Theo Xavier Roegiers Cũng theo hướng tích hợp dạy học tích hợp khoa học với công nghệ, gắn học và hành, Xavier Roegiers cho rằng: “Giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến
Trang 1DẠY HỌC TÍCH HỢP TRONG MÔN SINH HỌC
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
TS Tống Xuân Tám, TS Phan Thị Thu Hiền
Khoa Sinh học - Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, 280 An Dương Vương, P.4, Q.5,
TP.HCM; di động: 0982 399 008; E-mail: tamtx@hcmup.edu.vn
Nguyễn Thị Kim Thơ
Giáo viên Sinh học - Trường THCS Đức Trí, 273 Nguyễn Trãi, Phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TP.HCM; di động: 0902 702 924; E-mail: kimtho_nt@yahoo.com
1 Khái niệm dạy học tích hợp
1.1 Theo UNESCO - Hội nghị tích hợp giảng dạy các khoa học
Dạy học tích hợp (Integration teaching) được UNESCO định nghĩa là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau
Khái niệm này nhấn mạnh cách tiếp cận (approach) các nguyên lí khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung UNESCO đã chú ý trước hết đến việc giảng dạy khoa học ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở và việc đào tạo giáo viên cho 2 cấp học này vì ở các nước đang phát triển đa số trẻ em chỉ có điều kiện học hết hai cấp học này Trong bối cảnh như vậy, việc giảng dạy khoa học không thể chỉ xem là việc trang
bị các kiến thức mở đầu, chuẩn bị cho các cấp học trên mà còn là kết thúc, chuẩn bị cho đời sống trưởng thành
1.2 Theo Hội nghị tại Maryland (tháng 4/1973)
Khái niệm dạy học tích hợp còn bao gồm cả việc dạy học tích hợp khoa học với công nghệ học Khoa học và công nghệ là hai lĩnh vực hoạt động của loài người có đặc trưng khác nhau nhưng liên quan với nhau Hoạt động khoa học đáp ứng nhu cầu muốn được hiểu biết về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, hướng vào
sự giải thích, dự đoán, tìm ra các mối liên hệ nhân quả Hoạt động công nghệ hướng vào việc không ngừng tìm kiếm những phương pháp mới, hòan hảo hơn để thoả mãn nhu cầu đạt những mục tiêu mong muốn Nếu khoa học đặc trưng bởi quá trình tìm tòi, phát hiện tri thức mới, đi từ đơn nhất đến cái chung thì công nghệ đặc trưng bởi quá trình nhận định, lựa chọn giải pháp, đi từ nguyên tắc chung để giải quyết vấn đề cụ thể Một trong những bài học cơ bản của giáo dục khoa học là phải chỉ ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hiểu biết và hành động Dạy học tích hợp với công nghệ nghĩa là phải chỉ ra cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng dụng, làm cho các tri thức kĩ thuật - công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống
xã hội hiện đại Rất tiếc là hiện nay trong giáo dục người ta thường tách khoa học và công nghệ, coi trọng khoa học, xem nhẹ công nghệ
1.3 Theo Xavier Roegiers
Cũng theo hướng tích hợp dạy học tích hợp khoa học với công nghệ, gắn học và
hành, Xavier Roegiers cho rằng: “Giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở học sinh các năng lực hành động, xem năng lực
Trang 2(compétence) là khái niệm cơ sở của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration)”
Theo Xavier Roegiers, “Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiện cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động Như vậy, sư phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa”
Ngoài những hoạt động học tập riêng lẻ cần thiết cho các năng lực đó, sư phạm tích hợp còn tính đến những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, kĩ năng, thao tác đã lĩnh hội một cách rời rạc Sư phạm tích hợp sàng lọc cẩn thận những thông tin có ích để hình thành các năng lực và mục tiêu tích hợp
1.4 Theo Từ điển Giáo dục học
Dạy học tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học
1.5 Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo
Dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề
Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường đạt được nhiều mục tiêu khác nhau
2 Tầm quan trọng của dạy học tích hợp
2.1 Sự phát triển của khoa học, công nghệ
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kĩ thuật và công nghệ, tri thức của loài người không ngừng đổi mới và gia tăng nhanh chóng Ước tính chỉ sau 5 đến 6 năm khối lượng tri thức của nhân loại sẽ tăng gấp đôi Mặc khác, học sinh có thể
dễ dàng tiếp cận kiến thức thông qua nhiều phương tiện thông tin (đài, báo, internet,…) nên những kiến thức được học trong nhà trường có thể trở nên cũ đi
Trong bối cảnh trên, để việc dạy học tiếp tục có ý nghĩa với học sinh và mang lại hiệu quả, người giáo viên phải thay đổi cách thức giảng dạy, không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức thức của từng môn khoa học riêng rẽ (lí, hóa, sinh, địa,…) mà giáo viên phải biết dạy tích hợp các kiến thức từ nhiều môn học, dạy cho học sinh cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế
2.2 Phương pháp dạy học cũ trong nhà trường không còn phù hợp với trình độ phát triển của xã hội
Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hóa sâu, song song với tích hợp liên môn, liên ngành càng rộng Chính vì thế, việc giảng dạy các môn khoa học trong nhà trường phải phản ánh trình độ phát triển của khoa học, không thể giảng dạy các môn khoa học như là các lĩnh vực tri thức riêng rẽ Mặc khác, khối lượng tri
Trang 3thức gia tăng nhưng thời gian học tập trong nhà trường lại giới hạn nên tất yếu phải chuyển từ dạy học riêng rẽ sang dạy học tích hợp
Trong trường phổ thông, học sinh quen với cách tiếp cận các khái niệm một cách rời rạc, suy luận theo kiểu khép kín Những chương trình nghiên cứu quốc tế cho thấy hiện tượng “mù chữ chức năng”, đó là trường hợp học sinh lĩnh hội được kiến thức nhưng không có khả năng vận dụng vào thực tế đời sống (họ có thể đọc được một văn bản nhưng không hiểu ý nghĩa của nó; có thể làm tính cộng, trừ nhưng gặp một bài toán trong cuộc sống thì không biết phải làm tính cộng hay tính trừ,…) đang ngày càng phổ biến
Dạy học tích hợp có thể khắc phục được vấn đề này Dạy học tích hợp chú trọng tới chương trình, kế hoạch để nâng cao năng lực vận dụng chứ không chỉ là kiến thức Thực hiện một năng lực là biết sử dụng các kĩ năng và kiến thức trong một tình huống
có ý nghĩa Chẳng hạn như thay vì bắt học sinh học thuộc một kiến thức về vấn đề bảo
vệ môi trường thì phải giáo dục khả năng hành động vì môi trường,…
2.3 Dạy học tích hợp góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường
Dù khác nhau về đặc trưng bộ môn nhưng các môn học trong nhà trường hiện nay đều có chung nhiệm vụ là thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện học sinh Có thể nêu những nét chung cơ bản của nhiệm vụ các môn học được dạy trong nhà trường như sau: hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng theo yêu cầu khoa học bộ môn; phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho học sinh phù hợp với đặc trưng môn học; giáo dục khoa học kĩ thuật chuẩn bị cho học sinh tham gia vào lao động sản xuất,… Nhưng quỹ thời gian cũng như kinh phí để học sinh ngồi trên ghế nhà trường có giới hạn mà kiến thức thì không có giới hạn nên những nhiệm vụ nêu trên chỉ có thể thực hiện đầy đủ thông qua tích hợp các môn học
2.4 Dạy học tích hợp góp phần giảm tải học tập cho học sinh
Từ góc độ giáo dục, dạy học tích hợp giúp phát triển các năng lực, đặc biệt là trí tưởng tượng khoa học và năng lực tư duy của học sinh, vì nó luôn tạo ra các tình huống để học sinh vận dụng kiến thức trong các tình huống gần với cuộc sống Dạy học tích hợp còn làm giảm sự trùng lặp các nội dung dạy học giữa các môn học, góp phần giảm tải nội dung học tập
2.5 Sự thống nhất của thế giới tự nhiên
Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, các khoa học tự nhiên đã nghiên cứu giới tự nhiên theo tư duy phân tích, mỗi khoa học tự nhiên nghiên cứu một dạng vật chất, một hình thức vận động của vật chất trong tự nhiên Nhưng bản thân giới tự nhiên là một thể thống nhất nên sang thế kỉ XX đã xuất hiện những khoa học liên ngành, giao ngành, hình thành những lĩnh vực tri thức đa ngành, liên ngành Các nhà khoa học tự nhiên đã chuyển từ tiếp cận “phân tích - cấu trúc” sang tiếp cận “tổng hợp - hệ thống” Sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp đều cần thiết cho sự phát triển nhận thức đã tạo nên tiếp cận "cấu trúc - hệ thống” (structural systemic approach) đem lại cách nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phận với toàn thể Từ những lí do trên, có thể khẳng định việc dạy học theo hướng tích hợp liên môn là một xu hướng tất yếu không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn của toàn thế giới
Trang 43 Mục tiêu của dạy học tích hợp
Tránh trùng lặp về nội dung thuộc các môn học khác nhau; tạo mối quan hệ giữa các môn học với nhau và với kiến thức thực tiễn; tạo cơ hội để hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực
Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống
Phân biệt cái cốt yếu với cái thứ yếu Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo, giáo viên không thể dạy học một cách dàn trải đồng đều các quá trình học tập ngang bằng nhau
Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể Thay vì tham nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho học sinh vận dụng các kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này làm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có năng lực sống tự lập Xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học Trong quá trình học tập, học sinh
có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức chưa từng gặp
4 Yêu cầu của kế hoạch dạy học tích hợp
Cấu trúc bài soạn phải bao quát được tổng thể các phương pháp dạy học đa dạng
và nhiều chiều, tạo điều kiện vận dụng phối hợp những phương pháp dạy học để có thể thích ứng với những giáo viên đã dày dặn kinh nghiệm lẫn những giáo viên trẻ mới ra trường và giáo sinh thực tập, đồng thời làm nổi bật hoạt động của học sinh như là phần cốt yếu
Bài soạn phải nêu được mục tiêu của tiết học Giáo viên phải xác định được chính xác trọng tâm kiến thức kĩ năng của bài dạy, trên cơ sở đó có phương pháp phù hợp Thông qua phương pháp, cách hỏi, rèn kĩ năng mà giáo viên có thể rèn luyện, bồi dưỡng phát triển tư duy, trí thông minh của học sinh
Bài soạn phải nêu được kết cấu và tiến trình của tiết học, làm nổi bật các vấn đề sau: sự phát triển từ giai đoạn này đến giai đoạn khác; từ phần kiến thức này đến phần kiến thức khác; giảng dạy phù hợp với quy luật nhận thức, dẫn giải, suy luận từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp một cách hệ thống
Bài soạn phải xác định được nội dung, phương pháp làm việc của thầy và trò trong cả tiết học Từ chỗ giáo viên nắm vững nội dung kiến thức, vận dụng thành thạo kiến thức đến chỗ truyền thụ cho học sinh kiến thức đó để học sinh vận dụng thành thạo đòi hỏi người thầy phải động não, dụng công thực sự
5 Nguyên tắc dạy học tích hợp
Đảm bảo mục tiêu giáo dục, hình thành và phát triển các năng lực cần thiết cho học sinh; đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, mang tính thiết thực, có ý nghĩa với học sinh; đảm bảo tính khoa học và tiếp cận những thành tựu của khoa học kĩ
Trang 5thuật, vừa sức với học sinh; đảm bảo tính giáo dục và giáo dục vì sự phát triển bền vững; tăng tính hành dụng, tính thực tiễn; quan tâm tới những vấn đề mang tính xã hội của địa phương; việc xây dựng các bài học hoặc chủ đề tích học phải dựa trên chương trình phổ thông hiện hành
Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, như không biến bài dạy Sinh học thành bài dạy Toán học, Vật lí, Hóa học,… hay thành một bài giáo dục các vấn đề khác (môi trường, dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS,…) Các kiến thức tích hợp phải được tiềm ẩn trong nội dung bài học, phải có mối liên hệ logic chặt chẽ trong bài học
Khai thác nội dung cần tích hợp một cách có chọn lọc, có tính hệ thống, đặc trưng Các kiến thức tích hợp được sắp xếp hợp lí làm cho kiến thức môn học thêm phong phú, sát với thực tiễn, tránh sự trùng lặp, không thích hợp với trình độ của học sinh, không gây quá tải, ảnh hưởng đến sự tiếp thu nội dung chính
Đảm bảo tính vừa sức, dạy học tích hợp phải phát huy cao độ tính tích cực và vốn sống của học sinh Các kiến thức tích hợp đưa vào bài học phải làm cho bài học tường minh hơn và tạo hứng thú cho người học
6 Các quan điểm khác nhau về việc liên kết, tích hợp các môn học
Theo Xavier Roegiers, d' Hainaut và Susan M Drake, tích hợp môn học có những mức độ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao nhưng tựu chung lại có 4 mức độ chính sau đây:
- Tích hợp trong nội bộ môn học: ưu tiên nội dung của các môn học, tức nhằm duy trì các môn học riêng rẽ
- Tích hợp đa môn: một chủ đề có thể nghiên cứu theo nhiều môn học khác nhau
- Tích hợp liên môn: phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết tình huống
- Tích hợp xuyên môn: phát triển cho học sinh những kĩ năng xuyên môn gắn với ngữ cảnh từ cuộc sống thực tế
7 Quy trình xây dựng bài học tích hợp
- Rà soát chương trình, sách giáo khoa tìm những nội dung dạy học gần giống nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau, mang tính thời sự để xây dựng bài học tích hợp
- Xác định bài học tích hợp, bao gồm tên bài học và thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội và nhân văn, đóng góp của các môn vào bài học đó; đặt tên bài học tích hợp
- Dự kiến thời gian dạy học (gồm bao nhiêu tiết) cho bài học tích hợp
- Xác định mục tiêu của bài học tích hợp, bao gồm: kiến thức, kĩ năng, thái độ, định hướng phẩm chất và năng lực hình thành cho học sinh
- Căn cứ vào thời gian dự kiến, mục tiêu, đặc điểm tâm sinh lí và yếu tố vùng miền để xây dựng nội dung bài học tích hợp cho phù hợp
- Xây dựng kế hoạch bài học tích hợp (chú ý tới các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh)
8 Dạy học tích hợp trong môn Sinh học ở trường trung học cơ sở
8.1 Môn sinh học có nhiều tiềm năng thực hiện dạy học tích hợp
Trang 6Sinh học ở trường trung học cơ sở là môn khoa học nghiên cứu về thế giới sống ở các cấp độ tổ chức Nội dung liên quan tới các môn khoa học khác như Vật lí, Hóa học, Công nghệ, Địa lí, Giáo dục công dân,…
Nội dung chương trình Sinh học ở trường trung học cơ sở gồm 4 phần:
- Sinh học 6: Sinh học thực vật
- Sinh học 7: Sinh học động vật
- Sinh học 8: Sinh học cơ thể người và vệ sinh
- Sinh học 9: Di truyền học và sinh vật - môi trường
Các phần trên đây đều chứa đựng nhiều tiềm năng để thực hiện dạy học tích hợp
8.2 Các hướng tích hợp trong dạy học Sinh học ở trường trung học cơ sở
8.2.1 Tích hợp giáo dục môi trường
Nội dung giáo dục môi trường ở trường trung học phổ thông gồm:
- Các khái niệm khác nhau về môi trường, khái niệm về tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên không phục hồi như các nhiên liệu và khóang sản; tài nguyên phục hồi như rừng, tài nguyên đất, nước và tài nguyên vùng cửa sông ven biển, ), tình hình sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên đó và hậu quả đối với môi sinh
- Tình hình môi trường hiện nay: sự ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước ngọt, biển và đại dương, nguyên nhân và hậu quả sinh thái của ô nhiễm môi trường
- Cuối cùng là những phương hướng, biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, chiến lược bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường, vấn đề giáo dục môi trường trong trường học
8.2.2 Tích hợp vệ sinh an toàn thực phẩm
Vấn đề bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm đề phòng các bệnh gây ra từ thực phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế và xã hội, bảo vệ môi trường sống của các nước đã và đang phát triển, cũng như nước ta
Mục tiêu của giáo dục an toàn vệ sinh thực phẩm không chỉ hình thành kiến về
an toàn thực phẩm mà còn hình thành cho các em mối quan tâm, thái độ đúng đắn, các
kĩ năng cần thiết từ đó mới có thể hình thành hay chuyển biến trong hành vi của các
em phẩm về vệ sinh an toàn thực phẩm Để đạt được mục tiêu đó khi tích hợp giáo dục
vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học vi sinh vật học cần vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, mọi khâu của quá trình dạy học; tìm cách phát huy năng lực tự học, năng lực sáng tạo của học sinh Đây cũng là việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao được chất lượng dạy học Sinh học Do vậy, việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học cần chú ý bảo đảm các yêu cầu sau:
- Giúp học sinh tích hợp các kiến thức và kĩ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệ giữa các tri thức vi sinh vật học với các tri thức về an toàn vệ sinh thực phẩm có liên quan bằng cách tổ chức, thiết kế các nội dung, tình huống tích hợp để học sinh vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng riêng rẽ của các bài học về vi sinh vật vào giải quyết vấn đề đặt ra, qua đó lĩnh hội những kiến thức và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp
- Tổ chức, thiết kế các hoạt động phức hợp để học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức và kĩ năng đã tiếp thu trong các bài học
Trang 7- Đặt học sinh vào trung tâm của quá trình dạy học để học sinh trực tiếp tham gia vào giải quyết các vấn đề, tình huống tích hợp; biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình học sinh tự ý thức về cách thức chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng
- Phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh; chú trọng mối quan
hệ giữa học sinh với sách giáo khoa; giữa học sinh với học sinh, tự làm việc độc lập theo sách giáo khoa, làm việc theo nhóm, theo hướng dẫn của giáo viên
8.2.3 Tích hợp giáo dục dân số - sức khoẻ sinh sản
Việt Nam là một quốc gia có dân số trẻ với gần 1/3 dân số thuộc nhóm vị thành niên, thanh niên (lứa tuổi từ 10 - 24 tuổi) Đây là lực lượng đông đảo, quyết định tương lai và sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc Vì vậy, vấn đề sức khỏe và phát triển của thanh thiếu niên hiện nay là vấn đề luôn được Đảng và Chính phủ dành sự quan tâm đặc biệt
Hiện nay, một số học sinh phổ thông do thiếu hiểu biết, chưa được trang bị đầy
đủ những kiến thức và kỹ năng sống cần thiết trong một môi trường xã hội đang có nhiều thay đổi nên dễ bị xâm hại Trước đây việc tạo điều kiện cho lứa tuổi vị thành niên tiếp cận các thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản vốn là vấn đề nhạy cảm, đôi khi còn là điều “cấm kị”, thì ngày nay, với cái nhìn cởi mở hơn, vấn đề này được xem là một trong những nội dung mang tính chiến lược bởi mục đích của nó không gì hơn là sự phát triển con người toàn diện
Tích hợp giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản trong dạy học là một hướng đi, phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông Vừa đảm bảo kiến thức khoa học bộ môn, vừa lồng ghép giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản cho học sinh Thông qua đó, đem lại niềm tin, hứng thú học tập cho người học, nâng cao chất lượng giáo dục
Một số hình thức tổ chức dạy học nâng cao chất lượng giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản: cung cấp cho học sinh những kiến thức về dân số và sức khỏe sinh sản;
tổ chức các buổi tọa đàm về giới cho học sinh; thành lập câu lạc bộ giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản; nhà trường cùng với địa phương, tổ chức các lớp tập huấn, các buổi truyền thông về dân số và sức khỏe sinh sản cho học sinh
8.2.4 Tích hợp giáo dục hướng nghiệp
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mạng lưới ngành nghề cũng được mở rộng về quy mô, số lượng và chất lượng Kinh tế nhiều thành phần được Nhà nước khuyến khích và chủ trương phát triển tạo ra những quan niệm mới đối với các nghề trong khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế liên doanh với nước ngoài, và khu vực kinh tế tư nhân Nền sản xuất ngày nay được thừa hưởng thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Công nghệ mới là sự biểu hiện tập trung của những tri thức mới trong sản xuất, trong nghề nghiệp Những tri thức mới đó là cơ
sở của những phương thức làm giàu kiểu mới cho đất nước
Hướng nghiệp trong giai đoạn hiện nay phải chỉ ra hướng phát triển cho các nghề theo hướng ứng dụng những tri thức mới, những công nghệ mới và từ đó, vẽ nên viễn cảnh phát triển của nghề Bởi vậy, việc tìm hiểu trực tiếp lao động, nhận biết về nhu cầu nghề nghiệp của các khu vực kinh tế trong hiện tại cũng như những dự báo về sự phát triển và biến động của hệ thống nghề nghiệp là điều cần thiết mang tính chiến lược của mỗi học sinh trong quyết định nghề nghiệp tương lai của bản thân mình
Trang 8Tích hợp giáo dục hướng nghiệp có thể thực hiện trong suốt quá trình dạy học Sinh học ở trường học
NỘI DUNG TÍCH HỢP CHỦ ĐỀ: GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
Môn
học Tên bài Phân phối
chương trình
Nội dung tích hợp
(1)
Sinh
học
Tiết 53: Tác động của con người đối
với môi trường
Chương III Con người và môi trường (Sinh 9 – HKII)
- Khái quát về ô nhiễm môi trường: + Khái niệm
+ Nguyên nhân + Tác động + Biện pháp bảo vệ
- Vai trò của thực vật + Giữ gìn các nguồn tài nguyên
+ Điều hòa khí hậu
=> Bảo vệ thực vật
là ứng phó với biến đổi khí hậu
Tiết 54, 55: Ô nhiễm môi trường
Tiết 56: Sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên
Chương IV Bảo vệ môi trường (Sinh 9 – HKII)
Tiết 59: Khôi phục môi trường và gìn
giữ thiên nhiên hoang dã
Tiết 60: Bảo vệ đa dạng các hệ sinh thái
Tiết 61: Luật bảo vệ môi trường
Tiết 46: Thực vật góp phần điều hoà
khí hậu
Chương IX Vai trò của thực vật (Sinh 6 – HKII)
Tiết 47: Thực vật bảo vệ đất và nguồn
nước
Tiết 48: Vai trò của thực vật đối với
động vật và đối với đời sống con
người
Tiết 49: Bảo vệ sự đa dạng của thực
vật
Động vật với con người (Sinh 7 – HKII) Tiết 60: Động vật quý hiếm
Tiết 21: Lớp vỏ khí
Chương II Các thành phần tự nhiên của Trái Đất (Địa 6 – HKII)
Tiết 22: Thời tiết, khí hậu và nhiệt độ
không khí
Tiết 23: Khí áp và gió
Trang 9(2)
Địa lí
Tiết 25: Hơi nước trong không khí
Mưa
- Khái quát về biến đổi khí hậu
+ Khái niệm + Nguyên nhân + Biểu hiện + Tác động + Biện pháp ứng phó
- Tác động của con người gây ra biến đổi khí hậu:
+ Gia tăng dân số + Phát triển kinh tế
Tiết 26: Các đới khí hậu
Tiết 30: Biển và đại dương
Tiết 31: Lớp vỏ sinh vật Các nhân tố
ảnh hưởng đến sự phân bố thực, động
vật trên Trái Đất
nhân văn của môi trường Tiết 3: Quần cư Đô thị hóa
Tiết 9: Dân số và sức ép dân số tới tài
nguyên, môi trường đới nóng
Phần 2 - Chương I Các môi trường địa lí Tiết 18: Đô thị hóa ở đới ôn hòa
Phần 2 - Chương II Các môi trường địa lí
Tiết 19: Ô nhiễm môi trường ở đới ôn
hòa
Tiết 2: Khí hậu châu Á
Phần I
XI Châu Á (Địa lí 8 – HKI) Tiết 36: Đặc điểm khí hậu việt Nam
Phần II Địa lí Việt Nam (Địa 8 – HKII)
Tiết 37: Các mùa khí hậu và thời tiết
ở nước ta
Tiết 39: Thực hành về khí hậu thủy
văn Việt Nam
Tiết 43: Bảo vệ tài nguyên sinh vật
Việt Nam
Tiết 2: Dân số và gia tăng dân số
Địa lí dân cư Việt Nam
(Địa 9 – HKI)
Tiết 45, 46: Phát triển tổng hợp kinh
tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường
biển đảo
(3)
Hóa
học
Tiết 42, 43: Không khí – sự cháy
Chương IV Oxi – Không khí (Hóa 8 - HKII)
- Sự thay đổi thành phần hóa học của môi trường (đất,
Trang 10Tiết 52, 53: Nước
Chương I Các loại hợp chất vô cơ (Hóa 9 – HKI)
nước, không khí…)
=> ô nhiễm môi trường
- Sự đốt cháy các nhiên liệu cung cấp cho sinh hoạt, công nghiệp làm gia tăng các khí nhà kính
nguyên nhân gây biến đổi khí hậu
- Sử dụng phân bón
và các chất hóa học khác không đúng quy định
=> ô nhiễm môi trường, giết chết động – thực vật
=> biến đổi khí hậu
Tiết 16: Phân bón hóa học
Chương 3: Phi kim Sơ lược bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học (Hóa 9 – HKI)
Tiết 33: Cacbon
Tiết 34: Các oxit của cacbon
Tiết 37: Axit cacbonic và muối
cacbonat
- Nhiên liệu (Hóa 9 – HKII)
Tiết 49: Dầu mỏ và khí thiên nhiên
Tiết 50: Nhiên liệu
Tiết 65: Polime
Chương I Các loại hợp chất vô cơ (Hóa 9 - HKII
(4)
Vật lí
Tiết 21: Sự nở vì nhiệt của chất rắn
Chương II Nhiệt học (Vật lí 6 – HKII)
- Nhiệt độ Trái đất tăng => nước dãn
nở, băng tan chảy => nước biển dâng
- Tiêu thụ điện năng lãng phí => phát thải
CFC…)
=> gây hiệu ứng nhà kính
- Bức xạ nhiệt của Trái đất bị các khí nhà kính giữ lại
=> nhiệt độ Trái đất tăng
Tiết 22: Sự nở vì nhiệt của chất lỏng
Tiết 23: Sự nở vì nhiệt của chất khí
Tiết 28, 29: Sự nóng chảy và sự đông
đặc
Tiết 24: Tác dụng nhiệt và tác dụng
phát sáng của dòng điện
Tiết 25: Tác dụng từ, tác dụng hóa
học và tác dụng sinh lí của dòng điện
Chương III Điện học (Vật lí 7 – HKII)
Nhiệt học (Vật lí 8 – HKII) Tiết 23: Đối lưu – Bức xạ nhiệt
(5)
Tin
Bài thực hành 3: Các thao tác với thư