1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích tác phẩm Tự tình

5 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tác phẩm Tự tình
Tác giả Hồ Xuân Hương
Trường học Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Bài phân tích
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 23,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự tình II Thơ là thư kí của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn thi sĩ Nó phản ánh cuộc sống của con người, xã hội, để qua đó người nghệ sĩ bộc bạch nỗi lòng mình Hay nói cách khác, mỗi bài thơ ch.

Trang 1

Tự tình II

Thơ là thư kí của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn thi sĩ Nó phản ánh cuộc sống của con người, xã hội, để qua đó người nghệ sĩ bộc bạch nỗi lòng mình Hay nói cách khác, mỗi bài thơ chính là tiếng hát của trái tim, được thể hiện như một hình thức nghệ thuật cao quý, tinh vi Trong những nhà thơ tiêu biểu như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Xuân Diệu… Hồ Xuân Hương nổi lên như một hiện tượng văn học độc đáo Được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”, Xuân Hương đem “tiêng lòng” của mình và những người phụ nữ xã hội xưa vào thi ca Bà có cuộc đời và tình duyên éo le, trắc trở nên đã mượn ngòi bút để cất lên tiếng nói thương cảm cho thân phận người phụ nữ Hồ Xuân Hương đã để lại cho văn học Việt Nam nhiều bài thơ giá trị như “Bánh trôi nước”, “mời trầu”… Tiêu biểu trong đó là “Tự tình II” Bài thơ

đã bộc lộ tâm trạng vừa buồn tủi vừa phẫn uất trước duyên phận éo le và khát vọng hạnh phúc trong tâm hồn nhà thơ

Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ có nhan sắc tài năng nhưng cuộc đời tình duyên nhiều éo le, ngang trái Sáng tác của bà khá phong phú gồm cả chữ Nôm và chữ Hán khoảng 40 bài Hồ Xuân Hương là một hiện tượng rất độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam: là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ với sự thương cảm sâu sắc, khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ Giọng thơ của Hồ Xuân Hương trào phúng

mà trữ tình đậm đà chất văn học dân gian từ đề tài cảm hứng đến ngôn ngữ hình tượng Bà từng được thi

sĩ Xuân Diệu tôn vinh là “Bà Chúa thơ Nôm” Bài thơ Tự Tình II nằm trong chùm thơ Tự tình gồm 3 bài Nhan đề “Tự tình” của bài thơ có nghĩa là bộc lộ tâm tình, tự nữ sĩ nói về tình cảnh, tâm trạng, nỗi lòng của mình Đây là tâm tình riêng của Hồ Xuân Hương nhưng cũng là nỗi lòng, nỗi niềm chung của một lớp phụ nữ bị xã hội chèn ép, bị chế độ phong kiến làm cho dang dở, lẻ loi Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng cái đặc sắc ở đây là tác giả không viết bằng chữ Hán mà là chữ Nôm Bà

đã “Việt hóa” thể thơ của người Hoa để bộc lộ suy nghĩ người Việt, tâm hồn người Việt Đúng như giáo

sư Lê Trí Viễn từng nói: “Dưới ngòi bút của Hồ Xuân Hương, Đường luật mất hẳn cốt cách quý tộc mà ngoan ngoãn cung hiên vần điệu cần xứng của mình cho và sử dụng theo ý muốn”. 

Mở đầu bài thơ là tâm sự cô đơn tủi hổ, bẽ bàng của người phụ nữ khi ý thức được tuổi xuân đã trôi qua mà tình duyên vẫn chưa trọn vẹn Hai câu đề đã mở ra thời gian và không gian nghệ thuật rất đặc biệt:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”

Đêm đã về khuya, là khi tác giả đang thao thức trong nỗi cô đơn, đợi chờ Nhiều tác giả cũng đã diễn tả tâm trạng, nỗi lòng của mình trong đêm như ca dao “Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt” hay người chinh phụ đang thương nhớ người chồng, Đêm khuya là lúc yên tĩnh, vắng lặng lúc vạn vận chìm trong giấc ngủ, đó lại cũng là lúc lòng người sâu lắng nhất, là lúc con người đối diện với chính bản thân mình, nhìn sâu vào cõi lòng, tâm hồn, nội tâm của mình Có lẽ lúc này Hồ Xuân Hương đang mang nặng tâm sự nên trằn trọc, thao thức, rối bời không ngủ được Ở đây, Xuân Hương đã khéo léo sử dụng bút pháp nghệ thuật quen thuộc của thi pháp cổ điển là lấy động tả tĩnh và nghệ thuật đảo ngữ “Trống canh dồn”, tiếng trống canh thôi thúc, gấp gáp, liên hồi thể hiện bước đi dồn dập của thời gian Tiếng trống của tâm trạng – tâm trạng rối bời vì thời gian trôi qua nhanh có nghĩa là tuổi xuân của nhà thơ cũng qua mau Cách cảm nhận bước đi của thời gian qua tiếng trống điểm canh là cách cảm nhận rất đỗi Á Đông Đó là thời gian tâm lí thấm đậm chất trữ tình

Ta đã cảm nhận được cái buồn man mác len lỏi trong từng câu chữ được gợi ra từ sự tĩnh lặng của đêm khuya Tiếng trống văng vẳng không quá gần mà lại nghe thấy cái nhịp “dồn” vội vàng , gấp gáp… Bởi,

đó là tiếng trống gợi sự bước đi của thời gian, gợi sự tàn phá và nó được nghe bằng tâm trạng của người phụ nữ mang tâm thức cô đơn, ám ảnh trước thời gian Không gian và thời gian đã được mở ra như thế, rất tài tình và tinh tế

Tình cảnh lẻ loi, sự bẽ bàng của nhân vật trữ tình được diễn tả một cách trực tiếp:

Trang 2

“Trơ cái hồng nhan với nước non”.

Với nhịp thơ 1/3/1/2 câu thơ mang âm hưởng nức nở, nghẹn ngào lại như đay nghiến, mỉa mai Thêm vào

đó là hai từ “hồng nhan” có nghĩa là má hồng, là từ Hán Việt trang trọng để chỉ sắc đẹp của người con gái, mà lại đi với từ “cái” bỗng trở nên thật rẻ rúng, mỉa mai, nhỏ nhoi, bèo bọt Đặc biệt, ý thơ ý thơ chỉ nói một vế “hồng nhan” nhưng vẫn làm nổi bật lên vế “bạc phận” đầy cay đắng, xót xa Cái hồng nhan

“trơ” ra được miêu tả trong tình cảnh trơ ra với nước non, với không gian, thời gian Phép đảo ngữ “trơ” đặt lên đầu câu kết hợp với phép đối giữa cái hồng nhan nhỏ bé với nước non mênh mông, rợn ngợp càng nhấn mạnh thêm sự cô độc, lẻ loi, trơ trọi Trơ ở đây không chỉ là sự cô lẻ mà còn là sự tủi hổ bẽ bàng của người phụ nữ khi ý thức được mình bị rẻ rúng, coi thường Tâm trạng này có sự đồng điệu với tâm trạng của Thúy Kiều khi bị bỏ rơi không chút đoái thương sau đêm động phòng với Mã Giám Sinh:

“Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ.”

Trong văn cảnh này, chữ “trơ” không chỉ là tủi hổ, bẽ bàng mà còn là sự bền gan, thách thức Giống như

bà Huyện Thanh Quan từng có câu:

“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.”

Như vậy ở đây ta thấy được bên cạnh nỗi đau Xuân Hương là bản lĩnh Xuân Hương mạnh mẽ, thách thức trước số phận

Trong hoàn cảnh tràn đầy nỗi niềm chua chát ấy, tác giả đành cất chén tiêu sầu giữa đêm khuya thanh vắng:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh”

Ở hai câu đề, nữ thi sĩ đã tái hiện cho chúng ta thấy một không gian vắng lặng lúc đêm khuya Trong thời khắc ấy, khi chủ thể trữ tình vẫn còn thao thức chưa ngủ ắt hẳn có điều gì trăn trở Như thách thức số phận, nhà thơ mượn rượu để quên đi nỗi sầu Uống rượu giải sầu là hành động thường làm khi rơi vào bế tắc, tuyệt vọng Câu thơ khiến ta hình dung về một người phụ nữ một mình trong đêm khuya nhấm nháp chén rượu như nhấm nháp từng dư vị đắng cay của cuộc đời Thế nhưng Hồ Xuân Hương chỉ cảm thấy hương rượu thoáng qua không đủ làm người say hay đó là hương tình nhạt nhẽo, lạnh lùng khiến con người rơi vào vòng luẩn quẩn, say lại tỉnh, tỉnh để thấm thía hơn nỗi đau về thân phận; bàng hoàng nhận

ra tình duyên chỉ là trò đùa của tạo hóa khi cái say sưa ngây ngất ban đầu chỉ thoáng qua nhanh như hương rượu chỉ còn lại sự cô độc, tủi hổ, bẽ bàng

Mong muốn chút niềm an ủi từ thiên nhiên, cảnh vật, tác giả cành nhận thức rõ bi kịch:

“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa ánh trăng và con người “Trăng bóng xế” là trăng hạ tuần, trăng cuối tháng, trăng muộn khi trời gần về sáng nên hao khuyết Cảnh tình của Xuân Hương được thể hiện qua hình ảnh thơ chứa đựng sự éo le: Trăng sắp tàn mà vẫn “khuyết chưa tròn”; tuổi xuân đã trôi qua mà tình duyên còn chưa trọn vẹn Hương rượu để lại vị đắng chát, hương tình thoảng qua để chỉ còn “phận hẩm duyên ôi” Sự đối lập giữa “say”-“tỉnh”, “khuyết”-“tròn” đã gợi lên cho người đọc cảm giác chông chênh, không xác định được ranh giới giữa không và có, say và tỉnh Bên cạnh

đó cách diễn đạt có vẻ trùng lặp “khuyết chưa tròn” nhấn mạnh tình cảnh lỡ làng, dang dở, hao hụt đồng thời cũng thể hiện khát vọng mãnh liệt về một ngày hạnh phúc sẽ tròn đầy, viên mãn Sâu thẳm trong nội tâm vẫn là lòng yêu đời yêu cuộc sống đến cháy bỏng của người phụ nữ

Từ hình ảnh “vầng trăng” nhà thơ bắt đầu chuyển sang mượn thiên nhiên để thể hiện sự phẫn uất, phản kháng mạnh mẽ trước cuộc đời và số phận:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám, Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.”

Trang 3

Hai câu thơ đặc sắc gợi ấn tượng mạnh về nghệ thuật và mang đậm phong cách Hồ Xuân Hương Âm hưởng câu thơ thay đổi trở nên mạnh mẽ, hùng hồn, dứt khoát Hai câu thơ sử dụng phép đối ngẫu rất chính trong từng từ, từng hình ảnh để tạo vẻ đẹp cân xứng, hài hòa Hai câu thơ tả cảnh được cảm nhận qua tâm trạng cũng như mang theo nỗi niềm phẫn uất của con người.Tthiên nhiên là những sự vật quen thuộc thường ngày nhưng nay lại trở nên rất sống động như đang cựa quậy, ngang bướng, phản kháng mạnh mẽ Trên mặt đất, rêu vốn mềm mại, nhỏ bé, yếu đuối cũng cố mọc xiên ngang Ngoài chân mây, đá vốn cứng cỏi, rắn chắc càng trở nên cứng nhọn như muốn đâm toạc cả chân mây Điều đó đã thể hiện một phong cách Xuân Hương, không chỉ phẫn uất mà còn phản kháng, không khuất phục trước số phận đau khổ, muốn vươn lên bằng chính sức sống mãnh liệt của mình Với tài năng sử dụng từ ngữ, hình ảnh mạnh mẽ, táo bạo, lấy cảnh ngụ tình, hai câu thơ đã gợi lên cảnh vật sinh động, đầy sức sống Đó cũng chính là cá tính, bản lĩnh và sức sống mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương

Ta từng bắt gặp Hồ Xuân Hương gai góc, ương ngạch dám chống lại cả một hệ tư tưởng phong kiến xưa

cũ Trong “Tự Tình I” nữ sĩ viết:

“Tài tử văn nhân ai đó tá?

Thân này đâu đã chịu già tom!”

Nữ sĩ cũng từng bênh vực một người phụ nữ không chồng mà chửa:

“Trải bao miệng thế lời chênh lệch Không có nhưng mà có mới ngoan.”

Đến cuối, nỗi thất vọng, chán chường khi trở lại thực tại đau xót: tuổi xuân đã trôi qua nhưng tình duyên

bị san se:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mối tình san sẻ tí con con.”

Đến hai câu kết, Hồ Xuân Hương đã bộc bạch hết nỗi cay đắng của đời người qua từ “ngán” “Ngán” là ngán ngẩm với nỗi đời éo le, với vòng xoáy của số phận Nữ sĩ ngán bởi lẽ xuân đi xuân lại lại Từ “xuân” này mang hai nghĩa, vừa là mùa xuân, vừa là tuổi xuân Với thiên nhiên thì mùa xuân có biến đổi tuần hoàn, đi rồi lại đến và mang theo sự sống tươi mới, căng tràn Nhưng, với con người thì tuổi xuân qua là tuyến tính, một đi không bao giờ trở lại Mỗi độ xuân về thì tuổi trẻ lại hao hụt, phôi phai, với bớt; thời gian để tận hưởng hạnh phúc, tình yêu cũng ngắn ngủi thêm Chính vì vậy mà nhân vật trữ tình ngán mỗi khi xuân đến Ẩn sâu trong tâm trạng này chính là sự trân trọng tuổi xuân, nuối tiếc từng khoảnh khắc, giây phút của tuổi trẻ

Về sau trong thơ mới, thi sĩ Xuân Diệu cũng từng bị ám ảnh với sự trôi chảy của thời gian như thế:

“Nói làm chi rằng Xuân vẫn tuần hoàn!

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.”

Thủ pháp nghệ thuật tăng tiến, nhấn mạnh vào sự nhỏ bé, ít ỏi đến xót xa, tội nghiệp, làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn “Mảnh tình” đã bé lại phải “san sẻ” khiến tình duyên vốn đã nhạt nhẽo, mỏng manh lại bị chia năm sẻ bảy thành ra ít ỏi, chỉ còn “tí con con” Câu thơ kết thúc trong nỗi xót xa, mỉa mai đến tội nghiệp của “cái hồng nhan” trong xã hội phong kiến xưa Câu thơ có lẽ được viết ra từ tâm trạng của một người mang thân đi làm lẽ, chịu cảnh chung chồng Tình cảnh ấy Hồ Xuân Hương đã có lần đay nghiến:

“Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”.

Trang 4

Câu thơ không chỉ là tâm trạng riêng của Hồ Xuân Hương mà còn là nỗi niềm chung của một lớp phụ nữ thời bấy giờ, khi với họ hạnh phúc luôn là chiếc chăn quá hẹp Câu thơ gián tiếp lên án xã hội nam quyền Thật sắc đáng khi có ý kiến cho rằng: Với tự tình, Hồ Xuân Hương đã đi trước thời đại để đấu tranh cho chế độ hôn nhân một vợ một chồng Vì vậy, ý nghĩa nhân văn của bài thơ càng sâu sắc, thấm thía hơn Trái tim Xuân Hương đã thức giấc để đập nhịp cùng những tâm hồn của người phụ nữ Hồ Xuân Hương đối với văn học là quá khứ, nhưng bài học và những cảm xúc mà bà mang lại cho thế hệ ngày nay vẫn tồn tại, hiện hữu Đó là bài học về sự vượt qua khó khăn, chiến thắng đau khổ Cuộc đời nữ sĩ Xuân Hương đã hai lần chồng và đều thất bại, nhưng trong tim bà vẫn giữ nguyên nhịp đập hy vọng về hạnh phúc và tình yêu

Tự tình II là bài thơ tự than thân, tự bộc lộ, tự bày tỏ nỗi lòng của người phụ nữ lận đận tình duyên nhưng luôn khao khát có được một tình yêu trọn vẹn, xứng đáng với tấm chân tình của mình Đặc sắc trong bút pháp của nữ sĩ cho thấy tài năng thi ca của tâm hồn, với việc sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh, thủ pháp tả cảnh ngụ tình, dùng động từ mạnh kết hợp với đảo ngữ và các từ láy càng làng cho bài thơ trở nên sâu sắc, thấm đẫm cái ý cái tình của người phụ nữ

Những hình ảnh giản dị với tâm trạng uất ức, xót xa cho số phận hẩm hiu và cũng là bi kịch, khát vọng hạnh phúc của Xuân Hương nói riêng hay chính người phụ nữ phong kiến nói chung Bài thơ đã truyền tải ý nghĩa nhân văn sâu sắc: Dù sống trong hoàn cảnh cay nghiệt nhưng con người vẫn cố gắng vươn lên, thay đổi số phận, mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn Tự tình II mà Hồ Xuân Hương để lại

sẽ vẫn có giá trị đến muôn đời Quả thật, Xuân Hương rất xứng đáng với danh xưng “Bà chúa thơ Nôm” khi đã để lại cho đời những áng văn bất hủ

Ngày đăng: 14/02/2023, 21:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w