1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ Học phần Kinh tế vĩ mô Giảng viên hướng dẫn Phạm Thanh Sơn Sinh viên Dương Thị Hải Yến Lớp 18J9KT Mã sinh viên 17041177 Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2021 BÁ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
Học phần: Kinh tế vĩ mô
Giảng viên hướng dẫn : Phạm Thanh Sơn
Sinh viên : Dương Thị Hải Yến
Lớp : 18J9KT
Mã sinh viên : 17041177
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2021
BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
Trang 2MỤC LỤC
1 Phân tích ảnh hưởng của Covid-19 lên thị trường kinh tế vĩ mô Việt Nam 3
Thị trường hàng hóa 3
Thị trường lao động 5
Thị trường vốn 6
2 Chính phủ Việt nam đã có những chính sách kinh tế vĩ mô gì để đối phó với những ảnh hưởng này Tập trung đi sâu vào các chính sách tiền tề và tài khóa đã học trên lớp, dùng mô đồ để đánh giá tác động của các chính sách này .6
Chính sách tài khóa 7
Chính phủ mở rộng chính sách tài khóa: 8
Tăng chi tiêu G 8
Giảm thuế T 8
Chính sách tiền tệ 9
Chính sách tiền tệ: Tăng cung tiền M S 10
3 (Bonus) Trình bày cơ chế ảnh hưởng của những chính sách cân thiệp của chính phủ, đánh giá tác dụng phụ có thể có trong ngắn hạn và dài hạn 10
Tài liệu tham khảo 13
Trang 31 Phân tích ảnh hưởng của Covid-19 lên thị trường kinh tế vĩ mô Việt Nam
Kinh tế – xã hội năm 2020 diễn ra trong bối cảnh dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh và diễn biến khó lường trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế – xã hội của các quốc gia trên thế giới Các nền kinh tế lớn đối mặt với tình trạng suy thoái sâu, tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ qua Ở Việt Nam, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm 2019, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại Tình hình đứt gãy thương mại quốc tế gây ra những hệ lụy tới hoạt động sản xuất và xuất, nhập khẩu của Việt Nam Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm
ở mức cao Bên cạnh đó, hạn hán, xâm nhập mặn, mưa, lũ ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng và đời sống nhân dân
Thị trường hàng hóa
Thị trường hàng hóa có những biến động không ổn định qua các quý trong suốt giai đoạn chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 Trong quý II GDP vẫn tăng nhưng thấp nhất trong các quý do chịu ảnh ảnh hưởng mạnh của dịch Covid-19 bùng phát trong nước vào cuối quý I kéo dài sang đến quý II, nhiều địa phương phải thực hiện dãn cách
xã hội trong một thời gian dài làm cho sản xuất kinh tế chịu sự ảnh hưởng lớn
Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Tính chung quý I/2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 59,08 tỷ USD, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 18,65 tỷ USD, tăng 8,7%, chiếm 31,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 40,43 tỷ USD, giảm 2,9%, chiếm 68,4% kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 56,26 tỷ USD, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 23,08 tỷ USD, giảm 3,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,18 tỷ USD, giảm 0,8%
Trong quý II/2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 57.98 tỷ USD, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước và giảm 8.3% so với quý 1 năm nay Kim ngạch nhập khẩu đạt 57.68 tỷ USD, giảm 9.1% so với cùng kỳ năm trước và giảm 3% so với quý 1 năm nay
Trong quý III/2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 80,07 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước và tăng 34% so với quý II năm 2020 (tăng 26,6% so với quý I) Trong quý III/2020, kim ngạch nhập khẩu đạt 68,54 tỷ USD, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 18,5% so với quý II năm 2020 (tăng 15,2% so với quý I)
Trong quý IV/2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 78,9 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,1% so với quý III năm nay Trong quý IV/2020, kim ngạch nhập khẩu đạt 76,4 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 10,7% so với quý III năm nay
Hàng hóa bán lẻ
Trang 4Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2020 đạt 1.246,1 nghìn
tỷ đồng, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước nhưng doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 7,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng mức và giảm 27,8% (cùng kỳ năm 2019 tăng 13,2%)
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm 2020 đạt 2380.8 nghìn tỷ đồng, giảm 5,3% nếu loại trừ yếu tố giá Quý II/2020 là giai đoạn chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch Covid-19 nên mức tiêu dùng giảm sâu khiến cho cả giai đoạn nửa đầu năm tổng thể cũng giảm
Tuy nhiên, nửa cuối năm 2020 có những cải thiện nên tổng quát chung thì tổng mức bán
lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2020 ước tính đạt 5.059,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 1,2% (năm 2019 tăng 9,5%), trong đó quý IV/2020 ước tính đạt 1.378,6 nghìn tỷ đồng, tăng 6,4% so với quý trước
và tăng 8% so với cùng kỳ năm trước
Ảnh hưởng của sự cắt giảm tổng cầu đến sản lượng và mức giá
Một cú sốc cầu lên thị trường kinh tế Việt Nam do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19: Ban đầu nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng tại mức sản lượng tự nhiên Do đại dịch Covid-19 xuất hiện vào Việt Nam từ đầu năm 2020, các nhà đầu tư và hộ gia đình trở nên bi quan hơn về triển vọng phát triển kinh tế trong tương lai nên đã cắt giảm mức chi tiêu hiện tại Lúc này tổng cầu giảm xuống Nhìn vào mô hình bên trên có thể
hưởng từ Covid-19 đc coi là khoảng ngắn hạn nên nền kinh tế di chuyển dọc theo
kinh tế chuẩn bị lâm vào suy thoái Do đó các doanh nghiệp phản ứng lại sự giảm sút doanh số bán ra bằng cách cắt giảm một số việc làm và thất nghiệp có xu hướng tăng lên Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì vào nửa đầu năm 2020, tỉ lệ người thất
Y 0
Trang 5nghiệp tăng lên, cao hơn so với năm 2019 Trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên giảm sâu, đạt mức kỷ lục từ trước đến nay
Thị trường lao động
Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I/2020 là 54,2 triệu người, giảm 682,4 nghìn người so với quý trước và giảm 154,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Trong đó giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn: số người có việc làm ở khu vực nông thôn giảm 604,7 nghìn người so với quý trước và giảm 269,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước
Trong quý I/2020, có khoảng 47,3 nghìn người tạm nghỉ việc vì lý do giãn việc, tạm ngừng sản xuất kinh doanh hoặc do lượng khách hàng giảm
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I/2020 là gần 1,1 triệu người, tăng 26,1 nghìn người so với quý trước và tăng 26,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên quý I năm 2020 là 7,01%, tăng 0,51 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,57 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cao gấp 5,4 lần so với tỷ lệ thất nghiệp của dân số trưởng thành (những người
từ 25 tuổi trở lên)
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý II/2020 là 53,1 triệu người, giảm 2,2 triệu người so với quý trước và giảm 2,4 triệu người so với cùng kỳ năm trước Đây là năm ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục của lực lượng lao động từ trước đến nay Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý II/2020 là 46,8 triệu người, giảm 2,1 triệu người so với quý trước và giảm 2,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước
Trong quý I/2020 thì tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 2%, tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,02% Nhưng đến hết tháng 6 thì tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 2,58%, tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,26%
6 tháng đầu năm 2020, số người mất việc làm tại Việt Nam liên tục gia tăng do ảnh hưởng dịch COVID-19 Lực lượng lao động thấp kỷ lục, lao động có việc làm có mức giảm mạnh nhất trong vòng 10 năm qua; tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, tỉ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây do nhu cầu thị trường lao động sụt giảm
Tính đến tháng 9 năm 2020, cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 68,9% lao động bị ảnh hưởng, tiếp đến là khu vực công nghiệp
và xây dựng với 66,4% lao động bị ảnh hưởng; tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 27,0% Số người thiếu việc làm trong độ tuổi quý III/ 2020 là 1,3 triệu người, giảm 81,4 nghìn người so với quý trước, tuy nhiên vẫn cao hơn 560,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động
Trang 6trong độ tuổi quý III/2020 là 2,79%, giảm 0,29 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
Thị trường vốn
Từ 1/1 đến 24/4/2020, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện là 5,2 tỷ USD, giảm 9,6% Tính trong 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư vào khu vực FDI là 200,9 nghìn tỷ đồng, giảm 3,8% Đến 20/8/2020, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 19.5 tỷ USD, giảm 13,7% Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện là 11,4
tỷ USD, giảm 5,1%
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2020 tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2019, mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng ước tính đạt 3,9 tỷ USD, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm 2020, đây là lần giảm đầu tiên trong giai đoạn 2016-2020
Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 850,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước và bằng 33% GDP (vốn khu vực Nhà nước đạt 273,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 32,2% tổng vốn và tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2019; khu vực ngoài Nhà nước đạt 375,9 nghìn tỷ đồng, bằng 44,2% và tăng 4,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 200,9 nghìn tỷ đồng, bằng 23,6% và giảm 3,8%), mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng ước tính đạt 8,65 tỷ USD, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2019
Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/9/2020 bao gồm vốn đăng
ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 21,2 tỷ USD, giảm 18,9% so với cùng kỳ năm trước Trong đó có 1.947 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 10,4 tỷ USD, giảm 29,4% về số dự án và giảm 5,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 798 lượt dự án đã cấp phép
từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt trên 5,1 tỷ USD, tăng 6,8%; có 5.172 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn 5,7 tỷ USD, giảm 44,9% Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.296 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,1 tỷ USD và 3.876 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 3,6 tỷ USD Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt gần 13,8 tỷ USD, giảm 3,2%
so với cùng kỳ năm trước
2 Chính phủ Việt nam đã có những chính sách kinh tế vĩ mô gì để đối phó với những ảnh hưởng này Tập trung đi sâu vào các chính sách tiền tề và tài khóa đã học trên lớp, dùng mô đồ để đánh giá tác động của các chính sách này
Đại dịch Covid-19 đã và đang để lại những hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế của Việt Nam Sản xuất kinh doanh nhiều ngành, lĩnh vực đình trệ Tăng trưởng GDP năm
2020 thấp do nền kinh tế bị tác động ở cả tổng cung (nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa,
Trang 7nguyên vật liệu, nhân công khó khăn) và tổng cầu (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu tăng thấp hoặc giảm) Bão lũ tại các tỉnh miền Trung gây thêm khó khăn đến đời sống của nhân dân và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, gây thiệt hại nặng nề cho kinh tế nhiều địa phương, làm chậm lại tiến trình hồi phục kinh tế
Để hỗ trợ cho nền kinh tế, Chính phủ, các bộ, ban, ngành và các tổ chức có liên quan đã triển khai nhiều biện pháp tích cực với trọng tâm là phối hợp hai nhóm Chính sách tiền
tệ và Chính sách tài khóa để tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp về tiếp cận vốn, tín dụng, tài chính, thuế, thương mại, thanh toán điện tử Chính phủ đã, đang
và sẽ tiếp tục có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân chịu ảnh hưởng của đại dịch, như chỉ đạo xây dựng, triển khai các gói hỗ trợ về tiền tệ (khoảng 300.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ về tài khóa (khoảng 180.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ an sinh xã hội (trên 62.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ giá điện (khoảng 12.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ giá viễn thông (khoảng 15.000 tỷ đồng) và miễn giảm khoảng 20.000 tỷ đồng các loại thuế, phí, lệ phí cho doanh nghiệp, người dân Trọng tâm và lộ trình các gói hỗ trợ được thực hiện theo thứ tự ưu tiên như hỗ trợ an sinh xã hội, hỗ trợ tài khóa và hỗ trợ tín dụng; tập trung thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp với những biện pháp cụ thể như sau:
Chính sách tài khóa
Về thu ngân sách nhà nước, thực hiện giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm 30% thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay; giảm tiền thuê đất; gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất; gia hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô-tô sản xuất, lắp ráp trong nước, tiếp tục miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, thực hiện miễn, giảm hàng chục loại phí, lệ phí cho người dân và doanh nghiệp Như là miễn thuế cho thiết bị y tế; giảm phí đăng ký kinh doanh
có hiệu lực từ ngày 25/2 (miễn thuế một năm của các thuế đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp hộ gia đình mới thành lập; miễn thuế đăng ký kinh doanh 3 năm đầu tiên cho các doanh nghiệp nhỏ); cho phép các công ty và người lao động chậm nộp bảo hiểm
xã hội (tối đa 12 tháng) mà không bị phạt lãi (tổng đóng góp chậm được ước tính là 9,5 nghìn tỷ đồng hoặc 0,1% GDP) Ước tính, riêng trong năm 2020 đã gia hạn cho khoảng
185 nghìn lượt người nộp thuế; thực hiện miễn, giảm thuế, phí, lệ phí cho khoảng trên
6 triệu người nộp thuế, với tổng kinh phí được miễn, giảm, gia hạn khoảng 130 nghìn tỷ đồng
Về chi ngân sách nhà nước, trong bối cảnh thu ngân sách giảm, cân đối ngân sách khó khăn, nhưng vẫn bảo đảm bổ sung nguồn tăng chi cho công tác phòng, chống dịch bệnh,
hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, khắc phục hậu quả thiên tai hạn hán, bão lũ Cụ thể, ngân sách nhà nước đã chi trên 18 nghìn tỷ đồng cho công tác phòng, chống dịch và hỗ trợ người dân chịu tác động của đại dịch Covid-19 theo các Nghị quyết
37 và 42 của Chính phủ Ngân sách trung ương đã dành 12,4 nghìn tỷ đồng dự phòng
để hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả bão, mưa lũ; xuất cấp gần 37 nghìn tấn gạo
dự trữ quốc gia để cứu trợ, cứu đói cho nhân dân, khắc phục hậu quả thiên tai và giáp hạt đầu năm Các địa phương cũng chủ động sử dụng khoảng 8,2 nghìn tỷ đồng dự
Trang 8phòng ngân sách địa phương và nguồn lực tại chỗ để chi cho công tác phòng chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai
Nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và người dân, các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương triệt để tiết kiệm chi ngân sách nhà nước, rà soát cắt giảm tối thiểu 70% kinh phí hội nghị, công tác phí trong và ngoài nước, tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên, hủy dự toán một số nhiệm vụ chi sử dụng không triển khai thực hiện, …
Chính phủ mở rộng chính sách tài khóa:
Tăng chi tiêu G
Khi chính phủ tăng chi tiêu từ G0 lên G1 (G1=G0+ G) thì tổng chi tiêu tăng từ E0 lên
Theo mô hình giao điểm Keynes, thu nhập cân bằng được khuếch đại theo số nhân chi tiêu Y=Y1-Y0= 1
1−𝑀𝑃𝐶 G Sự gia tăng chi tiêu chính phủ làm đường IS dịch chuyển sang phải từ IS0 tới IS1 phương ngang tại mọi mức lãi suất r0 cho trước, tương ứng thu nhập quốc dân lúc này sẽ là Y1>Y0
Giảm thuế T
r
Y
Y
r
Trang 9Khi Chính phủ đưa ra quyết định giảm thuế thì thu nhập khả dụng tăng lên là Y1, tiêu
Y= −𝑀𝑃𝐶
1−𝑀𝑃𝐶T Đường IS dịch chuyển sang phải từ IS0 sang IS1 theo phương ngang Chính phủ đưa ra gói hỗ trợ tài chính trị giá 279 nghìn tỷ đồng (3,7% GDP) để hỗ trợ nền kinh tế Các biện pháp bao gồm trả chậm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và phí thuê đất trong 5 tháng, hoãn trả thuế thu nhập cá nhân đến cuối năm (số tiền thanh toán trả chậm là 180 nghìn tỷ đồng, tương đương 2,4% GDP) Các biện pháp được phê duyệt bao gồm hoãn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất trong nước, giảm tiền thuê đất, cắt giảm hoặc miễn các loại phí và lệ phí khác nhau, cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ và tăng khấu trừ thuế thu nhập cá nhân Kết quả đạt được là tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2020 đạt 5059,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với năm 2019 Tính đến hết tháng 6/2020, số Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 62.048 còn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 25.157 doanh nghiệp Nhờ vào chính sách tài khóa tăng chi tiêu kết hợp giảm thuế của chính phủ kịp thời, nhanh chóng mà số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 134.940 doanh nghiệp, doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 44.096 doanh nghiệp (xét hết năm 2020) Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi đạt 2,51% giảm 0,07% so với nửa đầu năm 2020
Chính sách tiền tệ
Ngày 06/8/2020, Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã giảm thêm một số lãi suất điều hành với mức điều chỉnh 0,2 - 0,5% một năm Đây là lần thứ ba trong năm 2020, NHNN giảm các loại lãi suất điều hành Theo đó, lãi suất áp dụng cho tiền gửi dự trữ bắt buộc và vượt dự trữ bắt buộc tiền đồng giảm 0,5 điểm phần trăm xuống còn 0,5% một năm Bên cạnh đó, NHNN cũng quy định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VND) của các tổ chức, cá nhân tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 0,8%/năm xuống 0,5%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn
từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ 5,0%/năm xuống 4,75%/năm
Bên cạnh việc cắt giảm các mức lãi suất điều hành, NHNN cũng hướng dẫn các ngân hàng thương mại cơ cấu lại các khoản cho vay, giảm lãi, và hoãn nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do dịch bệnh Trên cơ sở đó, hệ thống ngân hàng thương mại đã dành khoản tiền 300 nghìn tỷ đồng để cho vay với lãi suất thấp và hỗ trợ 920.000 khách hàng dưới hình thức cơ cấu lại nợ, hoãn, miễn, và giảm lãi suất Các tổ chức tài chính cũng giảm và miễn các khoản phí
Các công ty bị ảnh hưởng bởi Covid-19 đủ điều kiện được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP) để trả lương cho công nhân của họ, những người tạm thời nghỉ việc mà không phải trả lãi Tổng giá trị khoản vay ước tính là 16,2 nghìn
tỷ đồng (khoảng 0,2% GDP)
Trang 10Ngoài ra, NHNN đã chỉ đạo các TCTD tích cực giảm tiền thưởng và tiền lương, cắt giảm chi phí hoạt động khác, điều chỉnh kế hoạch kinh doanh kịp thời (bao gồm không trả cổ tức bằng tiền mặt) và sử dụng các nguồn lực tiết kiệm để giảm lãi NHNN đã ban hành thông tư tái cấp vốn cho VBSP lên tới 16 nghìn tỷ đồng với lãi suất 0%
Chính sách tiền tệ: Tăng cung tiền M S
cho trước Với mức thu nhập cố định, để tăng lượng cầu tiền cho phù hợp với mức cung tiền cao hơn, lãi suất cần phải thấp hơn Do đó đường LM dịch chuyển xuống dưới và
1, lãi suất vẫn giữ nguyên
là r0 thì thu nhập cần phải tăng lên Y1 để cân băng thị trường tiền tệ
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, đến ngày 18-12-2020, tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng 12,83% so cuối năm 2019 và tăng 14,62% so cùng kỳ năm 2019 Hết năm 2020, tổng số vốn đầu tư toàn xã hội đạt 2164,5 nghìn tỷ đồng (=34,4% GDP), tăng 5,7% so với năm 2019 Kết quả đạt được là nhờ những chính sách tiền tệ hợp lý của Chính phủ ban hành kịp thời trong giai đoạn khó khăn này
3 (Bonus) Trình bày cơ chế ảnh hưởng của những chính sách cân thiệp của chính phủ, đánh giá tác dụng phụ có thể có trong ngắn hạn và dài hạn
Những kết quả tích cực về ổn định vĩ mô, thị trường tài chính tiền tệ, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế cho thấy là các giải pháp ngành Ngân hàng thực thi thời gian qua là đúng hướng, có tác dụng thiết thực đối với các doanh nghiệp và người dân, góp phần thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép” và đóng góp lớn vào thành tựu chung về các chỉ số phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
mà Đảng và Quốc hội đã đề ra, tạo nền tảng vững chắc tiếp tục thực hiện các mục tiêu trong giai đoạn tới
Giải pháp kết hợp điều hành CSTT- chính sách tài khóa (CSTK) trong quá trình điều chỉnh giá các mặt hàng nhà nước quản lý, góp phần kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu 4%, đảm bảo tốt cân đối vĩ mô của nền kinh tế Lạm phát cơ bản ổn định ở mức thấp, thể hiện hiệu lực, hiệu quả công tác điều hành CSTT, tạo dư địa để Chính phủ điều chỉnh giá các mặt hàng và dịch vụ Nhà nước quản lý
Y 1