1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nhân học chữ viết tiểu luận cuối kỳ dân tộc thổ

21 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân học chữ viết tiểu luận cuối kỳ dân tộc Thổ
Người hướng dẫn TS. Phan Phương Anh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Nhân học
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếng Thổ, còn được gọi là tiếng Cuối hay tiếng Hung ở Lào, là một cụm phương ngữ, là ngôn ngữ của 70.000 người Thổ ở Việt Nam vài nghìn người ở Lào chủ yếu ở tỉnh Bolikhamsai và Khammou

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NHÂN HỌC

- -

NHÂN HỌC CHỮ VIẾT

Tiểu luận cuối kỳ:

DÂN TỘC THỔ

Khoa: Nhân học

Giảng viên: TS Phan Phương Anh

Trang 2

1 Tộc người Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường ( ngữ hệ Nam Á) Trong bảo tàng góc trưng bày dành cho dân tộc này rất ít, chỉ trong khoảng nhỏ, thông tin ngữ hệ được trưng bày ở phòng phía bên trái của sảnh chính, phía khu vực Việt – Mường và trưng bày khá ít Tiếng Thổ, còn được gọi là tiếng Cuối hay tiếng Hung ở Lào, là một cụm phương ngữ, là ngôn ngữ của 70.000 người Thổ ở Việt Nam vài nghìn người ở Lào (chủ yếu ở tỉnh Bolikhamsai và Khammouane)

- Cuốn sách với hình ảnh và thông tin về người Thổ bị đan xen lẫn với tộc người Chứt Gồm hình ảnh, chân dung, hình nhân minh họa người Thổ nhưng khá đơn giản Nhà sàn của người thổ được thể hiện qua bức tranh nhỏ đặt ở góc khuất và khá tối, khách tham quan nếu không chú ý có thể sẽ bị bỏ sót Dụng cụ săn bắn, sinh hoạt hằng ngày của họ cũng được trưng baỳ cạnh khu vực hình nhân, tuy nhiên bảo tàng sắp xếp trưng bày lẫn với vật dụng của người Chứt Như vậy về phần chưng bày bị xem kẽ, không rõ ràng

- Ngoài ra, còn có bảng một vài từ ngữ của dân tộc Thổ và bản đồ phân bố các tộc người theo nhóm ngôn ngữ

2 - Người Thổ cư trú: chủ yếu ở miền tây tỉnh Nghệ An (các nơi khác rất ít hoặc không có) trong các huyện: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương và nhiều nhóm khác nhau với số dân khoảng trên dưới 70 ngàn người, trong đó đông nhất là ở huyện Nghĩa Đàn (với các nhóm: Họ Kẹo, Mọn) có tới trên dưới 30 ngàn người (Tạp chí Dân tộc học

số 97, tháng 12 - 2006, tr 3) Người Thổ có nhiều nhóm khác nhau, có các tên gọi khác như Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Pọng, Con Kha, Xá Lá Vàng,…

- Nguồn gốc: Theo sự thống nhất của nhiều nhà nghiên cứu) thì có 3 nguồn gốc cơ bản: Nguồn gốc Việt - với các nhóm Kẹo Đan Lai - Ly Hà; nguồn gốc bản địa với các nhóm Cuối và Tày Poọng; nguồn gốc Mường với các nhóm Mọn, Họ Tuy nhiên, theo cuốn “40 năm - một chặng đường”, Trương Văn Sinh cũng nói thêm: “Các nhóm Thổ ở Nghệ Tĩnh có liên quan thân thuộc với các nhóm Tày - Chăm, Tày - Pum, Tày - Hung, Tày - Tum ở tỉnh Khăm Muộn (Lào)” quá trình hình thành tộc danh Thổ khá phức tạp, còn nhiều vấn đề chưa thực sự sáng tỏ Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu và trên thực tế, cho thấy tộc danh “Thổ” đã được đồng bào chấp nhận với đại đa số như một lẽ tự nhiên và cũng rất tự giác, mang tính khoa học Ở Việt Bắc, Tây Bắc nước ta, người Thái, người Tày một thời cũng được gọi là “Thổ” Chấp nhận tộc danh Thổ là hợp lý, vì cộng đồng này (dù ở đâu đến, bị “hoá” đến mức độ nào) đều được xem là người

Trang 3

bản địa, người Việt - Mường, do nhiều hoàn cảnh của lịch sử - xã hội đã sống biệt lập khỏi người đồng tộc lâu đời và “hoá” thành một tộc khác Điều này cũng phù hợp với “quy luật tích hợp văn hoá tộc người” đối với những cộng đồng nhỏ có chung cội nguồn, gắn bó với nhau, và cùng thống nhất một tên gọi chung (theo GS, Phạm Đức Dương) Từ kết quả nghiên cứu về người Thổ

ở miền Tây Nghệ An của PGS Ninh Viết Giao, TS Nguyễn Đình Lộc, GS Đặng Nghiêm Vạn,…

và Ban dân tộc miền núi tỉnh Nghệ Tĩnh trước đây (1975 -1991), Nghệ An từ 1991 đến nay, đối chiếu với một số tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ, tài liệu điền dã trên địa bàn Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Con Cuông, chúng tôi có một số ý kiến về nguồn gốc của các nhóm người Thổ định cư ở Nghĩa Đàn - Tân Kỳ và một số huyện lân cận như sau: Một bộ phận khá đông đồng bào Thổ ngày nay có nguồn gốc là người Kinh ở huyện Yên Thành, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương,… lên định cư ở Tân Kỳ - Nghĩa Đàn, Con Cuông, Quỳ Hợp khoảng từ thế kỷ XIX, tức là mới có lịch sử hình thành khoảng 150 - 180 năm Nguyên nhân họ buộc phải bỏ quê hương đồng bằng ngược lên sinh sống tại đây có thể là do mất mùa, dịch bệnh, hoặc từ thời kỳ chiến tranh Một bộ phận khác rời các huyện đồng bằng vào cuối thế

kỷ XIX, khi khởi nghĩa Giáp Tuất do Trần Tấn và Đặng như Mai bùng nổ vào năm 1874 ở Núi Đài xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương, sau đó lan rộng ra địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Thực dân Pháp và triều đình phong kiến tay sai đã huy động binh lực từ đồng bằng Bắc bộ vào,

do chính Tôn Thất Thuyết chỉ huy và lực lượng từ Huế ra, hợp quân với lực lượng đóng tại Nghệ

An, Hà Tĩnh, mở các cuộc càn quét, bao vây quy mô lớn trên địa bàn hầu khắp các địa phương ở Nghệ An, Hà Tĩnh có lực lượng tham gia khởi nghĩa Quân đội Pháp và quân đội triều đình Huế

đã tàn sát hàng ngàn người trực tiếp tham gia khởi nghĩa hoặc ủng hộ cuộc khởi nghĩa và đốt cháy hàng trăm làng mạc từ Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Đông Thành, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương,v.v…

- Dân số, sinh kế: Người Thổ có khoảng 69.000 người,Theo Robert Chambers and Gordon Conway (1992) thì sinh kế bao gồm “khả năng, tài sản hay những hoạt động có ý nghĩa đảm bảo cuộc sống cho con người” Người Thổ làm rẫy trên cả đất dốc, cả đất bằng, trồng lúa và gai là chính Trong canh tác lúa, ngoài cách thức chọc lỗ tra hạt, người Thổ còn gieo vãi và dùng cày, bừa để lấp đất sau khi gieo Cây gai cho sợi đan nhiều vật dụng cần thiết: túi, võng, lưới bắt

cá, vó, lưới săn thú, v.v Một tấm lưới săn thú cần đến 30–40 kg sợi gai Cá, chim, thú là nguồn thực phẩm quan trọng đối với người Thổ, họ có kinh nghiệm săn bắn, đánh bắt cá Bên cạnh đó, rừng cung cấp các loại rau, quả, củ làm thức ăn thông thường cũng như khi đói kém Người Thổ

Trang 4

trước đây có nghề dệt vải nhưng do điều kiện canh tác cũng như sự giao lưu với người Kinh đã làm cho nghề dệt bị mai một dần

+ Nổi tiếng với nghề trồng gai và chế biến sản phẩm từ cây gai như võng, lưới săn thú, lưới đánh cá… Họ đem những thứ đó đổi lấy những thứ ình không làm ra được

- Cộng đồng: Trong làng người Thổ, quan hệ gắn bó giúp đỡ lẫn nhau là nếp sống lâu đời Theo tục cũ, toàn bộ đất đai, rừng núi, sông suối là của chung dân gian, mỗi người được quyền quản lý khi đang gieo trồng, được quyền khai thác khi là dân sống trong làng

3

- Do quá trình cấu kết dân tộc diễn ra với nhiều giai đoạn khác nhau nên thành phần cấu thành của dân tộc Thổ rất đa dạng, vì vậy không tồn tại 1 thứ tiếng Thổ đơn nhất, tuy nhiên tất cả các nhóm Thổ đều có ngôn ngữ gốc thuộc ngữ chi Việt trong ngữ hệ Nam Á Theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Hữu Hoành (2009) thì về ngôn ngữ các nhóm Thổ có thể được phân loại :

+ Nhóm Tày Poọng, Đan Lai (Ly Hà) được cho là nhóm bản địa tại miền Tây Nghệ An

Sự giống nhau về từ vựng của tiếng Đan Lai và tiếng Tày Poọng lên đến 85% do vậy chúng có thể được coi là các phương ngôn của cùng 1 ngôn ngữ Tuy nhiên tiếng Tày Poọng hiện nay đang dần mai một, người Tày Poọng hiện nay đang dần chuyển sang nói tiếng Thái và tiếng Việt

+ Người Tày Poọng cư trú tập trung tại các xã Tam Hợp, Tam Quang của Tương Dương Nhóm Cuối tạo thành 1 ngôn ngữ riêng biệt với hai phương ngữ chính là Cuối Chăm (Tân Hợp) và Cuối Đếp (Quang Tiến và Quang Phong)

+ Tiếng Cuối cùng với tiếng Tày Poọng-Đan Lai, Tày Tum và Tày Hung bên Lào tạo thành một nhánh riêng trong ngữ chi Việt song song với các ngành Việt-Mường và Chứt Tuy vậy, sự giống nhau về từ vựng của tiếng Cuối và Tày Poọng chỉ ở mức 66% thấp hơn cả sự tương đồng của tiếng Việt và các ngôn ngữ Mường

+ Nhóm Mọn, Họ được cho là các thành viên của 1 thổ ngữ Mường, 2 thứ tiếng này giống nhau đến 98% do vậy được coi là cùng 1 ngôn ngữ, ngôn ngữ của họ từng được Maspéro phân loại là tiếng Nam Mường Mức độ giống nhau về từ vựng của tiếng Nam Mường với tiếng Mường Bi (Hòa Bình), Mường Ống (Bá Thước, Thanh Hóa) và phương ngữ Nghệ An của tiếng Việt lần lượt là 77%, 79% và 71% Tuy nhiên từ vựng của Nam Mường lại giống tới 84% so với tiếng Mường ở Như Xuân (Thanh Hóa)

Trang 5

+ Nhóm Kẹo (Nghĩa Quang) sử dụng tiếng Việt dù văn hóa của họ cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ người Cuối và người Thổ Mọn Ngôn ngữ của họ có tương đồng về từ vựng lên đến 99% với phương ngữ Nghệ An của tiếng Việt, quá trình phát triển ngữ âm cũng tương tự Ho được cho là có nguồn gốc từ người Việt từ đồng bằng di cư lên miền núi kết hợp với người Cuối, người Mọn đã Việt hóa

+ Nhóm Thổ Lâm La (Nghĩa Đàn, Nghệ An) và Thổ Như Xuân (Thanh Hóa), 2 nhóm này tuy có bộ từ vựng tương đồng cao so với tiếng Việt (lần lượt 94% và 95%) Tuy nhiên quá trình thay đổi về ngữ âm của 2 thứ tiếng trên lại tương đối khác so với tiếng Việt Ngoài ra, Hoàng Hữu Hoành cũng đề cập rằng quá trình cách tân ngữ âm của Thổ Lâm La và Thổ Như Xuân là tương tự với tiếng Nguồn Tuy vậy mối quan hệ của Thổ Lâm La, Thổ Như Xuân và tiếng Nguồn với tiếng Việt và các tiếng Mường khá chồng chéo và không nhất quán do vậy Hoàng Hữu Hoành đã xếp nhóm này thành 2 nhóm riêng biệt cùng với tiếng Nguồn là những nhóm chưa xác định được vị trí trong phân nhánh Việt-Mường

4 Trước 1945, người Thổ được coi là người Mường và không có định danh dân tộc riêng.Người Thổ có nhiều nhóm khác nhau, có các tên gọi khác như Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Pọng, Con Kha, Xá Lá Vàng

- Người Thổ nói tiếng Thổ, tiếng Cuối ngôn ngữ thuộc Ngữ chi Việt, nhưng có nhiều phương ngữ khác nhau

Dân tộc Thổ có chữ viết, ví dụ người Thổ hay gọi là người Cuối ở Nghệ An

- Người Thổ vẫn sử dụng tiếng nói, ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc mình ( điển hình là ví dụ em tìm được qua video của cộng đồng người Thổ) qua trang mạng Facebook

d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-th%E1%BB%95/1506374889465187/

https://www.facebook.com/quyhop24h/videos/giao-l%C6%B0u-ti%E1%BA%BFng Tiếng Thổ được theo nhóm địa phương gồm: Họ, Mọn, Lâm La, Kẹo, Đan Lai, Poong Theo kết quả khảo sát của Phan Lương Hùng – Trương Thị Hồng Gái năm 2018 cho thấy trạng thái song ngữ tiếng dân tộc Thổ và tiếng Việt là rất phổ biến tại Nghệ An và ngoại trừ tiếng

mẹ đẻ và tiếng Việt thì năng lực của những người cộng tác viên ( là người dân tộc Thổ tham gia đóng góp cho cuộc khảo sát) đối với từng ngôn ngữ trong vùng tỉ lệ thuận với dân số các dân tộc trên địa bàn và sự tương đồng giữa các thứ tiếng

Trang 6

- Họ sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong cuộc sống trong gia đình, trong thờ cúng là

nhiều nhất, bởi đó là trong bối cảnh giao tiếp đặc thù và thuần túy đồng tộc nên việc sử dụng

tiếng mẹ đẻ làm họ cảm thấy gần gũi, tự nhiên Với hành chính, ca hát, phát thanh, truyền hình…

họ không chuộng sử dụng tiếng dân tộc

- Trong trường học, bên cạnh những người Thổ muốn và có nguyện vọng theo con

đường bảo tồn tiếng dân tộc mình thì số khác lại phân vân, sợ làm ảnh hưởng đến tiến độ học các

bộ môn khác

Sơ đồ phân loại ngôn ngữ của dân tộc Thổ:

Hình ảnh tại Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Ngày đăng: 14/02/2023, 22:13

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w