1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài 1. SỰ PHÁT TRIỂN CƠ THỂ TRẺ EM QUA 6 THỜI KỲ

150 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Phát Triển Cơ Thể Trẻ Em Qua 6 Thời Kỳ
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y Dược
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu trong thời kì có thai, nhất là trong 3 tháng đầu người mẹ mắc các bệnh nhiễm khuẩn do virus như cúm, rubella...có thể gây nên quái thai, dị dạng, sẩy thai, đẻ non...Người mẹ bị các b

Trang 1

Bài 1

SỰ PHÁT TRIỂN CƠ THỂ TRẺ EM QUA 6 THỜI KỲ

MỤC TIÊU

1 Trình bày được đặc điểm sinh lý và bệnh lý của trẻ qua 6 thời kỳ

2 Ứng dụng các đặc điểm sinh lý và bệnh lý của từng thời kỳ vào công tác chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh cho trẻ

Cơ thể trẻ em có nhiều đặc điểm khác với người lớn Do đó người ta thường nói

“Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ”

Từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ đến khi trưởng thành, trẻ em lớn lên và phát triển qua 6 thời kỳ Mỗi thời kỳ có những đặc điểm sinh lý và bệnh lý khác nhau Nhận biết được các đặc điểm đó giúp chúng ta đề ra các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ thích hợp

1 THỜI KÌ PHÁT TRIỂN TRONG TỬ CUNG

- Bắt đầu lúc thụ thai đến lúc trẻ ra đời giới hạn trung bình là 270-280 ngày Đây là thời kỳ hình thành và phát triển thai nhi (Hình 1.1)

Hình 1.1 Thời kỳ trong tử cung

Trang 2

- Sự hình thành và phát triển của thai nhi liên quan chặt chẽ với sức khỏe và bệnh tật của người mẹ

- Cần cho mẹ ăn uống đầy đủ các chất đạm, mỡ, đường, vitamin Không kiêng khem quá mức, lao động vừa sức và giữ cho tinh thần thoải mái

- Đề phòng các bệnh nhiễm khuẩn Nếu trong thời kì có thai, nhất là trong 3 tháng đầu người mẹ mắc các bệnh nhiễm khuẩn do virus như cúm, rubella có thể gây nên quái thai, dị dạng, sẩy thai, đẻ non Người mẹ bị các bệnh truyền nhiễm như viêm gan

B, HIV, giang mai, lậu và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác rất dễ truyền sang con

- Bảo vệ sức khỏe cho người mẹ khi có thai chính là bảo vệ sức khỏe cho con sinh sau này

2 THỜI KỲ SƠ SINH

Kể từ lúc đẻ cho tới lúc được 4 tuần

2.1 Đặc điểm sinh lý

Đó là thời kỳ thích nghi của trẻ đối với cuộc sống ngoài tử cung được thể hiện bằng các hiện tượng sau:

- Trẻ bắt đầu thở bằng phổi

- Vòng tuần hoàn chính thức hoạt động

- Bộ máy tiêu hóa bắt đầu làm việc Trẻ biết ngậm bắt vú, mút và nuốt khi cho bú Ống tiêu hóa có nhiệm vụ tiêu hóa và hấp thụ sữa mẹ

- Hệ thần kinh chưa phát triển hoàn chỉnh nên trẻ thường ngủ nhiều trong ngày sau khi được ăn đủ

2.2 Đặc điểm bệnh lý

Trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn da, rốn, phổi, tiêu hóa, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não Bệnh diễn biến nặng lên rất nhanh, dễ gây tử vong

2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng

- Đảm bảo giữ ấm cho trẻ

- Đảm bảo vô khuẩn, giữ vệ sinh da

- Tã lót và các dụng cụ nuôi dưỡng chăm sóc khác phải sạch sẽ

- Cho trẻ ăn sữa mẹ là tốt nhất

3 THỜI KỲ BÚ MẸ

Tiếp theo thời kì sơ sinh cho đến khi trẻ được 12 tháng (Hình 1.2)

Trang 3

Hình 1.2 Trẻ bú mẹ (chèn hình trang 8)

3.1 Đặc điểm sinh lý

- Trẻ lớn nhanh, cuối năm cân nặng tăng gấp ba, chiều cao tăng gấp rưỡi lúc mới sinh

- Bộ máy tiêu hóa hoạt động yếu so với nhu cầu dinh dưỡng cao của trẻ

- Các chức năng chống lại sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh vào đường tiêu hóa và hô hấp kém

3.2 Đặc điểm bệnh lý

Trẻ dễ mắc các bệnh suy dinh dưỡng, còi xương, tiêu chảy, viêm phổi

3.3 Phòng bệnh

- Cần đảm bảo sữa mẹ đủ cho trẻ

- Cho ăn bổ sung đúng phương pháp

- Tiêm chủng đầy đủ theo lịch

4.THỜI KỲ RĂNG SỮA TỪ 1-5 TUỔI

Là thời kỳ trẻ thường được chăm sóc tại nhà trẻ mẫu giáo (Hình 1.3)

Trang 4

Hình 1.3 Thời kỳ răng sữa

4.1 Đặc điểm sinh lý

- Trẻ phát triển nhanh về vận động và tinh thần

- Trẻ biết đi, chạy, leo trèo

- Có thể tự làm các việc đơn giản như: biết dùng thìa để ăn, mặc quần áo Trẻ cũng

- Dễ mắc các bệnh miễn dịch dị ứng như hen, mẩn ngứa, viêm cầu thận cấp

- Vẫn bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn ở đường hô hấp và tiêu hóa

Trang 5

- Giới tính bắt đầu hình thành và phát triển

- Răng vĩnh viễn thay thế cho răng sữa

5.2 Đặc điểm bệnh lý

- Dễ mắc các bệnh thấp tim, bệnh viêm cầu thận cấp

- Các bệnh ở học đường như gù vẹo cột sống do tư thế ngồi học không đúng, bị cận thị do đọc sách trong môi trường không đủ ánh sáng, xem tivi nhiều, tư thế ngồi viết không đúng

- Có những rối loạn hành vi do xem nhiều phim hành động hoặc chơi các trò chơi mang tính bạo lực

5.3 Phòng bệnh

- Đề phòng và phát hiện sớm bệnh thấp tim để điều trị tích cực

- Chú ý tư thế ngồi học với từng lứa tuổi

- Biến đổi nhiều về tâm sinh lý

- Hoạt động tuyến nội tiết và sinh dục chiếm ưu thế

- Chức năng sinh dục gần trưởng thành

6.2 Đặc điểm bệnh lý

- Trẻ dễ mắc bệnh rối loạn tâm thần

- Còn các bệnh khác cũng như người lớn

6.3 Phòng bệnh

- Cần giáo dục cho trẻ biết yêu thể dục thể thao

- Giáo dục giới tính và quan hệ nam nữ lành mạnh

- Đề phòng các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục

- Đề phòng các rối loạn hành vi nghiện thuốc lá, nghiện rượu, nghiện ma túy

Trang 6

Bài 2

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU SINH LÝ TRẺ EM MỤC TIÊU

1 Trình bày được đặc điểm cấu tạo sinh lý và phát triển của hệ da, cơ, xương

2 Nêu được các đặc điểm về giải phẫu và sinh lý hệ hô hấp

3 Trình bày được các đặc điểm riêng biệt về hệ thống tuần hoàn máu, tiêu hóa,

và tiết niệu trẻ em

1 DA TRẺ EM

1.1 Đặc điểm cấu tạo

- Da trẻ mềm mại, mỏng, xốp, có nhiều nước, nhiều mao mạch, sờ vào mịn như nhung, các sợi cơ và đàn hồi phát triển ít, tuyến mồ hôi trong 3-4 tháng đầu phát triển nhưng chưa hoạt động

- Sau đẻ trên da trẻ có một lớp chất gây màu trắng xám, lớp gây này có tác dụng bảo vệ da (đỡ mất nhiệt cơ thể, miễn dịch, dinh dưỡng nuôi da, do đó không nên lau sạch, chỉ cần thấm mạch máu, sau 48 giờ cần lau sạch để tránh hăm đỏ tại các nếp gấp)

- Lớp mỡ dưới da được hình thành tháng thứ 7-8 trong thời kỳ bào thai, vì vậy trẻ

đẻ non tháng lớp mỡ dưới da mỏng, bề dày của lớp mỡ dưới da trẻ từ 3-6 tháng là 7mm, 1 tuổi là 10-12mm, 7-10 tuổi là 7mm, từ 11-15 tuổi là 8mm

- Thành phần lớp mỡ dưới da của trẻ bao gồm nhiều acid béo no (acid panmatic, stearic) ít acid béo không no (acid oleic) Khi bị lạnh trẻ dễ bị cứng bì

- Tóc trẻ em mềm mại vì chưa có lõi tóc, tóc có thể rậm, thưa, đen hoặc hơi vàng

1.2 Đặc điểm sinh lý

1.2.1 Chức năng bảo vệ

Da trẻ mỏng nên dễ gây xây xát, tổn thương và nhiễm khuẩn

1.2.2 Chức năng bài tiết

Những tháng đầu sau đẻ chưa tiết mồ hôi, song diện tích của da so với trọng lượng

cơ thể trẻ tương đối lớn do đó sự mất nước qua da lớn hơn người lớn

1.2.3 Chức năng điều nhiệt

Da trẻ điều hòa nhiệt kém dễ bị nóng quá hoặc lạnh quá

1.2.4 Chức năng chuyển hóa dinh dưỡng

Da trẻ tham gia vào chuyển hóa nước Dưới tác dụng của tia cực tím có trong ánh sáng mặt trời vào buổi sáng sớm chất tiền vitamin D ở dưới da chuyển thành vitamin D

Trang 7

2 HỆ CƠ

2.1 Đặc điểm cấu tạo

- Hệ cơ phát triển dần đến tuổi trưởng thành chiếm 42% trọng lượng cơ thể Trong khi đó ở trẻ mới đẻ hệ cơ chiếm 23% cân nặng cơ thể

- Sợi cơ mảnh, thành phần cơ có nhiều nước, ít đạm và mỡ

- Vì vậy khi mắc bệnh tiêu chảy trẻ dễ mất nước nặng và nhanh sút cân

2.2 Đặc điểm về phát triển cơ

- Cơ của trẻ em phát triển không đồng đều, các cơ lớn như cơ đùi, cơ mông, cơ cánh tay, cơ vai phát triển trước

- Các cơ nhỏ như cơ bàn tay, cơ ngón tay phát triển sau

- Vì vậy trẻ dưới 15 tuổi không nên bắt trẻ lao động quá sức, cần hướng dẫn cho trẻ luyện tập hệ cơ phát triển

- Trong những ngày đầu sau đẻ trẻ có hiện tượng tăng trương lực cơ sinh lý

3 HỆ XƯƠNG

3.1 Đặc điểm cấu tạo

- Xương của trẻ em phát triển kém, hầu hết là sụn Quá trình hình thành xương phát triển dần cho đến lúc 20-25 tuổi mới kết thúc Điểm cốt hóa thường ở giữa các đầu xương và xuất hiện theo từng lứa tuổi Dựa vào các điểm cốt hóa để xác định tuổi xương của trẻ em và đánh giá sự phát triển cơ thể

Ví dụ: điểm cốt hóa ở xương cổ tay: từ 3-6 tháng xuất hiện hai điểm cốt hóa xương

cả và xương móc, lúc 3 tuổi có thêm điểm cốt hóa ở xương tháp

- Xương của trẻ nhỏ chứa nhiều nước, ít muối khoáng, càng lớn lượng nước càng giảm, lượng muối khoáng tăng lên Vì vậy xương trẻ em mềm, dễ gãy kiểu cành cây tươi

3.2 Đặc điểm của một số xương

3.2.1 Xương sọ

- Hộp sọ của trẻ tương đối to so với kích thước của cơ thể, hộp sọ phát triển nhanh trong những năm đầu

- Trên xương sọ có hai thóp, thóp trước rộng hơn thóp sau, thóp trước kín vào lúc

12 tháng, muộn nhất là vào lúc 18 tháng, thóp sau nhỏ hơn, 3 tháng sau thì kín

Trong bệnh não bé thóp kín nhanh, bệnh còi xương thóp chậm liền

3.2.2 Xương cột sống

Trang 8

- Lúc mới đẻ, cột sống thẳng, khi trẻ biết ngẩng đầu cột sống cong về phía trước, khi trẻ biết ngồi cột sống cong về phía sau Đến 7 tuổi cột sống có hai đoạn cong là ở cổ

và ở ngực, đến tuổi dậy thì thêm một đoạn cong ở thắt lưng

- Để trẻ ngồi sớm, bế nách, ngồi học không đúng tư thế dễ bị gù vẹo cột sống

3.2.3 Xương chi

- Trẻ mới đẻ xương chi cong đến 1-2 tháng thì hết

- Trẻ bị còi xương chi bị cong nhiều hơn

3.2.4 Xương chậu

Gồm có hai xương cánh chậu, xương cùng và xương cụt Dưới 6 tuổi thì khung chậu của trẻ em trai và trẻ em gái giống nhau, khi lớn lên khung chậu của trẻ gái phát triển nhiều hơn trẻ trai

3.2.5 Răng

- Trẻ bắt đầu mọc răng vào tháng thứ 6

- Trẻ 1 tuổi mọc được 8 răng

- Trẻ 2 tuổi mọc được 20 răng sữa và kết thúc thời kỳ mọc răng sữa

Có thể tính số răng sữa của trẻ theo công thức sau:

- Các xoang phát triển chưa đầy đủ chẳng hạn như các tế bào của xương sàng chưa biệt hóa đầy đủ Đến 2 tuổi xoang hàm mới phát triển Do đó trẻ nhỏ ít bị viêm xoang

4.1.2 Họng hầu

Ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi tổ chức bạch huyết ít phát triển, thường chỉ thấy VA (amydal vòm) mà chưa thấy amydal khẩu cái phát triển

Trang 9

- Từ 2 tuổi trở lên, amydal khẩu cái mới phát triển rõ và có thể nhìn thấy được

- Vòng bạch huyết Waldayer phát triển mạnh khi trẻ được từ 4-6 tuổi cho đến tuổi dậy thì Vì vậy ở tuổi này trẻ dễ bị viêm họng

4.1.3 Thanh khí phế quản

- Khe thanh âm ngắn, thanh đới dài nên trẻ có giọng cao

- Từ 12 tuổi thanh đới con trai dài hơn thanh đới con gái nên giọng nói trầm

- Khí quản hình phễu, trẻ sơ sinh khí quản dài 4cm

- Phế quản: phế quản phải rộng hơn phế quản trái nên dị vật dễ rơi vào nhánh bên phải

Thanh khí phế quản của trẻ em có đường kính nhỏ, tổ chức đàn hồi ít phát triển, vòm sụn mềm, dễ biến dạng, niêm mạc có nhiều mạch máu vì vậy khi viêm nhiễm trẻ

dễ bị khó thở

4.1.4 Phổi

- Phổi của trẻ em lớn dần theo tuổi Trọng lượng và thể tích phổi tăng lên rất nhanh Thể tích phổi của trẻ sơ sinh từ 65-67ml Đến 12 tuổi tăng gấp 10 lần lúc đẻ

- Tổ chức phổi có chứa nhiều mạch máu ít tổ chức đàn hồi khi viêm nhiễm thì dễ

bị sung huyết, xẹp phổi, khí phế thũng

- Hạch bạch huyết quanh rốn phổi có 4 nhóm (nhóm cạnh khí quản, nhóm khí phế quản, nhóm phế quản phổi - phổi, nhóm ở chỗ khí quản chia đôi)

Trang 10

Số lần thở của trẻ giảm dần theo lứa tuổi:

Trẻ sơ sinh thường thở không đều và hay có cơn ngừng thở ngắn

Thể tích khí trong một lần thở vào hay còn gọi là thể tích lưu thông (Vt) là:

- Trẻ 10 tuổi trở lên: con trai chủ yếu thở bụng, con gái chủ yếu thở ngực

4.2.4 Quá trình trao đổi khí

Quá trình trao đổi khí ở phổi trẻ em mạnh hơn người lớn

Ví dụ: trẻ dưới 3 tuổi hít không khí trong 1 phút nhiều gấp đôi, trẻ 10 tuổi nhiều gấp 10 lần so với người lớn

4.2.5 Điều hòa hô hấp

Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trong mấy tháng đầu vỏ não và trung tâm hô hấp chưa phát triển hoàn chỉnh nên trẻ dễ rối loạn nhịp thở

5 Đặc điểm tuần hoàn trẻ em

5.1 Vòng tuần hoàn rau thai và sau đẻ

- Khi thai ở trong bụng mẹ, từ cuối tháng thứ hai, vòng tuần hoàn rau thai được hình thành và tiếp tục phát triển Trong bào thai, phổi chưa hoạt động, sự trao đổi oxygen được thực hiện ở rau Vòng tuần hoàn rau thai là không phân chia được rõ đại tuần hoàn

Trang 11

và tiểu tuần hoàn, do vậy máu nuôi dưỡng thai nhi là máu pha trộn giữa động mạch và tĩnh mạch

- Ngay sau khi đẻ, trẻ bắt đầu thở bằng phổi Sau khi cắt rốn, vòng tuần hoàn rau thai ngừng hoạt động, vòng tuần hoàn chính thức hoạt động, tiểu tuần hoàn tách biệt khỏi đại tuần hoàn Lúc này lỗ bầu dục ở vách ngăn liên nhĩ và ống động mạch nối giữa động mạch chủ và động mạch phổi đóng lại, tách biệt rõ máu động mạch và máu tĩnh mạch

5.2 Tim

5.2.1 Vị trí tim

Do cơ hoành ở cao nên tim của trẻ trong những tháng đầu nằm ngang Đến gần 1 tuổi, lúc biết đi, tim ở tư thế chếch chéo nghiêng và đến gần 4 tuổi do phát triển của phổi, lồng ngực, tim ở tư thế thẳng giống người lớn

5.2.3 Vị trí mỏm tim và vùng đục của tim trên lồng ngực

Bảng 2.1: Diện tim theo tuổi

Tuổi

1-2cm ngoài đường vú trái

Liên sườn 5:

1cm ngoài đường vú trái

Liên sườn 5 trên đường vú hay 1cm trong đường vú trái

Vùng đục tuyệt

đối

Bờ trên Xương sườn 3 Liên sườn 3 Xương sườn 4

Bờ trái Giữa đường vú trái và đường cạnh xương ức trái

Trang 12

0,5-1cm ngoài đường xương

Mạch trẻ em nhanh hơn người lớn, càng nhỏ tuổi thì mạch càng nhanh Mạch của

trẻ rất dễ thay đổi khi trẻ khóc, sốt, sợ hãi, gắng sức , vì vậy tốt nhất nên lấy mạch khi

Huyết áp trẻ em thấp hơn người lớn, trẻ càng ít tuổi huyết áp càng thấp

- Huyết áp trẻ sơ sinh: tối đa 75mmHg, tối thiểu 45mmHg

Trang 13

- Huyết áp tối đa trẻ từ 3-12 tháng: 75-80mmHg

- Để tính huyết áp tối đa của trẻ trên 1 tuổi, có thể áp dụng công thức:

Huyết áp tối đa = 80 + 2n (n=số tuổi)

5.4.3 Khối lượng máu tuần hoàn

Khối lượng máu tuần hoàn cho 1kg cơ thể ở trẻ lớn hơn người lớn Khối lượng máu tuần hoàn tính theo khối lượng kg cơ thể

- Sơ sinh: 110 - 150 ml/kg

- Dưới 1 tuổi: 75 -100ml/kg

- Từ 1 tuổi trở lên: 50 - 90ml/kg

6 Đặc điểm hệ máu

6.1 Sự tạo máu sau đẻ

Sau khi đẻ ở trẻ đủ tháng, tủy xương là cơ quan chủ yếu sinh ra tế bào máu Ở trẻ nhỏ tất cả các tủy xương đều hoạt động sinh máu Tủy đỏ là tổ chức sinh máu có ở đầy các khoang tủy xương Từ 4 tuổi trở lên tủy đỏ ở các thân xương dài dần dần bị nhiễm

mỡ biến thành tủy vàng Khi đó hoạt động tạo máu chủ yếu ở đầu xương dài và các xương dẹt như xương chậu, xương ức, xương sườn, xương sọ, xương bả vai, xương đòn

và xương cột sống Sự tạo máu ở trẻ tuy mạnh nhưng chưa ổn định, vì vậy khi trẻ bị bệnh ngoài cơ quan tạo máu cũng ảnh hưởng đến sự tạo máu Đồng thời các cơ quan tạo máu cũng dễ bị loạn sản khi bị bệnh về máu hoặc cơ quan tạo máu Khi đó gan lách hạch thường to lên

6.2 Đặc điểm máu ngoại biên

6.2.1 Hồng cầu

- Trẻ mới sinh đủ tháng, số lượng hồng cầu rất cao từ 4,5 - 6,0 x 1012/l

- Từ ngày thứ 2-3 sau đẻ hồng cầu bị vỡ một số và xuất hiện vàng da sinh lý Đến cuối thời kỳ sơ sinh hồng cầu còn khoảng 4,0-4,5 x 1012/l

- Ở trẻ dưới 1 tuổi, nhất là từ 6-12 tháng số lượng hồng cầu giảm xuống một chút

do trẻ lớn nhanh nhưng sự tạo máu không đáp ứng đủ

- Trẻ trên 1 tuổi số lượng hồng cầu ổn định dần Từ 2 tuổi trở lên số lượng hồng cầu 4,0 x 1012/l

6.2.2 Huyết sắc tố

- Trẻ mới đẻ số lượng huyết sắc tố (HST) cao 170 - 190g/l

- Trẻ dưới 1 tuổi số lượng HST giảm còn 100-120g/l

Trang 14

- Trẻ từ 1 tuổi trở lên lượng HST tăng dần và đến 3 tuổi thì ổn định ở mức 140g/l

130-6.2.3 Bạch cầu

- Trẻ mới sinh số lượng bạch cầu cao thay đổi từ 10-30 x 109/l

- Sau 24-48 giờ số lượng hồng cầu giảm dần và đến ngày thứ 7- 15 thì bạch cầu giảm xuống còn 10-12 x 109/l

- Trên 1 tuổi số lượng bạch cầu trung bình là 11 x 109/1

- Trẻ từ 1 tuổi trở lên số lượng bạch cầu từ 6-8 x 109/1

- Công thức bạch cầu thay đổi theo lứa tuổi

- Trẻ sơ sinh bạch cầu đa nhân trung tính chiếm 45-65%, dưới 1 tuổi rất thấp 40%, trên 1 tuổi tăng dần, đến 6 tuổi đạt 50-60%

- Bạch cầu lympho khi mới đẻ 20-30%, khi 1 tuổi cao 40-60%, trên tuổi giảm dần còn 20-30% giống người lớn

Đến tháng thứ 3-4 tuyến nước bọt mới phát triển hoàn toàn, sau 3-4 tháng số lượng nước bọt tăng dần, nước bọt của trẻ em tính nhẹ, trong nước bọt có men amylase, ptyalin, maltase hoạt tính của men tăng dần theo lứa tuổi

Trang 15

Khoảng cách từ răng đến tâm vị tính theo công thức sau:

X = 1/5 chiều cao + 6,3 m 7.3 Dạ dày

- Dạ dày của trẻ nhỏ nằm ngang Khi trẻ lớn dần lên thì dạ dày đứng dọc như trẻ lớn

- Khả năng hấp thụ:

+ Nếu trẻ bú sữa mẹ thì 25% sữa mẹ được hấp thụ ở dạ dày

+ Nếu trẻ ăn sữa bò thì dạ dày chỉ hấp thu được 1 số ít đường, muối khoáng, 1 phần đạm và nước đã hòa tan Còn lại phần lớn sữa bò phải đi vào ruột để tiêu hóa

7.4 Ruột

- Ruột trẻ em dài hơn (so với chiều dài cơ thể), niêm mạc ruột có nhiều nếp nhăn, nhiều lông, nhiều mạch máu, do đó dễ hấp thụ, xong dễ làm cho vi khuẩn xâm nhập

- Ruột thừa của trẻ dưới 1 tuổi thường nằm sau manh tràng

- Mạc treo ruột dài nên dễ bị xoắn ruột, manh tràng di động nên vị trí ruột thừa không cố định

- Trực tràng trẻ dưới 1 tuổi tương đối dài hơn so với người lớn

- Thức ăn tiêu hóa của ruột nhờ tác dụng của các men trong dịch ruột, dịch tụy, mật: trypin, amylase, lipase, malttase thức ăn ở ruột trung bình từ 12-16 giờ

- Vi khuẩn ở ruột trẻ em: Ruột trẻ mới đẻ không có vi khuẩn Chỉ 8 giờ sau đẻ ruột

đã có vi khuẩn từ môi trường bên ngoài vào qua miệng, trực tràng Ở trẻ bú mẹ vi khuẩn Bifidus có nhiều, còn ở trẻ ăn nhân tạo vi khuẩn coli có nhiều

7.5 Phân

Trang 16

- Phân su có từ tháng 4 trong bào thai Sau đẻ từ 36-48 giờ trẻ bài tiết phân su, phân

có màu xanh thẫm, không mùi gồm có tế bào thượng bì bilirubin, cholesterol, mỡ, acid béo và không có vi khuẩn

- Phân của trẻ bú mẹ: màu vàng, mùi chua sền sệt, sau đẻ mỗi ngày trẻ ỉa từ 4-5 lần, sau đó giảm xuống 2-3 lần, cuối năm 1-2 lần

- Phân của trẻ ăn sữa bò: phân đặc, dẻo, màu nhạt, mùi nặng hơn, số lượng nhiều hơn

7.6 Gan

- Gan trẻ sơ sinh chiếm 4,5 trọng lượng cơ thể (người lớn 2% trọng lượng cơ thể)

- Gan trẻ sơ sinh dễ di động

- Tổ chức gan có nhiều mạch máu, tổ chức gan chưa ổn định vì vậy dễ bị thoái hóa khi bị bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc

8 Đặc điểm bộ máy tiết niệu ở trẻ em

8.1 Đặc điểm về giải phẫu

8.1.1 Thận

- Thận trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có các thùy nên nhìn ngoài thấy nhiều múi

- Thận trẻ em dễ di động vì tổ chức mỡ xung quanh thận chưa phát triển

- Thận trái thường lớn hơn và nằm cao hơn thận phải tương đương với 4 đốt sống thắt lưng đầu tiên

- Kích thước và trọng lượng của thận tăng theo lứa tuổi ví dụ (theo Trarenko 1983): + Thận trẻ sơ sinh nặng 11-12g

+ 1 tuổi: 36-37g

+ 5 tuổi: 55-56g

+ 15 tuổi: 115-120g

+ Chiều dài thận : của trẻ dưới 1 tuổi (cm) = 4,98 + 1,155 x tuổi (tháng)

của trẻ từ 1 tuổi trở lên (cm) = 6,97 + 0,22 x tuổi (năm)

+ Tỉ lệ giữa phần vỏ và phần tủy: ở trẻ sơ sinh là 1:4

Trang 17

Ở trẻ sơ sinh niệu quản đi ra từ bể thận tạo thành một góc vuông, ở trẻ lớn tạo thành góc tù Niệu quản trẻ tương đối dài nên dễ bị gấp hoặc xoắn

8.2.2 Đặc điểm sinh lý nước tiểu

- Số lần đi tiểu của trẻ em giảm dần theo lứa tuổi do tăng dần dung tích bàng quang

* Số lần đi tiểu

- Theo Laugier và Gold F hầu hết (92%) trẻ sơ sinh bình thường đi tiểu lần đầu tiên trong 24 giờ đầu sau đẻ, 7% đi tiểu lần đầu ở ngày thứ 2 và chỉ có 1% đi tiểu lần đầu ở ngày thứ 3

Trang 18

- Trong những ngày đầu sau đẻ trẻ đi tiểu rất ít, sau đó số lần đi tiểu tăng dần theo tuổi (Bảng 2.2)

Bảng 2.2: Số lần đi tiểu và số lượng nước tiểu trong ngày

Tuổi Số lượng nước tiểu (ml)

2-6 20-50 18-20 15-20 10-14 8-10 7-8 5-6

8.2.3 Số lượng và thành phần nước tiểu

Số lượng và thành phần nước tiểu phụ thuộc vào chế độ ăn uống, tình trạng chức năng thận và các bệnh lí khác ngoài thận Số lượng nước tiểu trong ngày thay đổi theo tuổi (Bảng 2.2)

* Số lượng

Cũng có thể tính số lượng nước tiểu trung bình của trẻ em trên 1 tuổi theo công thức:

Số ml nước tiểu/24 giờ = 600 +100 (n-1)

(n là số tuổi của trẻ tính theo năm; 100 là số lượng nước tiểu được tăng lên mỗi năm)

* Thành phần nước tiểu

- Độ toan của nước tiểu trẻ em gần giống như người lớn

- Tỷ trọng nước tiểu của trẻ nhỏ rất thấp

- Bài tiết kali của trẻ nhỏ nhiều hơn trẻ lớn, còn bài tiết natri thì ngược lại, trẻ lớn bài tiết nhiều hơn

- Bài tiết ure và creatinin ở trẻ bú mẹ kém hơn trong khi đó bài tiết aminiac và acid amin lại nhiều hơn trẻ lớn

Trang 19

2 Biết cách tính các chỉ số tăng trưởng

3 Nêu được các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến tăng trưởng trẻ em

4 Trình bày được các đặc điểm phát triển tinh thần và vận động ở trẻ em theo từng lứa tuổi

5 Đánh giá được sự tăng trưởng và vận động của trẻ bằng test Denver

6 Ứng dụng các công thức trên vào công tác chăm sóc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ

PHẦN I: SỰ TĂNG TRƯỞNG THỂ CHẤT CỦA TRẺ

Tăng trưởng (growth) là thuật ngữ dùng để mô tả quá trình lớn lên của trẻ Người

ta phân biệt hai quá trình tăng trưởng đó là tăng trưởng về thể chất (Physical growth) và

sự phát triển (development) của trẻ Để đánh giá sự tăng trưởng của trẻ người ta sử dụng các chỉ tiêu nhân trắc Để đánh giá sự phát triển người ta phải kết hợp cả ba chỉ tiêu là nhân trắc, tuổi xương và sự trưởng thành tính dục Bài này chỉ đề cập đến các chỉ tiêu nhân trắc liên quan tới tăng trưởng thể chất

1 TĂNG TRƯỞNG CÂN NẶNG

Trang 20

- Trong 3 tháng đầu cân nặng tăng nhanh sau đó chậm dần Đến tháng thứ 4- 5 cân nặng tăng gấp đôi và đến cuối năm tăng gấp 3 lần lúc đẻ

- Trong 6 tháng đầu cân nặng của trẻ em nước ta tăng nhanh không kém gì so với trẻ em của các nước phát triển nghĩa là mỗi tháng tăng trung bình 600g/tháng (Hình 3.1)

X1 = cân nặng của trẻ 1 tuổi - 9 tuổi

- Từ 10-15 tuổi cân nặng của trẻ tăng nhanh hơn trung bình mỗi năm tăng được 4

kg Có thể tính cân nặng của trẻ từ 10-15 tuổi theo công thức sau:

X2 (kg) = 21+ 4 (n-9)

X2 là cân nặng của trẻ từ 10-15 tuổi

2 Tăng trưởng chiều cao

Trang 21

Hình 3.2 Đo chiều cao trẻ nhỏ

- Trong 3 tháng đầu mỗi tháng tăng từ 3-3,5cm/tháng

- 3 tháng tiếp theo mỗi tháng tăng 2cm/tháng

- 6 tháng cuối mỗi tháng tăng từ 1-1,5cm/tháng

Đến cuối năm chiều cao trung bình của trẻ trai là: 74,54 ± 2,3cm và chiều cao trung bình của trẻ gái là: 73,35 ± 2,89cm

2.3 Trẻ từ 1 tuổi trở lên

Tốc độ tăng chiều cao trung ở tuổi này chậm hơn so với trẻ dưới 1 tuổi

Khi trẻ được 1 tuổi thì chiều cao trung bình là 75cm Mỗi năm sau đó trung bình trẻ tăng được 5cm/năm Như vậy có thể tính chiều cao của trẻ nhỏ ở tuổi này theo công thức sau:

- Vòng đầu tăng nhanh trong năm đầu, các năm sau tăng chậm lại:

+ Trong 3 tháng đầu mỗi tháng vòng đầu tăng gần 3cm

+ Từ 1- dưới 3 tuổi mỗi năm vòng đầu tăng 2cm

+ Từ 3 tuổi trở lên mỗi năm vòng đầu tăng trung bình 0,5-1cm

- Chỉ số vòng đầu theo tuổi (Hình 3.3)

Trang 22

3.3 Vòng cánh tay

- Chỉ số vòng cánh tay theo tuổi:

+ Vòng cánh tay của trẻ lúc 1 tháng tuổi là 11cm

4 Những yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng thể chất

4.1 Những yếu tố bên trong cơ thể

Trang 23

- Các yếu tố nội tiết như vai trò của tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến thượng thận

- Yếu tố di truyền liên quan đến chủng tộc, gen

- Vai trò của hệ thần kinh

- Các dị tật bẩm sinh thường làm cho trẻ chậm lớn

4.2 Những yếu tố bên ngoài cơ thể

- Vai trò của dinh dưỡng rất quan trọng: nuôi dưỡng tốt trẻ lớn nhanh và ngược lại

- Chăm sóc y tế: trẻ ở trong môi trường chăm sóc y tế tốt sẽ tăng trưởng nhanh hơn

- Vai trò giáo dục và rèn luyện tập thân thể làm trẻ phát triển cân đối

- Khí hậu môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, trẻ thường tăng cân vào mùa mát mẻ không khí trong lành

Sự phát triển toàn diện của vỏ não các giác quan kết hợp với môi trường giáo dục và

xã hội tốt là những điều kiện chủ yếu giúp trẻ phát triển tốt về tinh thần và vận động

1 Phát triển tinh thần vận động qua các lứa tuổi

1.1 Trẻ sơ sinh

- Trẻ sơ sinh không chủ động được các động tác

- Hoạt động theo hướng tự phát không có ý thức

- Trẻ có những phản xạ tự nhiên, bú, nắm tay, phản xạ bắt chộp (khi vỗ vào thành giường nơi trẻ nằm, trẻ giật mình, hai tay dang ra rồi ôm choàng vào thân)

- Trẻ sơ sinh tuy ngủ nhiều nhưng đã biết nghe nếu có tiếng động to Nghe được tiếng của mẹ và người khác Trẻ biết nếm, ngay sau khi trẻ đã không thích vị đắng mà thích vị ngọt

Trang 24

- Trẻ có thể ngửi mùi sữa mẹ qua đó biết tìm vú mẹ

1.2 Trẻ 2 tháng tuổi

- Thời gian ngủ giảm dần, lúc thức trẻ biết chơi, nhìn được các vật sáng đi động trước mắt

- Biết hóng chuyện mỉm cười thể hiện sự vui thích

- Đặt trẻ nằm sấp, trẻ có thể ngẩng đầu lên trong chốc lát

1.3 Trẻ 3 tháng tuổi

- Thời gian thức và chơi tăng dần

- Trẻ có thể nhìn theo 1 vật di động, có thể chăm chú nhìn 1 vật đang nắm trong tay

- Có thể nắm lấy những vật người lớn đưa và tự cầm lấy được những đồ chơi cho vào mồm mặc dầu chưa biết tự điều chỉnh được

- Lẫy được từ tư thế ngửa sang nghiêng

1.4 Trẻ 4 tháng tuổi

- Có thể vận động tự ý cầm hoặc kéo đồ chơi

- Ham thích môi trường xung quanh, thích chơi đùa với người xung quanh

- Thích đạp, thích vùng vẫy tay chân

- Lẫy được tư thế ngửa sang sấp, nằm sấp ngẩng đầu được lâu hơn

1.5 Trẻ 5 tháng

Có thể phát âm được vài phụ âm

- Ngồi được khi có người đỡ

- Có thể lẫy được từ sấp sang ngửa

- Trẻ có thể giữ được đầu tương đối thẳng

- Quay đầu về nơi có tiếng động

1.6 Trẻ 6 tháng tuổi

- Biết phân biệt được mẹ với người lạ

- Bập bẹ vài tiếng

- Biết ngồi vững hơn, trườn được ra phía trước và xung quanh

- Đưa vật gì trẻ chộp lấy nhanh và giữ trong tay khá lâu

- Có thể chuyển từ tay này sang tay khác khá chính xác

- Có thể nhặt được vật nhỏ bằng năm ngón

1.7 Trẻ 7-9 tháng tuổi

- Có cảm xúc vui mừng sợ hãi

Trang 25

- Tự ngồi được vững vàng

- Bò giỏi và có thể vận động đứng lên khi có thành chắc chắn

- Có thể nhặt được vật nhỏ bằng hai ngón tay (ngón cái và ngón trỏ)

- Cầm vật gì ở hai tay có thể đạp vào nhau để có tiếng động hoặc vứt bỏ vật này để lấy vật khác Trẻ rất thích vật phát ra tiếng động như quả chuông, quả lắc,

- Biết phát âm bà- bà, má - má,

- Biết vẫy tay chào vẫy tay hoan hô

1.8 Trẻ 10- 12 tháng tuổi

- Hiểu được lời nói đơn giản, phát được 2 âm bà ơi, mẹ đâu

- Nhắc lại những âm người lớn đã dạy

- Biết chỉ tay vào vật mình ưa thích

- Thích đập đồ chơi vào bàn, hoặc quẳng xuống đất

- Sử dụng các ngón tay dễ dàng hơn

- Trẻ đứng vững, bắt đầu tập đi lại vài bước khi có người lớn dắt 2 tay

- Đến tháng thứ 12 trẻ có thể đi lại vài bước, không cần người đỡ Trẻ thường dơ 2 tay ra phía trước để giữ thăng bằng

1.9 Trẻ 18 tháng tuổi

- Biết đi nhanh chạy được và lên được cầu thang nếu có người dắt tay

- Biết chơi đồ chơi xếp các miếng gỗ hình tháp

- Biết lật ngửa cái chén để lấy hòn bi bên trong

- Nói được các câu ngắn

- Chỉ được các bộ phận như mắt mũi tai của mình

- Ban ngày biết gọi đi tiểu tiện

- Tự cầm bát xúc ăn bằng thìa

1.10 Trẻ 24 tháng tuổi

- Tự lên cầu thang 1 mình

- Nhảy được 1 chân

Trang 26

- Đi nhanh, chạy, leo được bậc thang cửa, tự làm 1 vài việc đơn giản

- Hay đặt câu hỏi

- Ngôn ngữ nói phát triển nhanh

- Thích sống tập thể

1.12 Trẻ 4-6 tuổi

- Thích tìm hiểu môi trường xung quanh, thích chơi 1 mình

- Tinh thần phát triển nhanh

- Ngôn ngữ phát triển mạnh, trẻ học được bài hát dài

- Vận động khéo léo, nhanh nhẹn hơn

- Biết học chữ, học vẽ, viết được

- Lúc 6 tuổi trẻ bắt đầu đi học

1.13 Trẻ 7 -15 tuổi

- Tiếp thu giáo dục tốt, có khả năng sáng tạo tưởng tượng

- Học văn hóa và sinh hoạt hòa mình rộng rãi trong cộng đồng xã hội

- Vận động khéo léo tinh vi, biết chơi các môn thể thao, múa hát, sinh hoạt tập thể

- Cơ thể thay đổi nhanh khi trẻ bắt đầu dậy thì: phát triển tuyến vú ở trẻ gái, phát triển cơ bắp mọc lông nách và mu, tiếng nói ồ ở trẻ trai

2 Đánh giá sự phát triển của trẻ bằng test denver

Trang 27

- Một lọ nhỏ bằng thủy tinh trong đường kính miệng lọ khoảng 1.5cm

Trong bình diện vận động tinh tế có 30 mục giúp ta nhận định về khả năng nhìn,

sử dụng bàn tay nhặt đồ vật và khả năng vẽ của trẻ

Ví dụ: nắm quả lắc, với lấy đồ chơi, nhặt quả nho, vẽ nguệch ngoạc, xếp các khối vuông, vẽ hình người

2.3.3 Ngôn ngữ

Với 21 mục kiểm tra ngôn ngữ, chúng ta có thể biết được khả năng nghe, nói và thực hành mệnh lệnh của trẻ

Ví dụ: phản ứng nghe chuông, cười, nói bập bẹ, gọi bố mẹ, chỉ 1 vài bộ phận trên

cơ thể, nhận biết màu sắc

Như vậy nội dung test Denver gồm 105 mục sắp xếp theo trình tự để trẻ em từ khi

ra đời đến 66 tuổi có thể thực hiện được Với test này, chúng ta có thể đánh giá được sự phát triển tâm lí - vận động bình thường ở trẻ em dưới 6 tuổi Nếu phát hiện trẻ nào có vấn đề gì nghi ngờ là bất thường cần phải kiểm tra sâu hơn nữa về mặt thần kinh và nhi khoa cho trẻ

2.3 Bảng đánh giá sự phát triển

Trang 28

Có thể dựa vào các bảng dưới đây để đánh giá sự phát triển của trẻ em (Bảng 3.1,

Đi có người dắt

Đi 1 mình Bắt đầu chạy Ném bóng, nhảy, chạy leo tốt

Leo lên leo xuống thang 1 mình Đứng trên 1 chân, đi xe 3 bánh, ném bóng trên tay

Ném bóng chính xác

Chạy leo tốt, bò, lần lê

Nhìn người mẹ Đưa mắt nhìn mẹ mỉm cười Nắm chặt tự phát

Chuyển vật từ tay này sang tay khác

Vỗ tay Nhặt bằng ngón cái và ngón trỏ

Sử dụng các ngón tay dễ dàng Xếp được vật này lên vật kia Bắt trước tô đường kẻ dọc Bắt trước tô đường kẻ ngang Xếp được 6 khối lên nhau

Từ đầu tiên 3-50 từ Biết bộ phận của cơ thể, lấy được vài thứ đơn giản khi sai khiến, nói lóng

Trang 29

24 tháng

2-3 tuổi

3-4 tuổi

4-5 tuổi

Nói được câu 2 từ

Có 50-300 từ, nói được câu 3-4 từ Nói được giới từ, đại từ, số nhiều

Chia động từ, thời quá khứ, đếm được, biết được màu sắc

Bảng 3.3: Phát triển cá nhân và xã hội

Biết đầu vú, lắc lư khi cho ăn

Cho tay vào miệng, chơi trò chơi đơn giản, biết được bố mẹ, đối với người lạ bế thì quấy khóc

Sử dụng được chén, tập sử dụng được thìa

Biết giao tiếp những gì muốn, bắt trước bố mẹ làm Đại, tiểu tiện biết nói với bố mẹ, chơi tự lập, biết cởi và mặc áo

Tự đi nhà vệ sinh, biết rửa mặt lau mặt, chơi tập thể, chuyển tay cầm

Tự mặc quần áo, giúp việc vặt, hoạt động tập thể

Trang 30

Bài 4

DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM ( BÚ MẸ, ĂN NHÂN TẠO, ĂN THÊM) MỤC TIÊU

1 Trình bày được các lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

2 Hướng dẫn được các bà mẹ cách cho con bú và cách bảo vệ nguồn sữa mẹ

3 Nêu được cách chọn cách loại sữa phù hợp cho việc nuôi trẻ khi không có sữa

mẹ

4 Nêu được ô vuông thức ăn và bốn loại thức ăn bổ sung dành cho trẻ

5 Trình bày được chế độ ăn của trẻ dưới 12 tháng và cách cho trẻ ăn bổ sung

6 Biết cách nấu được một số loại bột thông thường cho trẻ

PHẦN I: NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ

Nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp nuôi dưỡng tự nhiên, phù hợp với tập quán nuôi con lâu đời của các bà mẹ, phù hợp với khoa học, có hiệu quả cao trong phòng chống suy dinh dưỡng và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em

1 LỢI ÍCH CỦA VIỆC NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ

1.1 Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất

Sở dĩ sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất cho trẻ trong những tháng năm đầu tiên của trẻ vì sữa mẹ có đủ năng lượng, chất dinh dưỡng và dễ hấp thu

- Trong 1 lít sữa mẹ có khoảng 700Kcal Tỷ lệ các chất dinh dưỡng như đạm, đường, mỡ, vitamin và muối khoáng thích hợp nên làm cho trẻ dễ tiêu hoá, dễ hấp thu giúp cho cơ thể triển bình thường tránh được suy dinh dưỡng

- Lượng protein thấp hơn sữa bò nhưng có đủ acid amin cần thiết nên trẻ bú mẹ tránh được tăng cân quá mức

- Sữa mẹ có nhiều acid béo cần thiết giúp cho sự phát triển của não, thị giác vì vậy giúp trẻ thông minh

- Sữa mẹ có hàm lượng vitamin A nhiều hơn sữa bò nên trẻ bú sữa mẹ chống được thiếu vitamin A và khô mắt tốt hơn trẻ ăn sữa bò

- Lượng calci và sắt thấp hơn sữa bò nhưng tỷ lệ hấp thu lại cao nên trẻ bú sữa

mẹ ít bị còi xương và thiếu máu thiếu sắt hơn trẻ ăn sữa bò

1.2 Sữa mẹ có tác dụng kháng khuẩn

Trang 31

Sữa mẹ tiết ra trong vài ngày đầu sau đẻ được gọi là sữa non Sữa non có màu

vàng nhạt và sánh đặc Sau giai đoạn này là sữa trưởng thành Sữa có nhiều yếu tố bảo vệ chống nhiễm khuẩn đó là các kháng thể hay còn gọi là các globulin miễn dịch, trong đó chủ yếu là IgA mà một loại thức ăn hoặc sữa nào thay thế được Các kháng thể này giúp trẻ có sức đề kháng tốt chống lại các bệnh nhiễm khuẩn Vì vậy các trẻ được bú sữa mẹ ít bị bệnh nhiễm khuẩn hơn trong đó đặc biệt là các bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Ngoài

ra trẻ được bú sữa mẹ trực tiếp ngay thì sữa mẹ là thức ăn sạch và vô khuẩn,

là sữa an toàn không phải pha chế như sữa bò rất dễ bị nhiễm khuẩn qua các dụng cụ pha sữa không được đảm bảo chắc chắn sạch sẽ

1.3 Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng

Trẻ được bú sữa mẹ ít bị dị ứng hoặc chàm hơn trẻ ăn sữa bò

1.4 Bú mẹ tăng cường gắn bó tình cảm mẹ con

Cho trẻ bú mẹ là tạo điều kiện cho mẹ con gần gũi nhau hơn, dễ dàng hình thành

mối quan hệ yêu thương giữa mẹ và con và là yếu tố tâm lý quan trọng giúp cho sự phát triển hài hoà của trẻ Trẻ bú mẹ thường phát triển trí thông minh hơn trẻ ăn sữa bò

1.6 Thuận lợi và kinh tế

- Thuận lợi vì không cần dụng cụ, không cần đun nấu pha chế, không mất thời gian chuẩn bị như khi cho trẻ ăn sữa bò Trẻ có thể bú mẹ bất kỳ lúc nào cũng được không phụ thuộc vào giờ giấc

- Kinh tế vì không mất tiền mua sữa và dụng cụ pha chế

2 CÁCH CHO TRẺ BÚ

2.1 Bú sớm sau khi sinh

Trang 32

- Tốt nhất trong vòng nửa giờ sau khi sinh nên cho trẻ bú

- Không nên chờ đến khi mẹ xuống sữa mới cho con bú vì như vậy càng làm sữa xuống chậm và càng dễ bị mất sữa

- Bú càng sớm càng tốt vì sữa mẹ tiết theo phản xạ

- Bú sớm có tác dụng kích thích bài tiết sữa sớm

- Trẻ được bú sữa non có tác dụng phòng bệnh cho trẻ tốt hơn

2.2 Không hạn chế số lần bú

- Cần cho trẻ bú theo nhu cầu của trẻ kể cả ban ngày cũng như ban đêm

- Cho bú bất cứ lúc nào nếu trẻ khóc đòi bú, không nhất thiết phải theo đúng giờ giấc

- Không cần hạn chế số lần bú, tuy nhiên cần lưu ý nên cho trẻ bú đủ no mỗi lần

để tránh phải cho trẻ bú quá nhiều lần trong ngày

2.3 Khi cho trẻ bú

2.3.1 Tư thế của mẹ

- Tư thế bú mẹ đúng phải đạt được các tiêu chuẩn sau

- Người mẹ có thể cho trẻ bú ở cả tư thế nằm hoặc ngồi nhưng phải hết sức thoải mái Có thể dùng tay nâng vú cho trẻ dễ bú

- Bế trẻ áp sát vào lòng mẹ

- Bụng trẻ đối diện với bụng mẹ

- Đầu và thân trẻ phải nằm trên một đường thẳng

- Miệng trẻ không chỉ ngậm mút núm vú mà phải ngậm sâu vào quầng đen của

vú Nếu thiếu một trong hai dấu hiệu trên là trẻ ngậm bắt vú không tốt

2.3.3 Trẻ bú có hiệu quả

Những dấu hiệu chứng tỏ trẻ bú có hiệu quả

Trang 33

- Trẻ mút chậm và sâu

- Khi trẻ bú không thấy tiếng mút vú phát ra

-Trẻ mút chậm rãi một vài cái rồi lại nghỉ và nuốt sữa

2.3.4 Thời gian một bữa bú

Thời gian một bữa bú tuỳ thuộc vào từng trẻ, tuy nhiên nếu trẻ bú no sẽ tự nhả vú

mẹ ra Trung bình một bữa bú như vậy có thể kéo dài từ 10 đến 20 phút Nếu trẻ bú kiệt sữa

một bên vú mà vẫn chưa đủ no thì có thể chuyển sang cho trẻ bú tiếp bên kia

2.4 Thời gian cho bú

Cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 đến 6 tháng đầu, không nên cho ăn thêm bất kỳ

thức ăn hoặc nước uống nào khác

Nên cho bú kéo dài đến khi trẻ được 18-24 tháng

2.5 Nhận biết trẻ bú đủ sữa

Trong thời gian cho con bú một số bà mẹ khi thấy trẻ khóc thường vội vã cho rằng

mình không đủ sữa cho trẻ bú và cho trẻ ăn thêm sữa hoặc thức ăn khác Trước khi quyết

định xem bà mẹ có đủ sữa cho trẻ hay không khi đang trong thời gian cho bú người mẹ cần:

- Kiểm tra cân nặng của trẻ xem trẻ có tăng cân và phát triển bình thường không?

- Trẻ có đi tiểu trên 6 lần/ngày không?

Nếu trẻ vẫn tăng cân bình thường và đi tiểu trên 6 lần/ngày là mẹ đủ sữa cho con

2.6 Những điểm cần chú ý khi cai sữa

- Không nên cai sữa trước 12 tháng

- Không nên cai sữa vào mùa hè nóng nực vì ở mùa này trẻ thường ăn kém

- Không nên cai sữa đột ngột dễ gây sang chấn tinh thần làm trẻ quấy khóc nhiều,

biếng ăn

- Không cai sữa khi trẻ ốm, đặc biệt là khi trẻ bị tiêu chảy vì thức ăn thay thế chưa

làm trẻ thích nghi ngay được nên có thể kéo dài thời gian tiêu chảy làm trẻ dễ bị suy dinh

dưỡng

3 BẢO VỆ NGUỒN SỮA MẸ

3.1 Trong thời kỳ mang thai

Phụ nữ có thai cần được ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để đạt được trung bình

2550calo/ngày và tăng từ 10 đến 12 kg, có chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lí tinh thần

thoải mái Đó là điều kiện tốt để sau khi sinh mẹ đảm bảo có đủ sữa cho trẻ

Trang 34

3.2 Trong thời kì cho con bú

- Bà mẹ cần có chế độ ăn nhiều hơn cả khi đang mang thai Lượng calo trung bình trong ngày cần ăn là 2750calo Vì vậy ngoài 3 bữa ăn chính bà mẹ cần phải ăn thêm 2 đến 3 bữa phụ

- Theo kinh nghiệm dân gian thì cho bà mẹ ăn các món ăn cổ truyền như cháo chân giò, gạo nếp, ý dĩ có tác dụng kích thích bài tiết sữa

- Cần uống đủ nước như sữa, nước cháo, nước hoa quả Trung bình lượng nước cần là 2lít/ngày, về mùa hè nóng nực có thể uống nhiều hơn nữa

- Hạn chế ăn các gia vị như hành, tỏi, ớt …….vì có thể gây mùi khó chịu trong sữa làm trẻ không muốn bú

- Không nên dùng thuốc trong những trường hợp đặc biệt mà mẹ phải dùng thuốc cần phải hỏi ý kiến bác sĩ vì phần lớn các thuốc phải bài tiết qua sữa nên có thể giảm lượng sữa hoặc gây mùi khó chịu hoặc có thể gây tác dụng phụ hoặc độc cho trẻ

- Bà mẹ cần được thoải mái về tinh thần, tránh các căng thẳng tâm lý, tránh lo lắng buồn phiền, hoặc mất ngủ Làm việc vừa phải và nghỉ ngơi hợp lý

- Cho trẻ bú thường xuyên và đúng cách

+ Nếu mẹ phải đi làm xa không về nhà cho bú được thì nên vắt sữa vào cốc và gửi về cho trẻ Không cần hâm nóng sữa mẹ, nếu sữa quá lạnh thì chỉ cần ngâm cốc sữa vào nước nóng một lúc Cố gắng tranh thủ thời gian để cho trẻ bú đặc biệt là vào sáng sớm và ban đêm + Khi người mẹ bị bệnh thì thường ngừng cho bú vì sợ con bị lây bệnh Tuy nhiên nhiều trường hợp không cần phải làm như vậy với các bệnh nhiễm khuẩn thông thường vì cho bú

mẹ không làm tăng nguy cơ lây bệnh cho trẻ Nếu bà mẹ bị bệnh lao tiến triển, suy tim nặng thì không nên cho con bú Mẹ bị nhiễm HIV vẫn có thể cho con bú trong vài tháng đầu Tuy nhiên nếu có điều kiện chăm sóc trẻ tốt ngay cả khi trẻ không được bú sữa mẹ thì có thể không cho trẻ bú mẹ khi bị nhiễm HIV

+ Khi bị bệnh nhẹ, tốt nhất không nên dùng thuốc cho mẹ, một số trường hợp bắt buộc phải dùng thuốc để điều trị cho mẹ cần phải xem xét kỹ lưỡng từng loại thuốc cụ thể bài tiết được ra sữa mẹ và ảnh hưởng có thể có đối với con để quyết định có ngừng cho trẻ bú hay không?

3.3 Xử trí một số tình huống khó khăn thường gặp khi cho con bú

3.2.1 Xử trí núm vú bị nứt

Trang 35

- Núm vú bị nứt thường là do trẻ ngậm bắt vú kém, trẻ chỉ ngậm mút ở núm vú hoặc do mẹ dứt trẻ ra khỏi núm vú quá nhanh khi trẻ đang ngậm chặt núm vú làm tổn thương da núm vú Nếu không xử trí sớm sẽ dẫn đến viêm vú hay áp xe vú đặc biệt thường xảy ra trong trường hợp trẻ ngừng bú và mẹ lại không vắt sữa ra

- Cần hướng dẫn bà mẹ cách cho trẻ ngậm bắt vú tốt Để trẻ tự nhả vú sau khi trẻ

bú xong Bôi sữa mẹ lên chỗ nứt giúp da mau lành Nếu trẻ không bú tốt phải vắt sữa ra cho trẻ uống bằng cốc hoặc thìa Khi mẹ đỡ đau thì cho trẻ bú ngay

3.3.2 Xử trí núm vú bị tụt vào

- Hãy kéo dãn hai bên quầng vú thì núm vú sẽ lồi ra sau đó nhẹ nhàng kéo đầu vú và quầng vú lên Nếu núm vú co giãn dễ dàng thì mẹ vẫn có thể cho con bú với một núm vú hơi ngắn một chút

- Đề phòng bằng cách vê đầu vú ngày 2 lần, mỗi lần 5 phút trước khi mang thai sẽ làm cho núm vú giãn tốt hơn và tránh tụt núm vú vào

3.3.3 Khi trẻ không chịu bú mẹ

- Một số trẻ mới sinh không chịu bú mẹ có thể do trẻ bị đau ở da, cơ, xương do phải

can thiệp bằng dụng cụ như giác hút hoặc forceps thì bà mẹ cần thay đổi tư thế cho trẻ bú sao cho khi bế trẻ bú thì không đụng vào những chỗ đau của trẻ

- Trẻ tưa miệng làm trẻ rất đau khi bú, cần đánh tưa cho trẻ bằng mật ong hoặc nystatin

- Trẻ bị ngặt mũi, tắc mũi làm trẻ khó bú thì cần nhỏ mũi bằng natriclorid 0,9% và hút sạch mũi trẻ trước các bữa bú

- Khi trẻ bị bệnh trẻ thường bú kém hoặc không chịu bú thì cần phải cho bú làm nhiều lần hơn bình thường Nếu trẻ ốm nặng không thể tự bú đươc cần phải vắt sữa ra cho trẻ ăn từng thìa một

- Một số trẻ không chịu bú mẹ còn do bà mẹ vừa cho trẻ bú mẹ vừa cho trẻ bú chai

Bú chai sẽ làm cho trẻ ngậm bắt vú mẹ không tốt và dần dần có thể làm trẻ bỏ vú mẹ Do

đó không nên cho trẻ bú chai đồng thời với giai đoạn trẻ đang bú mẹ Nếu trẻ cần phải ăn thêm sữa ngoài thì nên tập cho trẻ ăn bằng thìa xen kẽ với các bữa bú mẹ

- Thay đổi nề nếp sinh hoạt của mẹ; Một số bà mẹ phải đi làm xa và phải thay người khác chăm sóc trẻ đôi khi cũng làm trẻ không chịu bú mẹ Do đó phải tạo điều kiện để mẹ

và trẻ được gần nhau nhiều hơn Một số trẻ có thể cũng không chịu bú mẹ khi mẹ bôi nước

Trang 36

hoa, ăn một số gia vị như tỏi hoặc uống một số thuốc bài tiết ra sữa làm thay đổi mùi vị của sữa Vì vậy bà mẹ cần tránh những thay đổi này khi đang cho con bú

3.3.4 Khi vú mẹ bị căng tức

- Do ứ sữa:

Thường xảy ra khi sữa bắt đầu xuống 2 vú, lúc đó bà mẹ có cảm giác căng tức Đó là hiện tượng căng tức sữa bình thường Lúc này cần phải cho trẻ bú mẹ thường xuyên đúng phương pháp để tránh cho mẹ khỏi bị mất sữa Nếu trẻ không thể bú mẹ được thì cần phải vắt sữa

ra cho trẻ ăn bằng thìa Vắt sữa nhiều lần để tránh ứ sữa Có thể đắp khăn ấm lên vú, xoa nhẹ quanh đầu vú trước khi vắt sữa

- Do tắc ống dẫn sữa:

Những hiện tượng ứ sữa không được xử trí đúng sẽ dẫn đến tắc ống dẫn sữa Tắc sữa làm

vú bị căng một phần và đau nhức Cần phải đắp khăn ấm lên vú, xoa bóp nhẹ nhàng từ phần

vú bị cứng đến phía núm vú làm lưu thông ống dẫn sữa rồi vắt sữa ra

- Do viêm vú, áp xe vú:

Tắc ống dẫn sữa nếu không được xử trí đúng và kịp thời sẽ dẫn tới viêm vú Khi bị viêm,

vú bị sưng, đỏ, căng tức và đau Bà mẹ có thể có sốt Viêm vú không được điều trị kịp thời

sẽ biến chứng thành áp xe vú

Xử trí bằng cách cho trẻ tiếp tục bú ở vú bên lành Cần đắp khăn ấm lên vú rồi vắt sữa bỏ

đi nhiều lần trong ngày Cho bà mẹ uống thuốc kháng sinh Nếu áp xe vú phải chích dẫn lưu

4 NUÔI TRẺ KHI KHÔNG CÓ SỮA MẸ

4.1 Nuôi trẻ bằng sữa thay thế

- Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ tuy nhiên trong một số trường hợp mẹ không có sữa hoặc bị bệnh không thể cho trẻ bú được thì phải nuôi trẻ bằng các sữa thay thế khác

- Tốt nhất khi không có sữa mẹ thì dùng các loại sữa bột được chế biến từ sữa bò bằng cách loại bỏ bớt chất béo, đạm và bổ sung thêm một số vitamin, khoáng chất, taurin, nucleotit, prebiotic, DHA, ARA làm cho các thành phần gần giống như sữa mẹ

- Các loại sữa bột cho trẻ kể trên thường có giá thành cao nên nếu vì lí do kinh tế

mà không thể mua được cho trẻ ăn thì có thể thay bằng sữa đậu nành

4.2 Nuôi trẻ bằng sữa bột

4.2.1 Chọn loại sữa phù hợp theo tuổi

Trang 37

- Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi có thể dùng một trong các loại sữa sau: Similac, Snow brand 1, Frisolac 1, Lactogen 1, Enfalac A+ v.v…

- Đối với trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên có thể dùng một trong các loại sữa sau: Gain, Snow brand 2, Frisolac 2, Lactogen 2 , Enfapro v.v…

4.2.2 Cách pha sữa vào cho trẻ ăn

- Pha theo hướng dẫn ghi trên hộp sữa

- Không được tự ý pha loãng quá hoặc đặc quá

- Không được cho thêm đường hoặc bất cứ loại thức ăn nào khác như nước cháo chẳng hạn vì sẽ làm phá vỡ tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong sữa

- Pha xong phải cho trẻ ăn ngay

- Nên pha vào cốc thấp thành, cho ăn bằng thìa

- Không nên cho trẻ bú chai hoặc đầu vú cao su vì khó rửa sạch nên dễ còn cặn sữa làm cho vi khuẩn dễ phát triển làm trẻ dễ bị ỉa chảy

4.3 Nuôi trẻ bằng sữa đậu nành

Cách làm sữa đậu nành:

- Chọn hạt đậu đều, không bị mốc, mọt, rửa sạch, ngâm nước lạnh trong 4-6 giờ về mùa hè và 6-8 giờ về mùa đông Nếu ngâm với nước ấm thì từ 2-4 giờ

Khi hạt đậu trương to, bóc vỏ, đãi sạch cho vào cối say

- Cho nước vào với tỷ lệ 100g đậu cho 1 lít nước Dùng túi vải lọc bỏ bã Cho nước đậu lên bếp, đun sôi 5-7 phút, hớt sạch bọt rồi cho thêm đường và dầu ăn vào Sở

dĩ cần phải cho thêm đường và dầu ăn vào là vì trong sữa đậu nành có hàm lượng đạm tương đương với sữa bò nhưng lại ít chất béo và đường

- Với trẻ dưới 6 tháng tuổi cho thêm 5% đường và 2-3% dầu ăn

- Với trẻ trên 6 tháng tuổi thì không cho thêm đường và thêm 3-4% dầu ăn

Không được nuôi trẻ bằng nước cháo đường hoặc nấu bột với nước mắm và mì chính

vì không đủ chất dinh dưỡng và trẻ chưa tiêu hoá được chất bột nên dễ gây tiêu chảy

và suy dinh dưỡng

4.4 Số bữa ăn và số lượng sữa trong ngày

Trẻ 1 tuần tuổi: 60ml sữa/bữa x 8 bữa/ngày

Trẻ 2-4 tuần: 70ml sữa/bữa x 7 bữa/ngày

Trẻ 1-2 tháng: 120ml sữa/bữa x 7 bữa/ngày

Trẻ 3-4 tháng: 150ml sữa/ngày x 6 bữa/ngày Cách nhau 3 giờ 30 phút

Trang 38

Trẻ 5-6 tháng :180ml sữa/bữa x 5 bữa/ngày + 1-2 bữa bột loãng + nước quả

Trẻ 7-8 tháng: 200ml sữa/bữa x 3 bữa/ngày + 2-3 bữa bột đặc + nước quả

Trẻ 9-12 tháng: 200ml sữa/bữa x 2 bữa/ngày + 3-4 bữa bột đặc + nước quả

PHẦN II: ĂN BỔ SUNG

Trong năm đầu cơ thể phát triển nhanh, đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng cao Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất của trẻ dưới 1 tuổi nhưng không thể nuôi bằng sữa mẹ đơn thuần từ lúc đẻ đến khi cai sữa, vì sữa mẹ không đủ thoả mãn nhu cầu cho cơ thể trẻ ngày càng lớn Do đó cần cho trẻ ăn thêm thức ăn bổ sung để phòng ngừa các bệnh suy dinh dưỡng, còi xương và thiếu máu

1 CÁC LOẠI THỨC ĂN BỔ SUNG

Ô vuông thức ăn

Hiện nay, tổ chức quốc tế nghiên cứu về dinh dưỡng đã thống nhất các loại thức ăn bổ sung cho trẻ được biểu thị theo ô vuông thức ăn, trung tâm của ô vuông là sữa mẹ (Hình 4.5)

Vitamin và muối khoáng

Rau và hoa quả

Thức ăn giàu năng lượng

Dầu, mỡ, bơ, đường

Hình 4.5 Ô vuông thức ăn Thức ăn cơ bản

Các loại thức ăn như ngũ cốc, khoai củ và chất đường từ tinh bột cung cấp nhiệt lượng chính trong khẩu phần ăn Ở nước ta thường dùng gạo, mỳ, ngô, khoai sắn và được chế biến dưới dạng bột sử dụng cho trẻ em

Thức ăn cung cấp protein

Protein động vật có giá trị dinh dưỡng cao, trẻ hấp thu tốt như trứng, thịt cá

Trong các loại sữa, sữa mẹ tốt nhất rồi đến sữa bò, sữa dê, sữa đậu nành

Những gia đình nuôi được gà đẻ trứng làm nguồn thức ăn bổ sung cho trẻ rất tốt

Sữa mẹ

Trang 39

Các loại thịt lợn, bò, gà đều có thể cho trẻ ăn được, nhưng không nhất thiết phải cho trẻ ăn toàn thịt nạc, mà nên sử dụng cả nạc lẫn mỡ Ngoài ra nên tận dụng nguồn protein

từ cua, cá, lươn, nhộng, ếch cho trẻ ăn nhất là vùng nông thôn

Protein động vật rất đắt tiền, nên những gia đình nghèo có thể cho trẻ ăn thêm đậu đỗ như đậu nành, đậu xanh, đậu đen, đậu trắng Trong các loại đậu thì đậu nành có hàm lượng protein và lipid cao nhất Đậu nành có thể chế biến dưới dạng bột, sữa đậu nành, đậu phụ, tào phớ

Thức ăn cung cấp nhiệt lượng

Gồm các loại dầu ăn, mỡ, bơ, đường Ngoài mỡ động vật nên cho trẻ ăn thêm dầu,

như dầu lạc, dầu vừng, dầu dừa, dầu đậu nành v v .Dầu ăn có tỷ lệ acid béo không

no cao hơn mỡ động vật nên dễ hấp thu đồng thời có nhiều vitamin hoà tan trong dầu như vitamin A, D

Thức ăn cung cấp vitamin và muối khoáng

Rau quả là nguồn vitamin và muối khoáng vô cùng phong phú Trong chế độ ăn hàng ngày nên chú ý cho trẻ thêm rau và hoa quả, đặc biệt là các loại quả và rau quả có màu vàng đỏ như đu đủ, muỗm, soài, bí đỏ, cà rốt, gấc và các loại rau quả màu xanh thẫm như rau ngót, rau dền, rau muống v.v… chứa nhiều caroten, giúp cho trẻ phòng bệnh khô mắt do thiếu vitamin A

2 CHẾ ĐỘ ĂN CỦA TRẺ TỪ 0-12 THÁNG

0 – 4 tháng Bú mẹ

5 tháng Bú mẹ

Bột lỏng: 200ml Hoa quả nghiền 1 - 2 thìa

6 tháng Bú mẹ

Bột đặc: 200ml Hoa quả nghiền : 2 – 4 thìa

Trang 40

3 NGUYÊN TẮC CHO ĂN BỔ SUNG

3.1 Thời gian cho ăn bổ sung và chất lượng thức ăn

- Cả hai yếu tố trên đều có ảnh hưởng đến phát triển thể lực và sức khoẻ của trẻ

- Đến tháng thứ 4, tập cho trẻ ăn bột bằng thìa và bổ sung chính thức vào tháng thứ

5 mỗi ngày 1 bữa bột lỏng

- Khi trẻ được 6 tháng cho ăn thêm mỗi ngày một bữa bột quấy đặc dần lên

- Từ 7 - 8 tháng ngoài bú mẹ cho trẻ ăn thêm 2 bữa bột đặc và tăng dần lên 3 bữa vào lúc trẻ 9 - 12 tháng

- Các bữa bột đều phải quấy với thịt, trứng, cá hoặc đậu, đỗ lạc, vừng, một nắm rau nghiền nhỏ và thêm vào một thìa dầu ăn hoặc mỡ để đảm bảo đủ thành phần các chất dinh dưỡng trong bữa ăn của trẻ

- Cho trẻ ăn thêm hoa quả vào tháng thứ 5, mỗi ngày 1 - 2 thìa chuối hoặc đu đủ

và tăng lên 4, 6, 8, 10 thìa theo tháng tuổi

3.2 Cho trẻ ăn tăng dần

Khi ăn thì nên cho trẻ ăn từ từ từng ít một rồi tăng dần lên, tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới Không nên bắt ép trẻ ăn đủ số lượng ngay từ ban đầu và cũng không nên quá lo lắng khi trẻ chưa chịu ăn

3.3 Giữ gìn vệ sinh ăn uống

Bát, thìa và các dụng cụ đựng thức ăn cần được giữ sạch sẽ Thức ăn cần được giữ sạch sẽ Thức ăn cần được đậy kỹ, tránh ruồi nhặng đậu vào

4 CÁCH NẤU THỨC ĂN BỔ SUNG

Bột lỏng cho trẻ 4 - 5 tháng

Thành phần và lượng thức ăn có trong hai loại bột trứng và bột sữa được trình bày

tóm tắt theo bảng 4.1

Bảng 4.1: Thành phần bột trứng và sữa cho trẻ 4 - 6 tháng

Ngày đăng: 14/02/2023, 22:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh học nhi khoa, tập 1, tập 2 – Nhà xuất bản Y học 2006 Khác
2. Bệnh học nhi khoa (sách đào tạo y sỹ) - Cao đẳng y tế Ninh Bình Khác
3. Điều dưỡng Nhi khoa (sách đào tạo Điều dưỡng cao đẳng) - Nhà xuất bản Y học 2006 Khác
4. Điều dưỡng Nhi khoa (sách đào tạo Điều dưỡng trung học) - Nhà xuất bản Y học 2006 Khác
5. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em - Nhà xuất bản Y học 1994 Khác
6. Chăm sóc sức khỏe trẻ em - Nhà xuất bản Y học 2002 Khác
7. Thực hành tiêm chủng - Nhà xuất bản Y học 2005 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w