1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Top 50 bai thuyet minh ve truong han sieu va bai phu song bach dang

43 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Top 50 bài thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng
Trường học Đại Học Tổng Hợp Hà Nội
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Bài thuyết minh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 485,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dàn ý Thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng I/ Mở bài Giới thiệu về Trương Hán Siêu và bài "Phú sông Bạch Đằng" Trong "Cảm tưởng đọc Thiên gia thi", Hồ Chí Minh từng viết "Thơ xưa t[.]

Trang 1

Dàn ý Thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng I/ Mở bài

- Giới thiệu về Trương Hán Siêu và bài "Phú sông Bạch Đằng"

- Trong "Cảm tưởng đọc Thiên gia thi", Hồ Chí Minh từng viết: "Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp / Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông" Thi nhân xưa thường tức cảnh mà tức cảnh sinh tình như thế Trương Hán Siêu khi đối diện với Bạch Đằng giang cũng trào dâng những cảm xúc bồi hồi, xúc động như thế Niềm xúc cảm khôn nguôi ấy thôi thúc thi nhân cầm bút viết lên "Bạch Đằng giang phú" có giá trị nhân văn cao đẹp

II/ Thân bài

1/ Giới thiệu về Trương Hán Siêu

- Trương Hán Siêu là một nhân vật lớn đời Trần Ông tên chữ Thăng Phủ, quê ở làng Phúc Am, huyện Yên Ninh, Ninh Bình Trương Hán Siêu lúc trẻ làm môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Trương Hán Siêu là một người cương trực, học vấn uyên thâm, thông hiểu sâu sắc đạo Nho, đạo Phật, có tài thơ văn được vua, dân nể trọng, lại giàu lòng yêu nước và có nhiều công lao đối với triều Trần

- Năm 1308, vua Trần Anh Tông phong ông làm Hàn Lâm học sĩ Đời Minh Tông ông giữ chức Hành khiển Đời Trần Dụ Tông, năm 1339, ông làm Hữu ti Lang trung ở Môn hạ Đời Trần Dụ Tông đổi sang Tả Tư Lang kiêm chức Kinh Lược

sứ ở Lạng Giang, năm 1345 ông được thăng chức Gián nghị Đại phu tham chính

sự Ông được vua Dụ Tông sai cùng với Nguyễn Trung Ngạn hợp soạn bộ "Hoàng Triều Đại Điển" và bộ "Hình Luật Thư" Năm 1351, ông được phong Tham tri Chính sự Năm 1354, ông cáo bệnh xin nghỉ nhưng trên đường về Bắc chưa kịp đến nhà thì mất, sau được truy tặng Thái phó và cho phối thờ ở Văn Miếu, Thăng

Trang 2

Long Sau khi mất, Trương Hán Siêu được truy tặng chức Thái phó và được đưa vào thờ tại Văn Miếu ngang với các bậc hiền triết xưa

- Sáng tác của ông còn lại không nhiều: hai bia văn, bốn bài thơ và một bài phú

2/ Giới thiệu về "Bạch Đằng giang phú"

- "Bạch Đằng giang phú" được viết theo thể phú, là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần, văn xuôi, thường tả cảnh, kể về phong tục, kể sự việc, bàn chuyện đời

- Có thể dự đoán Trương Hán Siêu viết bài phú này vào khoảng năm mươi năm sau chiến thắng quân Mông - Nguyên lần thứ ba Đây là giai đoạn cuối của nhà Trần - triều đại lúc ấy đang suy vong như ánh hoàng hôn cuối ngày song hào khí Đông A một thời vẫn vang vọng trong tâm khảm những danh sĩ nặng lòng với giang sơn xã tắc

- Bài phú viết về sông Bạch Đằng - dòng sông của lịch sử, văn hóa và thi ca Đây

là dòng sông đã ghi dấu lại những chiến tích anh hùng của cha ông Bởi vậy, bài phú mang cảm hứng hoài niệm, hoài cổ rõ nét Đây là tác phẩm thể hiện đỉnh cao của tài hoa viết phú đồng thời là áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh thần tự hào dân tộc và hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc khi nhìn nhận nguyên nhân thành công của dân tộc trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước

Phân tích bài phú "Bạch Đằng giang phú"

- Mở đầu bài phú là lời giới thiệu nhân vật khách và tâm trạng của khách trước dòng sông Bạch Đằng: "Khách có kẻ Tiếc thay dấu vết luống còn lưu" Đoạn văn đã làm hiện lên chân dung con người với tư thế ung dung đang mở rộng tâm hồn khoáng đạt để thu vào tất cả những bao la, rộng lớn của đất trời Hành động

"giương buồm giong gió", "lướt bể chơi trăng" đã mở ra không gian khoáng đạt cùng những hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên, thể hiện niềm say mê bất tận của khách khi được đắm mình với thú ngao du sơn thủy

Trang 3

- Nhịp điệu đoạn văn tự do, linh hoạt, có câu ngắn, câu dài đan xen giống như nhịp con thuyền đi trên sông, có lúc dừng lại để thưởng ngoạn, có lúc lại lướt băng băng

- Khách là người đi nhiều, biết nhiều, đã từng đi nhiều miền sông bể Đó là những địa danh của Trung Quốc như Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Tam Ngô, Bách Việt, Đây đều là những thắng cảnh nổi tiếng chủ yếu gắn với không gian sông nước Cách nói ước lệ có phần khoa trương: "Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương / Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt", "Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều" chứng tỏ có những địa danh khách đã đi qua bằng thực tế, cũng có những địa danh khách đi du ngoạn bằng sự tưởng tượng, bằng sự hiểu biết qua sách vở

- Biện pháp liệt kê đã mở ra một không gian bao la với những địa danh khác nhau đồng thời cho ta hiểu biết về khách: mặc dù đã đi qua nhiều nơi nhưng vẫn luôn khao khát được khám phá bốn phương Phải chăng khách cũng muốn đặt chân lên mọi miền đất nước để viết nên lịch sử về nước mình?

- Đứng trước sông Bạch Đằng là đứng trước vẻ đẹp của bức tranh diễm lệ về sông nước Bạch Đằng một bức tranh vừa hùng vĩ vừa nên thơ: "Bát ngát sóng kình muôn dặm / Thướt tha đuôi trĩ một màu" Sông nước, đất trời cuối thu xanh biếc một màu tưởng như đất trời nối liền một dải: "Nước trời: một sắc, phong cảnh ba thu" Cảnh hiện lên không chỉ hùng vĩ, thơ mộng mà còn mang màu sắc ảm đạm, hắt hiu với bờ lau, bến lách san sát đôi bờ, với "sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô" gợi nhắc sự hoang tàn của chiến trường xưa

- Trước cảnh sông nước Bạch Đằng, tâm trạng khách đan xen nhiều cung bậc: vui, tự hào trước cảnh nước trời hùng vĩ; buồn vì cảnh đôi bờ trước mắt đều hoang vắng, đìu hiu; thương tiếc, tưởng nhớ những người anh hùng đã khuất; tiếc nuối nuối vì chiến trường xưa một thời oanh liệt giờ phai nhạt dấu vết vì thời gian

Trang 4

- Nhân vật khách cũng chính là sự phân thân của tác giả Đến với dòng sông lịch

sử này, tác giả có một phong thái ung dung để thưởng ngoạn, đồng thời cũng bày

tỏ niềm xúc động tự hào và nuối tiếc trước trận chiến trường xưa

- Đoạn văn thứ hai là lời kể của các bô lão về những chiến công trên sông Bạch Đằng Sau những cảm xúc chung của khách trước sông Bạch Đằng là lời của các

bô lão Hình thức đối đáp giữa khách và chủ là thủ pháp đặc trưng của thể cổ phú, giúp cho lời kể thêm chân thực, sự việc trở nên khách quan, đáng tin cậy Các bô lão đến với khách bằng một thái độ nhiệt tình, trân trọng

- Qua lời kể của các bô lão, sông Bạch Đằng hiện lên là nơi ghi dấu những chiến công chói lọi Đó là chiến công hào hùng của các thế hệ trước: "Ngô chúa phá Hoằng Thao", đó là chiến công của "Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã"

- Khi nói về quân địch, các bô lão đã nhấn mạnh vào sức mạnh vật chất của chúng, còn về phía ta thì nhấn mạnh vào sức mạnh tinh thần Điều đó cho thấy cuộc chiến

đó không chỉ là sự đối đầu về lực lượng mà còn là về ý chí

- Cảnh chiến sự dữ dội, ác liệt được miêu tả bằng những hình ảnh giàu sức biểu cảm, mang tầm vóc của đất trời: "Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, / Bầu trời đất chừ sắp đổi"

- Miêu tả sức mạnh của kẻ địch trước hết để nói đến tình thế cam go của trận đánh, cũng là một cách để làm nổi bật sức mạnh của quân ta, thể hiện niềm tự hào của các bô lão về những chiến công Lời kể ngắn gọn nhưng cụ thể, sinh động khi dồn dập, gấp gáp với những câu ngắn; khi chậm rãi với những câu dài đã tái hiện một cách sinh động về diễn biến, không khí của trận đánh

- Đoạn văn thứ ba là những suy ngẫm và bình luận của các bô lão về chiến công Trong lời suy ngẫm, bình luận của các bô lão về chiến công trên sông Bạch Đằng,

có thể nhận thấy nguyên nhân của chiến thắng theo các bô lão là nhờ có địa linh nhân kiệt Nhắc tới hình ảnh Trần Hưng Đạo với câu nói lưu cùng sử sách, so sánh với những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Trung Hoa: "vương sư họ Lã,

Trang 5

quốc sĩ họ Hàn", lời suy ngẫm của các bô lão đã chỉ ra vai trò quyết định của con người trong việc làm nên chiến thắng Đó cũng là một tư tưởng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc

- Đoạn văn cuối cùng là lời ca của các bô lão Lời các bô lão mang ý nghĩa tổng kết quy luật lịch sử: bất nghĩa thì tiêu vong, còn có nhân nghĩa thì lưu danh thiên

cổ

- Lời ca của khách là sự tiếp nối lời ca của các bô lão không chỉ ở hình thức đối đáp trong phú mà còn là sự tiếp nối và mở rộng về tư tưởng, đề cao vai trò của đức sáng trong con người Đó chính là hạt nhân của mọi chiến thắng

- Lợi kết thúc bài phú thể hiện niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân văn cao đẹp:

đề cao vai trò, vị trí con người trong lịch sử đồng thời cũng là minh chứng cho sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và chất trữ tình trong phú

3/ Đánh giá

- Nghệ thuật: Bài phú là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam Bài phú với bố cục chặt chẽ, lời văn linh hoạt ngôn từ vừa trang trọng vừa gợi cảm, bút pháp miêu tả linh hoạt, xây dựng thành công hình tượng chủ - khách, kết hợp hài hòa giữa chất văn xuôi và chất thơ

- Nội dung: Bài phú thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc qua tiếng nói ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, truyền thống lịch sử hào hùng, truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lý nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc Việt Nam Bài phú cũng chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp: đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử

III/ Kết bài

- Khẳng định lại vị trí, thành công của Trương Hán Siêu và "Bạch Đằng giang phú", nêu suy nghĩ bản thân

Trang 6

- "Phú sông Bạch Đằng" của Trương Hán Siêu là một tác phẩm tiêu biểu cho dòng văn học yêu nước và là lời nhắc nhở mỗi người, mỗi dân tộc lòng tự hào truyền thống, đạo lý nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc Việt Nam, thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc để cập vai trò và vị trí của con người

Thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng – Mẫu 1

Là một cây bút văn học không chỉ có học vấn sâu rộng, có tài văn chương, Trương Hán Siêu còn giàu lòng yêu nước Điều đó được thể hiện rõ nét và đầy đủ qua tác phẩm “Bạch Đằng giang phú” mà ông để lại cho nền văn học Việt Nam

Trong lịch sử nền văn học Việt Nam có rất nhiều tác gia lớn để lại cho đời những tác phẩm văn học bất hủ như Nguyễn Trãi ghi dấu ấn với Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Du gây ảnh hưởng bởi Truyện Kiều… thì Trương Hán Siêu để lại một kiệt tác văn học như áng thiên cổ hùng văn mang tên “Bạch Đằng giang phú” Trương Hán Siêu sinh ra ở làng Phúc Am, huyện Yên Ninh nay thuộc tỉnh Ninh Bình Theo sử sách có ghi chép lại, xuất thân của Trương Hán Siêu là môn khách của Trần Hưng Đạo Ông có học vấn uyên thâm và tính tình cương trực, thẳng thắn Bản thân ông là một người văn võ song toàn khi ông vừa là tác gia văn học lớn vừa lập được rất nhiều công trạng trong những trận đánh chống giặc Mông Nguyên xâm lược Trong sự nghiệp chính trị, ông được vua Trần Dụ Tông tin tưởng và giao nhiều chức vụ quan trọng và được phong chức Hàn lâm Học sĩ Ông mất năm 1353 để lại nhiều tiếc thương trong lòng dân Khi ông mất, nhà vui

đã truy tặng ông chức Thái phó và được thờ ở văn miếu quốc gia ngang với các bậc hiền triết Ông đã từng là người bài xích đạo Phật, tuy nhiên hiểu được con người và tài năng của ông, vua không trách mà còn giao cho ông làm quản tự ngôi chùa lớn Đến những ngày cuối đời, ông lại là người sùng bái đạo Phật và cho ra những tác phẩm bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tôn giáo này Về sự nghiệp văn chương, ông để lại cho đời rất nhiều tác phẩm hay như bài thơ: Cúc hoa bách

Trang 7

vịnh, Quá tông đô, Dục Thúy sơn, Hóa châu tác… và các tác phẩm văn xuôi: Dục Thúy sơn linh tế tháp ký, Khai Nghiêm tự bi ký đều được viết bằng chữ Hán Tác phẩm “Bạch Đằng giang phú” là một trong những bài phú chữ Hán đặc sắc nhất của ông còn lưu giữ đến ngày nay Xuyên suốt bài phú, tác giả sử dụng giọng điệu, ngôn từ căm thù quân giặc, tự hào về ý chí quật cường của dân tộc Đây không chỉ là một tác phẩm xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác văn học của ông mà còn trở thành tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ Lý Trần Bài phú được xem

là áng thiên cổ hùng văn với nội dung sâu sắc, ý nghĩa và nghệ thuật văn học đỉnh cao

Đọc bài phú, chúng ta dễ dàng cảm nhận tình yêu đất nước sâu sắc của tác giả cũng như niềm tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất của dân tộc như đạo nhân nghĩa ở đời đã được nhắc đến trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Giá trị nhân văn cao đẹp trong bài phú thể hiện qua việc đề cao vị trí và vai trò của con người đã làm nên lịch sử

Niềm tự hào chứa chan trong bài phú thể hiện đậm nét qua những câu thơ tổng kết lại chiến thắng vang dội Bạch Đằng năm xưa:

“Giặc tan muôn thuở thăng bình,

Bởi đâu đất hiểm, bởi mình đức cao”

Bài phú được chia thành 4 phần với kết cấu mạch lạc và liên kết chặt chẽ với nhau Phần mở là phần cảm xúc của nhân vật khách khi nhìn thấy cảnh sắc trên sông Bạch Đằng Miêu tả lại trận Bạch Đằng hào hùng qua lời kể của các bô lão cũng như những bình luận, suy ngẫm của các bô lão trước nguyên nhân đem lại chiến thắng hiển hách của quân ta trên sông Bạch Đằng Các bô lão cũng kết lại bằng lời ca khẳng định nhân nghĩa, vai trò đức độ của con người

Tác phẩm theo thể phú với kết cấu tứ thơ theo hình thức đối đáp giữa khách và chủ Khách mang tâm hồn yêu thiên nhiên yêu cảnh trí vô cùng khoáng đạt, thích

du ngoạn khắp nơi và yêu thích tìm hiểu lịch sử của dân tộc Khách du ngoạn trên

Trang 8

sông Bạch Đằng không chỉ để ngắm nhìn cảnh thiên nhiên thỏa lòng yêu thích

mà còn để hồi tưởng lại, để sống lại nơi đã từng ghi dấu chiến thắng oanh liệt của dân tộc ta

Mang trong mình khát vọng tìm hiểu lịch sử của dân tộc, Khách muốn noi gương những sư gia nổi tiếng trong lịch sử Trong quá trình ngao du, khách gặp chủ là những bô lão sống ở ven sông là người dân địa phương – họ là nhân chứng sống khi đã trực tiếp tham gia kháng chiến năm xưa Nhân vật bô lão cũng chỉ là nhân vật hư cấu qua trí tưởng tượng để giúp tác giả dễ dàng bày tỏ, bộc bạch những cảm xúc và suy nghĩ của mình hơn bao giờ hết

Về nghệ thuật, tác phẩm tiêu biểu cho giá trị văn chương bởi nghệ thuật đỉnh cao Trương Hán Siêu đã rất khéo léo khi sử dụng thể phú tự do không bị gò bó về hình thức nhưng toàn bộ bài thơ lại vô cùng gắn kết và xuyên suốt giữa yếu tố tự

sự và trữ tình Kết cấu bài phú chặt chẽ với thủ pháp liên ngâm thể hiện tài năng văn chương của tác giả cũng như lối tư duy sắc sảo nâng tầm giá trị văn học Hình tượng nghệ thuật trong bài phú cũng được tác giả xây dựng vô cùng sinh động với giọng điệu trang trọng, hào hùng không kém phần lắng đọng cảm xúc, đôi lúc lại triết lý sâu xa khiến người đọc bị cuốn đi và sống trong những cảm xúc, tâm

tư của tác giả về niềm tự hào dân tộc, niềm tự hào về con người nước ta và niềm tin mãnh liệt vào tương lai và vận mệnh của dân tộc

Không chỉ giàu lòng yêu nước, học vấn sâu rộng, Trương Hán Siêu còn có tài văn chương bậc thầy được thể hiện qua bài “Bạch Đằng giang phú”, ông xứng đáng

là một tác gia lớn trong nền văn học nước nhà

Thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng - Mẫu 2

Nhắc đến triều đại nhà Trần, ta không thể không nhắc đến một nhân vật lớn, nhân vật có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến nhân dân là Trương Hán Siêu Ông là một người có trình độ học vấn vô cùng sâu rộng, uyên bác, lại trải qua những bốn đời vua nhà Trần là Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông và cả hai cuộc

Trang 9

chiến chống quân Nguyên xâm lược, ông đã đóng góp rất nhiều cho nhà Trần, được các vị vua thời này tôn kính như một bậc thầy

Trương Hán Siêu cũng là người biên soạn nhiều tác phẩm nổi tiếng, là những áng văn bất hủ mỗi khi nhắc lại Đó là Bạch Đằng Giang phú, Linh tế thập kỷ, Quang Nghiêm Tự bi văn… Năm 1308, ông được bổ nhiệm làm Hàn lâm học sĩ ở đời vua Trần Anh Tông Đến đời vua Trần Minh Tông, ông giữ chức hành khiển, làm Môn hạ hữu ty lang tông ở đời Trần Hiến Tông năm 1339 Và đến năm 1342, vào đời vua Trần Dụ Tông thì ông giữ chức Tả ty lang trung kiêm Kinh lược Vào tháng 11 năm 1353, Trương Hán Siêu xin cáo bệnh về quê nhưng chưa kịp đến kinh sư thì ông mất Sau khi ông mất, vua đã truy tặng cho ông các chức danh lần lượt là hàm thái bảo và thái phó Năm 1972 được thờ tại Văn miếu Quốc tử giám Trong suốt cuộc đời của mình, Trương Hán Siêu đã nhiều lần được giữ những chức vụ quan trọng và đóng góp đáng kể cho đất nước Kể cả cho đến khi ông mất thì vua và các quan trong triều cũng vô cùng đau xót, truy tặng cho ông những danh huy chương đáng giá Đặc biệt, việc Trương Hán Siêu được thờ tại Văn miếu Quốc tử giám sau khi ông mất cho thấy sự coi trọng của quân vương đối với ông Vai trò của Trương Hán Siêu đối với đất nước được ví như những bậc hiền triết thời xưa

Những tác phẩm của Trương Hán Siêu thường là những áng văn bất hủ, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và lòng tự hào dân tộc Một trong những nét điển hình cho phong cách của Trương Hán Siêu là cái nhìn về lịch sử, mang dấu ấn hoài niệm, hoài cổ nhưng vẫn đầy trữ tình Và bài Bạch Đằng Giang Phú (Phú sông Bạch Đằng) chính là một tác phẩm minh chứng cho điều này

Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông kết thúc thắng lợi, cuộc sống tiếp diễn bình thường thì 50 năm sau, Trương Hán Siêu sáng tác bài Phú sông Bạch Đằng, bài thơ là nỗi niềm hoài niệm của tác giả về một thời kỳ lịch sử vàng son, chói lọi của dân tộc Sông Bạch Đằng là chứng nhân lịch sử, cùng đồng hành với những sự kiện nổi tiếng như: Chiến thắng quân Nguyên Mông năm 938

Trang 10

của Ngô Quyền, Chiến thắng quân Nguyên Mông năm 1288 của Trần Hưng Đạo Tác phẩm được viết theo thể phú, một thể văn xuất phát từ Trung Quốc Thể loại này thường được viết bằng văn vần hoặc văn xuôi xen lẫn văn vần Nội dung kể

về những sự việc khách quan trong cuộc sống, từ những sự vật, những phong tục, tập quán… Về nghệ thuật của tác phẩm thì đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất, đỉnh cao nhất của thể loại thơ phú Bằng tài năng tả cảnh, bút pháp trữ tình đan xen giọng kể mang tính sử thi của tác giả, con sông Bạch Đằng đã hiện lên với những chiến tích lịch sử oanh liệt, hào hùng Qua đó mà ta thấy thêm tự hào về lịch sử của dân tộc, đồng thời cũng cảm nhận được tình yêu nước, nỗi niềm hoài cổ của tác giả

Đoạn trích Phú sông Bạch Đằng được chia làm bốn phần Phần 1 là những cảm xúc trước cảnh sông Bạch Đằng của người khách:

“Khách có kẻ:

Chèo quế bơi trăng

Buồm mây giông gió

Sớm ngọn Tương kia

Chiều hang Vũ nọ

Vùng vẫy Giang, Hồ

Tiêu dao Ngô, Sở

Ði cho biết đây

Ði cho biết đó

Chằm Vân, Mộng chứa ở trong kho tư tưởng, đã biết bao nhiêu:

Mà cái chí khí tứ phương, vẫn còn hăm hở

Mới học thói Tử Trường

Bốn bể ngao du

Qua cửa Ðại Thần

Sang bến Ðông Triều

Ðến sông Bạch Ðằng

Trang 11

Ðủng đỉnh phiếm chu

Trắng xoá sóng kình muôn dặm

Xanh rì đặng ác một màu

Nước trời lộn sắc

Phong cảnh vừa thu

Ngàn lau quạnh cõi

Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá?

Mà đây dấu vết vẫn còn lưu”

Tác giả đã hóa thân vào nhân vật khách trong một tâm thế dạo chơi, thưởng thức phong cảnh của đất nước Tác giả đã nêu ra những địa danh của Việt Nam như: cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng… và cả những địa danh của Trung Quốc: Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Tam Ngô… Cho thấy vốn hiểu biết sâu rộng cùng với lòng tự hào, tình yêu của Trương Hán Siêu đối với đất nước Phần hai nói về những chiến công lịch sử của sông Bạch Đằng được thuật lại qua lời kể của các bô lão:

“Bên sông bô lão, hỏi ý ta sở cầu?

Có lẻ gậy lê chống trước, có người thuyền nhẹ bơi sau,

Vái ta mà thưa rằng:

Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng Nhị Thánh bắt Ô Mã,

Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Tháo

Đương khi ấy:

Thuyền bè muôn đội, tinh kỳ phấp phới

Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói

Trang 12

Trận đánh được thua chửa phân,

Chiến lũy bắc nam chống đối

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,

Bầu trời đất chừ sắp đổi

Kìa: Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối,

Những tưởng gieo roi một lần,

Quét sạch Nam bang bốn cõi!

Thế nhưng: Trời cũng chiều người,

Hung đồ hết lối!

Khác nào như khi xưa:

Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay,

Trận Hợp Phì Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi

Đến nay nước sông tuy chảy hoài,

Mà nhục quân thù không rửa nổi!

Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi.”

Thái độ của các bô lão đối với nhân vật khách thể hiện sự hiếu khách và nhiệt tình Họ là những người đại diện cho cả một thế hệ đi trước, những người chứng kiến các cột mốc chói lọi khi xưa Những lời kể của các bô lão về trận đánh làm hiện ra sự thất bại nhục nhã của quân giặc và chiến thắng oanh liệt của quân dân

ta

Phần 3 là lời nhận xét, bình luận về chiến công trên sông Bạch Đằng:

“Tuy nhiên: Từ có vũ trụ, đã có giang san

Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở,

Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an

Hội nào bằng hội Mạnh Tân: Như vương sư họ Lã,

Trận nào bằng trận Lưu Thủy: Như quốc sĩ họ Hàn

Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,

Bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn

Trang 13

Tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn

Đến bên sông chừ hổ mặt,

Nhớ người xưa chừ lệ chan.”

Lời bình luận của các bô lão về những chiến tích lịch sử gợi ra nguyên nhân thắng lợi của dân tộc Đó là nhờ vào việc hội tụ đầy đủ các yếu tố từ con người, thời điểm, hoàn cảnh

Và phần cuối cùng, tác giả thể hiện sự ca ngợi con người với những chiến công

và tầm vóc của họ:

“Rồi vừa đi vừa ca rằng:

Sông Đằng một giải dài ghê,

Luồng to sóng lớn dồn về bể Đông

Những người bất nghĩa tiêu vong,

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh

Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:

Anh minh hai vị Thánh quân,

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh

Giặc tan muôn thủa thanh bình,

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.”

Lời khẳng định của tác giả cho thấy đường lối tài tình của nhà Trần Tác giả khẳng định vai trò to lớn của con người trong cuộc chiến, thể hiện niềm tự hào, lời ngợi

ca của dân tộc đối với những con người trong lịch sử, họ đã dựng nước và giữ nước bằng cả tấm lòng yêu quê hương của mình

Tác phẩm Phú sông Bạch Đằng không chỉ có ý nghĩa và giá trị đối với riêng nhà Trần Nó còn có ý nghĩa và giá trị đối với nền văn học trung đại Việt Nam và xa hơn là còn được lưu giữ đến tận hiện tại Qua đó thấy được tài năng của tác giả

và thêm hiểu biết về lịch sử của đất nước ta Đọc tác phẩm, ta thấy trân trọng

Trang 14

những giá trị mà người xưa để lại, từ đó mà không ngừng nỗ lực cống hiến cho đất nước để đất nước ngày càng phát triển, vươn xa ra thế giới

Thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng - Mẫu 3

Trương Hán Siêu là một tác giả lớn của thời đại nhà Trần Tên tuổi của ông là Thăng Phủ, ông từng làm quan qua 4 đời vua và giữ nhiều chức vụ quan trọng như Hàn lâm học sĩ hay Thượng thư Ông là một nhà chính trị tài ba lỗi lạc, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình và được nhà vua rất coi trọng, khi qua đời ông được vua truy tặng chức Thái bảo, Thái phó Trương Hán Siêu trở thành một danh sĩ nổi tiếng của nền văn học Trung đại Việt Nam, bài Phú sông Bạch Đằng ra đời trở thành một tác phẩm tiêu biểu, gắn liền với tên tuổi của ông Trương Hán Siêu vốn có tính tình cương trực, thẳng thắn và giàu lòng yêu nước,

có nhiều đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Ông cũng là người

có học vấn uyên thâm và sâu rộng Để lại nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng như Cúc hoa bách vịnh, Hoá Châu tác, Dục Thuý sơn Trương Hán Siêu từng soạn bài ký tháp Linh Tế Ông được coi là nhà văn hóa lớn của thời đại Các tác phẩm của Trương Hán Siêu đều thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào về lịch

sử truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam hay tình yêu thiên nhiên Ngôn ngữ trong thơ ông tinh tế, giàu cảm xúc lắng đọng, hình ảnh giàu sức gợi và tính thuyết phục cao

Phú sông Bạch Đằng được xem là một tuyệt tác của Trương Hán Siêu, một đỉnh cao của văn học Việt Nam Bài thơ viết theo thể phú viết xen lẫn văn vần và văn xuôi, được viết bằng chữ Hán Bài phú sáng tác sau kháng chiến Mông Nguyên thắng lợi, đã thể hiện được tình yêu đất nước và sự tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc Có ý nghĩa lớn trong việc đúc kết lại những chiến thắng Bạch Đằng lúc bấy giờ

"Khách có kẻ:

Giương buồm giong gió chơi vơi,

Trang 15

Lướt bể chơi trăng mải miết

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,

Chiều lần thăm chừ Vũ huyệt

Cửu Giang, Ngũ Hồ,

Tam Ngô, Bách Việt

Nơi có người đi,

Đâu mà chẳng biết

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,

Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết

Bèn giữa dòng chừ buông chèo,

Học Tử Trường chừ thú tiêu dao

Qua cửa Đại Than,

Ngược bến Đông Triều,

Sông chìm giáo gãy,

Gò đầy xương khô

Buồn vì cảnh thảm,

Đứng lặng giờ lâu."

Khách xuất hiện với vẻ đẹp của một con người có tâm hồn tự do với hoài bão lớn Khách dạo chơi đâu chỉ ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn bồi thêm vốn hiểu

Trang 16

biết của mình Những địa danh lần lượt hiện lên khiến tâm hồn của tao nhân chứa đựng những xúc cảm lẫn lộn, vừa vui, vừa buồn, vừa tự hào lại vừa tiếc nuối

Các bô lão

Vái ta mà thưa rằng:

"Đây là chiến địa buổi trùng hưng nhị thánh bắt Ô Mã,

Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao."

Đương khi ấy:

Thuyền tàu muôn đội,

Tinh kì phấp phới

Hùng hổ sáu quân,

Giáo gươm sáng chói

Trận đánh được thua chửa phân,

Chiến luỹ bắc nam chống đối

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,

Bầu trời đất chừ sắp đổi

Kìa:

Tất Liệt thế cường,

Lưu Cung chước dối

Những tưởng gieo roi một lần,

Quét sạch Nam bang bốn cõi

Thế nhưng:

Trời cũng chiều người,

Hung đồ hết lối

Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay,

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi

Đến nay sông nước tuy chảy hoài,

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi."

Trang 17

Các bô lão tiếp đón vị khách bằng lòng nhiệt thành và nồng hậu nhất Thái độ đầy tôn kính và hiếu khách đã giúp các bô lão kể về những trận chiến đầy oanh liệt một cách hào hùng và nhiệt huyết, Lời thơ ngắn gọn mà đầy rẫy những chiến công oanh liệt trên sông Bạch Đằng

Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:

"Anh minh hai vị thánh quân,

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh

Giặc tan muôn thuở thanh bình,

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao."

Tác giả đã ca ngợi sự anh minh của các vị vua Trần, ca ngợi những chiến tích oai hùng đồng thời khẳng định vai trò to lớn của nhân kiệt

Bằng việc sử dụng thể phú tự do, không bị gò bó về hình thức, kết hợp tài tình giữa tự sự và trữ tình tăng khả năng biểu cảm, phong phú đa dạng về hình ảnh Kết cấu chặt chẽ, thủ pháp liên ngâm tác giả đã cho thấy được tài năng trong ngòi bút và cách tư duy sâu sắc của mình Đồng thời, bài phú còn thể hiện được niềm

tự hào về con người và niềm tin vào vận mệnh quốc gia dân tộc

Thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng - Mẫu 4

Trương Hán Siêu sinh năm (?-1354) Tự là Thăng Phủ, người làng Phúc An, huyện Yên Ninh (nay thuộc thành phố Ninh Bình) Ông vốn là môn khách của Trần Hưng Đạo, là một danh sĩ thời Trần Năm 1351 ông được thăng tham tri chính sự Khi mất ông được vua tặng tước Thái Bảo,Thái phó và được thở ở Văn Miếu (Hà Nội) Trương Hán Siêu được người đời nhận xét là một người có tình tình cương trực, hào phóng có tâm hồn lãng mạn, thích đi du ngoạn và tìm cho mình một phong cảnh tuyệt vời Và ông đã tìm đến Phú sông Bạch Đằng để ngắm cảnh thiên nhiên ở đây

Như ta đã biết, Phú sông Bạch Đằng là một nhánh sông đổ ra biển Đông nằm giữa Quảng Ninh và Hải Phòng nơi ghi dấu những chiến công lịch sử của dân tộc, đáng

Trang 18

nhớ nhất là chiến thắng năm 938 của Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán và năm

1288 của Trần Quốc Tuấn đánh tan quân Mông - Nguyên

Tác phẩm Phú sông Bạch Đằng được viết bằng chữ Hán, Bùi Văn Nguyên đã dịch khá thành công áng văn này Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục, hoặc tính tình Mỗi bài phú thường bao gồm bốn phần Ở bài Phú sông Bạch Đằng cũng không ngoại lệ, phần một của bài phú này từ đầu cho đến tiếc thay dấu vết luống còn lưu, phần này giới thiệu về nhân vật khách khi du ngoại ở sông Bạch Đằng Với câu thơ “Khách” có kẻ trong bài phú là nơi nhà cao ghế tựa, trưa mùa hạ nắng nóng, áo trong ngắn, làn nước biếc “Khách” ở đây Mạch Đình Chi đã biểu lộ tấm lòng thanh cao, chí khí, hoài bão của kẻ sĩ ở đời Trương Hán Siêu là một danh sĩ nổi tiếng, với chín câu đầu cho ta thấy Trương Hán Siêu

có tâm hồn hiểu biết rộng, có chí khí lớn, ham thích với cuộc sống phong ba cùng thiên nhiên mây gió, thích thú tiêu dao và tâm hồn tự do Đêm thì “chơi trăng” ngày thì “sớm gõ thuyền chờ Vũ Nguyệt” Các danh lam thắng cảnh trong bài phú như: Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hổ, Tam Ngô, Bách Việt… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một

cá tính, một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú

ở đời, tự hào về thói “Giang hồ” của mình, bên cạnh đó với đoạn thơ:

Đầm vân mộng chứa vài trăm dạ cũng nhiều

Bát ngát song kình muôn dặm

Thướt tha đuôi trĩ một màu

Đã nói lên cảnh đẹp hùng vĩ, bát ngát ngoài ra còn thể hiện được cảnh đẹp đó là một danh lam thắng cảnh của đất nước Qua phần hai “từ đoạn tiếp theo cho đến hội nào bằng hội Mạnh Tân: như vương sư họ Lã” Cuộc gặp gỡ bên sông và câu chuyện bô lão, các bô lão đã đón tiếp khách rất chu đáo và hiếu khách Các bô lão là người kể chuyện và cũng là người bình luận những chiến tích xưa Đặc biệt hơn, các bô lão cũng là người đã từng tham gia trận chiến và nhân vật “Khách”

đã đối thoại để bày tỏ những tâm tư tình cảm của mình với các bô lão xuất hiện

Trang 19

giữa lúc nhân vật “Khách” đang ngậm ngùi nhớ tiếc Với giọng kể hào hùng, rành rọt và sôi nổi như đang diễn ra chiến tranh vậy Đúng là cảm hứng của những người trong cuộc Phần ba là tiếp theo cho đến nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh Lời bình của các bô lão đã nhấn mạnh những trận chiến lẫy lừng và các nhân tài, đồng thời đã mang ý nghĩa tổng kết giống như tuyên ngôn chân lý Phần bốn là phần còn lại Đây là lời bình của nhân vật khách, đây là lời tiếp nối lời các

bô lão, là bài ca ngợi sự anh minh của vị thánh quân, ca ngợi giá trị của những chiến công, đem lại nền thái bình muôn thuở Tiếp nối phần bình luận của các vị

bô lão về lịch sử Hai câu cuối của bài ca này là lời kết thúc một chân lý về mối quan hệ giữa đất hiểm và người tài

Qua bài thơ Phú Sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu đã cho ta đây là một tác phẩm tiêu biểu cho dòng văn học yêu nước và là niềm tự hào cho dân tộc, tự hào truyền thống đạo lý, nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc Việt Nam Đồng thời thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc để cập vai trò và vị trí của con người

Thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng - Mẫu 5

Văn học thời Lý – Trần, ngoài áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, hay “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, thì không thể không kể đến bài phú nổi tiếng “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu

Trương Hán Siêu, tự là Thăng Phủ, hiệu Đôn Tẩu, sinh năm nào không rõ, chỉ biết ông mất năm 1354 Quê ông ở thôn Phúc Am, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên (nay thuộc thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình) Ông xuất thân là môn khách của Trần Hưng Đạo, từng lập công trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288), nên được tiến cử lên triều đình Đời làm quan của ông trải qua bốn đời vua Trần: Anh Tông (1293-1314), Minh Tông (1314-1329), Hiến Tông (1329-1341), Dụ Tông (1341-1369), thăng chức cao nhất đến Tham trị chính sự và từng làm quan ở vùng Lạng Giang (Bắc

Trang 20

Giang) và Châu Hóa (Thừa Thiên – Huế) Đương thời, Trương Hán Siêu là một học giả uyên bác và là người đầu tiên lên tiếng phê phán đạo Phật, mở đường cho Nho giáo tiến lên Năm 1353, ông lãnh chiếu chỉ ra trấn nhậm Hoá Châu (Huế), sai người xây thành đắp lũy, lập kế chống quân Chiêm Năm 1354, ông cáo bệnh xin nghỉ nhưng trên đường về Bắc chưa kịp đến nhà thì mất, sau được truy tặng Thái phó và cho phối thờ ở Văn Miếu, Thăng Long.Sau khi mất, Trương Hán Siêu được truy tặng chức Thái phó và được đưa vào thờ tại Văn Miếu ngang với Chu Văn An và các bậc hiền triết xưa

Trương Hán Siêu sáng tác khá nhiều, gồm nhiều loại như hình luật, phú, thơ ca, văn xuôi, tất cả đều được viết bằng chữ Hán Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn "Dục Thuý sơn khắc thạch","Linh Tế Tháp ký","Khai Nghiêm tự bi","Bạch Đằng giang phú",…đều là những tác phẩm nổi tiếng Trong số đó, “Bạch Đằng giang phú” là bài phú nổi trội nhất của ông và cũng là bài phú nổi tiếng nhất trong

số các bài phú chữ Hán thời Trần còn lại đến ngày nay Bài phú tổng cộng gồm

32 liên và hai bài ca, nói về vẻ đẹp hùng vĩ vùng cửa sông Bạch Đằng và gợi lại các chiến công chống xâm lược từng gắn với địa danh này

Bài “Phú sông Bạch Đằng” chưa rõ được viết năm nào, có thể vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên thắng lợi Bài phú viết về sông Bạch Đằng, một con sông ghi dấu nhiều chiến công hiển hách trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, từ thời Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán đến nhà Trần chiến thắng Mông – Nguyên, đều là những đạo quân xâm lược hùng mạnh của phương Bắc Mặc dù được viết theo lối phú cổ thể, có vần nhưng câu văn tương đối tự do, không bị gò bó vào niêm luật Bài phú là cảm xúc hoài niệm của tác giả về những chiến thắng lẫy lừng của quân dân nhà Trần trên sông Bạch Đằng vào thời điểm nhà Trần đang suy thoái Tác phẩm vừa chứa chan niềm

tự hào, vừa đọng nỗi đau, vừa thể hiện triết lý về sự đổi thay, biến thiên và xoay vần của tạo hoá Bài phú chia làm hai phần: phần độc thoại với khách và phần đối thoại giữa khách với các bô lão bên sông Kết cấu bài phú hình thành hai tuyến

Trang 21

nhân vật Nhân vật khách, cũng là sự phân thân của tác giả và nhân vật tập thể: các bô lão địa phương Xuất hiện với tư cách là đối tượng tâm tình, nhân vật các

bô lão có thể là thực – đó là những người tác giả gặp trên đường thoả chí tiêu dao, thậm chí, họ có thể là những người trước đây đã làm nên chiến công trên dòng sông lịch sử mấy, song cũng có thể họ chỉ là những nhân vật hư cấu Hư cấu nhân vật, hư cấu ra cuộc đối thoại là cách để tác giả gián tiếp bày tỏ những suy ngẫm của mình về đất nước, về nhân dân, về dòng sông lịch sử Chiến thắng Bạch Đằng giang được diễn tả như một bài thơ tự sự đậm chất anh hùng ca Tiếng trống trận, tiếng gươm khua như hoà vào cảm hứng tự hào, kiêu hãnh để rồi lắng lại trong suy ngẫm: “Trời đất cho nơi hiểm trở” “Nhân tài giữ cuộc điện an”

“Đến sông đây chừ hổ mặt

Nhớ người xưa, chừ lệ chan”

Lời ca của các bô lão là lời khẳng định sự tồn tại vĩnh hằng của dòng sông lịch

sử và những chiến công hiển hách ở đây đồng thời cũng khẳng định sự tồn tại vĩnh hằng của chân lý: bất nghĩa tất yếu sẽ tiêu vong, chỉ có anh hùng là lưu danh thiên cổ Lời ca của “Khách” (theo lối liên ngâm) cũng tiếp nối niềm tự hào ấy đồng thời thể hiện quan niệm vững chắc vào vai trò của con người trong việc “giữ cuộc điện an” Đây là quan niệm tiến bộ và hết sức nhân văn Về giá trị nội dung:

“Phú Sông Bạch Đằng” đã thể hiện niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước trước những chiến công trên sông Bạch Đằng đồng thời ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam Tác phẩm cũng chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc để cao vai trò, vị trí con người trong lịch sử Về nghệ thuật, bài phú sử dụng những chi tiết mang hình ảnh điển tích chọn lọc, hoài cổ kết hợp với thủ pháp liên ngâm,hình thức đối đáp, đặc biệt

là sự sáng tạo hình tượng nhân vật “khách” và nhân vật “các bô lão”, một nhân vật đại diện cho hiện tại và một nhân vật là chứng nhân lịch sử, đồng thời trong mỗi nhân vật đều có sự phân thân của cái tôi tác giả, một cái tôi tráng sĩ có tâm

Ngày đăng: 14/02/2023, 19:20

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm