đó hoạt động hiệu quả hơn và từ

đó thu lợi nhuận nhiều hơn Hoạt động tái cấu trúc nói chung thưững gồm việc bán đi một phân cùa doanh nghiệp và cắt giảm một lượng lớn nhân viên Ngoài ra, cũng theo khái niệm trên của Wikipedia, tái cấu trúc doanh nghiệp cũng được coi là một trong những hoạt động doanh nghiệp phải thực hiện khi sắp rơi vào tình trạng phá sàn hoặc đang phải đối mặt với nguy cơ bị tiếp quản bữi một doanh nghiệp khác, đặc biệt là bị mua lại bữi các doanh nghiệp tư nhân Đó cũng có thể do ngưữi đứng đầu mới bồ nhiệm của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định sống còn với doanh nghiệp, quyêt định đó nhằm để cứu doanh nghiệp hoặc tái định vị doanh nghiệp trên thị trưững." Khái niệm về tái cấu trúc doanh nghiệp nêu trên của Wikipedia đã nhận định tái cấu trúc doanh nghiệp là một hoạt động trong chuỗi hoạt động quản trị doanh nghiệp Điều này được ngầm hiếu rằng cũng như các hoạt động quàn trị khác tái cấu trúc doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào quyết định của các nhà quản trị Đặc biệt ở phần dưới khái niệm này nêu "Đó cũng có thể do ngưữi đứng đầu mới cùa doanh nghiệp được thuê đế đưa ra các quyết định sống còn với doanh nghiệp, quyết định đó nhằm đế cứu doanh nghiệp hoặc tái định vị doanh nghiệp trên thị trưững", khắng định vai trò quyết định của các nhà quản trị Điều này đúng, tuy nhiên là chưa hợp lý do quyết định của nhà quản trị tuy quan trọng nhưng phải phù hợp và được các nhân viên chấp nhận nếu không tái cấu trúc doanh nghiệp sẽ thất bại

Khái niệm nêu trên cũng nêu rõ mục đích của hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp đó là làm cho công ty hoạt động hiệu quà hơn và từ đó thu lợi nhuần cao hơn Nêu nhìn nhận rộng hơn có thê thấy, tái cấu trúc là nham nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, đơn giãn hóa bộ máy hoạt động hợp lý, góp phần tạo nên một hình ảnh mới cho doanh nghiệp, hấp dẫn nhà

Trang 15

đầu tư, nâng cao giá trị doanh nghiệp trong tương lai, tạo đà cho doanh nghiệp phát triển bền vững T ó m lại mục đích cuối cùng cùa doanh nghiệp vàn là hoạt động hiệu quà hơn và thu nhiều lợi nhuận hơn

Diêm hạn chế là khái niệm nêu trên mới chì nhìn nhận hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp như là một hoạt động bất buộc, được tiến hành khi doanh nghiệp đó đang gặp khó khăn hoặc đang trên bờ vực phá sửn Khái niệm này chế chưa đề cập tới việc tái cấu trúc doanh nghiệp có thể được tiến hành một cách chù động, thậm chí cao hơn nữa tái cấu trúc doanh nghiệp cần được coi là một hoạt động thường niên

Khái niệm thứ hai về tái cấu trúc doanh nghiệp là của ông Trần Tô Tử, chuyên viên kinh tế, Công ty tư vấn đầu tư ICC Theo ông, tái cấu trúc là:

"Cuộc tông điều chình cơ cấu làm lành mạnh hóa các mối quan hệ cân đối trong một tổ chức" [9] Tổ chức ờ đây hiểu theo nghĩa hẹp là các doanh nghiệp "Tổng điều chinh" có nghĩa là hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp sẽ được thực hiện trên tát cà các yếu tố nguồn lực, cơ cấu hoạt động, cơ cấu thể chế và cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp "Lành mạnh hóa" có nghĩa là sửa chữa các điểm yếu, điểm bất cập tồn tại bèn trong các yếu tố nêu trên của doanh nghiệp khiến cho chúng trờ nên "cân đối" tức là hợp lý

Khái niệm trên đưa ra một cái nhìn tồng quát, đa chiều về tái cấu trúc doanh nghiệp, tuy nhiên chưa nêu bật được mục đích của tái cấu trúc doanh nghiệp cũng như các hoạt động cùa nó

T ó m lại, tái cấu trúc doanh nghiệp là việc thiết lập lại trạng thái cân bằng trong nội bộ doanh nghiệp nhằm duy tri tính ôn định và tạo cơ sờ cho doanh nghiệp phát triến trong những điều kiện, hoàn cửnh luôn thay đối N ó

có thể là một hoạt động trong quá trình quửn lý doanh nghiệp với mục đích là làm cho doanh nghiệp họat động hiệu quử hơn, từ đó thu được lợi nhuận cao hơn Tái cấu trúc doanh nghiệp phửi được xem xét một cách thường xuyên nếu không, tình trạng mất cân bàng cùa doanh nghiệp có thể xửy ra bất cứ lúc

Phạm Kiều Trang 8 Lóp A3 - Q T K D - K42

Trang 16

Khóa luận tốt nghiệp

nào Tình trạng mất cân bằng này có thể sẽ dẫn đến hai khá năng Một là hoạt động cùa doanh nghiệp bị rối loạn, dẫn tới việc doanh nehiệp bị phá sản; hai

là doanh nghiệp vẫn tồn tại nhưng hoạt động chậm chạp, xơ cứng và thiếu sức sông tức là vẫn tồn tại nhưng không thể phát triển

Tái câu trúc doanh nghiệp bao gồm rất nhiều hoạt động khác nhau tùy thuộc vào cáp độ phân chia hoặc trạng thái của doanh nghiệp khi tiến hành tái cấu trúc

Đối với các doanh nghiệp chì tiến hành tái cấu trúc khi đã rơi vào tình trạng mất cân bằng, tức là mất khả năng thanh toán, hoạt động không hiệu quà, có khả năng bị phá sản, thì hoạt động tái cấu trúc này đưữc gọi là tái câu trúc không tự nguyện hay tái cấu trúc bị động Ngưữc lại, với những doanh nghiệp thường xuyên tiến hành tái cấu trúc, coi tái cấu trúc là một hoạt động thường niên hoặc nhìn nhận tái cấu trúc như một hoạt động tất yếu cho quá trình phát ừiển của doanh nghiệp, tái cấu trúc doanh nghiệp đó đưữc gọi là tái cấu trúc tự nguyện hay tái cấu trúc chủ động

Xét về cấp độ, thì tái cấu trúc doanh nghiệp bao gồm hai cấp độ là tái cấu trúc gan với thay đoi cơ cấu chủ sờ hữu, bao gồm mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và tái cấu trúc không gan với thay đổi cơ cấu chủ sở hữu, bao gồm: tái cấu trúc hoạt động, tái cấu trúc cơ cấu thể chế, tái cấu trúc nguồn lực

và tái cấu trúc cơ cấu tô chức bộ máy

2 Vai trò cùa tái cấu trúc doanh nghiệp

2.1 Tại sao doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc?

2.1.1 Tái cấu trúc xuất phát từ áp lực bên ngoài

Như đà trình bày ờ phần trước các yếu tố bên ngoài ảnh hường rất lớn tới các hoạt động của doanh nghiệp Nếu không kịp thay đồi để có thể thích ứng kịp với môi trường, sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ giảm

Phạm Kiều Trang Lớp A3 - QTKD - K42

Trang 17

Các nhóm yếu tố bên ngoài tác động tới doanh nghiệp bao gôm các yêu

tố phía nhà nước, từ ngành - hay từ môi trường kinh doanh và từ các doanh nghiệp trong ngành

2.1.1.1 Nhóm yếu tố từ phía Nhà nước

Tác động của Nhà nước lên hoạt động của các doanh nghiệp xuất phát

từ các yêu tố như chính sách, chủ trương, quyết định N h ó m yếu tố này có tác động chung tới toàn bộ doanh nghiệp trong cùng một ngành hoặc các doanh nghiệp chịu sự điêu chỉnh của từng chính sách, chủ trương cùa Nhà nước Đ ó

có thê là các chính sách ưu tiên phát triển một số ngành nghề, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập các tổ chục thế giới hay việc tham gia các hiệp ước, công ước, nghị định thư trên thế giới

Đây là nhóm yếu tố khách quan, không phải lúc nào cũng phù hợp với mong muốn của doanh nghiệp Nhóm yếu tố này cũng phải thường xuyên thay đôi để có thế thích ụng với từng giai đoạn phát triển cùa quốc gia cũng như các trào lưu trên thế giới

Lấy ví dụ một trường hợp trong ngành viễn thông Việt Nam hiện nay

Bộ TT & TT (trước đây là Bộ BCVT) đang tạm ngừng cấp phép cho các doanh nghiệp đăng ký tham gia vào thị trường khai thác dịch vụ điện thoại đi động Trong thời gian tới, sự can thiệp vào thị trường của Chính phù sẽ có thể phải thay đổi khi Việt Nam buộc phải tuân thủ các quy định của thương mại thế giới trong quá trình hội nhập sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa Khi đó,

Bộ TT & TT có thể sẽ phải cho phép tất cả các doanh nghiệp nước ngoài, đủ

điều kiện hợp pháp, đầu tư vào ngành viễn thông Điều này ảnh hường đem lại những thách thục và cơ hội cho các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam, những doanh nghiệp này vốn đã quen độc quyền nay phải tự do cạnh tranh với với các Tập đoàn lớn của nước ngoài là sẽ là một khó khăn rất lớn Nếu các doanh nghiệp viễn thông trong nước không nhanh chóng tiến hành tái cấu

Phạm Kiều Trang 10 Lóp A3 - Q T K D - K42

Trang 18

Khóa luận tốt nghiệp

trúc doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, chắc chắn các doanh nghiệp này sẽ bị thâu tóm

Tóm lại, đây là một nhóm yếu tố có ảnh hường khá lớn tới doanh nghiệp tuy nhiên lại là những yếu tố doanh nghiệp không thể kiểm soát được

m à chỉ có thê dự báo, dự đoán để đưa ra những chiến lược kinh doanh hoặc các phương án thích ủng kịp thời

Ngoài ra, triển vọng của ngành nghề kinh doanh cùa doanh nghiệp cũng

có một số tác động nhất định Nếu đó là ngành có tốc độ phát triển nhanh, lợi nhuận cao nhưng trong tương lai sẽ là không bền vững hoặc là ngành không

có nhiều triển vọng phát triển thì tác động tới doanh nghiệp sẽ là không tốt và không bền vững

Hiện nay tại Việt Nam có thể kể tên hai ngành thuộc dạng này là xuất khẩu dầu thô và than đá Hai ngành này luôn nằm trong số các ngành dẫn đầu

về doanh thu cho quốc gia tuy nhiên, trong tương lai ngành này sẽ không được khuyến khích Xuất khấu dầu thô sẽ dần được thay thế bằng xuất khẩu dầu đã qua tinh lọc, xăng, diezen do các ngành này mang lại lợi nhuận gấp nhiều lần đồng thời tiết kiệm tài nguyên quốc gia Tương tự như vậy đối với lĩnh vực xuất khau than đá, Việt Nam hiện đang xuất khẩu than bán cho Trung Quốc tuy nhiên lại phải nhập điện từ Trung Quốc về phục vụ cho tiêu

Trang 19

dùng Trong tương lai, than đã sẽ được khuyến khích phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện hơn là phục vụ xuất khẩu

Doanh nghiệp hoạt động trong ngành sẽ phải chịu rất nhiêu tác động tù phía các doanh nghiệp cùng ngành Tác động có thể là do cạnh tranh gay gắt,

có thê là bị thu hẹp thị trường mục tiêu, hạn chế nguồn nguyên liệu, cạnh tranh về giá lẫn nhau

T ó m lại, áp lực cậa các yếu tố bên ngoài đối với doanh nghiệp đôi khi không phải là áp lực trực tiếp và ngay lập tức Điều quan trọng là các doanh nghiệp phải luôn nghiên cứu kỹ các yếu tố môi trường bên ngoài và dự báo được các vấn đề xảy ra để có thể "đi trước" thị trường

Một ví dụ điển hình cậa tác động này là: Vừa qua Chinh phu da Dan hành Nghị quyết 32/2007/NQ-CP yêu cầu bắt đầu từ ngày 15/09/2007 tất cả mọi người dân khi đi môtô, xe máy trên các tuyến đường quốc lộ và cán bộ công nhàn viên Nhà nước phải đội mũ bảo hiểm; đến ngày 15/12/2007 tất cả mọi người dân khi đi môtô, xe máy trên đường đều phải đội mũ bảo hiềm Có thể nói Nghị quyết này có tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mũ vải Do hiện nay tại Việt Nam xe máy vẫn là phương tiện đi lại chậ yếu và với quy định như trên thì nhu cầu mũ vài sẽ giảm mạnh do có

mũ bảo hiềm thay thế Điều này sẽ đặt các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mũ vải vào một tình thế khá khó khăn buộc họ phải tái cấu trúc Hoạt động tái cấu trúc cậa các doanh nghiệp này có thê diễn ra theo hai hướng: Hướng thứ nhất là chuyển đổi mặt hàng kinh doanh, sang kinh doanh, sản xuất mũ xe máy hoặc có thể là một mặt hàng khác

Hướng thứ hai các doanh nghiệp vẫn có thê sản xuất và kinh doanh mũ vải nhưng sẽ phải điều chinh lại hoạt động cậa mình sao cho phù hợp với hoàn cành Thị trường tiềm năng cho mũ vải sẽ là những người dân đi lại bàng các phương tiện khác ngoài xe máy hoặc nhắm vào đối tượng kinh doanh mũ thời trang, tức là những loại mũ phục vụ mục đích làm đẹp Nghị

Trang 20

Khóa luận tốt nghiệp

quyêt này cũng có tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp sản xuấy mũ bảo hiêm xe máy Nghị quyết 32/2007/NQ-CP ra đời sẽ khiến cho cầu về mũ bao hiểm tăng mạnh trong thời gian tới cầu tăng mạnh đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuât mũ bảo hiểm phải tái cấu trúc hoạt động sao cho hiệu quả sản xuất là tôi đa, phục vụ nhu câu thị trường

Ngoài ra, Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP còn có tác động gián tiếp tới các doanh nghiệp sàn xuất và kinh doanh xe gắn máy vấn đề đặt ra sau khi người dân buộc phải đội mũ bào hiểm khi ngứi trên xe môtô, xe gan máy là cần phải có nơi cất mũ bào hiểm khi xuống xe Loại xe môtô, xe gan máy nào được thiết kế có cốp xe đủ rộng để chứa mũ bảo hiểm sẽ là sản phàm phù hợp hơn với cầu của người tiêu dùng Doanh nghiệp sàn xuất và kinh doanh xe máy nhận biết sớm được điều này sẽ có lợi thế cạnh tranh rất lớn Có thê nói Nghị định này chỉ tác động gián tiếp tới các doanh nghiệp nói trên nhưng cũng buộc các doanh nghiệp phải nhanh nhạy tái cấu trúc lại dòng sàn phẩm của mình cho phù hợp

Rõ ràng là các yếu tố bên ngoài có thể không tác động trực tiếp tới doanh nghiệp tuy nhiên nếu doanh nghiệp có thể dự báo và tái cấu trúc nhằm thích nghi được với những sự thay đứi doanh nghiệp đó sẽ giành được lợi thế trên thị trường

2.1.2 Tái cấu trúc xuất phát từ áp lực bên trong

Doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường với mục đích cuối cùng là lợi nhuận, muốn vậy doanh nghiệp phải tìm mọi cách đê phát triển không ngừng Trong quá trình phát triển không ngừng, đê có thề phù họp với quy m ô tăng trường phát triển, doanh nghiệp phải tự nhận thức được những hạn chế tứn tại bên trong nội bộ doanh nghiệp Đó chính là áp lực buộc phải tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp nảy sinh từ bên trong doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, nguy hiểm hơn nữa là đang đứng trên bờ vực phá sản thì áp lực đòi hỏi phải tái cấu trúc doanh

Lớp A3 - QTKD - K42

Trang 21

nghiệp càng lớn, hoạt động tái cấu trúc phải được tiến hành ngay lập tức không chậm trễ Á p lực này xuất phát từ phía những người chủ sờ hữu của doanh nghiệp (ví dụ như các cố đông) nhằm đảm bảo lợi ích của họ

Đ ố i với các doanh nghiệp đang hoạt động bình thường và chưa có dấu hiệu bất ổn, áp lực bên trong buộc tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp chính

là việc phải chuyên môn hóa hơn động, yêu cầu giãi tán các bộ phận kinh doanh kém hiệu quả, loại thài nhân sự kém năng lực

2.2 Vai trò của tái cấu trúc doanh nghiệp

2.2.1 Vai trò của tái cấu trúc doanh nghiệp đối với nền kinh le

Hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp có một số tác động nhất định tới kinh tế-xã hội cùa một quốc gia

Thứ nhất, tái cấu trúc doanh nghiệp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Hiện nay, ngày càng có nhiều quốc gia tham gia vào quá trinh toàn cầu hóa nền kinh tế quốc tế do xu hướng này đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới Toàn cầu hóa kinh tế đống nghĩa với việc các doanh nghiệp giờ đây có thế cạnh tranh bình đẳng với nhau trên một "sân chơi" chung Doanh nghiệp muốn tốn tại và phát triển thì phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường Tái cấu trúc doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh của minh, nhanh chóng thích với sự biến đổi của môi trường kinh doanh Xét trên bình diện nền kinh tế, tổng thể nền kinh

tế chỉ có thể phát triển khi các doanh nghiệp trong nền kinh tế đó cũng phát

Đ ố i với các nước có nền kinh tế đang phát triển, hoạt động tái cấu trúc của các doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng Sức cạnh tranh cùa các doanh nghiệp nói trên yếu kém hơn nhiều so với sức cạnh tranh của các doanh nghiệp tại các quốc gia phát triển Tái cấu trúc doanh nghiệp là một trong những nhân tố thúc đẩy các nền kinh tế tại các quốc gia này phát triển

Thứ hai, tái cấu trúc doanh nghiệp giúp quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp trở nên đơn giàn hơn Nguyên nhân là do dù tái cấu trúc doanh

Phạm Kiều Trang 14

Lớp A3 - QTKD - K42

Trang 22

Khóa luận tốt nghiệp

nghiệp sẽ khiến quy m ô của doanh nghiệp đó tăng lên, nhưng bộ máy lại gọn nhẹ và hiệu quà hơn-nói cách khác là to lên nhưng không phình ra

Ngược lại, Chính phủ và Nhà nước cũng phải đưa ra những luật lệ, quy định hợp lý, chặt chẽ hơn đảm bảo quản lý tốt các hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp Nếu không các hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp sẽ trờ nên lộn xộn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lách luật, gày thiệt hại tới nền kinh tế

Tuy nhiên, mặt trái của tái cấu trúc doanh nghiệp chính là việc tứ lệ thất nghiệp có thề tăng lên kéo theo nó rất nhiều vấn đề về mặt kinh tế xã hội Nguyên nhân là do các doanh nghiệp khi tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp luôn hướng tới mục tiêu tinh giảm cơ cấu tồ chức bộ máy, làm cho bộ máy linh hoạt gọn nhẹ hơn Các doanh nghiệp hiện nay có xu hướng sử dụng nhân viên đa năng-kiêm nhiệm nhiều công việc; hạn chế ký hợp đồng dài hạn với nhân viên, chù yếu thuê nhân viên hợp đồng, thời vụ

2.2.2 Vai trò của tái cấu trúc doanh nghiệp đối với doanh nghiệp

Tái cấu trúc là một việc làm cần thiết đối với hầu hết các doanh nghiệp Thậm chí một số chuyên gia còn cho rằng tái cấu trúc cần được coi là hoạt động "thường niên" của doanh nghiệp Nói một cách tổng quan nhất thi tái cấu trúc doanh nghiệp có thê giúp doanh nghiệp năm bát và tận dụng tót hơn những cơ hội kinh doanh, vượt qua được những thách thức ngày càng khốc liệt, những thav đôi mạnh mẽ trong môi trường kinh doanh; có đù khả năng đê thực hiện những công việc của mình một cách hiệu quả và bền vững Tái cấu trúc doanh nghiệp còn là góp phần tạo nên một hình ảnh mới cho doanh nghiệp, hấp dẫn nhà đầu tư m à nâng cao giá trị doanh nghiệp trong tương lai, tạo đà cho doanh nghiệp phát triển bền vững Có thê nói tái cấu trúc đóng một vai ứò khá quan trọng đối với các doanh nghiệp Tựu chung lại, tái cấu trúc doanh nghiệp có một số vai trò chính như sau:

Trang 23

Thứ nhất, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường Hiện nay, trên thế giới tồn tại quan điểm quy m ô của một doanh nghiệp tỷ lệ thuận với sức cạnh tranh cùa doanh nghiệp đó Sức cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên một phần nhờ doanh nghiệp có thê cát giảm đưừc chi phí hay còn gọi là chi phí giảm theo quy mô Khi quy m ô doanh nghiệp tăng lên, lưừng hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp sản xuất cũng tăng lên kéo theo chi phí sàn xuất trên từng đơn vị sàn phẩm sẽ giảm xuống Các doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc theo hoạt động sáp nhập sẽ nhận thấy rõ nhát lừi ích này, điều này sẽ trinh bày kỹ hơn tại phần sau

Thứ hai, tái cấu trúc doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc tinh giảm bộ máy, giảm thiêu sự chông chéo

về cơ cấu tổ chức, nhân sự Hiệu quà hoạt động cùa doanh nghiệp cũng tăng lên khi doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc lại các nguồn lực tài chính theo hướng giảm nừ, điều tiết dòng lưu chuyền tiền tệ

Thứ ba, tái cấu trúc giúp hoàn thiện môi trường làm việc của doanh nghiệp Thông qua các hoạt động tái cấu trúc, doanh nghiệp trờ nên năng động, có bản sắc văn hóa riêng

Thứ tư, tái cấu trúc giúp doanh nghiệp trờ nên hấp dẫn hơn đôi với các nhà đầu tư Một doanh nghiệp luôn chú trọng tới hoạt động tái cấu trúc có nghĩa là doanh nghiệp luôn xem xét mọi khía cạnh hoạt động của mình và tái điều chỉnh ngay khi cần thiết Doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc cũng là doanh nghiệp hướng tới việc làm mới mình Những doanh nghiệp như trên sẽ tạo đưừc sự tin tưởng hơn đối với các nhà đầu tư, thu hút đưừc nhiều nguồn von đầu tư hơn

Thứ năm, tái cấu trúc doanh nghiệp cũng góp phần tạo ra hình ảnh mới cho doanh nghiệp Doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc nghĩa là doanh nghiệp tổng điều chình các yêu tố trong doanh nghiệp kéo theo với đó là hình anh cùa doanh nghiệp có thể thay đổi theo Hình ảnh mới cùa doanh nghiệp có thể đơn

Trang 24

Khóa luận tốt nghiệp

giàn là do một vị trí lãnh đạo cao cấp mới được bổ nhiệm và người lãnh đạo

đó mong muốn tạo sự khác biệt với người tiền nhiệm Khi doanh nghiệp có sự điều chỉnh về chiến lược hay sản phẩm của mình thì lẽ tất nhiên hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt khách hàng đã được thay đổi, làm mới

T ó m lại, tất cả các yếu tố trên giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng hiệu quả thu được nhiều lợi nhuần là mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp

3.3 Các hoạt động chính của tái cấu trúc doanh nghiệp

Có nhiều cách đế phân loại các hoạt động chính của tái cấu trúc doanh nghiệp Trong phạm vi khóa luần, tác giả xin đưa ra 2 cách phân loại chính là xét theo tính cấp thiết và xét theo cấp độ của hoạt động tái cấu trúc

3.3.1 Xét về tính cấp thiết

3.3.1.1 Tái cấu trúc tư nguyên

Tái cấu trúc tự nguyện còn có tên gọi khác là tái cấu trúc chù động Được gọi như vầy chính là vì hoạt động tái cấu trúc đó được doanh nghiệp tiến hành một cách chủ động ngay cả khi doanh nghiệp đang hoạt động ổn định và chưa có dấu hiệu cùa bất ổn Theo các chuyên gia hoạt động tái cấu trúc cần được các doanh nghiệp tiến hành thường xuyên, thầm chí là cần được coi là một việc làm thường niên có như vầy doanh nghiệp mới có thề thích ứng với các yếu tố bên trong và bên ngoài luôn thay đối và tác động tới doanh nghiệp

Tái cấu trúc tự nguyện cũng có hai dạng, tuy nhiên ranh giới phân chia không rõ ràng, đó là các doanh nghiệp đang hoạt động tốt nhưng muốn tiến hành tái cấu trúc để mờ rộng, phát triển hơn nữa - tái cấu trúc tự nguyện hoàn toàn Các doanh nghiệp này nếu quyết định tiến hành tái cấu trúc thì sẽ là một quyết định khá mạo hiểm Bởi vi khi tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp phải

bỏ ra một khoản chi phí nhất định thêm vào đó quá trình tái cấu trúc có thể tiềm ẩn một số rủi ro nếu quá trình này không được tiến hành một cách đúng

Phạm Kiều Trang OẮ%Ị Lớp A3 - Q T K D - K42

Trang 25

đàn Nếu không tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp vẫn có thể hoạt động tót tuy nhiên điêu này cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn sẽ chuyên sang dạng hai

Một số doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc khi nhận thấy một số nguy

cơ tiêm ân xảy ra với doanh nghiệp của mình như doanh nghiệp hoạt động sút kém, mất dần thợ trường, doanh nghiệp hoạt động không hiệu quà, hay môi trường kinh doanh thay đồi, hoặc chỉ đơn giản là nhà lãnh đạo tài ba cùa doanh nghiệp mới nghỉ hưu Đây là tái cấu trúc tự nguyện không hoàn toàn Nói là như vậy bời vi nếu doanh nghiệp chưa tiến hành tái cấu trúc thì cũng sẽ chưa có hậu quà gì rõ ràng xảy ra tuy nhiên trong tương lai gần nhiều khả năng dẫn tới việc doanh nghiệp bợ "buộc phải tái cấu trúc"

Tái cấu trúc tự nguyện được coi là một hoạt động có thê tạo ra bước ngoặt Tái cấu trúc tự nguyện đặt doanh nghiệp trong tình trạng luôn luôn suy nghĩ làm sao tiếp tục cài tiến, tiếp tục phát triển, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường khắc nghiệt, bợ cạnh tranh gay gắt

3.3.1.2 Tái cấu trúc không tư nguyên

Như đã ứình bày tại phần trên, tái cấu trúc doanh nghiệp chính là thiết lập lại trạng thái cân bằng trong nội bộ doanh nghiệp nhằm duy trì tính ổn đợnh và tạo cơ sở cho doanh nghiệp phát triển trong những điều kiện, hoàn cành luôn thay đổi

Tái cấu trúc doanh nghiệp luôn phải được xem xét một cách thuồng xuyên, nếu không, tình trạng mất cân bằng trong nội bộ doanh nghiệp có thê xảy ra bất cứ lúc nào Tình trạng mất cân bằng này sẽ dẫn đến khá năng: hoạt động bợ đình trệ dẫn tới việc doanh nghiệp bợ phá sản; hoặc doanh nghiệp vẫn tồn tại nhưng hoạt động thiếu hiệu quả - doanh nghiệp vẫn tồn tại những không phát triển

Nếu doanh nghiệp chỉ tiến hành tái cấu trúc khi đã rơi vào trạng thái mất cân bằng, bằng cách đồi mới, sắp xếp lại bộ máy và hoạt động, chuyển

Trang 26

Khóa luận tốt nghiệp

đổi sờ hữu đó gọi là tái cấu trúc không tự nguyện hay tái cấu trúc bị động Trạng thái mất cân bằng cùa doanh nghiệp có thể có các biểu hiện sau đây: doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, hoạt động không hiệu quả hoặc có khả năng rơi vào tình trạng phá sản

Điểm khác biệt rõ rệt nhất của tái cấu trúc không tự nguyện với tái câu trúc tự nguyện chính là tái cấu trúc không tự nguyện phải đưễc doanh nghiệp tiến hành ngay lập tức không đưễc chậm trễ Thêm vào đó, hoạt động tái câu trúc doanh nghiệp này có thể chi giúp cho doanh nghiệp tránh khỏi nguy cơ

bị tiếp quản bởi các doanh nghiệp khác chưa chắc đã có thê giúp doanh nghiệp phát triền

3.3.2 Xét về cấp độ

3.3.2.1 Tái cấu trúc sắn với thay đồi cơ cấu chủ sờ hữu

Đặc trưng của hoạt động này ngoài việc làm thay đổi cơ cấu chủ sờ hữu của doanh nghiệp còn làm biến đối về quy m ô của doanh nghiệp Dựa theo sự biên đôi vê quy m ô cùa doanh nghiệp hoạt động này đưễc chia thành hai dạng chinh

+ Khái niệm hoạt động sáp nhập

Khái niệm sáp nhập cũng mới du nhập vào Việt Nam những năm gần đây sau thời kỳ đổi mới tuy nhiên trên thế giới nó đã xuất hiện từ rất lâu Trào lưu sáp nhập đầu tiên trên thế giới bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, tuy nhiên trào lưu này chì thực sự bùng nô vào những năm từ 1967 đến 1969 và sau đó là các năm của thập ký 80 và 90, trong đó năm 1999 và năm 2000 đưễc coi là những năm đỉnh cao N ă m 2000 chỉ tính tới các thương vụ sáp

Phạm Kiều Trang 19 Lớp A3 - QTKD - K42

Trang 27

nhập có của các công của Mỹ đã có tổng giá trị lên tới 1,7 nghìn tỷ đôla [20]

Có thế nói sáp nhập là một loại hình tái cấu trúc phô biên nhất hiện nay Theo điều 153 Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005 khái niệm về sáp nhập được trình bày như sau: "Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi

là công ty nhận sáp nhập) bồng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ

và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập"

Thông thường hoạt động sáp nhập chỉ mang lại hiệu quả khi giá trị cùa các công ty sau khi sáp nhập sẽ lớn hơn trước khi sáp nhập, hay còn được gọi

là "Một cộng một bồng ba" - công thức này nói nên "năng lực chuyến hóa" đặc biệt có được ờ mỗi thương vụ sáp nhập

Thương vụ sáp nhập diễn ra giữa hai doanh nghiệp, thông thường các doanh nghiệp có cùng quy mô, thống nhất sẽ cùng tham gia hợp nhất với nhau

và trờ thành một doanh nghiệp Thương vụ sáp nhập với tính chất công bồng như vậy được gọi là "sáp nhập cân bồng" hay íriendly merger và như vậy cổ phiếu cũ của hai công ty cũ sẽ không còn công ty mới sẽ phát hành cố phiếu thay thế Hoạt động này về bản chất giống với hoạt động hợp nhất Điều 152, Luật Doanh nghiệp Việt Nam quy định: "Hợp nhất là việc hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất) bồng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất"

Trên thực tế những thương vụ sáp nhập cân bồng thường rất hiếm khi xảy ra Cách thông thường sẽ là một công ty mua lại công ty khác với điều khoản cho phép công ty bị mua lại tuyên bố rồng hai bên sáp nhập cân bồng -

dù trên góc độ kĩ thuật, đó là vụ mua lại - thâu tóm, thuật ngữ tiếng Anh là hostile merger Thậm chí, đa số thương vụ thường không có được sự đồna

Trang 28

Khóa luận lốt nghiệp

thuận của hai bên, bên thực hiện thường sẽ dùng nhiều cách đê thâu tóm và câu chuyện thường không dễ chịu như cái m à người ngoài cuộc nhìn thầy Bảng Ì- M ộ t số thương vụ sáp nhập lớn trên the giới những năm gần đây

STT Lĩnh vực Doanh nghiệp nhận

sáp nhập

Doanh nghiệp bị sáp nhập

Trị giá

(Đv: tỳ đôla Mỹ)

1 Viên thông Vodaíbne Mannesmann 203

3 Dược phàm Pfizer Pharmacia 59,5

4 Ngân hàng JP Morgan Chase Bank One 58

5 Ngân hàng Bank of America FleetBoston

Financial Corp 49,3

6 Viễn thông Cingular Wireless A T & T Wireless Services 41

7 Ngân hàng Mitsubishi Tokyo

Financial Group UFJ Holdings 25,7

8 Y t ế Anthem Wellpoint Health

Networks 16,4

9 Bảo hiểm St Paul Companies Travelers property

Casualty 16,1

10 Ngân hàng Banco santander

Central Hispano Abbey 15,6

13,7

+ Các dạng chính của hoạt động sáp nhập

- Sáp nháp theo chiều ngang, thuật ngữ tiếng Anh là horizontal merger: hoặt động sáp nhập diễn ra giữa hai doanh nghiệp cùng sàn xuất một dòng sàn phẩm hoặc cung cáp cùng một loặi hình dịch vụ

- Sáp nháp theo chiều dọc, thuật ngữ tiếng Anh là Vertical merger: làsáp nhập giữa các công ty cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng khác nhau về phân khúc

Phặm Kiều Trang 21

Trang 29

thị trường Hoạt động sáp nhập này sẽ tạo ra giá trị thông qua tận dụng kinh nghiệm và khả năng của các công ty tong cùng một chuỗi giá trị (supply chain) nhăm tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng Nghĩa là thành phần doanh nghiệp cùa hoạt động sáp nhập theo chiều dọc sẽ bao gồm các doanh nghiệp thực hiện các giai đoạn khác nhau cùa chuỗi sản xuất Công ty nhận sáp nhập có thê sáp nhập ngược lại vễi các doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu hay cũng có thê sáp nhập xuôi chiều vễi người mua cuối cùng

- Sáp nháp của các doanh nghiệp cùng ngành, thuật ngữ tiếng Anh là

C o n g e n e r i c M e r g e r : loại hình sáp nhập này chủ yếu diễn ra đôi vễi các doanh nghiệp có quy m ô nhỏ, sáp nhập vễi vễi mục đích tạo ra một doanh nghiệp quy m ô lễn hơn trên thị trường để tăng sức cạnh tranh

- Sáp nháp cùa các doanh nghiệp khác ngành, thuật ngữ tiếng Anh là

C o n g l o m e r a t e m e r g e r : phổ biến nhất trên thế giễi vào thập kỷ 60 và 70 thế

kỷ trưễc nhưng hiện nay lại ít phổ biến trưễc hết là tại Mỹ và một số quốc gia

phát triển Do thời gian đó, sức cạnh trong giữa các doanh nghiệp còn thấp, các doanh nghiệp có khả năng bành trưễng tạo thành các công ty có khả năng lũng đoạn thị trường [20]

Hiện nay trên thế giễi phổ biến nhất là sáp nhập theo chiều ngang và sáp nhập giữa các doanh nghiệp cùng ngành Các doanh nghiệp có xu hưễng sáp nhập chủ yếu là các doanh nghiệp quy m ô nhỏ sáp nhập lại vễi nhau tạo

ra doanh nghiệp quy m ô lễn hơn để tăng sức cạnh tranh Cũng có những doanh nghiệp sáp nhập lại vễi nhau nhằm tránh bị tiếp quàn bời các doanh nghiệp lễn hơn trong ngành

Đối vễi hoạt động sáp nhập dù là tự nguyện hay không tự nguyện thì thông thường doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ là doanh nghiệp có thế chủ động

và do đó doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ thu được nhiều lợi ích hơn so vễi doanh nghiệp bị sáp nhập Do đó phần đánh giá lợi ích và hạn chế của hoạt động sáp nhập sẽ chi đánh giá đối vễi doanh nghiệp nhận sáp nhập

Trang 30

Khóa luận tốt nghiệp

+ Lợi ích của hoạt động sáp nhập

Có thê khang định rằng các vụ sáp nhập luôn tạo ra những lợi ích đáng kê cho các còng ty, khách hàng và đối tác kinh doanh, cụ thể là:

* Lơi ích chung

Sáp nhập luôn được coi là một trong những giãi pháp hữu hiệu cho việc

tổ chức lại công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, về nguyên tắc, khi sáp nhập, giá trị của công ty hợp nhỗt bao giờ cũng phải lớn hơn giá trị của mỗi công ty riêng lẻ cộng lại thì vụ việc mới được xem xét, tiến hành (1+1>2) và sau khi sáp nhập, cà doanh thu và lợi nhuận đều phải tăng Từ các công ty nhỏ lè kết hợp lại thành một công ty có quy m ô lớn nên khả năng bị triệt tiêu trên thương trường rỗt khó xây ra; đồng thời các công ty cũng có thê đáp ứng tốt hơn yêu cầu về nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, giảm bớt rủi ro trong kinh doanh, tiết kiệm được chi phí cố định (quàn lý, điêu hành, quảng cáo, văn phòng, tiếp thị ), tiết kiệm được chi phí đào tạo do sắp xếp, bố trí hợp lý hơn nguồn nhân lực, tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm, tăng vốn đầu tư, có cơ hội mờ rộng ngành nghề kinh doanh

T ó m lại, sáp nhập sẽ giúp doanh nghiệp có thêm khả năng:

Mở rộng hơn: Sáp nhập sẽ giúp mờ rộng các dịch vụ và loại hình kinh

doanh cho bỗt kỳ cỗp độ nào cùa công ty Những mặt mạnh cùa các bên giờ đây sẽ hợp chung thành những thế mạnh của công ty hợp nhỗt

Chuyên sâu hơn: Sự kết hợp của công nghệ và chuyên m ô n giữa các

công ty sẽ tạo ra những tập đoàn mới có tính chuyên sâu, cung cỗp những sản phẩm và dịch vụ có chỗt lượng cao hơn, hiện đại và tiên tiến hơn

Vươn tới toàn cầu: Thông qua sáp nhập, các công ty tận dụng được lợi

thế thị trường và kênh phân phối của nhau, qua đó hệ thống bán hàng và dịch

vụ sẽ được mở rộng, các kênh phân phối được noi dài tới hàng triệu người tiêu dùng và khách hàng là các công ty nhỏ, vừa và lớn trên toàn thế giới

+ Lơi Ích của từng hình thức sây nháp

Trang 31

Sáp nhập theo chiều ngang: Sau khi sáp nhập quy m ô của doanh nghiệp

tăng lên và khi quy m ô tăng lên thỉ sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng vì vậy tăng lên Đó có thể là do doanh nghiệp có thể tích hợp chi phí và chi phí

sẽ giảm xuống Chi phí giảm xuống cũng có thê là do giảm bớt được các chi phí không cần thiết Ví dụ trước khi sáp nhập hai doanh nghiệp có hai Ke toán trưởng vậy sau khi sáp nhập chì cần một kế toán trưởng là đủ Đặc biệt chi phí trên tấng đơn vị sàn phẩm có thể giảm xuống khi m à quy m ô sản xuất tăng lên, quy m ô sản xuất tăng lên nhờ quy m ô của doanh nghiệp đã tăng lên và có thế sau khi sáp nhập thị phần cũng như thị trường của doanh nghiệp cũng tăng lên Người ta gọi đó là tiết kiệm chi phí do quy mô

Sáp nhập theo chiều dọc: Kiểm soát được các nhà cung cáp hoặc các

khách hàng lớn, tạo thành một chuối có thể giúp giảm chi phi Sáp nhập có thề hoàn thành chuỗi quy trinh với các hoạt động còn thiếu cho doanh nghiệp Không thể phủ nhận lợi ích to lớn của hoạt động sáp nhập bằng chứng

là hoạt động này là phổ biến nhất hiện nay, tuy nhiên không phải bát kỳ thương vụ sáp nhập nào cũng thành công Có những thương vụ sáp nhập khiến cho cà doanh nghiệp nhận sáp nhập lẫn doanh nghiệp bị sáp nhập đều chịu thiệt hại nặng nề do đó trước khi tiến hành sáp nhập doanh nghiệp cần chú ý tới một số điếm sau đây

Một là, đội ngũ quản lý không thể giải quyết hoặc giải quyết không hiệu quả đối với một số vấn đề, các vấn đề này đã trờ nên phức tạp sau khi các doanh nghiệp sáp nhập là do các doanh nghiệp có nhiêu diêm khác nhau

về quy trinh quản lý, phương pháp tính toán, phương pháp kế toán áp dụng và đặc biệt là có sự xung đột về văn hóa doanh nghiệp Đây là nguyên nhân chủ yếu cho sự thất bại của hầu hết các thương vụ sáp nhập

Một ví dụ điển hình của sự thất bại vì nguyên nhân này là trường hợp sáp nhập cùa ba Ngân hàng lớn nhát Nhật Bàn Thương vụ sáp nhập giữa ba Ngân hàng lớn nhất Nhật Bàn tạo thành Ngân hàng Mizuho có giá trị lên tới

Phạm Kiều Trang 24 Lóp A3 - Q T K D - K42

Trang 32

Khóa luận tốt nghiệp

Ì ,5 nghìn tỷ đôla, hơn hai lần so với doanh nghiệp lớn nhất thế giới trước đó

là Deutsche Bank Các nhà quản lý của cà ba Ngần hàng đều rất tin tườns vào triền vọng của thương vụ này Chi phí của vụ sáp nhập ước tính lên tới 130 tỷ Yên Nhật, tuy nhiên các nhà quản lý dự báo lợi nhuận trong tương lai của Ngân hàng Mizuho sẽ là 466 tỷ Yên một năm Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi sáp nhập, đã có rất nhiều thông tin về sự bất đứng cùa ba đối tác được đăng tải trên báo chí Một trong những nguyên nhân của những bất đứng thuộc là về các ứng dụng Công nghệ thông tin cùa ba Ngân hàng M ỗ i Ngàn hàng đều có một nhà cung cấp hệ thống máy tính riêng và trước khi sáp nhập

đã có ý kiến đề xuất chỉ sử dụng một trong ba hệ thống máy tình nói trên nhưng sau đó các ngân hàng lại quyết định chọn giải pháp két nôi ba hệ thông lại với nhau Kết quả là chỉ 5 ngày sau khi Ngần hàng Mizuho đi vào hoạt động các hệ thống máy tính đã xung đột với nhau tạo ra những lỗi rất nghiêm trọng Khoảng 7000 máy rút tiền tự động ngừng hoạt động, 60.000 tài khoản

bị trừ tiền hai lần với cùng một lệnh trong khi đó hàng triệu hóa đơn rút tiền của khách hàng không được chi trả do máy không "nhả" tiền [20] Thất bại của Ngân hàng Mizuho cho thấy người ta thường dễ dàng xác định được thành công hơn là nhận ra những nguy cơ tiềm ẩn của các thương vụ sáp

nhập

Nguyên nhân thứ hai chính nằm ở một tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp đó là tài sàn "con người": các nhà quản lý các công nhân có trình độ, các nhà nghiên cứu, các kỹ sư Nếu những con người này không được bố trí làm việc phù hợp với năng lực cùa họ tại doanh nghiệp mới sau khi sáp nhập,

họ sẽ căm thấy bất mãn và sau đó những người giòi nhất sẽ ra đi

Nguyên nhân thứ ba khiên cho một cuộc sáp nhập trờ nên thất bại mặc

dù doanh nghiệp sau khi sáp nhập vẫn kinh doanh có lãi đó là do doanh nghiệp nhận sáp nhập đã trà cho thương vụ sáp nhập quá nhiều tiền Điều này

có thề do doanh nghiệp nhận sáp nhập đã đánh giá quá cao giá trị cùa các tài

Trang 33

sản doanh nghiệp bị sáp nhập có hoặc đánh giá thấp chi phí sửa sang lại các nhà máy, thiết bị cũ

* Hoạt động mua lại

Hoạt động "mua lại", thuật ngữ tiếng Anh là acquisition, có tên gọi khác là "tiếp quản", là việc một doanh nghiệp mua một số lượng cô phiếu và

đủ đế nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp khác nhụm biến doanh nghiệp bị mua lại thành một công ty con hay một chi nhánh của của công ty đi mua lại [20]

Hoạt động mua lại về bản chất khá giống với trường hợp sáp nhập không cân bụng Một thương vụ mua lại cũng có thế được gọi là sáp nhập nêu như Ban giám đốc, điển hình là Lãnh đạo cấp cao nhất của các bên thỏa thuận

sẽ họp tác ngồi cùng với nhau đề mang lại lợi ích lớn nhất có thê cho cả hai bên Ngược lại, nếu như tính "hữu hảo" không tồn tại - khi m à đối tượng bị mua lại không muốn, thậm chí thực hiện các kỹ thuật tài chính để chống lại, thì nó hoàn toàn mang tính chất của một thương vụ mua lại Như thế khi ta xem xét một thương vụ, để có thể gọi chính xác đó là sáp nhập hay mua lại cần phải xem xét tới tính chất hợp tác hay thù địch giữa hai bên Nói cách khác, nó chính là cách Ban giám đốc, các nhân viên và cồ đông cùa công ty bị mua lại nhận thức về mỗi thương vụ Vì vậy có thể kết luận rụng các thương

vụ mua lại thường diễn ra không bình đẳng giữa các bên

Khi một công ty bị mua lại bời một công ty khác không có nghĩa là công ty đó sẽ chấm dứt sự tồn tại Công ty bị mua lại vẫn có thể hoạt động bình thường tuy nhiên trên thực tế vẫn tồn tại trường hợp công ty bị mua lại

sẽ không còn hoạt động nữa Trong trường họp công ty bị mua lại vẫn hoạt động bình thường thì công ty đó được gọi là công ty con Công ty tiến hành mua lại được gọi là công ty mẹ Khoản đầu tư của Công ty mẹ được gọi là khoản "Đầu tư vào Công ty con" theo chuẩn mực kế toán hiện hành Công ty

mẹ không nhất thiết phải sờ hữu toàn bộ công ty con m à chi cần nắm quyền

Trang 34

Khóa luận tốt nghiệp

kiêm soát Tuy không sở hữu toàn bộ nhưng trên báo cáo tài chính cùa công

ty mẹ phải hợp nhất báo cáo của công ty con (consolidation) Hướng dẫn họp nhát được quy định tại Chuẩn mực Ke toán Việt Nam sổ 25 và báo cáo tài chính của công ty mẹ và công ty con được quy định theo điều 148, Luật Doanh nghiệp 2005 Theo Chuẩn mực sổ 25 này thì nếu một công ty nắm giữ trên 5 0 % cổ phần cùa một công ty khác thì công ty đó được gọi là Công ty mẹ

và phải hợp nhất báo cáo tài chính cùa công ty con

Trong trường hợp mua lại thông thường, công ty con vẫn hoạt động bình thường và không phái làm bất cứ thủ tục pháp lý nào để thay đổi đăng ký kinh doanh hay hình thức sở hữu

Mức độ độc lập của công ty con và công ty mẹ tuy thuộc vào chiên lược cùa công ty mẹ Trên thực tế có trường hợp công ty mẹ chì đóng vai trò chù sỡ hữu m à không can thiệp vào hoạt động của công ty con Tuy nhiên trong phần lớn các trường họp công ty mẹ sẽ có tác động nhất định đến các chiến lược lớn và quan trọng của công ty con Nhưng cho dù mức độ tác động đến đâu thì đó vẫn là vẫn đề trong nội bộ của mổi quan hệ công ty mẹ-con, về mặt pháp lý công ty mẹ và công ty con là hai pháp nhân tồn tại độc lập hoàn toàn Mức độ độc lập này thê hiện ờ chỗ nếu công ty con có bị phá sản thì công ty mẹ cũng chỉ mất phần vổn đã góp vào công ty con, các tài sàn hiện có của công ty mẹ không được sử dụng để thanh toán các khoản nợ

* Các hoạt động khác

Các hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp thuộc dạng này bao gôm hai loại hình chính là "spin-off' và "carve-out" Hiện tại Việt Nam chưa có khái niệm cũng như tên gọi chính thức cho hai hoạt động này do chúng chưa được phổ biến rộng rãi, tác giả Khóa luận xin phép được đê nguyên tên gọi theo tiếng Anh Spin-off và carve-out là các hoạt động tái cấu trúc doanh nahiệp nhằm cắt bỏ những phần hoạt động không hiệu quả (underperíbrmine) hoặc

Trang 35

những phân không kiếm soát được nhằm mục đích tăng hiệu quà hoạt động cùa doanh nghiệp

Spin-off: được hiêu là việc một công ty bán đi một phần tài sản, hoạt động của mình Cô phân cùa công ty mới được chia cho các cô đông hiện hữu của công ty

Carve-out: khác spin-off ờ chỗ cổ phiếu của công tỵ con tách ra không được bán lại cho các cổ đông cũ m à được bán rộng rãi ra công chúng [21] Như đã nói ờ trên, hiện nay tại Việt Nam chưa có điều luật quy đặnh cụ thể về spin-off và carve-out, tuy nhiên Luật Doanh nghiệp 2005 cũng có nhắc tới trường hợp tách doanh nghiệp, theo chù quan của tác giả là vè mặt bản chất là giống hai hoạt động nói trên Theo điều 151, Luật Doanh nghiệp 2005, tách Doanh nghiệp là việc: "Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cô phân có thể tách bằng cách chuyến một phần tài sản của công ty hiện có (sau đây gọi

là công ty bặ tách) để thành lập một hoặc một số công ty mới cùng loại (sau đây gọi là công ty được tách); chuyên một phần quyền và nghĩa vụ của công

ty bặ tách sang công ty được tách mà không chấm dứt tồn tại cùa công ty bặ tách" Tuy nhiên, điểm khác biệt là Luật Doanh nghiệp 2005 không quy đinh

cụ thế về cổ phiếu cùa doanh nghiệp sau khi bặ tách sẽ được xử lý ra sao

3.3.2.2 Tái cấu trúc khòm gan với thay đoi cơ cấu chù sờ hữu

* Tái cẩu trúc hoạt động

Tái cấu trúc hoạt động là việc điều chình cơ cấu các hoạt động chính của doanh nghiệp, nhằm điều chỉnh cơ cấu các mục tiêu chiến lược — ngành nghề kinh doanh, chủng loại sản phàm, hàng hóa, đặa bàn hoạt động Trong đó, hoạt động tái cấu trúc cơ cấu các mục tiêu chiến lược cần phải tiến hành thường xuyên phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng như đê thích ứng với tác động từ môi trường bên ngoài Quá trình phát triển của một doanh nghiệp trên thặ trường gồm ba giai đoạn chính như sau: thâm nhập thặ trường, phát triền, chiếm lĩnh thặ trường Đ ố i

Trang 36

Khóa luận tót nghiệp

với từng giai đoạn phát triền, doanh nghiệp phái có những chiến lược khác nhau Ví dụ như đối với giai đoạn thâm nhập thị trường, mục tiêu của doanh nghiệp sẽ là tôn tại được trên thị trường do đó doanh nghiệp phải tiếp tục các chiến lược nghiên cứu thị trường, tăng cường các chiến lược xúc tiến, quảng

bá hình ảnh doanh nghiệp tới khách hàng, thực hiện các chiến lược về giá Đôi với giai đoạn phát triền, hình ảnh của doanh nghiệp giờ đây đã được khách hàng biết tới doanh nghiệp cần phải tiếp tục củng cố hình ảnh của doanh nghiệp bểng các hoạt động từ thiện hoặc tài trợ, mờ rộng mạng lưới phân phối, dần dần có thể đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh hoặc dịch vụ khi thị trường cho các sàn phẩm trước đó đã bị thu hẹp lại, đồng thời có cơ hội kinh doanh ngành nghề khác dựa trên uy tín sẵn có cùa doanh nghiệp Ngoài ra, tùy thuộc vào tác động của môi trường và chu kỳ kinh doanh, doanh nghiệp phải tiến hành tái cấu trúc chiến lược về chủng loại sản phàm hàng hóa, địa bàn hoạt động kinh doanh Bước vào giai đoạn bão hòa của một dòng sản phàm nào đó doanh nghiệp cần phải cải tiến sàn phàm đế kéo dài vòng đời sản phẩm hoặc chuyển hướng kinh doanh sang một dòng sản phàm mới Việc chuyển đổi thị trường hoạt động có thể là một phần của quá trinh phát triển mờ rộng quy m ô của doanh nghiệp, cũng có thể do doanh nghiệp tìm kiếm một thị trường phù hợp hơn do kinh doanh không hiệu quà tại thị trường hiện tại

* Tái cấu trúc ca cấu tể chức

Bất kì một doanh nghiệp nào cũng mong muốn có được một bộ máy linh hoạt, gọn nhẹ hoạt động hiệu quả trong khi quy m ô doanh nghiệp tăng lên Tái cấu trúc nhểm điều chình cơ cấu bộ máy chính là hoạt động hướng tới mục đích làm gọn nhẹ bộ máy quản lý của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn Ngoài ra, tái câu trúc cơ cấu tô chức bộ máy còn giúp doanh nghiệp đâm bảo sự thống nhất, đồng bộ và thông suốt trong toàn hệ thống, tránh chồng chéo hoặc bỏ trống chức năng nhiệm vụ giữa các

Trang 37

bộ phận và quan trọng hơn là tạo cơ chế liên kết nhịp nhàng giữa các đơn vị phòng ban

Hiện nay các doanh nghiệp thường tiến hành tái cấu trúc cơ câu tô chức theo ba hướng

Thứ nhất, tái cấu trúc hoạt động kinh doanh thường hướng tập trung bộ máy, nhân lực cho hoạt động nghiệp vụ, triệt đế ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, điều hành nhằm giảm thiêu chi phí cũng như nhân lực đối với các hoạt động hành chính, quàn trị

Thứ hai, cơ cấu tỉ chức mới doanh nghiệp hoặc các chi nhánh phòng ban được điêu chỉnh theo hướng gọn nhẹ nhưng hiệu quả hơn và chuyên môn hóa hơn theo chức năng nhiệm vụ, hoặc đối tượng khách hàng

Thứ ba, doanh nghiệp tiến hành sắp xếp lại cán bộ, đội ngũ nhàn lực được triển khai thống nhất trong toàn doanh nghiệp Đồng thời, việc phát triển nguồn nhân lực với các kỹ năng cần thiết được coi là một trong những yếu tố then chốt để bộ máy hoạt động hiệu quà

* Tải cấu trúc thể chế

Tái cấu trúc cơ cấu thể chế chính là điều chỉnh các cơ chê chính sách, thông qua sự rà soát, thay đoi hợp lý hóa từ các quy trình công việc đến các quy chế quy định Trong đó, hoạt động quan trọng nhất là tái cấu trúc quy trình kinh doanh của doanh nghiệp

Khi doanh nghiệp có các biểu hiện như: phòng ban không gắn kết với nhau, chức năng chồng chéo, dư thừa nhân sự, không kiêm soát được chi phí mặc dù về tông thế doanh nghiệp đó vẫn đang hoạt động tốt, doanh số tăng hàng năm, chất lượng chuyên môn của nhân viên ôn định Nghiêm trọng hơn,

là việc doanh nghiệp mất định hướng chiến lược, nhiễu thông tin thị trường

Đó là lúc doanh nghiệp cần phải tiên hành tái cấu trúc quy trình kinh doanh Tái cấu trúc quy trình kinh doanh được coi là một biện pháp giúp doanh nghiệp thích ứng với môi trường, thông qua việc thiết kế và xây dựng lại các

Trang 38

Khóa luận lốt nghiệp

quy trình kinh doanh Tái cấu trúc quy trình kinh doanh được hiểu là đánh giá lại một cách cơ bản và thiết kế lại tận gốc rễ qui trình hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt được sự cài thiện vượt bậc đối với các chỉ tiêu cốt yếu, có tính nhát thời như chi phí, chất lượng, dịch vụ và hiệu năng

Doanh nghiệp muốn tiến hành tái cấu trúc quy trình kinh doanh củn phải tiến hành phân tích một số vấn đề như: cấu trúc tồ chức doanh nghiệp, nhiệm vụ của các chức danh, chế độ thù lao, các luồng nghiệp vụ, các cơ chế kiểm soát và việc đánh giá văn hóa công ty Đ ể đạt được mục tiêu trong hoạt động tái cấu trúc quy trình kinh doanh doanh nghiệp cần phải chú ý đến một

số điềm sau Thứ nhất doanh nghiệp muốn tái cấu trúc quy trình kinh doanh nghĩa là gần như phải làm lại từ đầu, như khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình Thứ hai, tái cấu trúc quy trình kinh doanh không phải là

"sửa chữa" cơ cấu tổ chức và các thủ tục doanh nghiệp đã có trước đó, m à hoạt động này sẽ làm mới các yếu tố đó một cách triệt đê

* Tái cấu trúc cơ cấu nguồn lực

Doanh nghiệp tồn tại và phát triển dựa vào rất nhiều nguồn lực khác nhau bao gồm nguồn lực tài chính, nguồn lực con người, nguồn lực công nghệ Trong đó, quan trọng nhất có thể kể tới nguồn lực về tài chính và nguồn lực về con người

Tái cấu trúc nguồn lực tài chính là một biện pháp được các doanh nghiệp áp dụng khi nguồn lực tài chính của doanh nghiệp bị mất cân bằng; khi chính sách tài chính hiện tại của doanh nghiệp không mang lại hiệu quà hiệu quả, không phù hợp với hoàn cảnh Tái cấu trúc nguồn lực tài chính là sự phân bồ nguồn vốn của doanh nghiệp vào các hạng mục đầu tư phục vụ sàn xuất kinh doanh theo một m ô hình hợp lý hơn Hiêu một cách đơn giản hơn, tái cấu trúc nguồn lực tài chính là đưa nguồn lực này trờ về trạng thái cân bằng

Phạm Kiều Trang 31 Lóp A3 - Q T K D - K42

Trang 39

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự mất cân bằng nguồn lực tài chính cùa doanh nghiệp, nguyên nhân chính là do số nợ phải trà cùa doanh nghiệp là quá lớn Ngoài ra, còn có một số nguyên nhàn khác như sau:

* Dòng tiền luân chuyên chậm

* Đầu tư không hiệu quả về mặt tài chính

* Rủi ro từ nhà cung ỉng, cổ đông

* Các khoản vay ngân hàng tăng lãi suất dẫn tới hiệu quả kinh doanh giảm sút

* Cấu trúc ngành hàng/mặt hàng không mang lại lợi nhát nhu mong muốn dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút

Khi doanh nghiệp gặp vấn đề với khả năng trả nợ, điều cần thiêt là nó phải củng cố và điều chỉnh khoản mục nợ trong cấu trúc nợ Sau khi tái cấu trúc nợ, doanh nghiệp sẽ đù khả năng để kiểm soát các khoản nợ trong doanh nghiệp cũng như là khả năng trả nợ cho các trái chù cũng gia tăng Các hoạt động cắt giám chi phí như lương trả cho nhân viên, hoặc giảm quy m ô qua việc bán một số tài sản của công ty là những hoạt động các doanh nghiệp thường làm khi tiến hành tái cấu trúc tài chính

Trên thế giới tồn tại một hình thỉc tái cấu trúc khá phổ biến nhằm vào tái cấu trúc nguồn lực tài chính đó là Leverage Buy-outs (LBOs) Đây là hình thỉc tái cấu trúc nguồn lực tài chính thông qua việc chuyền nợ thành von cổ phần Trong đó, các nhà đầu tư mua lại số nợ để đầu tư vào tài sản hoặc cố phiếu của doanh nghiệp Trong trường hợp, các nhà đầu tư chính là Ban quăn trị của doanh nghiệp, hình thỉc này được gọi là Management Buyouts [21] Thông qua hình thỉc tái cấu trúc doanh nghiệp này, cơ cấu nguồn lực tài chính cùa doanh nghiệp có số nợ giảm và nguồn vốn tăng lên như vậy sè tác động tốt tới hoạt động cùa doanh nghiệp Thêm vào đó, nhân viên cũng như

bộ máy quản trị của doanh nghiệp có thêm động lực làm việc Đặc biệt là các

Trang 40

Khóa luận tét nghiệp

nhà quàn trị, họ có thể là chủ sở hữu của doanh nghiệp thay vì chì là người quàn lý

Nguồn lực con người cũng là một trong nhưng yếu tố quyết định đèn sụ thành bại cùa doanh nghiệp Đ ể tái cấu trúc nguồn nhân lực thành công doanh nghiệp cần chú trọng tằi thu hút, tuyên dụng nhân tài, chú trọng vào công tác đào tạo các kỹ năng cho nhân viên, tạo tính linh hoạt cho các nhân viên, phân công đúng người đúng việc, giảm sự nhàm chán bằng cách luân chuyên công việc một cách hợp lý và cuối cùng là "dám" loại thải những nhân viên thiêu năng lực Trong quá trình tái cấu trúc nguồn nhân lực, doanh nghiệp cần phải tạo ra mối liên hệ, tiếng nói chung giữa ban lãnh đạo và nhân viên, luôn luôn thông tin đầy đủ, chính xác tằi nhân viên Cũng cần phải chú ý rằng, mối quan

hệ giữa nhân viên và doanh nghiệp giờ đây cũng đã thay đổi khá nhiều Trưằc kia mối quan hệ giữa nhân viên và doanh nghiệp thường là mối quan hệ gân

bó lâu dài giờ đây trong phần lằn các trường hợp nó chỉ còn là tạm thời; trưằc kia phần thường cho các nhân viên làm việc tốt thường là thăng tiến giờ đây chỉ là sự công nhận; trưằc kia quàn lý là cứng nhắc, chuyên quyên giờ đây là trao quyền; trưằc kia lòng trung thành có nghĩa là nhân viên phải gắn bó lâu dài vằi doanh nghiệp giờ đây đó là làm việc có trách nhiệm và nỗ lực hết sức mình

Ngày đăng: 27/03/2014, 22:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Sáp nhập các công ty thành viên thành Viettel Telecom - khóa luận tốt nghiệp các hoạt động chính của tái cấu trúc doanh nghiệp và thực tiễn hoạt động trái cấu trúc doanh nghiệp tại các doanh nghiệp trong ngành viễn thông việt nam
Sơ đồ 2 Sáp nhập các công ty thành viên thành Viettel Telecom (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w