chng I nh÷ng vÊn ®Ò lý luËn chung vÒ ®Çu t trùc tiÕp níc ngoµi Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp LỜI MỞ ĐẦU Sự mở cửa hội nhập toàn cầu trong lĩnh vực kinh tế ,đặc biệt khi nước ta đã trở thành thành v[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sự mở cửa hội nhập toàn cầu trong lĩnh vực kinh tế ,đặc biệt khi nước
ta đã trở thành thành viên chính thức của WTO đã đem lại nhà nước không
ít những thuận lợi ,vận hội mới ,thời cơ mới Tuy nhiên bên cạnh nhữngthuận lợi đó cũng ẩn chứa không ít những khó khăn mà nước ta gặpphải Một trong những khó khăn mà nước ta đang phải đối mặt đó là sự cạnhtranh trong lĩnh vực kinh tế, nhất là các doanh nghiệp Việt Nam Bởi vậynhững doanh nghiệp Việt Nam muốn tồn tại và phát triển phải luôn đổi mới
về quy mô hoạt động ,hình thức tổ chức ,công nghệ kinh doanh để nâng caosức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Trong các đối tác hợp tác quốc tế của Việt Nam thì Asean là một đốitác quan trọng, các nước Asean đã đầu tư vào Việt Nam từ những ngày đầusau khi luật đầu tư nước ngoài ra đời (1987) và ngày càng tăng về số lượng
về vốn đầu tư và quy mô dự án với sự hội nhập của Việt Nam và khu vực
và tham gia kí khung hiệp định về đầu tư Asean thì triển vọng , mức độ ảnhhưởng của các nước Asean là rất lớn và có tính chiến lược lâu dài Trướctình hình đó việc nghiên cứu tìm hiểu về đất nước Asean phân tích nhữngthành công và những trở ngại để đưa ra những chính sách góp phần tích cựcvào việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Asean Chính vì thế em mạnh dạm
viết chuyên đề về đề tài: Tổng quan chung về hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN và giải pháp thúc đẩy Việt Nam – ASEAN
Bản chuyên đề được hoàn thành là nhờ sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tìnhcủa CBCNV trong viện kinh tế và chính trị thế giới đặt biệt là cô THS.Nguyễn Thị Thúy Hồng Đã dành nhiều thời gian chỉ bảo, định hướng cho
em để bản chuyên đề của em có thể hoàn thành đúng hạn
Hà Nội, tháng 05 năm 2009
Sinh viên thực tậpChu Minh Hoàng
Trang 2KẾT CẤU CHUYÊN ĐỀ
Phần I Những vấn đề lý luận chung của các nước ASEAN vào ViệtNam
Phần II Kinh tế mốt số nước ASEAN
Phần III Các giải pháp nhằm thu hút FDI của các nước ASEAN vàoViệt Nam
Trước khi vào bài viết này em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướngdẫn ThS Nguyễn Thị Thuý Hồng đã tận tình hướng dẫn em hoàn thànhchuyên đề tốt nghiệp
Trang 3
Ch ương I TỔNG QUAN CHUNG VỀ ASEAN
1 Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN
ASEAN (The Association of South East Asian Nations – HiÖp héi c¸cquèc gia §«ng Nam ¸) được thành lập ngày 8-8-1967 gåm 5 nước thành viên:Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore và Thái lan Bối cảnh lịch sử lúc
đó là cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đang phát triểnđến mức cao độ đẩy Mỹ vào thế ngày càng thất bại nậng nề, sau Tết Mậuthân phải từng bước xuống thang chiến tranh, chuyển sang chiến lược ViệtNam hoá Điều đó đã đặt các nước Đông Nam Á phải đối mặt với nhữngthách thức mới về chính trị, kinh tế trước sức ép bên trong và bên ngoài.Trong bối cảnh đó, nhu cầu tập hợp nhau dưới hình thức một tổ chức để đốiphó với những thách thức mới là có thực và quan trọng hơn bao giờ hết.Ngoài 5 nước sáng lập, năm 1984, sau khi thoát khỏi chế độ thuộc địa củaAnh, Brunei Darussalam đã trở thành thành viên thứ 6 của tổ chức này vào8-1-1984 Đến ngày 28-7-1995, Việt Nam được kết nạp vào ASEAN và sau
đó 2 năm, ngày 24-07-1997, Myanma và Lào đã trở thành thành viên thứ 8
và thứ 9 Cuối cùng vào đúng ngày 30-04 - ngày thống nhất đất nước củaViệt Nam, tại Hà Nội, trong Hội nghị Bộ trưởng của các nước ASEAN đãkết nạp Cămpuchia làm thành viên thứ 10 của ASEAN Thuật ngữ “ASEAN10” đã được dùng phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, từ năm 1999, ĐôngTimo đã được tách ra từ Inđônêxia, vì vậy có thể coi ASEAN hiện nay có 11thành viên
Các nước ASEAN đều nằm ở khu vực Đông Nam Á, trừ Lào, đều tiếpxúc với biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, thuận lợi cho giao thươngquốc tế và phát triển du lịch Diện tích của các nước ASEAN là 4.604.866km2, chiếm trên 3% diện tích thế giới Đông Nam Á là một trong những khuvực giàu có tài nguyên thiên nhiên như: Dầu mỏ, khí đốt tập trung ởInđônêxia, Brunei, Việt Nam; thiếc trữ lượng lớn tập trung ở Malaixia, Thái
Trang 4Lan, Inđônêxia; đồng có nhiều ở Philippin; vàng tập trung ở Philippin vàInđônêxia…
Với diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 30% tổng diện tích tự nhiên, khíhậu nóng ẩm quanh năm, ASEAN là một vùng có nhiều tiềm năng phát triểnnông nghiệp, nhất là trồng cây nhiệt đới như lúa gạo, cao su thiên nhiên, càphê, hạt tiêu, hạt điều, cọ dầu… Thái Lan và Việt Nam đứng thứ nhất thứnhì thế giới về xuất khẩu gạo; Inđônêxia và Việt Nam là 2 trong 4 nước xuấtkhẩu cà phê lớn nhất thế giới Về lâm nghiệp, các nước ASEAN có tiềmnăng lớn về rừng với nhiều loại gỗ quý, dược liệu và các loài thú quý hiếm
Về ngư nghiệp, với vị trí gần biển và hệ thống sông, ngòi kênh rạch chằngchịt, các nước ASEAN có nhiều tiềm năng về khai thác, nuôi trồng thuỷ sản:Philippin có trữ lượng cá đứng thứ 11 trên thế giới; Thái Lan là 1 trong 10nước xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới
Trong thập kỷ 90, ASEAN nổi lên như là một tổ chức tiểu khu vựchoạt động năng nổ và hữu hiệu, tuy nhiên cuộc khủng hoảng kinh tế – tàichính từ giữa năm 1997 đang đặt ra một số thách thức lớn đối với ASEAN Khu vực ASEAN có 500 triệu dân, diện tích rộng 4,5 triệu km2, tổng GDP
là 737 tỉ USD và tổng kim ngạch ngoại thương là 720 tỉ USD (2001)
Kể từ trước khi chính thức gia nhập với tư cách thành viên đầy đủ năm 1995tại Hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN tại Brunei, Việt Nam đã đượcmời tham dự các cuộc họp hàng năm của ngoại trưởng các nước ASEAN tạiSingapore (1993) và Thái Lan (1994) cũng như một số cuộc họp khác củaASEAN Từ đầu năm 1994, Việt Nam được mời tham gia vào một số dự ánhợp tác chuyên ngành của ASEAN trên 5 lĩnh vực đã được hai bên thoảthuận: khoa học kỹ thuật, văn hoá thông tin, môi trường, y tế và du lịch.Hiện nay Việt Nam đã tham gia hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động của ASEANvới tư cách thành viên đầy đủ Việt Nam tham gia Khu Mậu Dịch Tự Do
ASEAN từ năm 1996 , cao ký bản tuyên bố ASEAN (còn gọi là Tuyên bố
Trang 5Bangkok) Hiện nay tổ chức này có 10 hội viên bao gồm 5 nước hội viên nguyên thuỷ và 5 hội viên gia nhập sau này là
1 Cơ cấu tổ chức của ASEAN
Cơ cấu tổ chức hiện nay của ASEAN là kết quả của một quá trình hoàn thiện từng bước, song song với việc phát triển của tổ chức ASEAN trong gần 30 năm qua
Khi mới thành lập vào năm 1967, bộ máy ASEAN còn rất giản đơn, bao gồm 4 đầu mối/cơ chế chủ yếu: Hội nghị hàng năm của các Bộ trưởng Ngoạigiao ASEAN (AMM), một Uỷ ban thường trực ASEAN (ASC) để điều phối các công việc thường nhật của ASEAN giữa các Hội nghị AMM Các Uỷ ban chuyên trách và các Uỷ ban thường trực gồm các chuyên gia và quan chức trên các lĩnh vực cụ thể và Ban thư ký Quốc gia ở mỗi nước thành viên
để thay mặt nước mình thực hiện các công việc cuả Hiệp hội và phục vụ các cuộc họp của ASEAN
Sau một quá trình hoàn thiện, với mốc quan trọng nhất là các quyếtđịnh của 4 Hội nghị Cấp cao ASEAN các năm 1976, 1977, 1987 và đặc biệt
là vào 1992, cơ cấu tổ chức chung của ASEAN cũng như chức năng của
từng bộ phận đã từng bước được hình thành và củng cố Cơ cấu tổ chức của ASEAN hiện nay như sau:
Các cơ quan hoạch định chính sách
Hội nghị những người đứng đầu Nhà nước/chính phủ ASEAN (ASEAN Summit)
Còn gọi là Hội nghị Cấp cao ASEAN và là cơ quan quyền lực caonhất của ASEAN Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 họp tại Xing-ga-ponăm 1992 quyết định những Người đứng đầu chính phủ ASEAN họp chínhthức 3 năm một lần và họp không chính thức ít nhất 1 lần trong khoảng thờigian 3 năm đó để đề ra phương hướng và chính sách chung cho hoạt độngcủa ASEAN và đưa ra quyết định về các vấn đề lớn Từ sau Cấp cao
Trang 6ASEAN lần thứ 5, giữa các cuộc họp Cấp cao chính thức 3 năm một lần,hàng năm đều họp Cấp cao không chính thức.
Hội nghị Bộ trưởng ASEAN (ASEAN Ministerial AMM)
Meeting-Theo Tuyên bố Băng cốc năm 1967, AMM là hội nghị hàng năm của các Bộtrưởng Ngoại giao ASEAN có trách nhiệm đề ra và phối hợp các hoạt động của ASEAN
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 2 tại Kua-la Lăm-pơ năm 1977,
những người đứng đầu chính phủ ASEAN nhất trí rằng các Bộ trưởng liên quan có thể tham dự AMM khi cần thiết AMM và AEM có trách nhiệm báocáo chung lên những Người đứng đầu chính phủ ASEAN tại Hội nghị Cấp cao ASEAN
Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Ministers-AEM)
AEM được thể chế hoá tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 2 năm
1977 tại Kua-la Lăm -pơ (Ma-lai-xi-a) Cũng như AMM, AEM họp chínhthức hàng năm Ngoài ra AEM có thể họp không chính thức khi cần thiếtnhằm chỉ đạo các mật hợp tác kinh tế trong ASEAN AEM có trách nhiệmphải báo cáo công việc lên cho những Người đứng đầu Chính phủ ASEANtại các Hội nghị Cấp cao
Trong AEM có Hội đồng AFTA (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ) đượcthành lập theo quyết định của Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 năm 1992tại Xing-ga-po để theo dõi, phối hợp và báo cáo việc thực hiện chương trình
ưu đãi quan thuế có hiệu lực chung (CEPT) của AFTA
Hội nghị Bộ trưởng các ngành:
Trong những thập kỷ đầu, Hội nghị Bộ trưởng của một ngành tronghợp tác kinh tế ASEAN sẽ được tổ chức khi cần thiết để thảo luận sự hợp táctrong ngành cụ thể đó Đến nay, ASEAN đã chính thức có cơ chế Hội nghị
Bộ trưởng tài chính (AFMM) và Hội nghị Bộ trưởng Giao thông vận tải
Trang 7(ATM) và các hội nghị Bộ trưởng năng lượng, Khoa học công nghệ và môitrường, Lao động, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Lâm nghiệp, v.v
Các hội nghị cấp Bộ trưởng hoặc tương đương khác
Trên một số lĩnh vực hợp tác ASEAN khác như y tế, phúc lợi xã hội,giáo dục, luật pháp, đầu tư, du lịch có thể tiến hành các Hội nghị cấp Bộtrưởng hoặc người đứng đầu của các Ngành khi cần thiết để điều hành cácchương trình hợp tác trong các lĩnh vực này
Hội nghị liên tịch các Bộ trưởng (Join ministerial JMM)
meeting-JMM được thành lập tại Hội nghị Cấp cao lần thứ 3 ở Ma-ni-la, 1987 Hội nghị liên tịch các Bộ trưởng được tổ chức khi cần thiết để thúc đẩy sự hợp tác giữa các nganhf và trao đổi ý kiến về hoạt động của ASEAN JMM bao gồm các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng kinh tế ASEAN , dưới sự đồng chủ tịch của Chủ tịch AMM và Chủ tịch AEM JMM có thể được triệu tập theo yêu cầu của Bộ trưởng Ngoại giao hoặc của Bộ trưởng kinh tế JMM được triệu tập lần đầu tiên tại Ku-ching (Ma-lai-xi-a) 2/1991 để trao đổi ý kiến về vai trò của ASEAN trong APEC
Gần đây, còn có thêm hình thức JMM giữa các Bộ trưởng Ngoại giao, kinh
tế và Tài chính
Tổng thư ký ASEAN
Được những Người đứng đầu Chính phủ ASEAN bổ nhiệm theo khuyến nghị của Hội nghị AMM với nhiệm kỳ là 3 năm và có thể gia hạn thêm, nhưng không quá một nhiệm kỳ nữa
Tổng thư ký ASEAN có hàm Bộ trưởng với quyền hạn lớn hơn theo quyết định của Hội nghị Cấp cao ASEAN 1992: khởi xướng, khuyến nghị và phối hợp các hoạt động của ASEAN , nhằm giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động và hợp tác của ASEAN
Tổng thư ký ASEAN chịu trách nhiệm trước Hội nghị Cấp cao ASEAN;
Trang 8thường trực ASEAN giữa các kỳ họp Tổng thư ký ASEAN , cũng chủ toạ các cuộc họp của ASC thay cho Chủ tịch ASC trừ phiên họp đầu tiên và cuối cùng Tổng thư ký được tham dự các cuộc họp Tư vấn chung (Joint Consultative Meeting-JCM) với các quan chức cao cấp ASEAN và các Tổnggiám đốc ASEAN ; và thông báo kết quả các kỳ họp liên Hội nghị AMM và AEM.
Cuộc họp các quan chức cao cấp ( Senior Officials SOM)
Meeting-SOM được chính thức coi là một bộ phận của cơ cấu trong ASEANtại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 3 tại Ma-ni-la 1987 SOM chịu tráchnhiệm về hợp tác chính trị ASEAN và họp khi cần thiết; báo cáo trực tiếpcho AMM
Cuộc họp các quan chức kinh tế cao cấp (Senior EconomicOfficials Meeting-SEOM)
SEOM cũng đã được thể chế hoá chính thức thành một bộ phận của
cơ cấu ASEAN tại Hội nghị Cấp cao Ma-ni-la 1987 Tại Hội nghị Cấp caoASEAN 4 năm 1992, 5 uỷ ban kinh tế ASEAN đã bị giải tán và SEOM đượcgiao nhiệm vụ theo dõi tất cả các hoạt động trong hợp tác kinh tế ASEAN SEOM họp thường kỳ và báo cáo trực tiếp cho AEM
Cuộc họp các quan chức cao cấp khác
Ngoài ra có các cuộc họp các quan chức cao cấp về tài chính, giaothông vận tải, môi trường, ma tuý cũng như của các uỷ ban chuyên ngànhASEAN như phát triển xã hội, khoa học và công nghệ, các vấn đề côngchức, văn hoá và thông tin Các cuộc họp này báo cáo cho ASC và Hội nghịcác Bộ trưởng liên quan
Cuộc họp tư vấn chung (Joint Consultative Meeting-JCM)
Cơ chế họp JCM được lập ra theo quyết định của Hội nghị Cấp caoASEAN năm 1987 tại Manila JCM bao gồm Tổng thư ký ASEAN , SOM,SEOM, các Tổng giám đốc ASEAN JCM được triệu tập khi cần thiết dưới
Trang 9sự chủ toạ của Tổng thư ký ASEAN để thúc đẩy sự phối hợp giữa các quanchức liên ngành Tổng thư ký ASEAN sau đó thông báo kết quả trực tiếpcho AMM và
1.2 Các uỷ ban của ASEAN
Uỷ ban thường trực ASEAN ( ASEAN Standing committee-ASC)
ASC bao gồm chủ tịch là Bộ trưởng ngoại giao của nước đăng cai Hộinghị AMM sắp tới, Tổng thư ký ASEAN và tổng Giám đốc của các Ban thư
ký ASEAN quốc gia ASC thực hiện công việc của AMM trong thời giangiữa 2 kỳ họp và báo cáo trực tiếp cho AMM ASC cũng xem xét các đềnghị về chương trình hợp tác SEOM và 5 uỷ ban hợp tác chuyên ngành nêu
ra, và thông qua các nước thành viên ASAN là điều phối viên chuyển chocác nước đối thoại hoặc các tổ chức quốc tế đa phương để tìm vốn tài trợcho những đề nghị được coi là có triển vọng nhất
Các uỷ ban hợp tác chuyên ngành
Hiện nay có 6 uỷ ban hợp tác chuyên ngành hay còn gọi là uỷ ban phikinh tế (non - economic Committees) về các lĩnh vực khoa học và côngnghệ, văn hoá và thông tin, môi trường, phát triển xã hội, kiểm soát ma tuý
và các vấn đề về công chức Các uỷ ban này xem xét và kiến nghị nhữngvấn đề liên quan đến hợp tác của ASEAN về việc triển khai, chuyển giaocông nghệ và nghiên cứu trên lĩnh vực cụ thể mà uỷ ban phụ trách Chủ tịchcủa uỷ ban được luân phiên giữa các nước thành viên Mỗi uỷ ban đều lập racác tiểu ban hoặc nhóm làm việc phụ trách các phần việc cụ thể
1.3 Các ban thư ký ASEAN
Ban thư ký ASEAN
Ban thư ký ASEAN được thành lập theo Hiệp định ký tại Hội nghịCấp cao lần thứ hai Ba-li, 1976 để tăng cường phối hợp thực hiện các chínhsách, chương trình và các hoạt động giữa các bộ phận khác nhau trong
Trang 10tăng cường Ban thư ký ASEAN để nó có thể thực hiện hữu hiệu hơn cáchoạt động của ASEAN Theo thoả thuận, Ban thư ký ASEAN sẽ có một cơcấu mới và chức năng, trách nhiệm rộng lớn hơn trong việc đề xuất, khuyếnnghị, phối hợp và thực hiện các hoạt động của ASEAN; chuẩn bị kế hoạch,chương trình, phối hợp, thống nhất và quản lý tất cả những hoạt động hợptác đã được thông qua; phối hợp tiến hành các cuộc đối thoại của ASEANvới các tổ chức quốc tế và khu vực cũng như đối với bất cứ bên đối thoạiđược phân công, và quản lý các quỹ hợp tác của ASEAN.
Ban thư ký ASEAN quốc gia
Mỗi nước thành viên ASEAN đều có Ban thư ký quốc gia đặt trong
bộ máy của Bộ Ngoại giao để tổ chức, thực hiện và theo dõi các hoạt độngliên quan đến ASEAN của nước mình Ban thư ký quốc gia do một Tổng Vụtrưởng phụ trách
1.4 Các cơ chế hợp tác với các nước thứ ba
- Hội nghị sau hội nghị Bộ trưởng (PCM) là hội nghị được tiến hànhngay sau hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với thành phần tham dựgồm các ngoại trưởng ASEAN và ngoại trưởng của 10 nước đối thoại ( Mỹ,Nhật Bản, Canađa, Ôxtrâynia, Niu Dilân, Liên minh Châu Âu, Hàn Quốc,Nga, Trung Quốc và Ấn Độ)
- ASEAN có 11 Bên đối thoại: Ô-xtrây-lia, Ca-na-đa, EU, Nhật bản,Hàn quốc, Niu-Di-lân, Mỹ và UNDP, Nga, Trung Quốc, Ấn độ ASEANcũng có quan hệ đối thoại theo từng lĩnh vực với Pa-kis-tan
Các nước đội thoại là những nước đối tác quan trọng nhất củaASEAN Những vấn đề quan tâm chung của ASEAN và các bên đối thoại lànhững vấn đề về thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ, tài trợ cho các
dư án hợp tác, cải thiện các phương tiện vận tải và liên lạc, phát triển nguồnnhân lực và đào tạo cán bộ Mỗi nước ASEAN được phân công làm “NướcĐiều phối viên” chịu trách nhiệm phối hợp và quản lý các mối quan hệ vớitừng bên đối thoại
Trang 11Hội nghị các nước ASEAN và bên đối thoại được triệu tập dưới sựđồng ý của chủ tịch quan chức cấp cao của nước điều phối và nước đốithoại Kết quả cuộc họp được nước điều phối báo cáo cho ASC.
- Uỷ ban ASEAN ở các nước thứ ba
Nhằm mục đích tăng cường trao đổi và thúc đẩy mối quan hệ giữaASEAN với bên đối thoại đó và các tổ chức quốc tế ASEAN thành lập các
uỷ ban tại các nước đối thoại Uỷ ban này gồm những người đứng đầu các
cơ quan ngoại giao của các nước ASEAN tại nước sở tại Hiện có 11 Uỷ banASEAN tại: Bon (CHLB Đức), Bruxen (Bỉ), Canbera (Ô-xtrây-li-a),Giơnevơ (Thuỵ Sĩ), London (Anh), Ôttaoa (Ca-na-da), Pa-ri (Pháp), Xơ-un(Hàn quốc), Oa-sing-tơn (Mỹ) và Oen-ling-tơn (Niu-di-lân) Chủ tịch các uỷban này báo cáo cho ASC và nhận chỉ thị từ ASC
2 Một số nguyên tắc hoạt động chính
Sau ba thập kỷ tồn tại và phát triển, các nước thành viên ASEAN đãtừng bước cùng xây dựng và khẳng định các nguyên tắc chính làm cơ sở choquan hệ trong nội bộ các nước thành viên và giữa các nước này với các nướckhác trong và ngoài khu vực Những nguyên tắc đó đã được phản ánh trongnhiều văn kiện được ASEAN thông qua, trong đó nổi bật là các nguyên tắcsau:
2.1 Các nguyên tắc nền tảng cho quan hệ giữa các quốc gia thànhviên và với bên ngoài
Trong quan hệ với nhau, các nước ASEAN luôn tuân theo 5 nguyên tắcchính đã được nêu trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á(Hiệp ước Bali), ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ I tại Bali năm
1976, là:
Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ
và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc;
Trang 12 Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộcmình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bênngoài;
Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình,thân thiện;
Không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực;
Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả
2.2 Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội
2.1 Việc quyết định các chính sách hợp tác quan trọng cũngnhư trong các lĩnh vực quan trọng của ASEAN dựa trên nguyêntắc nhất trí, tức là một quyết định chỉ được coi là của ASEANkhi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua Nguyêntắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài, nhưng bảođảm được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nướcthành viên Đây là một nguyên tắc bao trùm trong các cuộc họp
và hoạt động của ASEAN
2.2 Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của
ASEAN là nguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc này thể hiện trên
2 mặt Thứ nhất, các nước ASEAN, không kể lớn hay nhỏ, giàunghèo đều bình đẳng với nahu trong nghĩa vụ đóng góp cũngnhư chia sẻ quyền lợi Thứ hai, hoạt động của tổ chức ASEANđược duy trì trên cơ sở luân phiên, tức là các chức chủ tọa cáccuộc họp của ASEAN từ cấp chuyên viên đến cấp cao, cũngnhư địa điểm cho các cuộc họp đó được phân đều cho các nướcthành viên trên cơ sở luân phiên theo vần A, B, C của tiếngAnh
Trang 13 2.3 Để tạo thuận lợi và đẩy nhanh các chương trình hợp tác
kinh tế ASEAN, trong Hiệp định khung về tăng cường hợp táckinh tế ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Xinhgapotháng 2/1992, các nước ASEAN đã thoả thuận nguyên tắc 6-X,theo đó hai hay một số nước thành viên ASEAN có thể xúc tiếnthực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nước còn lại chưasẵn sàng tham gia, không cần phải đợi tất cả mới cùng thựchiện
2.3 Các nguyên tắc khác
Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một
số các nguyên tắc, tuy không thành văn bản, không chính thức, song mọingười đều hiểu và tôn trọng áp dụng như: nguyên tắc có đi có lại, không đốiđầu, thân thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí, giữ gìn đoànkết ASEAN và giữ bản sắc chung của Hiệp hội
3 ASEAN và Việt Nam
Với 40 năm phát triển ngày càng vững mạnh, Hiệp hội đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể trong các hoạt động của mình Không những làmcho mỗi nước thành viên trong Hiệp hội phát triển tốt hơn mà ASEAN cònđược đánh giá là khu vực phát triển năng động trên thế giới Tuy nhiên trêncon đường đi đến những thành công đó, không phải là không vấp phảinhững khó khăn và những kết quả nhiều khi không như mong muốn Trướchết phải nói đến đó là việc các nước thành viên còn nghĩ nhiều đến quyền lợiriêng, ít quan tâm đến lợi ích chung của ASEAN Vì vậy mà chúng ta cầnphải chỉ cho họ thấy rằng ủng hộ ASEAN là rất có lợi, ASEAN sẵn sàng tìmmọi cách vì lợi ích của mọi thành viên
Khó khăn thứ hai, đó là sự cạnh tranh Chúng ta đã nói nhiều đến điềunày, thảo luận trong các chương trình nghị sự Ví dụ, chúng ta có thể làm 1đôi giày với giá là 5 USD, trong khi đó, ở các nước khác phải mất 8 USD.Chúng ta có thể cạnh tranh bằng cách giảm giá Nếu bạn sản xuất giày ở
Trang 14Việt Nam, bạn có thể xuất khẩu sang các nước ASEAN khác như:Campuchia, Lào và Thái Lan… Gần đây, chúng ta biết rằng, các nhà sảnxuất hàng dệt may và quần áo đã đến các nước Trung Đông và Ai Cập đểsản xuất quần bò và áo khoác Như vậy là các nước Đông Nam Á đang mấtdần đi sự cạnh tranh
Khó khăn thứ ba, đó là sự hợp tác giữa các nước ASEAN Điều này làrất quan trọng vì nó có thể làm cho ASEAN mạnh lên và tốt lên Để ASEANvượt qua được khó khăn và thử thách nêu trên, chúng ta đang xây dựng vàthực hiện Hiến chương ASEAN Các nước ASEAN sẽ xây dựng một thịtrường thống nhất và thực hiện hợp tác trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội.Hiến chương ASEAN sẽ như một quy định chung và các nước thành viêncần phải thực hiện theo quy định đó
Cùng với những tồn tại đó còn có nhiều thành tựu to lớn mà ASEAN đã đạtđược, trong đó Việt Nam cũng có một vai trò khá quan trọng trong việc xâydựng khối ASEAN phát triển thịnh vượng và vững chắc như ngày nay.ViệtNam đã giúp ASEAN xây dựng những quy định chung, tích cực tham giavào tất cả các hội nghị và có những đóng góp rất lớn vào những quyết địnhchung của khối ASEAN
Việt Nam đã tham gia ASEAN tròn 12 năm Phát huy vai trò và vị thế
đã được khẳng định trong 12 năm qua, Đoàn Việt Nam đã chủ động thamgia tích cực và có những đóng góp thực chất vào các vấn đề lớn của Hộinghị, có ý nghĩa quan trọng đối với tương lai phát triển của ASEAN Thêmvào đó, Việt Nam còn là một cầu nối hữu hiệu cho ASEAN thâm nhập vàoTrung Quốc - nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới
Việt Nam đã kiên trì thúc đẩy việc triển khai thực hiện các chươngtrình và kế hoạch hành động chính của ASEAN nhằm hình thành Cộng đồngASEAN, thu hẹp khoảng cách phát triển và xóa đói giảm nghèo, cũng nhưduy trì vai trò chủ đạo của ASEAN trong các tiến trình khu vực do ASEANkhởi xướng
Trang 15Việt Nam ngày nay là một thành viên không thể tách rời của ASEANvới những đóng góp có hiệu quả và thiết thực vào các sang kiến và chươngtrình của ASEAN Đặc biệt, Việt Nam đi đầu trong trong lĩnh vực cải cáchchính sách và kinh tế trong số các nước thành viên mới của Hiệp hội ở khuvực Đông Dương Thêm nữa, Việt Nam còn có vai trò quan trọng trong việchoạch định định hướng tương lai của ASEAN không kém gì các nước sanglập tổ chức này ban đầu
Việt Nam đã hoàn thành vai trò là nước điều phối viên cho sự hội nhập củangành hậu cần trong Hiệp hội, mà cốt lõi của nó là Chiến lược hội nhập củangành này sẽ được ký tại Hội Nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 39được tổ chức tại Manila, Philippines Tiếp đó, Việt Nam là nước điều phốiquan hệ kinh tế giữa ASEAN và Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam đóngvai trò chính trong Nhóm tầm nhìn ASEAN-EU, thông qua việc đưa ra cáckhuyến nghị nhằm thiết lập một đối tác kinh tế toàn diện ASEAN và EU,trong đó có Khu vực thương mại tự do ASEAN-EU (FTA) Ba tháng trướcđây, các bộ trưởng kinh tế ASEAN và Cao uỷ thương mại EU đã đồng ý tiếnhành các vòng thương thảo về khu vực tự do này, và Việt Nam được cử làmđồng chủ tịch phía ASEAN trong liên Uỷ ban ASEAN-EU về FTA
Ngoài những đóng góp tích cực trong quá trình xây dựng những điềukhoản cụ thể của Hiến chương ASEAN, đoàn Việt Nam cũng chủ động thúcđẩy những vấn đề Việt Nam quan tâm như thực hiện Sáng kiến Liên kếtASEAN (IAI) về thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN, thúc đẩythực hiện Tuyên bố của các bên liên quan ở Biển Đông (DOC).Trong hợp tác giữa ASEAN và các bên Đối thoại, Việt Nam cùng với cácnước ASEAN thúc đẩy nhiều biện pháp nhằm mở rộng và làm sâu sắc hơnnữa quan hệ đối ngoại của ASEAN thông qua các cơ chế và diễn đàn nhưASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á, Diễn đàn Khu vực ASEAN
Trang 16Phần II.
KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ASEAN
1 Lịch sử hình thành
Theo sử sách Thái Lan, người Thái xuất xứ từ vùng núi An-Tai,đông bắc tỉnh, Tứ Xuyên Trung Quốc từ 4500 năm trước, sau đó di cư dầnxuống vùng đất hiện nay là Thái Lan Vào năm 1238, người Thái thành lậpvương quốc Phật giáo Sukhothai (hiện ở miền Bắc Thái Lan), dần thay thếvai trò của Đế chế Khmer đang tàn lụi (vào thế kỷ 13 – thế kỷ 15)
Năm 1283 người Thái có chữ viết Sau đó người Thái mở rộng lãnhthổ xuống phía nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya (phíabắc Bangkok 70 km) Năm 1431, quân Xiêm cướp phá Angkor Nhiều bảovật và trang phục của văn hóa Hindu đã được họ đem về Ayutthaya, lễ nghi
và cách ăn mặc của người Khmer được dung nhập vào thượng tầng văn hóaXiêm
Hơn 400 năm người Thái tiến hành chiến tranh liên miên với MiếnĐiện và kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt Năm1767, một tướng người Thái gốcHoa, Taksin, đứng lên chống quân Miến Điện giành lại độc lập và dời đô vềThonburi, bên bờ sông Chao Phaya, đối diện với Bangkok Vua Rama I(1782) lên ngôi và chọn Bangkok (hay "Thành phố của các thiên thần") làmkinh đô
Trước năm1932, Thái Lan theo chế độ quân chủ chuyên chế Sau cuộccách mạng tư sản năm 1932 do một nhóm sĩ quan trẻ lãnh đạo, Thái Lanchuyển từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiến Ngày
10 tháng 12 năm 1932 vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản hiếnpháp đầu tiên của Thái Lan Hơn 60 năm qua Thái Lan đã thay đổi 16 hiến
Trang 17pháp (nhiều lần đảo chính), nhưng Hiến pháp 1932 vẫn được coi là cơ sở.Cuối cùng, vào thập kỷ 1980, Thái Lan chuyển hướng sang con đường dânchủ.
Năm 1997, Thái Lan trở thành tâm điểm của khủng hoảng tài chínhĐông Á Đồng baht nhanh chóng sụt giá từ mức 25 baht đổi 1 đô la xuốngmức 56 baht đổi 1 đô la Sau đó, đồng baht dần lấy lại được sức nặng củamình, đến năm 2007, tỷ giá giữa đồng baht và đô la là 33:1
1.2
Điều kiện tự nhiên
Với diện tích 514,000 km2(tương đương diện tích Việt Nam+ Lào),Thái Lan xếp thứ 49 trên thế giới về diện tích, rộng thứ ba tại Đông Nam Á,sau Indonesia và Myanma
Thái Lan là mái nhà chung của một số vùng địa lý khác nhau, tươngứng với các vùng kinh tế Phía Bắc có địa hình đồi núi, với điểm cao nhất(2.576 m) là Doi Inthanon Phía Đông Bắc là Cao nguyên Khorat có biêngiới tự nhiên về phía đông là sông Mekong Trung tâm của đất nước chủ yếu
là vùng đồng bằng sông Chao Phraya đổ ra vịnh Thái Lan Miền Nam là eođất Kra mở rộng dần về phía bán đảo Mã Lai
Khí hậu nhiệt đới gió mùa Thời tiết nóng, mưa nhiều từ giữa tháng 5cho tới tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam do vậy đất canh tác ởhầu hết các vùng trong cả nước có độ màu mỡ thấp do bị mưa rửa trôi Từtháng 10 đến giữa tháng 3 chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khô, lạnh
Eo đất phía Nam luôn luôn nóng, ẩm
Thái Lan là quốc gia có nhiều loài động vật quí hiếm trên thế giới sinhsống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ Rất nhiều loài đang đứng
trước hiểm họa diệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng
Trang 182.Thái Lan qua các thời kỳ kinh tế khác nhau
2.1 Trước năm 1967
2.1.1 Khái quát về kinh tế
Trong số các nước thuộc ASEAN-5, Thái Lan chưa bao giờ là nước
thuộc địa, nhưng thay vì phải có những chính sách độc lập thì nền kinh tếThái Lan lại phụ thuộc nặng nề vào phương Tây, những nước kiểm soát ngặtnghèo về hàng hoá và thương mại
Trước năm 1960, Thái Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu.Nềnkinh tế manh mún được hình thành bởi phần lớn các xí nghiệp nhỏ thuộcquyền sở hữu tư nhân và một vài công ty cỡ vừa thuộc quyền sở hữu của nhànước.Bước vào giai đoạn này, Thái Lan mong muốn trở thành một nướccông nghiệp hiện đại nhưng đồng thời lại phải đối mặt với những khó khănnhư :
Tài nguyên thiên nhiên không mấy phong phú(tài nguyên rừng có giátrị
nhất là gỗ tếch lại bị các công ty nước ngoài khai thác bữa bãi nên trữ lượngcòn lại không nhiều) Khoáng sản chủ yếu là thiếc và một số loại khácnhưng trữ lượng lại không lớn
Dân số Thái Lan phát triển một cách nhanh chóng vào khoảng trênchục
triệu người Số người trong độ tuổi lao động là khoảng 13.000.000 ngườinhưng đa số hoạt động trong ngành nông nghiệp(82%).Chất lượng lao độngkhông cao, số người lao động có học vấn rất ít.Vào đầu thập niên 60 cả TháiLan chỉ có ba trường đại học, trong đó chỉ có hai trường có khoa đào tạo kỹ
sư cơ khí và các ngành khoa học kinh tế Thu nhập bình quân đầu ngườu chỉđạt 85%/năm, khả năng tích lũy và huy động vốn trong nhân dân rất hạnchế
Trang 19Những năm 60, Thái Lan là nước nông nghiệp với 90% lao động làmnông nghiệp và nông nghiệp đã đóng góp 50% GDP của Thái Lan, đặc biệtgạo là một trong một số ít ngũ cốc đóng vai trò quan trọng trong nôngnghiệp Thái Lan Hơn 70% số hộ nông dân Thái Lan là hộ nông nghèo Mặc
dù cuộc khủng giữa dầu mỏ xảy ra khoảng những năm 1973 nhưng nền kinh
tế Thái Lan vẫn có tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt bình quân 7,6%/năm trongkhoảng từ năm 1967 đến 1996
Bắt đầu từ năm 1986 nhờ những sự kiện bên ngoài đã đóng vai tròquan trọng trong cơ cấu lại nền kinh tế Thái Lan, đã chuyển cơ cấu kinh tếcủa nước này từ cơ cấu nông nghiệp sang cơ cấu sản xuất hàng hoá và đónggóp to lớn vào tăng trưởng kinh tế Ví dụ trong những năm này do đầu tưtrong nước không đáp ứng được yêu cấu phát triển nên nguồn vốn FDI đãđóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của Thái Lan Đạt được nhưvậy là nhờ các chính sách của chính phủ Thái Lan đã liên kết và ảnh hưởngthúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng như công nghiệp hoá và đầu tư trực tiếpcủa nước ngoài vào Thái Lan
2.1.2 Chính sách của Chính phủ
Công nghiệp hoá của Thái Lan được bắt đầu từ giữa thập niên 60 củathế kỷ XX Quá trình công nghiệp hoá trong giai đoạn đầu này được dựatrên cơ sở của các kế hoạch phát triển kinh tế và phát triển xã hội hơn là kếhoạch công nghiệp hoá Phát triển kinh tế của Thái Lan dựa trên nền tảngphát triển của khu vực tư nhân và của các xí nghiệp tự do
- Giai đoạn từ 1926 đến 1957:
Năm 1926 do chính phủ Thái Lan áp dụng mức thuế áp đặt nên đãlàm cho nền kinh tế không thể phát triển Từ năm 1932, Chính phủ đầu tưtrực tiếp vào hàng loạt các dự án phát triển công nghiệp.Thay đổi cơ cấu đầu
tư trong các ngành công nghiệp, đã chuyển các xí nghiệp từ sản xuất đường
Trang 20sang sản xuất giấy, gỗ dán, túi xách tay v.v… Khi chiến trach thế giới lầnthứ hai nổ ra thì các nhà đầu tư ở các nước Tây Âu đã không còn cơ hội đầu
tư vào Thái Lan nên việc đầu tư của Thái Lan chủ yếu là dựa vào những nhàkinh doanh bản địa có gốc Trung Quốc
Trước năm 1954, thuế suất là một trong những công cụ chủ yếunhằm tăng nguồn thu cho chính phủ đồng thời cũng được huy động nhằmkhuyến khích, hỗ trợ đầu tư Một dự luật về xúc tiến công nghiệp (POI)được ban hành trong năm 1954 nhằm tạo nên một loạt các doanh nghiệp sảnxuất với khối lượng lớn hàng hoá trong đó có hàng thực phẩm tiêu dùngtrong nước và chế biến các sản phẩm cơ bản Từ năm 1954, Thái Lan ápdụng biểu thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá và nguyên liệu thô dùng đểsản xuất trong nước, đồng thời áp dụng thuế suất cao đối với hàng hoá tiêudùng xa xỉ Việc giảm thuế suất nhập khẩu đã kích thích tăng trưởng sảnxuất công nghiệp Từ năm 1955, Chính phủ Thái Lan áp dụng chính sáchkiểm soát tỷ giá hối đoái nhằm ổn định đồng tiền bản địa và khuyến khíchviệc đầu tư của cả 2 khu vực nhà nước và tư nhân Vì vậy đã dẫn tới việcmất cân đối trong cán cân thanh toán
-Giai đoạn từ 1957 đến 1967
Năm 1957, các chính sách do Chính phủ Thái Lan ban hành đã bịNgân hàng thế giới phê phán mạnh mẽ, do các chính sách của chính phủchưa tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển Việc hỗ trợ nhập khẩukhông chỉ áp dụng đối với việc bán toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước cho
tư nhân mà còn đặc biệt khuyến khích bảo trợ các hãng thông qua thuế suất
và bảo trợ các sản phẩm cuối cùng trước sự cạnh tranh của các hãng nướcngoài
Năm 1958, Chính phủ Thái Lan đã ngừng không cấp phép thành lậpmới các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đang có sức cạnh tranhtrên thị trường trong nước và quốc tế Năm 1959, ủy ban đầu tư nhà nước
Trang 21được thành lập nhằm khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào cáclĩnh vực đặc thù với những ưu đãi sâu sắc Thêm vào đó là những ưu đãi vềthuế suất thông qua việc tăng thuế nhập khẩu hàng tiêu dùng nhằm bảo trợhàng tiêu dùng được sản xuất trong nước
Năm 1960, Chính phủ Thái Lan ban hành Luật mới thay thế choLuật năm 1954 trong đó quy định phạm vi mà theo đó chính phủ có thể canthiệp vào quá trình sản xuất Luật này đã được sửa đổi năm 1962, sau đóđược tiếp tục sửa đổi vào năm 1965 và 1968 nhằm tự do hoá hơn nữa cácquy định đầu tư và đơn giản hoá các thủ tục hành chính
Từ năm 1961 trở đi, các chính sách phát triển công nghiệp của TháiLan được xây dựng và áp dụng thông qua việc thực hiện các kế hoạch Kếhoạch phát triển 6 năm lần thứ nhất (1961 1966) Đã có rất nhiều các chínhsách được áp dụng trong giai đoạn này như chính sách hỗ trợ nhập khẩu,chính sách phát triển hạ tầng cơ sở, chủ yếu do khu vực các doanh nghiệpnhà nước thực hiện Mặc dù việc thực thi kế hoạch và thực hiện các dự áncông nghiệp đều do khu vực tư nhân đảm nhận
Năm 1962, Chính phủ đã thông qua Luật về hoạt động ngân hàngtrong đó đã dành nhiều ưu đãi cho các ngân hàng cổ phần tham gia vào hoạtđộng cung cấp tài chính thông qua việc mở ra các chi nhành trên toàn quốc
để hoạt động có hiệu quả hơn thay vì chỉ tập trung ở Băng Cốc và một sốthành phố lớn như trước đây
Kết thúc kế hoạch 6 năm lần thứ nhất chỉ còn một số ít các xí nghiệpcông nghiệp nhỏ còn tồn tại, đó là các nhà máy xay xát gạo, nhà máy chếbiến sản phẩm nông nghiệp nhỏ thuộc sở hữu nhà nước Đóng góp vào GDPcủa FDI chỉ chiếm 0,1% và chỉ tập trung vào ngành công nghiệp cơ bản chothấy những thành tựu mà Thái Lan đạt được trong kế hoạch 6 năm lần thứnhất chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 222.2 Từ năm 1967 đến 1997
2.2.1 Bối cảnh lịch sử
Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã đóng vai trò quantrọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thái Lan trong thập niên60.Tuy nhiên, sau 11 năm thực hiện chiến lược đó người Thái đã nhận thấynhững tiêu cực của nó
Thứ nhất, với hy vọng giảm bớt nhập khẩu Thái Lan đã tập trung xây
dựng ngành công nghiệp chế biến nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trongnước.Tuy nhiên, trong thực tế kim ngạch nhập khẩu không hề giảm xuống
mà còn tăng lên do phải nhập nguyên liệu cho ngành công nghiệp
Thứ hai, chiến lược trên liên kết ở mức độ thấp với chương trình phát triển
tài nguyên thiên nhiên và kinh tế nông thôn Do đó, nó đưa tới tình trạng tậptrung công nghệ tại Băng Cốc và vùng ngoại vi…Tình trạng đó một mặt làmmất cân bằng sinh thái, mặt khác làm tăng tình trạng bất bình đẳng giữanông thôn và thành thị do việc đa số nông dân sống ở vùng xa xôi khôngđược hưởng những kết quả của sự phát triển
Thứ ba, do vốn đầu tư cho công nghiệp phải đi vay nên hàng hóa của Thái
Lan sản xuất ra có giá thành cao, thậm chí cao hơn cả hàng hóa nhập từ bênngoài Nhằm khắc phục tình trạng trên, tháng 10/19972 kế hoạch phát triểnkinh tế xã hội 5 năm lần thứ ba được ban hành.Theo trào lưu chung của cácnền kinh tế trong khu vực ASEAN, Thái Lan chuyển đổi chiến lược côngnghiệp hóa từ thay thế nhập khẩu sang hướng về xuất khẩu Đây là thờiđiểm có cả những điều kiện thuận lợi và cả những khó khăn đối với TháiLan
Về mặt thuận lợi, đây là giai đoạn có mức cạnh tranh quốc tế khôngđến nỗi gay gắt nên việc tiếp nhận đầu tư và chuyển giao công nghệ từ cácnước tư bản sang Thái Lan và các nước đang phát triển khác tương đối dễ
Trang 23dàng.Đây cũng là thời điểm chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường quốc làLiên Xô và Mỹ đang ở đỉnh cao nên viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ vàcác nước phương Tây khác cho Thái Lan cũng như việc mở cửa thị trườngphương Tây cho hàng hóa Thái Lan khá rộng rãi, từ đó tạo điều kiện chochiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan phát triểnthuận lợi.
Còn về mặt khó khăn, giai đoạn này kinh tế thế giới gặp nhiều nhữngtrở ngại do giá dầu mỏ tăng(1973), đặc biệt đối với Thái Lan vì nước nàyhầu như phải nhập khẩu dầu mỏ hoàn toàn Số liệu của chính phủ Thái Lancho thấy, vào đầu những năm 70, mỗi năm Thái Lan tiêu thụ khoảng 16.400thùng dầu Riêng năm 1974, chính phủ phải chi tới 700 triệu USD để muadầu.Trong khi chi phí cho năng lượng tăng cao như vậy thì các nguồn thucủa Thái lan lại giảm sút, đặc biệt sau khi Mỹ quyết định chấm dứt các hoạtđộng quân sự tại Đông Dương và rút quân khỏi Việt Nam, Lào,Campuchia(1973) và sau đó là rút một phần quân đội Mỹ ra khỏi căn cứquân sự tại Thái Lan(1976) Những năm trước đó, nền kinh tế Thái lan phụthuộc rất nhiều vào Mỹ Dưới danh nghĩa giúp đỡ Thái Lan, các nhà đầu tưcủa Mỹ bỏ vốn vào nền kinh tế Thái Lan và sử dụng những lợi thế tương đốicủa nước này về đất đai, tài nguyên nhiệt đới, về nhân công và thị trường
Mỹ đã khuyến khích chính phủ Thái Lan:
- Nên dựa vào và khuyến khích tư bản tư nhân để phát triển công nghiệp.-Hạn chế sự phát triển của bộ phận kinh tế quốc doanh
-Hạn chế bớt vai trò điều hành của kinh tế nhà nước
-Cố gắng tạo niềm tin cho các nhà kinh doanh tư nhân và khuyến khích họđầu tư vào Thái Lan
Do mất đi những nguồn thu lớn liên quan đến cuộc chiến tranh ởĐông Dương nên công nghiệp xây cất khách sạn và dịch vụ du lịch bị đình
Trang 24đốn khiến cho hàng vạn công nhân mất việc, dẫn tới đội ngũ thất nghiệp ởThái Lan lên tới 1 triệu người vào năm 1975 Viện trợ kinh tế Mỹ đã giảmnhiều từ sau năm 1975 Tất cả những điều trên này đã làm thâm hụt cán cânthanh toán trở thành một trong những vấn đề quan trọng nhất mà Thái Lanphải đương đầu.
Như vậy, việc lựa chọn con đường công nghiệp hóa hướng vềxuất khẩu của Thái Lan là một lựa chọn mang tính cấp thiết khi mà chiếnlược thay thế nhập khẩu đã không còn phù hợp.Dưới đây bài viết xin đisâu vào nghiên cứu về chính sách thương mại hướng về xuất khẩu củaThái Lan trong hệ thống các chính sách về chiến lược công nghiệp hóahướng về xuất khẩu ở Thái Lan
2.2.2 Chính sách của chính phủ Thái Lan trong thời kì này
Chính sách thương mại
Các quy chế xuất nhập khẩu
Đối với nhập khẩu: Bộ thương mại Thái Lan có quyền phân loại các
hàng hóa phải chịu sự kiểm soát nhập khẩu Các kiểm soát như vậy thườngtheo hình thức đòi hỏi giấy phép Hiện nay có nhiều loại hàng hóa đòi hỏicần phải có giấp phép chặt chẽ như: vũ khí, chất nổ, chất gây cháy, dượcphẩm có tính chất kích thích, các hàng hóa đặc biệt…Các giấy phép nàyđược cấp theo thời hạn cố định và phải trình lên Bộ thương mại
Có nhiều hàng hóa không thuộc diện kiểm soát theo Đạo luật trênnhưng lại thuộc diện kiểm soát nhập khẩu theo các đạo luật khác và phải cógiấy phép của cơ quan chính phủ có liên quan.Việc tăng hay giảm mức thuếnhập khẩu đối với một số loại hàng hóa chủ yếu là để bảo vệ sản xuất trongnước
Ngoài ra, để khuyến khích buôn bán đường biển, Thái Lan đã thôngqua một đạo luật mà theo đó một số hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu phải
Trang 25được chuyên chở bằng của Thái Lan nếu không phải chịu hai lần cước phívận tải theo quy định.Chính điều này đã tạo điều kiện cho ngành vận tải biểncủa Thái Lan phát triển mạnh.
Đối với xuất khẩu: xuất khẩu là một phần quan trọng trong chính
sách thương mại của Thái Lan.Vì vậy, đối với các hàng hóa xuất khẩu chỉ cómột số loại thuế nhất định.Bên cạnh đó, chính phủ Thái Lan còn áp dụngnhiều quy định mang tính khuyến khích để thúc đẩy các hoạt động xuấtkhẩu Bên cạnh đó, các thành phần kinh tế được phép xuất khẩu cũng rất đadạng:các công ty công cộng hoặc trách nhiệm hữu hạn; các tổ chức kinhdoanh nhà nước hoặc tư nhân; các hợp tác xã hoặc các nhóm nông dân Từng thời gian một, Bộ Thương mại Thái Lan lại lập danh sách cáchạng mục hàng hóa phải chịu sự kiểm soát xuất khẩu theo Đạo luật kiểmsoát xuất nhập khẩu.Các ưu đãi về thuế quan và miễn thuế được áp dụng chocác tổ chức và công ty kinh doanh đã đạt được tiêu chuẩn theo luật định Đối với các hàng hóa xuất khẩu thuộc loại thực phẩm thiết yếu như
là gạo, đường, trước hết phải được dữ trữ đủ cho tiêu dùng nội địa rồi mớiđược xuất khẩu Đặc biệt là gạo, để đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu nội địa,đồng thời để kiểm soát được giá gạo trong nước thì các nhà xuất khẩu phảiđóng thuế xuất khẩu
Các tổ chức và công ty xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu các sản phẩmnông nghiệp, ngoài việc phải chịu sự kiểm soát của một số luật riêng nhưĐạo luật buôn bán gạo, còn phải là hội viên của các hội buôn bán thích hợp
có liên quan tới việc buôn bán thứ hàng hóa mà họ muốn xuất khẩu
Chính sách thị trường
Chính sách thị trường là một phần quan trọng trong chính sách
thương mại của Thái Lan.Thái Lan hiện có quan hệ thương mại với trên 170nước và xuất khẩu nhiều mặt hàng quan trọng như: nông sản, thực phẩm chế
Trang 26biến, đá quý, nguyên vật liệu, các mặt hàng chế tạo, hàng dệt may, hóachất…Các đối tác thương mại của Thái Lan cũng rất đa dạng,từ các nướcphát triển đến các nước đang phát triển ở nhiều châu lục.Tuy nhiên, thịtrường xuất khẩu chủ yếu của Thái Lan vẫn là các nước công nghiệp pháttriển như:Mỹ, Nhật Bản, các nước Liên minh EU, sau đó đến các nước ởĐông Bắc Á(Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc), rồi đến các quốc gia tronghiệp hội ASEAN và Trung Quốc Việc Thái Lan luôn chọn đối tác xuấtkhẩu lớn là các nước công nghiệp phát triển được giải thích bằng hai lý do.
Thứ nhất, về mặt thị trường, các nước công nghiệp phát triển luôn là bạn
hàng truyền thống của Thái Lan, là nơi tiêu thụ chủ yếu các nguyên liệu vàcác mặt hàng nông sản của nước này Chính nhờ vào thị trường các nướcphát triển này và nhờ vào lợi thế thương mại của mỗi bên mà giá trị xuấtkhẩu của Thái Lan gia tăng liên tục, đạt tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàngnăm cao nhất trong so sánh với một số nước ASEAN khác
Bảng:Tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm từ 1960 đến 1997 về giá trị hàng xuất khẩu thương mại của Thái Lan trong so sánh với một số nước ASEAN (%).
Trang 270 2 4 6 8 10 12
Thái
Lan
Sing
apore
Thứ hai, chính các nước công nghiệp phát triển lại là các thị trường chủ chốt
và quan trọng cung cấp các mặt hàng công nghiệp, máy móc, phương tiện vàcác thiết bị sản xuất thiết yếu mà Thái Lan cần để phát triển sản xuất trongnước
Các đối tác thương mại quan trọng của Thái Lan hiện nay vẫn là Mỹ,Nhật Bản và EU Đặc biệt là Mỹ, chiếm vị trí thứ nhất trong buôn bán củaThái Lan với hơn 80% hàng hóa xuất khẩu tới Mỹ là các mặt hàng chếtạo(hàng dệt may, linh kiện máy tính, hàng điện tử, đồ hộp ).Còn với thịtrường Nhật Bản và EU, Thái Lan chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng dệt may,cao su, đồ gỗ, hàng thủy sản, các linh kiện điện tử, máy vi tính…
Bảng:Xuất khẩu của Thái Lan tới EU,Mỹ, Nhật từ năm 1991(%).
Trang 28Trong khi buôn bán của Thái lan với các nước công nghiệp phát triểnngày càng tăng thì buôn bán với các nước đang phát triển vẫn tiến triển rấtchậm.Điều này được giải thích bởi nhiều lý do, trong đó có nguyên nhân về
cơ cấu buôn bán trùng lặp giữa Thái Lan và các nước đang phát triển khác,đặc biệt là các nước trong hiệp hội ASEAN(hầu hết đều đi theo con đườngcông nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu của Nhật Bản và các nước công nghiệpmới) Tuy nhiên từ nửa sau những năm 90 trở lại đây, buôn bán của TháiLan với các bạn hàng trong Hiệp hội ASEAN có xu hướng tăng lên donhững điều kiện ưu đãi về thuế quan mà AFTA mang lại đồng thời đây vừa
là thị trường tiêu thụ vừa là nơi đầu tư và nguồn nghiên liệu cho nền côngnghiệp hướng ra xuất khẩu của mình trong điều kiện hội nhập kinh tế và bốicảnh nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt.Vì vậy, các nước ASEANcũng trở thành các đối tác thương mại ngày càng quan trọng của Thái Lanvới tỷ lệ đạt từ 21-24% trong tổng xuất khẩu của Thái Lan những năm gầnđây
Trang 29Bảng:Xuất khẩu của Thái Lan tới các thị trường chủ 1999(%)
Trang 30thế về chi phí thấp và giá nhân công rẻ.Tuy nhiên với việc đưa ra cácchương trình nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu, bao gồmthúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp từ chi phí lao động cao sang sửdụng hàm lượng công nghệ cao và khuyến khích sự phát triển và áp dụngcông nghệ hiện đại nhằm làm tăng phần giá trị gia tăng trong các ngànhcông nghiệp sử dụng chi phí lao động cao, Thái Lan hy vọng vẫn duy trìđược khả năng cạnh tranh của mình.
Chính sách đầu tư
Ban đầu, chính phủ Thái Lan áp dụng chính sách kiểm soát tỷ giá hốiđoái nhằm ổn định đồng tiền bản địa và khuyến khích việc đầu tư của cả 2khu vực nhà nước và tư nhân, tạo ra sự hấp dẫn về thương mại và đầu tư.Song đã gây những tác động tiêu cực, thâm hụt cán cân thanh toán và thâmhụt tài khoản vãng lai ngày càng gia tăng, tỷ lệ lãi suất cho vay trong nướctương đối cao đã khuyến khích việc vay vốn ngắn hạn nước ngoài với mụcđích đầu cơ Chính điều này đã làm mất kiểm soát của chính phủ, đồng Bahtphá giá không thể cứu vãn nổi – là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng tiền tệchâu Á
Sau đó, nhờ chính sách tự do hóa tài chính năm 1993 đã giúp TháiLan hội nhập khá thành công vào thị trường tài chính quốc tế, dỡ bỏ nhữngtrở ngại đối với sự phát trển của các thị trường vốn nội địa Các ngành dịch
vụ tài chính – ngân hàng, bảo hiểm và kinh doanh bất động sản tăng lên vớitốc độ chóng mặt, từ khoảng 5% những năm 1970 lên 12,6 % năm 1994.Dòng chảy của FI đổ vào rất ồ ạt
2.3 Kinh tế Thái Lan từ năm 1997 đến nay
2.3.1 Một số nét về tình hình của Thái Lan
Sau cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ 7/1997, nền kinh tế Thái Lanrơi vào tình trạng khó khăn trầm trọng:mức tăng GDP năm1998 là -10,5%,
Trang 31nợ nước ngoài khoảng 87 tỷ USD, thất nghiệp gia tăng(tới tháng 3/1998 là2,8 triệu người).Cuộc khủng hoảng đã giúp Thái Lan nhận ra một điều rằngnếu không có một chính sách thương mại đúng đắn với những điều chỉnhcho phù hợp với những tình hình biến đổi thì Thái Lan khó mà duy trì đượcthế mạnh xuất khẩu của mình.
2.3.2 Chính sách của chính phủ
Nhận thức rõ được điều này, Chính phủ Thái Lan đã vạch rõ nhữngchính sách phát triển thương mại và đầu tư quốc tế sau khủng hoảng, theo đóThái Lan triệt để tận dụng cơ hội để trở thành một trong năm nước châu Áđóng vai trò nổi bật trên thương trường quốc tế với những yếu tố tích cựcsẵn có
Chính sách thương mại
Thứ nhất, hiện nay Thái Lan vẫn được đánh giá là có năng lực tốt trong sản
xuất và chiếm vị trí hàng đầu trong khu vực về xuất khẩu đối với nhiều mặthàng quan trọng, đặc biệt là gạo(đứng đầu thế giới về xuất khẩu), míađường(đứng thứ ba thế giới), các loại nông sản , thực phẩm chế biến
Thứ hai, về mặt địa lý, Thái lan vẫn được coi là trạm trung chuyển, là cửa
ngõ thương mại quan trọng đối với nhiều nước
Thứ ba, Thái lan có hệ thống pháp luật thương mại tự do theo tiêu chuẩn
quốc tế để từ đó có thể tiếp nhận quá trình tự do hóa thương mại.Bên cạnh
đó, Thái lan cũng có những điều chỉnh nhằm khắc phục những nhựợc điểmcủa mình Đặc biệt là trong những năm gần đây,chính phủ Thái Lan chútrọng tháo gỡ các trở ngại trong quan hệ thương mại với các nước lànggiềng Điều này được thể hiện khi Thái Lan ký kết các hợp tác kinh tế đốivới tất cả các nước láng giềng, chẳng hạn như:Tam giác kinh tế phía Nam,
tứ giác kinh tế phía Bắc, lục giác kinh tế sông Mê Công Các biện pháp điều
Trang 32chỉnh nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại của Thái Lan sau khủng hoảngtập trung vào:
Ban hành các chính sách tác động lên hoạt động thương mại quốc tế theo
hướng thúc đẩy xuất khẩu
Trong điều kiện tăng năng suất lao động trong nước sau cuộc khủnghoảng gặp nhiều khó khăn, Chính phủ Thái lan chủ trương một mặt giảmnhập khẩu, mặt khác tăng cường xuất khẩu dịch vụ, tìm kiếm các mặt hàngxuất khẩu mới, thị trường mới, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, tiếp tục
tự do hóa để nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng xuất khẩu So với cácnước châu Á bị khủng hoảng khác, Thái Lan ưu thích việc ban hành cácchính sách tác động trực tiếp đến việc thúc đẩy xuất khẩu hơn là các chínhsách tác động gián tiếp.Các chính sách cơ bản nhằm tác động lên hoạt độngthương mại quốc tế của Thái Lan bao gồm:
Điều chỉnh định hướng xuất khẩu Bên cạnh các đối tác truyền thống là các
nước công nghiệp phát triển, Thái Lan đặc biệt chú trọng tới thị trường cácnước đang phát triển thuộc các khu vực như:ASEAN, Trung Đông, ChâuPhi, Trung Quốc…, trong đó các nước thuộc khu vực ASEAN và Mỹ Latinhđược Thái Lan đặc biệt quan tâm Để hỗ trợ xuất khẩu sang các thị trườngmới, Chính phủ Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp như: hỗ trợ một phầnlãi suất tiền vay trong vòng 5 năm đối với các nhà xuất khẩu sang các thịtrường mới
Điều chỉnh cơ cấu thương mại quốc tế Thái Lan tiếp tục đề cao vai trò của
khu vực dịch vụ(hiện tại là 50% GDP) Thái Lan xác định 5 ngành dịch vụđược ưu tiên xuất khẩu sau khủng hoảng là các món ăn Thái, văn hóa phẩm,khu giải trí và sân gôn, mỹ viện, chăm sóc sức khỏe và y tế
Điều chỉnh cơ cấu tổ chức hoạt động ngoại thương Thái Lan chủ trương
điều chỉnh cơ cấu tổ chức, phân định rõ chức năng của các trung tâm và các
Trang 33văn phòng đại diện ở nước ngoài Hiện nay, các trung tâm có nhiệm vụ làtheo dõi các thị trường và những vấn đề liên quan đến thương mại.Còn cácvăn phòng thương mại có nhiệm vụ triển khai các chính sách thương mạicủa chính phủ Thái Lan ở nước ngoài, đồng thời báo cáo các vấn đề nảy sinh
và đề ra các phương án giải quyết
Tăng cường tự do hóa thương mại và nâng cao khả năng cạnh tranhnhằm
hội nhập sâu hơn nữa vào nền kinh tế thế giới Chính phủ Thái Lan chorằng, để có thể mở rộng được các thị trường xuất khẩu thì cần có sự điềuchỉnh quan điểm về “tự do hóa thương mại song phương” và cần đặt nó songsong với “tự do hóa thương mại đa phương”.Trong tình hình hiện nay, khi
mà các hiệp định về tự do hóa thương mại đa phương đang gặp nhiều trởngại và diễn ra chậm so với mong đợi thì việc ký kết các hiệp định về tự dohóa thương mại song phương lại tỏ ra là một sự lựa chọn đúng, tạo điều kiệncho sự phát triển và đồng thời đẩy nhanh việc ký kết các hiệp định về tự dohóa thượng mại đa phương Chính vì vậy mà trong những năm gần đây, TháiLan luôn đẩy nhanh các hoạt động ký kết các hiệp định song phương
Ở cấp độ khu vực và trong khuôn khổ AFTA, Thái Lan là nước tíchcực cổ vũ cho việc đảm bảo tiến trình AFTA được thực hiện đúng hạn.Theohướng đó, chính phủ Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhaunhư:giảm thuế quan, xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, giảm lãi suất tíndụng để nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất trongnước.Về thuế quan, Thái Lan đã công bố giảm thuế suất đối với 542 mặthàng công nghiệp vào giữa năm 2000 từ mức 5%-20% xuống còn 0%-10%.Về rào cản thương mại phi thuế quan, Thái Lan chỉ áp dụng các biệnpháp phi thuế quan khi cần thiết để bảo vệ lợi ích trong nước và chỉ điềuchỉnh theo các yêu cầu của WTO
Trang 34Ngoài ra, tự do hóa thương mại phải kết hợp với bảo hộ hợp lý kinh
tế trong nước và gắn với mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu Chính sách bảo hộsản xuất đều phải đặt hiệu quả kinh tế xã hội lên trên hết Trước hết, phảithúc đẩy sản xuất trong nước, nâng cao cạnh tranh của hàng hóa có lợi thếcạnh tranh trên thị trường nội địa rồi từng bước vươn ra khu vực và thế giới.Chính sách bảo hộ luôn gắn chặt chẽ với định hướng xuất khẩu và đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều này được thể hiện rõ nhất trong chính sáchthuế quan Nhìn chung, mức thuế thấp nhất được áp dụng cho những mặthàng là đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mức thuế caohơn áp dụng cho các sản phẩm có lợi thế so sánh rõ ràng, các sản phẩm cótiềm năng xuất khẩu trong tương lai gần được bảo hộ với mức thuế cao hơn.Việc hỗ trợ các ngành sản xuất của chính phủ Thái Lan được thực hiệnmột cách có chọn lọc với mục đích tạo các điều kiện thuận lợi cho việcchuyển dịch cơ cấu có lợi cho cạnh tranh
Đối với các ngành xuất khẩu truyền thống như : dệt may, hàng nôngsản,
thực phẩm đông lạnh, đá quý… thì chính phủ tiếp tục hỗ trợ về vốn và côngnghệ cho việc đổi mới mẫu mã, chất lượng và sức cạnh tranh; giảm thuếnhập khẩu các nguyên liệu, máy móc, giảm thuế VAT Đồng thời với đó làcác chiến lược mới về nông nghiệp được thông qua với các trọng tâm cơ bản
là nâng cao năng suất, giảm giá thành, khuyến khích tiêu thụ các sản phẩmtrồng trọt có chất lượng cao, gắn phát triển công nghệ với bảo vệ môi trường
Thái Lan tăng cường xúc tiến việc tìm kiếm các sản phẩm xuất khẩumới
bằng việc chuyển mạnh sang các ngành sản xuất sử dụng công nghệ cao.Thái Lan hy vọng trong những năm tới sẽ trở thành trung tâm xuất khẩu
Trang 35phần mềm, thiết kế và sản xuất các vi mạch điện tử, các sản phẩm được chếbiến từ dầu mỏ.
Như vậy, tự do hóa thương mại, xét cho cùng thực chất là việc đánhđổi lợi ích, là hành động có đi có lại Khi mình mở cửa thị trường cho bạnhàng thì đổi lại các đối tác nước ngoài cũng sẽ mở cửa thị trường củahọ.Điều đó có nghĩa là cơ hội thị trường quốc tế sẽ ngày càng mở rộng cùngvới tiến trình tự do hóa thương mại.Và với việc đẩy nhanh các hiệp định tự
do hóa thương mại, Chính phủ Thái Lan đã tận dụng được các cơ hội này đểphát triển kinh tế đất nước
Chính sách đầu tư
Sau cuộc khủng hoảng, nhận thức được những bất cập trong cácchính sách thu hút đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh, mà ít chú ý đếnmặt chất lượng tăng trưởng, Chính phủ Thái Lan đã có nhiều cải cách trongcác chính sách được ban hành Những điều chỉnh chủ yếu mà Chính phủThái Lan thực hiện là nhằm xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tạotiền đề cho tăng trưởng bền vững Cụ thể là:
- Chính sách tỷ giá hối đoái chuyển từ neo chặt vào đồng USD sangthả nổi có điều tiết và do thị trường quyết định phần lớn
- Duy trì mức lạm phát trong nước không cao hơn mức lạm phát quốctế; tránh để nền kinh tế phát triển quá nóng hoặc quá lạnh
- Chú trọng phát triển cân bằng, hạn chế thâm hụt và tiến tới cân bằngcác cán cân lớn như tài chính, tài khoản vãng lai, xuất nhập khẩu
- Tái định hướng đầu tư nhằm khắc phục những bất hợp lý về đầu tưquá mức các ngành “sốt”
- Nâng mức sở hữu nước ngoài lên 49% đối với các dự án thôngthường và 100% đối với các dự án có trên 80% sản phẩm xuất khẩu.Ngoài ra đối tác nước ngoài còn được phép điều chỉnh lên 51%
Trang 36trong trường hợp đối tác Thái Lan gặp khó khăn về tài chính Bêncạnh đó, bộ tài chính Thái Lan cũng bãi bỏ quy định phải có 30%sản phẩm xuất khẩu trở lên mới được hưởng miễn giảm thuế trongcác ngành công nghiệp chế tạo.
- Thái Lan xây dựng một cơ cấu công nghiệp đa dạng (gồm 14ngành), mà nòng cốt là các công ty đầu tư đến từ các nước côngnghiệp phát triển, đặc biệt là các công ty từ Nhật Bản và Mỹ Trongnước, Chính phủ Thái Lan cố gắng đảm bảo sự ổn định về chính trị,đầu tư vào việc xây dựng cơ cở hạ tầng một mức thích ứng, ngănchặn sự gia tăng tiền lương, đảm bảo nguồn cung về nhân viên kỹthuật và đội ngũ công nhân tay nghề cao, cũng như các yếu tố đầuvào cho các ngành công nghiệp Theo họ, một cơ cấu công nghiệp
hỗ trợ đa dạng được phát triển tốt sẽ là yếu tố tốt nhất để thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa
Ngoài ra, chính phủ Thái Lan cũng tăng cường cải thiện môi trườngpháp lý để thu hút FDI, trong đó chú trọng cải cách chính sách thu hút FDItheo phương châm “trải thảm đỏ”, đổi mới quy chế quản lý ngoại hối, tăngcường sử dụng công cụ thuế nhằm định hướng cho thương mại và đầu tư
II.KINH TẾ SINGAPORE
1 Sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Xinhgapo và nguyên nhân
Xinhgapo được xem là một trường hợp phát triển thành công thần
kỳ trong hơn ba thập niên cuối thế kỉ 20 và là một trong số ít nước của thếgiới đã chuyển được vị trí một nền kinh kế đang phát triến sang một nềnkinh tế phát triển trong thời kì đó
Từ sau năm 1965, kinh tế Xinhgapo bước sang một giai đoạn pháttriển mới với chiến lược kinh tế đối ngoại, nền kinh tế Xinhgapo đã hoànhập vào nền kinh tế thế giới và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong
đó Kết quả là nền kinh tế Xinhgapo đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ Cụ thể:
Trang 37 Từ 1965- 1995, GNP của Xinhgapo tăng 13,2 lần, bình quânmỗi năm tăng 9%, GDP tăng 13,9 lần, bình quân mỗi năm tăng9,2%;
Trong đó năm 1970 so với năm 1965 GNP tăng 1,9 lần, bìnhquân mỗi năm tăng 13,7%, GDP tăng 1,95 lần, bình quân mỗinăm tăng 14,3%;
Năm 1980 so với 1970 GNP tăng 2,29 lần, bình quân mỗi nămtăng 8,6%, GDP tăng 2,37 lần, bình quân mỗi năm tăng 9%;
Tương tự năm 1990 so với 1980 GNP tăng 2,04 lần, bình quânmỗi năm tăng 7,4%, GDP tăng 1,99 lần, bình quân mỗi nămtăng 7,1%
Vậy điều gì đã làm cho nền kinh tế Xinhgapo có được sự tăngtrưởng nhanh như vậy? Muốn trả lời câu hỏi này chúng ta cần xem xét 2 yếutố: các yếu tố bên ngoài tác động đến Xinhgapo và bản thân sự điều chỉnhlinh hoạt của Xinhgapo
- Các yếu tố bên ngoài
Trong khoảng thời gian này, các nước tư bản phát triển đang ở giai đoạnthừa vốn nên nhu cầu quốc tế hoá sản xuất, tạo diều kiện cho các nước dangphát triển dễ dàng thu hút vốn đầu tư Hơn nữa, Xinhgapo lại có vị trí chiếnlược quan trọng về chính trị, quân sự và kinh tế nên Xinhgapo trở thành địabàn hấp dẫn nhất thu hút đầu tư trong khu vực
- Chiến lược của Xinhgapo:
+ Chiến lược hướng ngoại: Chính Phủ Xinhgapo thực hiện chiếnlược công nghiệp hướng ra xuất khẩu, ưu tiên cho ngành công nghiệp sửdụng nhiều lao động để giải quyết tình trạng thất nghiệp như: may mặc, kéosợi, chế biến gỗ và chế biến thực phẩm… Đến những năm 70 ưu tiên pháttriển công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn Đến thập kỷ 80, Xinhgapo pháttriển theo hướng những ngành công nghiệp kĩ thuật cao như luyện kim, chế
Trang 38Chính phủ cũng co sự ưu đãi đối với những doanh nghiệp đi tiên phong Xinhgapo chú ý đến ngành công nghiệp lọc dầu , công nghiệp chế biến Vìvậy, Chính Phủ Xinhgapo đã tạo được nhiều việc làm cho người lao động vàđẩy mạnh xuất khẩu.
+ Phát triển các ngành dịch vụ, tài chính và thương mại quốc tế,Xinhgapo đã biết tận dụng, khai thác triệt để lợi thế địa lý của mình, tronghoạt động này, cảng Xinhgapo giữ vai trò quan trọng Cơ quan cảngXinhgapo(PSA) thành lập năm 1964 Từ chỗ chỉ có ít hải cảng và vài chụcchiếc tàu biển, hiện tại Xinhgapo đã có một hệ thống dịch vụ vận chuyểnbiển gồm vài chục cầu cảng hiện đại, hàng trăm kho tàng, bến bãi và hàngchục nghìn tàu biển đi khắp nơi trên thế giới Với những cải cách hợp lý,đến năm 1980, Xinhgapo đã trở thành cảng Container số 1 trên thế giới về
số lượng Container được bốc dỡ Đến nay, Xinhgapo còn được biết đến nhưmột trung tâm chung chuyển khổng lồ Chính Phủ Xinhgapo luôn theo đuổichính sách “ cạnh tranh để ngỏ” để khuyến khích đầu tư và phát triển nhưngtrên lĩnh vực cảng biển và dịch vụ hàng hải thì Xinhgapo độc quyền nắmgiữ
+ Chú ý phát triển ngành dịch vụ du lịch: Ngành du lịch hiện naytrở thành nguồn thu ngoại tệ lớn của Xinhgapo Xinhgapo đã đầu tư xâydựng hệ thống cơ xở hạ tầng khang trang và hiện đại
+ Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và phân loại cácngành nghề nhằm thực hiện công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu Có một số
ưu đãi cho các ngành:
Công nghiệp mũi nhọn
Những xí nghiệp sản xuất hàng hướng về xuất khẩu
Những xí nghiệp mở rộng
+ Chính sách huy động vốn đầu tư trong nước: Xây dựng quỹ dựphòng trung ương (CPS), quỹ này có được nhờ chính sách tiết kiệm bắtbuộc Mọi người dân đều phải nộp một khoản trong tiền lương của họ vào