Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến tỷ trọng ngành công nghiệp, tỷ trọng ngành dịch vụ và GDP bình quân đầu người có tác động đến số thu thuế và có ý nghĩa thống kê.. Theo Quỹ Tiền
Trang 1CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỐ THU THUẾ CỦA CỤC THUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2006 – 2019
Ngày nhận bài: 20/01/2021 Ngày nhận bản sửa: 16/02/2021
Ngày duyệt đăng: 25/03/2021
Tóm tắt Thuế là một trong những khoản thu chính của một quốc gia Thông qua
thuế, chính phủ có thể cung cấp nhiều dịch vụ xã hội, phúc lợi và dẫn dắt các hoạt động kinh tế - xã hội cũng như xu hướng phát triển Khả năng và nỗ lực thu thuế, biểu hiện bằng tỷ lệ số thu thuế trên GDP, đã và đang trở thành vấn đề cốt lõi của một quốc gia để đảm bảo khả năng tài trợ của chính phủ Kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách trong việc thiết lập các kế hoạch xây dựng
và phát triển kinh tế Nghiên cứ u của nhóm tác giả đã sử du ̣ng mô hình hồi quy kiểm
đi ̣nh sự tác đô ̣ng của các biến GDP bình quân đầu người, độ mở thương mại, tỷ trọng ngành công nghiệp, tỷ trọng ngành nông nghiệp, tỷ trọng ngành dịch vụ và yếu tố dân
số đến số thu thuế củ a Cu ̣c thuế tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua dữ liê ̣u được thu thâ ̣p trong giai đoa ̣n 2006-2019 Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến tỷ trọng ngành công nghiệp, tỷ trọng ngành dịch vụ và GDP bình quân đầu người có tác động đến số thu thuế
và có ý nghĩa thống kê
Từ khóa: dân số, độ mở thương mại, GDP bình quân đầu người, số thu thuế, tỷ lệ
số thu thuế trên GDP, tỷ trọng ngành công nghiệp, tỷ trọng ngành dịch vụ, tỷ trọng ngành nông nghiệp
1 Đặt vấn đề
Thuế là một trong những khoản thu chính của một quốc gia, được thu từ các đối tượng nộp thuế khác nhau trong nền kinh tế nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội Với vai trò là nguồn tài chính công phổ biến và quan trọng nhất, thuế được coi là một trong những công cụ hiệu quả và hiệu quả nhất của chính sách tài khóa Thông qua thuế, chính phủ có thể cung cấp nhiều dịch vụ xã hội, phúc lợi và dẫn dắt các hoạt động kinh
tế xã hội cũng như xu hướng phát triển
Trang 2Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các nước đang phát triển nên có tỷ lệ số thu thuế trên GDP (doanh thu thuế/GDP) tối thiểu 15% nhằm đảm bảo đủ nguồn lực tài chính cần thiết để đầu tư trong tương lai và đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững Tỷ lệ này
ở các nước phát triển thường cao hơn nhiều Thực tế tỷ lệ số thu thuế/GDP ở các nước Liên minh châu Âu (EU) ở mức trung bình 40% hay mức trung bình giữa các nước thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) là 34% trong năm 2018, cao hơn nhiều so với các nước châu Á - Thái Bình Dương (Julia Kagan, 2020) Akitoby
và cộng sự (2018) trong nghiên cứu của mình cũng phát hiện rằng một nền kinh tế đang phát triển chỉ thu thuế khoảng 15% GDP, trong khi các nước có nền kinh tế phát triển thu tới khoảng 40% Trước đó, nghiên cứu của Besley và Persson (2014) cũng thống kê cho thấy các quốc gia thu nhập thấp thường thu thuế từ 10% đến 20% GDP, trong khi tỷ
lệ thu thuế trung bình của các quốc gia có thu nhập cao vào khoảng 40%
Theo Kaldor (1962), nếu một quốc gia đang phát triển muốn trở thành “phát triển” thì họ cần phải thu một khoản thuế lớn hơn 10-15% GDP Như vậy, có thể thấy khả năng và nỗ lực thu thuế đã và đang trở thành vấn đề cốt lõi của một quốc gia để đảm bảo khả năng tài trợ của chính phủ cho các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, xây dựng
cơ sở hạ tầng quan trọng như điện, đường, và các hàng hóa công cộng khác Với nhu cầu khá lớn về các dịch vụ xã hội của các nước nghèo, các nước đang phát triển, mức thu thuế thấp sẽ đem tới rủi ro cho việc phát triển kinh tế - xã hội
Những kiến thức chính xác về các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế sẽ cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách một “chân trời” rõ ràng hơn cho việc xây dựng các
kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế (Monjazeb M và P Soleimani, 2004) Phân tích doanh thu thuế cũng như xác định tính nhạy cảm của các biến vĩ mô có thể có hiệu quả trong việc giảm các rối loạn ngân sách của chính phủ gây ra bởi những thay đổi ngoại sinh của các biến này Việc phân tích này cũng có thể hữu ích trong việc sửa đổi cấu trúc của hệ thống thuế để ổn định nguồn thu của chính phủ Nguồn gốc của doanh thu thuế là kết quả của nền kinh tế và ngược lại khi nền kinh tế ổn định thì tất yếu sẽ dẫn đến sự ổn định của doanh thu thuế (Khodavirdi A., 2001)
2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mô hình các yếu tố tác động đến số thu thuế
Hiê ̣n trên thế giới chưa có một mô hình thống nhất về các yếu tố ảnh hưởng đến
số thu thuế nói chung và ở các nước đang phát triển nói riêng, đây vẫn còn là một vấn
Trang 3đề mở Kể từ khi mô hình các yếu tố tác đô ̣ng đến số thu thuế - được biểu hiê ̣n bằng tỷ
lê ̣ số thu thuế so với GDP (mô hình chỉ số nỗ lực thuế) được giới thiê ̣u vào đầu những năm 1960, mô hình này đã được phát triển theo nhiều hướng khác nhau trong phân tích của nhiều nhà nghiên cứu Viê ̣c tìm kiếm các yếu tố tác đô ̣ng đến số thu thuế không chỉ tập trung vào các điều kiện kinh tế mà còn tập trung vào các nhân tố xã hội và chính trị
Do đó, ngày càng có sự mở rộng và phát triển hơn các biến số trong các mô hình chỉ số
nỗ lực thuế (Ghura, 1998; Piancastelli, 2001; Teera & Hudson, 2004; Gupta, 2007) Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu quá khứ trên thế giới đều sử du ̣ng dữ liê ̣u bảng được thu thâ ̣p theo giai đoa ̣n từ nhiều quốc gia trong khu vực Trong khi đó, mă ̣c dù những mô hình tương tự cũng có thể được thực hiê ̣n trong phân tích nô ̣i bô ̣ mô ̣t quốc gia nhưng các nghiên cứu liên quan chỉ chiếm thiểu số
Khi tiến hành phân tích mô hình nỗ lực thuế trong nước, từ kết quả nghiên cứu thực nghiê ̣m các nhà nghiên cứu đã cho thấy, các quốc gia khác nhau có những điểm đặc biệt riêng nên dù với các biến số giống nhau thì kết quả nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau là không hoàn toàn giống nhau Các đặc trưng của các quốc gia đã cho thấy không tồn ta ̣i “các thành phần tiêu chuẩn” trong việc xây dựng các biến giải thích; nghiên cứu phải dựa trên các đặc điểm cụ thể của mỗi quốc gia khi áp dụng mô hình chỉ
số nỗ lực thuế (Chaudhry & Munir, 2010; Karagöz, 2013)
Ở Viê ̣t Nam, mă ̣c dù đã có mô ̣t vài nhà khoa ho ̣c vâ ̣n du ̣ng mô hình các yếu tố tác
đô ̣ng đến số thu thuế nhưng các nghiên cứu đang còn rất ít và đều thực hiê ̣n trên cơ sở dữ liê ̣u bảng được thu thâ ̣p từ mô ̣t số tỉnh thành theo khu vực tương tự như các nghiên cứu trên thế giới (Sử Đình Thành và cô ̣ng sự, 2015; Bùi Thi ̣ Mai Hoài và Nguyễn Thanh Hùng, 2016) Hầu như ta ̣i Viê ̣t Nam, chưa có nghiên cứu mô hình chỉ số nỗ lực thuế ứng du ̣ng ta ̣i mô ̣t tỉnh thành
Nhâ ̣n thấy khoảng trống trong nghiên cứu quá khứ, đă ̣c biê ̣t là ta ̣i Viê ̣t Nam, đồng thời tham khảo mô hình tổng quát của Víctor Mauricio Castañeda Rodríguez (2018) về các yếu tố quyết đi ̣nh số thu thuế (Hình 1), dựa trên đă ̣c trưng riêng về khả năng thu thâ ̣p dữ liê ̣u ta ̣i đi ̣a bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, nhóm tác giả đã lựa chọn phản ánh mối quan hệ giữa số thu thuế - đại diện bằng tỷ lệ thu thuế/GDP - và một số yếu tố kinh tế và dân số bằng cách sử dụng phương pháp kinh tế lượng theo chuỗi thời gian
Trang 4
Hình 1 Các yếu tố quyết định số thu thuế
Nguồn: Víctor Mauricio Castañeda Rodríguez, 2018
Nghiên cứu của nhóm tác giả ngoài viê ̣c bổ sung khoảng trống nghiên cứu ta ̣i Viê ̣t Nam còn góp phần đề xuất và kiểm đi ̣nh mô hình chỉ số nỗ lực thuế cho tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách thúc đẩy gia tăng số thu thuế cho đi ̣a phương Các yếu tố được xem xét trong nghiên cứu với vai trò là các biến giải thích được nhóm thành ba (03) nhóm: xử lý thuế truyền thống, cơ cấu GDP, yếu tố dân số, bao gồm tổng cộng sáu (06) biến tương ứng với sáu (06) giả thuyết trong nghiên cứu này Bảng 1 dưới đây cung cấp tóm tắt ba (03) nhóm biến và các biến tương ứng của trong từng nhóm
Hạn chế của công tác quản lý thuế
Yếu tố quyết định cấu trúc
- Giáo dục - Luật
- Tư tưởng chính trị - Dân chủ - Lao động nữ
- Chế độ bầu cử - Hiệu quả của CP
- Ổn định chính trị
- Tăng trưởng GDP - Tổng giá trị thương mại
- Tỷ lệ các khu vực/GDP - Lạm phát
- Dịch vụ nợ - Viện trợ
- Liên kết tài chính
- Nguồn lực - Dân số
Tham nhũng
- Tính chặt chẽ
- Dân số đô thị
- Tính hợp pháp
Trang 5Bảng 1 Ba nhóm biến và các biến tương ứng
1 Xử lý thuế
truyền thống
GDP bình quân đầu người RGDPpC
2 Cơ cấu GDP
Tỷ trọng ngành nông nghiệp so với
Tỷ trọng ngành công nghiệp so với
Tỷ trọng ngành dịch vụ so với GDP SER
3 Nhân khẩu học Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên POP
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả, 2020
Mô hình: TAX = f(GDPpC, TRA, AGR, IDN, SER, POP)
TAXi = β0 + β1GDPpCi + β2TRAi + β3AGRi + β4INDi + β5SERi + β6POPi +
Giả thiết cơ bản của mô hình: Số thu thuế được quyết định bởi các yếu tố kinh tế
và nhân khẩu học, cụ thể:
- Biến phụ thuộc là tổng doanh thu thuế trên GDP (TAX), được tính bằng cách lấy doanh thu thuế được thu, là số tiền đã được thu thập bởi Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế
từ người dân và các tổ chức trên địa bàn trong mỗi năm tài chính bằng cách đánh vào các hàng hóa và dịch vụ khác nhau, và thu nhập, v.v và không bao gồm các nguồn tài chính khác như quà tặng và trợ cấp, chia cho tổng sản phẩm của tỉnh Và để đảm bảo tính so sánh theo thời gian thì số thu thuế cũng như GDP đã được tính toán điều chỉnh theo chỉ số khử lạm phát
TAXi = Số thu thuế thực năm i
GDP thực năm i
- Tập hợp các biến độc lập được kiểm định bao gồm: GDP bình quân đầu người,
độ mở thương mại, tỷ trọng ngành nông nghiệp so với GDP; tỷ trọng ngành công nghiệp
so với GDP; tỷ trọng ngành dịch vụ so với GDP; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, cụ thể:
Nhóm 1 – Xử lý thuế truyền thống
+ GDP bình quân đầu người (RGDPpC): đại diện cho sự phát triển chung của nền kinh tế và dự kiến sẽ có mối tương quan thuận chiều với số thu thuế vì yếu tố này được
kỳ vọng là một chỉ số tốt về mức độ phát triển kinh tế chung và sự hợp lý của cơ cấu kinh tế Sự gia tăng GDP bình quân đầu người dựa trên sự phát triển kinh tế, đặc biệt, cung cấp cho các cá nhân khả năng mạnh mẽ hơn để nộp thuế và tham gia tích cực vào quá trình đánh thuế Nói cách khác, GDP bình quân đầu người càng cao dẫn đến nhu
Trang 6cầu càng cao về hàng hoá, dịch vụ nói chung và hàng hoá, dịch vụ công nói riêng, từ đó đồng thời làm tăng khả năng nộp thuế của xã hội, từ đó số thuế thu được sẽ tăng Kết quả này đã được khẳng định từ những phát hiện của nhiều nhà nghiên cứu trong quá khứ, chẳng hạn như Lotz và Morss (1967), Shin (1969), Bahl (1971), Tanzi và Zee (2000), Adam và Kammas (2007), Adam và cộng sự (2015), Sử Đình Thành và cộng sự (2015); Bùi Thị Mai Hoài, Nguyễn Thanh Hùng (2016)
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều cho thấy mối quan hệ tích cực giữa GDP bình quân đầu người và số thu thuế, mặc dù một số học giả cho rằng sự gia tăng GDP bình quân đầu người có thể có tác động khác vì GDP bình quân đầu người theo kết quả nghiên cứu cụ thể liên quan tích cực đến hoặc hệ thống thuế lũy tiến hoặc gián tiếp (Shin, 1969; Ghura, 1998) Hệ thống thuế của tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn nghiên cứu theo số liệu được thu thập từ Cục thuế tỉnh cho thấy nguồn thu phần nhiều dựa trên các loại thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng và các sắc thuế tiêu dùng khác, thành phần chi phối trong cơ cấu thu thuế Do đó, dựa trên bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ và các đặc điểm của cấu trúc thuế của tỉnh Thừa Thiên Huế, mối quan hệ tích cực giữa số thu thuế và GDP bình quân đầu người được mong kỳ vọng trong nghiên cứu này
Để có được kết quả so sánh và tránh tác động do lạm phát, GDP bình quân đầu người được giảm phát bằng cách sử dụng chỉ số giảm phát của tỉnh cho mỗi năm nghiên cứu
RGDPpCi = f(GDPpCi, Chỉ số khử lạm phát) Giả thuyết nghiên cứu:
H0: GDP bình quân đầu người không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến số thu thuế
H1: GDP bình quân đầu người có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến số thu thuế
+ Độ mở thương mại (TRA): Độ mở thương mại của một nền kinh tế là một trong những cách xử lý thuế cổ điển nhưng quan trọng Độ mở thương mại thường được đo bằng tỷ trọng của nhập khẩu trên GDP hoặc tổng nhập khẩu và xuất khẩu trên GDP (Hinrichs, 1966) (*) Theo nhiều tác giả, độ mở thương mại hay còn gọi là tỷ lệ tự do thương mại là một trong những tỷ lệ quan trọng và quyết định trong việc đánh thuế (Tanzi và Zee, 2000; Piancastelli, 2001; Adam và Kammas, 2007; Le và cộng sự, 2012; Adam và cộng sự, 2015) Thay đổi quy mô hoạt động ngoại thương có tác động song phương đến doanh thu thuế Nếu thuế đánh vào ngoại thương bị loại bỏ hoặc giảm,
Trang 7chúng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu thuế, mặt khác, các nền kinh tế tự do sẽ tăng trưởng nhanh hơn khi ngoại thương tăng, nó sẽ tăng GDP và dẫn đến mở rộng cơ sở thuế (Le và cộng sự, 2012)
TRAi = ((EXPi+IMPi))/GDPi (*)
Giả thuyết nghiên cứu:
H0: Độ mở thương mại không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến số thu thuế H1: Độ mở thương mại thực sự có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến đến số thu thuế
Nhóm 2 – Cơ cấu GDP
+ Tỷ trọng ngành nông nghiệp (AGR): Giá trị gia tăng ngành nông nghiệp được tính bằng một phần của GDP Giá trị gia tăng là sản lượng ròng của ngành nông nghiệp sau khi cộng tất cả các đầu ra và trừ đi các yếu tố đầu vào trung gian Ngành nông nghiệp được coi là xương sống của nhiều nền kinh tế đang phát triển, tỷ trọng của khu vực này chiếm tỷ lệ cao hơn so với các nước ở các nước phát triển Tuy nhiên, có thể khó đánh thuế ngành nông nghiệp, hay có thể nói đóng góp của ngành nông nghiệp trong doanh thu thuế vẫn còn thấp, hầu hết các nước đang phát triển miễn thuế một phần lớn các hoạt động nông nghiệp do khó thu thuế cố hữu hoặc vì lý do công bằng và chính trị Do đó, mức giá trị gia tăng nông nghiệp cao hơn dự kiến sẽ tương quan với mức khả năng chịu thuế thấp hơn (Tanzi, 1992; Piancastelli, 2001; Agbeyegbe và cộng sự, 2004; Gupta, 2007; Addison và Levin, 2011; Castro và Ramirez, 2014; Gaalya, 2015; Mawejje và Munaymbonera, 2016) Hơn nữa, một quốc gia có ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn có thể thu hẹp nhu cầu chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ công cộng, (Gupta, 2007) Mặt khác, có thể dễ dàng đánh thuế khu vực này khi xuất khẩu của ngành nông nghiệp chiếm ưu thế (Agbeyegbe và cộng sự, 2004; và Karagoz, 2013)
AGRi = Giá trị thực ngành nông nghiệp năm i
GDP thực năm i Giả thuyết nghiên cứu:
H0: Tỷ trọng ngành nông nghiệp/GDP không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến
số thu thuế
H1: Tỷ trọng ngành nông nghiệp/GDP có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến số thu thuế
Trang 8+ Tỷ lệ trọng ngành công nghiệp (IDN): là tỷ lệ phần trăm (%) của ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân (GDP) Yếu tố này có thể tác động tích cực đến
số thu thuế vì đánh thuế vào các công ty công nghiệp thường dễ dàng hơn và năng lực sản xuất của những công ty này có thể tạo ra cơ sở thuế lớn hơn rất nhiều so với ngành nông nghiệp (Eltony, 2002; Basirat và cộng sự, 2014; Ayenew, 2016)
INDi = Giá trị thực ngành công nghiệp năm i
GDP thực năm i Giả thuyết nghiên cứu:
H0: Tỷ trọng ngành công nghiệp/GDP của tỉnh Thừa Thiên Huế không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến số thu thuế của Cục thuế tỉnh
H1: Tỷ trọng ngành công nghiệp/GDP thực sự có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến
số thu thuế của Cục thuế tỉnh
+ Tỷ trọng ngành dịch vụ (SER): là tỷ lệ phần trăm (%) của ngành dịch vụ trong GDP Các kết quả về mối quan hệ giữa tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP và số thu thuế là không giống nhau trong các nghiên cứu trước đây Doanh thu thuế cao hơn ở những quốc gia nơi phát triển ngành dịch vụ và công nghiệp (Karagoz, 2013) Ở nhiều nước đang phát triển, các ngành dịch vụ là không chính thức, nên tham nhũng và hiện tượng tránh thuế khá phổ biến, do đó, doanh thu thuế từ lĩnh vực này thấp ở hầu hết các nước đang phát triển (Ahmed và Muhammad, 2010) Botlhole (2010) cũng chỉ ra mối quan hệ tương tự khi nghiên cứu về các yếu tố quyết định tỷ lệ thuế ở các nước châu Phi cận Sahara trong giai đoạn 1990 đến 2007 Trong khi đó, Piancastelli (2001) cùng Chaudhry và Munir (2010) trong nghiên cứu của mình đã cho thấy một mối quan hệ không đáng kể giữa tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP và số thu thuế
SERi = Giá trị thực ngành dịch vụ năm i
GDP thực năm i Giả thuyết nghiên cứu:
H0: Tỷ trọng ngành dịch vụ/GDP không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến số thu thuế
H1: Tỷ trọng ngành dịch vụ/GDP thực sự có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến số thu thuế
Trang 9Nhóm 3 – Yếu tố nhân khẩu học
+ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (POP): Đây là một biến số nhân khẩu học và chỉ ra tốc độ tăng dân số theo năm Theo Bahl (2003), đặc điểm nhân khẩu học của một quốc gia là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến số thu thuế Biến đại diện cho tỷ lệ gia tăng dân số được sử dụng trong nghiên cứu này là tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên, được tính bằng tỷ số giữa chênh lệch giữa tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử và tổng dân số Tỷ
lệ sinh được tính bằng số trẻ mới sinh trên mỗi 1.000 người trong tổng dân số của tỉnh
và tỷ lệ tử vong được tính theo cách tương tự Shin (1969) lập luận rằng tỷ lệ tăng dân
số cao hơn sẽ làm tăng thu thuế do sự gia tăng tiêu dùng và bán hàng Tuy nhiên, tỷ lệ gia tăng dân số cao hơn cũng có thể có mối quan hệ tiêu cực với việc thu thuế (Bahl, 2003; Teera và Hudson, 2004; Bird và cộng sự, 2004)
POPi = Số sinh năm i – Số tử vong năm i
Tổng dân số năm i Giả thuyết nghiên cứu:
H0: Tỷ lệ tăng dân số của tỉnh Thừa Thiên Huế không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến số thu thuế của Cục thuế tỉnh
H1: Tỷ lệ tăng dân số thực sự có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến đến số thu thuế của Cục thuế tỉnh
Trên cơ sở tổng hợp kết quả của các nghiên cứu quá khứ cũng như kỳ vo ̣ng nghiên cứu riêng của nhóm tác giả, xu hướng nghiên cứu kỳ vo ̣ng của các biến đô ̣c lâ ̣p dự kiến đến biến phu ̣ thuô ̣c của mô hình nghiên cứu được trình bày tóm tắt trong bảng 2 dưới đây Trong đó, cô ̣t thông tin cuối cùng trong bảng phản ánh xu hướng tác đô ̣ng kỳ
vo ̣ng của biến đô ̣c lâ ̣p đối với biến phu ̣ thuô ̣c Cu ̣ thể, dấu kỳ vo ̣ng (+) phản ánh mối quan hê ̣ thuâ ̣n chiều giữa biến đô ̣c lâ ̣p với biến phu ̣ thuô ̣c, ngược la ̣i dấu kỳ vo ̣ng (-) phản ánh mối quan hê ̣ nghi ̣ch chiều giữa biến đô ̣c lâ ̣p với biến phu ̣ thuô ̣c Đă ̣c biê ̣t, dấu kỳ vo ̣ng đối với hai biến tỷ lê ̣ ngành di ̣ch vu ̣ và đô ̣ mở thương ma ̣i là (+/-) cho thấy khả năng tác đô ̣ng đa chiều của những biến này đối với số thu thuế tùy thuô ̣c vào từng bối
cảnh nghiên cứu cu ̣ thể đã được đề câ ̣p đến trong nô ̣i dung phân tích ở trên
Trang 10Bảng 2 Xu hướng nghiên cứu kỳ vọng
vọng
TAX Tỷ lệ doanh thu thuế/GDP %
Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế Niên giám thống kê RGDPpc Thu nhập bình quân đầu người Triệu đồng Niên giám thống kê + AGR Tỷ lệ ngành nông nghiệp/GDP % Niên giám thống kê - IND Tỷ lệ ngành công nghiệp/GDP % Niên giám thống kê + SER Tỷ lệ ngành dịch vụ/GDP % Niên giám thống kê +/-
POP Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên % Niên giám thống kê +
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả, 2020 2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu tham khảo: Đọc, nghiên cứu, ghi chép các thông tin liên
quan và các công trình nghiên cứu trước cùng và gần với đề tài ở cả trong và ngoài nước
để tham khảo, chuẩn bị về cơ sở lý luận và thực tiễn để tham chiếu lựa chọn mô hình cũng như phương pháp nghiên cứu đề tài phù hợp
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập bằng cách ghi chép, tổng hợp các
số liệu bao gồm: số liệu về các yếu tố kinh tế và đặc điểm dân số của tỉnh Thừa Thiên Huế…từ các nguồn dữ liệu tin cậy khác nhau như niên giám thống kê hàng năm của tỉnh Thừa Thiên Huế và dữ liệu về thuế được thu thập từ các báo cáo thuế của Cục thuế tỉnh Ngoài ra, một số dữ liệu khác liên quan đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương còn được thu thập thông qua Cổng thông tin điện tử của địa phương, Website của Cục thống kê…
- Phương pháp xử lí, và phân tích số liệu
Nghiên cứu định lượng trên cơ sở phân tích hồi quy, là phân tích bằng cách ước tính biến phụ thuộc dựa trên hai hoặc nhiều biến độc lập liên quan với nhau Nó cho phép diễn giải tổng phương sai được giải thích trong biến phụ thuộc bằng các biến độc lập và thực hiện các diễn giải liên quan đến hướng quan hệ giữa các biến độc lập và