1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Top-50-Bai-Phan-Tich-Cai-Toi-Tru-Tinh-Cua-Han-Mac-Tu-Trong-Bai-Day-Thon-Vi-Da-Hay-Nhat.pdf

40 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Cái Tôi Trữ Tình Của Hàn Mặc Tử Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Huế
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 396,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dàn ý phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ I/ Mở bài: - Giới thiệu một cách ngắn gọn tác giả tác phẩm - Giới thiệu và cảm nhận về sự nghiệp, phong cách sáng

Trang 1

Dàn ý phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ I/ Mở bài:

- Giới thiệu một cách ngắn gọn tác giả tác phẩm

- Giới thiệu và cảm nhận về sự nghiệp, phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử

- Cảm nhận khái quát nhân vật trữ tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ”

II/ Thân bài:

a/ Tâm trạng khát khao được trở về với cuộc sống trần gian đầy tươi đẹp

- Câu hỏi:" Sao anh không về chơi thôn Vĩ" vừa là lời mời( của một cô gái với tác giả), vừa là lời trách( Hàn Mặc Tử tự trách chính bản thân mình sao đã quá lâu không trở về thăm lại chốn xưa) -> Niềm khát khao được về lại một cuộc sống tươi đẹp, về lại với mọi người

- Hàn mặc tử khát khao được trở về thôn Vĩ, vì cuộc sống quá đẹp, tràn đầy sinh khí và nhựa sống, Hàn Mặc Tử yêu say đắm vẻ đẹp đó:

+ ( Phân tích bức tranh khu vườn thôn Vĩ)

- Càng khao khát nhớ nhung, Hàn mặc tử lại càng tiếc nuối cuộc sống

b/ Tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình

- Nhân vật trữ tình phải chịu đựng nỗi đau đầy bất hạnh: dù đang trong quãng thời gian thanh xuân đẹp nhất cuộc đời nhưng lại phải xa lìa cuộc sống, xa lìa với tất cả những gì thân thương nhất

+ Hình ảnh gió đi đường gió/ mây đường mây làm liên tưởng đến bi kịch cuộc đời của tác giả

- Chính vì đau đớn, Hàn Mặc Tử chỉ còn cách tìm đến ánh trăng bầu bạn, điều này cho thấy sự cô đơn đến tuyệt vọng của tác giả

- Nhưng ánh trăng ấy có thể không về kịp, Hàn Mặc Tử bày tỏ nỗi lo lắng, bồn chồn

Trang 2

- Hàn Mặc Tử thực sự khát khao được chia sẻ và đồng điệu

c/ Tâm trạng hoài nghi

- Hàn Mặc Tử nhận thức rõ sự khác biệt giữa thế giới mình đang sống và thế giới của mọi người

- Ông hoài nghi rằng trong một thế giới như vậy, thì" ai biết tình ai có đậm đà"?

=> Tâm trạng của nhân vật trữ tình mang nhiều sắc thái, cung bậc tình cảm cảm xúc, thể hiện nhiều khía cạnh phức tạp

III/ Kết bài

- Khẳng định lại giá trị tác phẩm

- Nêu cảm nhận của bản thân

Phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ - Mẫu 1

Phong trào Thơ Mới là sự bùng nổ của những cái tôi cá nhân Mỗi người một phong cách, một dáng vẻ làm phong phú thêm khu vườn thơ ca hiện đại Trong khu vườn đấy ta không thể không nhắc đến Hàn Mặc Tử một cái tôi đầy cô đơn, u uất, hoài niệm, một cái tôi đau đớn khắc khoải và tha thiết yêu cuộc sống Cái tôi ấy đã được thể hiện một cách đầy đủ nhất trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Trước hết, về cái tôi trong phong trào Thơ Mới Thơ Mới là một cuộc cách tân lớn của thơ ca Việt Nam, từ cái tôi giấu kín, rụt rè đã xuất hiện những cái tôi bừng phá mạnh mẽ, họ - những lớp nhà thơ trẻ tuổi thể hiện một cách mạnh mẽ cái tôi của chính mình, làm nên những diện mạo riêng biệt Đúng như hoài thanh đã nhận xét:

"Tôi quyết rằng chưa có thời đại nào phong phú như thời đại này trong lịch sử thi ca Việt Nam Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu" Họ dám lên

Trang 3

tiếng, dám thể hiện cá tính của mình, họ dám nổi loạn và không sợ những sự chì chiết của đám đông Có ai như Xuân Diệu dám bày tỏ: "Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta" hay "Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề" (Hồ Dzếnh) Cái tôi có cơ hội được bộc lộ khiến cho màu sắc văn học trở nên đa dạng, phong phú hơn Hàn Mạc Tử cũng là một cái tôi đầy cá tính, khác lạ trong phong trào Thơ Mới, vừa tha thiết, vừa u uất, sầu muộn

Đây thôn Vĩ Dạ trước hết thể hiện một cái tôi say đắm trước thiên nhiên, vẻ đẹp cuộc sống Bài thơ mở đầu bằng câu: Sao anh không về chơi thôn Vĩ, vừa mời gọi mà cũng vô cùng tha thiết, giọng điệu đâu đó còn ẩn chứa sự trách cứ nhẹ nhàng Bằng con mắt của hiện tại, ngược về quá khứ, nhưng Hàn Mặc Tử đã khắc họa lại bức tranh thôn Vĩ hay thiên nhiên xứ Huế vô cùng đẹp đẽ:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Bức tranh thôn quê hiện lên rực rỡ, lung linh, tràn đầy nhựa sống Mọi thứ đều ở trạng thái nguyên sơ, tinh khôi nhất Nắng là thứ nắng mới, khi nắng vừa xuất hiện, không quá gay gắt, nắng như mật non, tưới xuống hàng cau thẳng tắp, khiến mọi vật trở nên ngọt ngào khi được tắm mình trong thứ nắng mới Trong không gian tràn đầy ánh sáng, khu vườn như viên ngọc khổng lồ xuất hiện Những giọt sương long lanh, nhỏ bé, khi được ánh nắng chiếu vào tựa như một viên ngọc xanh, lung linh, huyền ảo Để làm rõ hơn vẻ đẹp của khu vườn tác giả sử dụng từ "mướt" kết hợp với

từ "quá" nhấn mạnh vào cái tươi non, mỡ màng của cảnh vật Điểm vào bức tranh

đó là khuôn mặt chữ điền đậm chất Huế Gương mặt ấy hài hòa với khung cảnh xung quanh đến kì lạ, làm cho cảnh đã đẹp lại càng trở nên thân mật, gần gũi hơn Khung cảnh tươi đẹp đó là biểu tượng của cuộc sống trần gian rực rỡ, tràn đầy nhựa sống Mặc dù chỉ là cái nhìn từ hiện tại ngược về quá khứ nhưng lại chân thực vô cùng, nó

Trang 4

cho thấy niềm say mê, thích thú của Hàn Mạc Tử với không gian sống nơi đây Ông thiết tha, say đắm, một tình yêu sâu nặng với con người, với cuộc đời

Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, bài thơ còn cho ta thấy một cái tôi cô đơn, đau đớn đến tuyệt vọng:

Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

Mọi sự vật trong bức tranh đều chia lìa đôi ngả: gió đi theo một hưởng, mây đi theo một hướng Hai sự vật này trong thiên nhiên vốn luôn gắn bó với nhau, vậy mà dưới con mắt của Mặc Tử mọi sự vật đều bị chia lìa, tan tác Ông đã dùng đôi mắt tâm trạng để nhìn ngắm cuộc đời Bởi vậy mà khung cảnh cũng tắm trong nỗi buồn "dòng nước buồn thiu", nhịp điệu tẻ nhạt, nhàm chán "hoa bắp lay" Nỗi cô đơn, tuyệt vọng đẩy lên thêm một mức độ mới Những hình ảnh đó cũng chính là biểu tượng cho cuộc đời ông Tuổi đời con trẻ, trong lòng hừng hực khát vọng sống nhưng lại mắc phải căn bệnh tai ác, khiến ông phải chia lìa mọi người, chia xa cuộc sống đầy háo hức, vui tươi Đây chẳng phải là bi kịch đau đớn nhất trong cuộc đời con người đó sao Vì cô đơn, vì bất hạnh ông tìm đến trăng như một cách để trải lòng, để vơi bớt nỗi buồn, trăng trở thành tri kỉ Nhưng lòng ông lại đầy lo lắng liệu trăng có kịp về tối nay Tối nay là tối nào, không ai có thể xác định, nhưng đó quả là khoảng thời gian ngắn ngủi trong một đời người, qua tối nay cơ hội với cuộc sống ngoài kia sẽ vuột tầm tay ông mãi mãi Bởi vậy mà ông rơi vào trạng thái cô đơn, tuyệt vọng tuyệt đối

Cuối cùng đó là một cái tôi hoài nghi Từ đầu đến cuối bài thơ, ở mỗi khổ ta đều thấy xuất hiện một câu hỏi tu từ:

"Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"

"Có chở trăng về kịp tối nay"

Trang 5

"Ai biết tình ai có đậm đà"

Nó không chỉ cho thấy sự cô đơn, mà còn là cả sự hoài nghi với cuộc đời Nỗi hoài nghi ấy xuất phát từ chính thế giới mà ông đang sống, tất cả mọi thứ đều trở nên nhạt nhòa, hư ảo: "Mơ khách đường xa, khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh" Lằn ranh giữa thực và hư, giữa hữu và vô dường như không thể phân biệt rõ được nữa, mọi thứ như nhòe mờ, nhập vào nhau, thật khó để xác định nắm bắt Cũng bởi vậy mà trong lòng ông dâng lên nỗi hoài nghi về tình người, liệu trong một thế giới mà mọi vật đều hư ảo, có mà như không như vậy liệu tình người có đậm đà, liệu người còn nhớ ta, còn thương ta sau một khoảng thời gian cách biệt Qua đó, bộc lộ rõ khao khát, tình yêu cuộc sống tha thiết, mãnh liệt của ông

Đây thôn Vĩ Dạ thể hiện một cái tôi đầy phức tạp và bí ẩn Hàn Mặc Tử vừa khao khát, tin yêu cuộc sống, vừa hoài nghi băn khoăn về tình người, tình đời Nó cho thấy sự cô đơn, u uất đến cùng cực trong lòng một kẻ khao khát yêu, khao khát sống nhưng vấp phải bi kịch cuộc đời

Phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ - Mẫu 2

Trong phong trào Thơ mới ở đâu thế kỉ XX có một nhà thơ “như ngôi sao trổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” đó chính là Hàn Mặc

Tử Ông là thi nhân trẻ nhất cũng là người bỏ đi đầu tiên Thơ của Hàn Mặc Tử là tuyệt bút của sự kết tinh giữa tài năng, tình yêu và nỗi đau khổ Một trong những bài thơ hay của ông được mọi người yêu thích là tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” với một cái tôi trữ tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời tha thiết nhưng mang đậm nỗi buồn của

sự chia ly

Hàn Mặc Tử là một nhà thơ tài hoa nhưng số phận cuộc đời ông lại cay đắng nhiều đau thương khi mắc phải bệnh phong đáng sợ trong điều kiện lúc đó chưa có thuốc chữa Anh ra đi ở những năm tháng của thanh xuân tuổi trẻ khi mới 28 mùa xuân

Trang 6

nhưng để lại cho đời những áng văn thơ đặc sắc Có lẽ đúng như nhà thơ Hồng Thanh Quang đã từng nói: “Khi mọi sự bất lực thì thơ xuất hiện” Khi con người ta tận cùng hạnh phúc và tột cùng đau thương thì cái tinh túy nhất của tâm hồn là thơ ca Bài thơ

“Đây thôn Vĩ Dạ” chính là sự tinh túy đó, ông sáng tác khi đang buồn đau cho mối tình đơn phương của bản thân, trở về Quy Nhơn thì biết người thương đã theo gia đình về Huế sống Một thời gian sâu thì Hoàng Cúc_người con gái Hàn Mặc Tử yêu thầm khi nhận thư của anh họ là bạn của thi sĩ đã gửi “bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái danh thiếp Trong ảnh có mây, có nước, có cô gái chèo đò với chiếc đò ngang,

có mấy khóm tre, có cả ánh trắng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước.” gửi cho Hàn Mặc Tử không lâu sau bài thơ ra đời Chính tấm bưu ảnh trực tiếp sự khơi gợi cảm xúc cùng với mối tình thầm kín của Hàn Mặc Tử đã viết nên một thi phẩm giàu cảm xúc, giàu hình ảnh mộng mơ và thẫm đẫm nỗi buồn man mác trong tâm hồn thi nhân Dưới cái nhìn trữ tình lãng mạn của đôi mắt nhà thơ mới thiên nhiên thôn Vĩ Dạ hiện lên thật tươi đẹp giàu sức sống với câu mở đầu là lời thơ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” như vừa trách móc nhẹ nhàng, vừa là lời mời của cô gái cũng là tiếng lòng thi nhân Thiên nhiên hiện lên là một bức tranh buổi sáng sớm với nắng mới soi rọi trên hàng cau trong một khu vườn mênh mông mướt xanh như ngọc, thấp thoáng phía xa xa là bóng dáng của ai “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Đó là một bức tranh tuyệt mĩ mà tạo hóa ban tặng cho cuộc sống con người dường như thi sĩ đang

đi từ ta ngoài vào bên trong khu vườn để tận hưởng món quà trần gian với một niềm vui, sự thích thú, say mê tột cùng Qua đó cho ta thấy tâm hồn của cái tôi Hàn Mặc

Tử yêu đắm say thiên nhiên, yêu cuộc đời và sự sống biết bao

Cái tôi của Hàn trong bài thơ còn là cái tôi đau đớn, tuyệt vọng với những dự cảm chia li, cách biệt trong cuộc đời Vì mắc phải căn bệnh quái quỷ hủy hoại thân xác thi nhân nên ông luôn phải sống trong trại phong cách li với mọi người thân yêu xung quanh nên trong bài thơ dưới cái nhìn của ông thiên nhiên cũng đầy cách trở li biệt và cô đơn:

Trang 7

“Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Gió, mây là cặp hiện tượng tự nhiên vốn được song hành cùng với nhau gió ở đâu mây theo đó, gió thổi thì mây bay nhưng trong mắt của thi nhân thì ngược lại gió, mây mỗi nơi một hướng, ngược chiều nhau Trên trời thì mây gió li biệt, dưới dòng nước thì buồn thiu có hoa bắp lay nhẹ nhàng hô ứng với tốc độ chảy chậm chạp của nước Tác giả đã sử dụng biệt pháp nhân hóa khiến cho dòng nước cũng có cảm xúc, cũng biết buồn thiu Nỗi buồn ấy bắt nguồn từ sự cô đơn, buồn tủi của nhà thơ bởi

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Cô đơn quá nên nhà thơ đành phải tìm đến anh trăng để làm bạn ta đã từng bắt gặp ánh “Trăng nằm sóng soài trên cành liễu/Đợi gió đông về để lả lơi” (Bẽn lẽn) hay “Trăng bay lả tả ngã trên cành vàng” (Rượt trăng), hay một ánh “Trăng vàng ôm bờ ao” (Ngủ với trăng) nhưng trong “Đây thôn

Vĩ Dạ” đó là sự tan chảy của ánh trăng đêm trên bề mặt làm cho dòng nước tắm trong ánh trăng hóa thành dòng sông trăng lung linh, mờ ảo Trên con sông trăng ấy

có con thuyền cô đơn đậu đó Thuyền đi “Có chở trăng về cho kịp tối nay?” Từ “kịp” khiến ta có cảm giác đêm nay thật ngắn ngủi và đó như là một cuộc chạy đua với thời gian cuộc đời ẩn đằng sau đó là nỗi cô đơn khắc khoải và buồn đau, tuyệt vọng của thi sĩ Bến trăng, sông trăng, thuyền trăng chỉ là những hình ảnh mà nhà thơ tưởng tượng ra để thể hiện tâm trạng tiếc nuối cho mối tình dang dở, yêu tha thiết sự sống và vẻ đẹp cuộc đời bởi kẻ thù bệnh tật đang dần cướp đi sự sống cuộc đời anh

Nó là cán cân số mệnh đặt nghiêng trọng lượng về bên anh để cho anh càng yêu cuộc sống càng muốn níu giữ “…ghì lấy đám mây bay…”, “…Đi bắt nắng ngừng, nắng reo nắng cháy…”, càng tuyệt vọng “…Tôi dọa không gian, rủa tới cùng” rồi “ Tôi siết thời gian trong nắm tay…” và “…Tôi vo tiếc mến như vo lụa…” còn gì “Khó khăn hơn cả là yêu cuộc sống với những nỗi đau khổ của mình”

Trang 8

Không chỉ vậy cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử là một cái tôi hoài nghi bởi khung cảnh sự vật và con người trong thơ ông đều rất mơ hồ, khó xác định

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà ? ” Khổ thơ là tâm trạng bâng khuâng, xót xa của một tâm hồn khao khát được sống được yêu và yêu say đắm với người con gái xứ Huế mang tên một loài hoa Nhà thơ

sử dụng hai điệp ngữ “khách đường xa” trong một câu thơ với hai nét nghĩa khác nhau “Lần đầu là khát vọng mơ gặp khách đường xa, lần sau là thực tại càng muốn

mơ thấy người khách thì lại thấy đường càng xa Nét đặc sắc thơ Hàn không tả mà chỉ gợi bởi “Áo em trắng quá nhìn không ra” cái sắc trắng ấy là màu trắng tinh khôi, tinh khiết, nhà thơ cực tả sắc trắng một cách kì lạ, bất ngờ nên khiến cho “em” chìm vào cõi ảo, khiến cho thế giới trở nên hư hư thực thực khó xác định Và càng khó đoán, khó biết, khó hiểu hơn và tình cảm con người Nhà thơ băn khoăn làm sao để biết được tình cảm của người xứ Huế nơi xa có đậm đà không hay như là sương khói

mù mịt rồi tan đi Làm sao để cô gái ấy biết được tình cảm nhớ thương da diết của mình dành cho nàng Câu hỏi cuối bài thể hiện nỗi cô đơn, trống vắng, đau đớn của một tâm hồn thơ tài năng mà hoàn cảnh, số phận nhuốm màu bi thương

Chỉ với những câu thơ rất nhẹ nhàng, thuần khiết trong sáng đã đặc tả được cái tôi trữ tình yêu tha thiết thiên nhiên và cuộc sống, nhưng mang một nỗi buồn của những

dự cảm chia li, tuyệt vọng và hoài nghi trong ảo ảnh Hơn bảy mươi năm Tử đi vào cõi vĩnh hằng nhưng thơ ca ông vẫn đang đồng hành cùng văn chương Việt vẫn được ngâm lên, được đọc lên hay âm thầm đâu đó vẫn có những tâm hồn đồng điệu của con người yêu mến thơ anh Bài thơ “Đây thôn Vĩ dạ” với cái tôi trữ tình riêng biệt của thi nhân đã được đánh giá là bài thơ “trong sáng nhất” của nền thi ca Việt Nam với bài thơ “Mùa xuân chín”

Trang 9

Phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ - Mẫu 3

Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chói lọi diệu kỳ trong vòm trời rực rỡ lấp lánh nhiều tinh tú lạ Thơ Hàn vừa thể hiện tình yêu khôn cùng với cuộc sống trần tục, vừa hướng về Chúa Trời với những niềm thanh khí thần tiên Đã có nhiều hướng tiếp nhận kiệt tác Đây thôn Vĩ Dụ Song, ai cũng thấy rằng bài thơ nói về tình yêu – một tình yêu đơn phương, thơ mộng, trong sáng, hồn huyền ảo Tuy nhiên, khó phủ nhận được là Hàn Mặc Tử đã nói khá hay về xứ Huế mộng và thơ Đây thôn

Vĩ Dạ chi vẻn vẹn có 3 khổ, tổng cộng 12 câu thất ngôn

Bài thơ có lẽ là lời trách thầm, và cũng là lời nhắn nhủ nhẹ nhàng gửi gắm của nhân vật trữ tình, trong một tâm trạng vời vợi nhớ mong:

Sao anh không về chơi thôn Vi?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền?

Nếu như mỗi tình yêu đều gắn với một không gian và thời gian cụ thể, thì mỗi hình ảnh của nhân vật trữ tình trong bài thơ này gắn với vườn tược và con người Vĩ Dạ, đều những kỉ niệm thật khó quên Có dịp, xin mời bạn hãy về thăm thôn Vĩ vào một buổi sớm mai Vĩ Dạ nằm ngay bên bờ sông Hương êm đềm thơ mộng, chỉ cách trung tâm cố đô Huế khoảng không đầy một giờ tản bộ Từ xưa, thôn Vĩ Dạ

đã nổi tiếng bởi cây cối xanh tươi, và những biệt thự nhỏ nhắn duyên dáng, thấp thoáng, tưới màu xanh của cây lá Thôn Vĩ Dạ cũng nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, chùa Thiên Mụ… của xứ này Bởi vậy, ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Nguyễn Bính, Bích Khuê, Nguyễn Tuân… đều có

những cảm giác mà cảm hứng được nảy sinh từ thôn Vĩ Dạ nên thơ

Sớm mai, nắng mới long lanh trên những tàu cau còn ướt sương đêm Khách từ xa tới sẽ thấy hàng cau trước nhất, vì nó thường cao hơn hẳn những cây cối xum xuê

ở dưới Đất đai Vĩ Dạ phì nhiêu, được con người cần cù chăm bón; quả thật, cây cối ở đây xanh tốt mơn mởn và sạch sẽ như được lau chùi, mài giũa thành như những cành vàng lá ngọc Câu thơ:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền?

Trang 10

Thật là một sáng tạo độc đáo “Mặt chữ điền” gợi cho người đọc nhớ tới hình ảnh người dân có khuôn mặt vuông vức, thân hình cường tráng, đầy nam tính Nhưng, khi hình tượng này đặt trong chính thể đoạn thơ và câu thơ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì ấn tượng nổi bật lại là sự hài hòa, gắn bó mật thiết giữa con người với vườn tược quê hương Như vậy, câu thơ còn khắc họa thành công một nét đáng nhớ; đáng yêu của thôn Vĩ: Cảnh đẹp đẽ, tốt tươi; con người đôn hậu giàu sức sống

Tiếp nối mạch cảm xúc của khổ đầu, dường như khổ thứ hai, nhà thơ có phần (lành

để đặc tả cảnh sóng nước, mây trời xứ Huế và cũng bộc lộ niềm hoài vọng bâng khuâng:

Gió theo lối gió mây đường mây, Dòng nước buồn thiu hoa bắp bay;

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Nhịp điệu dịu dàng, khoan thai của xứ Huế được khắc họa thành công: Gió và mây nhè nhẹ trôi đi; sông Hương nước chảy lặng lờ Hoa ngô (hoa bắp) chi khẽ đung đưa theo chiều gió Khác với khố một, đến khổ thứ hai này, không gian được miêu

tả như trong mộng ảo, tràn ngập ánh trăng Nhà thơ không những chỉ ta, không những chỉ nhìn bằng mắt mà điều quan trọng hơn là còn “nhìn” bằng thế giới tâm linh của mình: Do đó, không có biên giới giữa thực và mộng và dường như càng về cuối thế giới tâm linh, thế giới mộng ảo càng lấn át thế giới hiện thực Vì là mộng

ảo, nên có nỗi băn khoăn rất mộng mơ: “Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay?” Thuyên trăng thì có nhiều thi nhân nhắc đến nhưng

“sông Trăng” thì có lẽ Hàn Mặc Tử là người sáng tạo đầu tiên Dường như trong những câu thơ trên, có sự mong chờ, niềm hy vọng, lẫn nỗi buồn man mác của nhà thơ, ở đây rõ ràng, không có sự đặc sắc của một bút pháp phác họa đúng linh hồn của một xứ sở, mà điều quan trọng nữa là: Những nét phác họa ấy gợi lên ở người đọc một tình yêu thật dịu dàng, kín đáo, mà sâu xa rộng mở đến khôn cùng Ấn tượng của người đọc về những điều nói trên sẽ được nhà thơ tô đậm qua khổ kết:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Trang 11

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Đúng là xứ Huế vốn mưa nhiều, lắm sương khói Do đó, phải chăng khổ thơ trên

có nét tả thực, cũng giống như “hàng cau”, “lá trúc” “hoa bắp”… ở những khổ thơ trước? Sương khói trắng, và áo em cũng trắng: Bởi vậy, nếu nhà thơ chỉ nhìn thấy bóng người thôi (nhân ảnh), thì cũng là điều dễ hiểu Tuy vậy, như đã nêu, Hàn Mặc Tử vốn là nhà thơ lãng mạn đích thực, cái chính là thi sĩ đã nói bằng tâm tưởng, gieo vào lòng người đọc một thoáng bâng khuâng: Người thiếu nữ Huế tươi đẹp quá, kín đáo và huyền ảo quá; nào ai có biết tình yêu của họ bền chặt, hay cũng chỉ mờ ảo như khói sương xứ Huế? Ở đây, dường như tác giả cảm thấy mình chơi vơi hụt hẫng, trước một mối tình đơn phương lung linh, huyền ảo Nếu nhận ra rằng Hàn Mặc Tử vốn là người rất mực tài hoa, luôn khao khát yêu thương; nhưng căn bệnh phong hiểm nghèo đã làm ông không có được một tình yêu trọn vẹn Nhà thơ đã từng phải sống có độc, lúc thì trong một con thuyền nhỏ lênh đênh chẳng có bến bờ, lúc thì khắc khoải bên dãy núi ven thành phố, và cuối cùng phải nằm vô vọng ở nhà thương Tuy Hòa chờ cái chết… Ta càng thông cảm cho một thoáng hờn dỗi, trách móc tưởng như vô cớ của cây bút đa tài, mà bất hạnh này Phải yêu người Vĩ Dạ, nói rộng ra là phải yêu người xứ Huế; hiểu xứ Huế, gắn bó với xứ Huế sâu sắc đến độ nào, thì thi sĩ mới nói về tình yêu, về xứ Huế đứng và hay như thế!

Phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ - Mẫu 4

“Mở cửa nhìn trăng, trăng tái mặt, Khép phòng đốt nến, nến rơi châu…”

Mấy ai đã từng say trăng như Hàn Mặc Tử? “Trăng sõng soài trên cành liễu - Đợi gió đông về để lả lơi…” (“Bẽn lẽn”) – Thi sĩ còn nói đến thuyền trăng, sông trăng

Cả một trời trăng mộng ảo, huyền diệu Thơ Hàn Mặc Tử rợn ngợp ánh trăng, thể hiện tâm hồn “say trăng” với tình yêu tha thiết cuộc đời, vừa thực vừa mơ Ông là một trong những nhà thơ lỗi lạc nhất của phong trào Thơ mới (1932-1941) Với 28 tuổi đời (1912-1940), ông để lại cho nền thơ ca dân tộc hàng trăm bài thơ và một

số kịch thơ Thơ của ông như trào ra máu và nước mắt, có không ít hình tượng kinh

Trang 12

dị Cũng chưa ai viết thơ hay về mùa xuân và thiếu nữ (“Mùa xuân chín”), về Huế đẹp và thơ (“Đây thôn Vĩ Dạ”) như Hàn Mặc Tử

“Đây thôn Vĩ Dạ” rút trong tập “Thơ điên” xuất bản năm 1940, sau khi nhà thơ qua đời Bài thơ nói rất hay về Huế, về cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, về con người xứ Huế, nhất là các cô gái duyên dáng, đa tình, đáng yêu – tình yêu thơ mộng say đắm, lung linh trong ánh sáng huyền ảo Bài thơ giãi bày một nỗi niềm bâng

khuâng, một khao khát về hạnh phúc của thi sĩ đa tình, có nhiều duyên nợ với cảnh

“Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền?”

Cảnh được nói đến là một sáng bình minh đẹp Nhìn từ xa, say mê ngắm nhìn những ngọn cau, tàu cau ngời lên màu nắng mới, “nắng mới lên” rực rỡ Hàng cau như đón chào người thân thương sau bao ngày xa cách Hàng cau cao vút là hình ảnh thân thuộc thôn Vĩ Dạ từ bao đời nay Quên sao được màu xanh cây lá nơi đây Nhà thơ trầm trồ thốt lên khi đứng trước một màu xanh vườn tược thôn Vĩ Dạ:

“vườn ai mướt quá xanh như ngọc” Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá Màu xanh

mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông “mượt quá” một màu xanh như ngọc bích Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa, con người cần cù chăm bón mới có “màu xanh như ngọc” ấy Thiên nhiên rạo rực, trẻ trung và đầy sức sống Cũng nói về màu xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã từng viết:

“Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá…” (“Thơ duyên) Hai chữ “vườn ai” đã gợi ra nhiều ngạc nhiên và man mác Câu thứ tư tả thiếu nữ với khóm trúc vườn đầy đặn, phúc hậu “Lá trúc che ngang” là một nét vẽ thần tình đã tô đậm nét đẹp của cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín đáo, tình tứ đáng yêu Hàn Mặc Tử hơn một lần nói

Trang 13

về trước và thiếu nữ Khóm trúc như toả bóng xanh mát che chở cho một mối tình đẹp đang nảy nở

“Thầm thì với ai ngồi dưới trúc Nghe ra ý nhị và thơ ngây”

(“Mùa xuân chín”)

Câu 3, 4 trong khổ thơ đầu tả cau, tả nắng, tả vườn, tả trúc và thiếu nữ với một gam màu nhẹ thoáng, ẩn hiện, mơ hồ Đặc sắc nhất là hai hình ảnh so sánh và ẩn dụ (xanh như ngọc mặt chữ điền) Cảnh và người nơi Vĩ Dạ thật hồn hậu, thân thuộc đáng yêu

Vĩ Dạ - một làng quê nằm bên bờ Hương Giang, thuộc ngoại ô cố đô Huế Vĩ Dạ đẹp với những con đò thơ mộng, những mảnh vườn xanh tươi bốn mùa, sum sê hoa trái Những ngôi nhà xinh xắn thấp thoáng ẩn hiện sau hàng cau, khóm trúc, mà ở đây thường dìu dặt câu Nam ai, Nam bình qua tiếng đàn tranh, đàn thập lục huyền diệu, réo rắt Thôn Vĩ Dạ đẹp nên thơ Hàn Mặc Tử đã dành cho Vĩ Dạ vần thơ đẹp nhất với tất cả lòng tha thiết mến thương

Khổ thơ thứ hai nói về cảnh trời mây, sông nước Một không gian nghệ thuật

thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm Hai câu 5, 6 là bức tranh tả gió, mây, dòng sông và hoa (hoa bắp) Giọng thơ nhẹ nhàng, thoáng buồn Nghệ thuật đối tạo nên 4 bức cảnh hài hòa, cân xứng và sống động Gió mây đôi ngả như mối tình nhà thơ,

tưởng gần đấy mà xa vời, cách trở Dòng Hương Giang êm trôi lờ lững, trong tâm tưởng thi nhân trở nên “buồn thiu”, nhiều bâng khuâng, man mác Hoa bắp lay nhè nhẹ đung đưa trong gió thoảng Nhịp điệu khoan thai thơ mộng của miền sông Hương, núi Ngự được diễn tả rất tinh tế Các điệp ngữ luyến láy gợi nên nhiều vương vấn mộng mơ:

“Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Hai câu tiếp theo nhà thơ hỏi “ai” hay hỏi mình khi nhìn thấy hay nhớ tới con đò mộng nằm bến sông trăng Sông Hương quê em trở thành sông trăng Hàn Mặc Tử với tình yêu Vĩ Dạ mà sáng tạo nên vần thơ đẹp nói về dòng sông Hương với

những con đò dưới vầng trăng Nguyễn Công Trứ đã từng viết: “Gió trăng chứa

Trang 14

một thuyền đầy” Hàn Mặc Tử cũng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại một vần thơ trăng độc đáo:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Thuyền em hay “thuyền ai” vừa thân quen, vừa xa lạ Tâm hồn nhà thơ xao xuyến khi nhìn sông trăng và con thuyền Thuyền em hay “thuyền ai” vừa thân quen, vừa

xa lạ Chất thơ mộng ảo “Đây thôn Vĩ Dạ” là ở những thi liệu ấy Câu thơ gợi tả một hồn thơ đang rung động trước vẻ đẹp hữu tình của xứ Huế miền Trung, nói lên một tình yêu kín đáo, dịu dàng, thơ mộng và thoáng buồn

Khổ thơ thứ ba nói về cô gái xứ Huế và tâm tình thi nhân Đương thời nhà thơ Nguyễn Bính đã viết về thiếu nữ sông Hương: “Những nàng thiếu nữ sông Hương – Da thơm là phấn, má hường là son”…Vĩ Dạ mưa nhiều, những buổi sớm mai và chiều tà phủ mờ sương khói “Sương khói” trong Đường thi thường gắn liền với tình cố hương Ở đây sông khói làm nhòa đi, mờ đi áo trắng em, nên anh nhìn mãi vẫn không ra hình dáng em (nhân ảnh) Người thiếu nữ Huế thoáng hiện, trắng trong, kín đáo và duyên dáng Gần mà xa Thực mà mơ Câu thơ chập chờn, bâng khuâng Ta đã biết Hàn Mặc Tử từng có một mối tình với một thiếu nữ Huế mang tên một loài hoa đẹp Phải chăng nhà thơ muốn nói về mối tình này?

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà”

“Mơ khách đường xa, khách đường xa ai biết…ai có…” các điệp ngữ luyến láy ấy tạo nên nhạc điệu sâu lắng, dịu buồn, mênh mang Người đọc thêm cảm thương cho nhà thơ tài hoa, đa tình mà bạc mệnh, từng say đắm với bao mối tình nhưng suốt cuộc đời phải sống trong cô đơn bệnh tật

Cũng cần nói đôi lời về chữ “ai” trong bài thơ này Cả 4 lần chữ “ai” xuất hiện đều

mơ hồ ám ảnh: “vườn ai mướt quá xanh như ngọc?” – “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?” – “Ai biết tình ai có đậm đà?” Con người mà nhà thơ nói đến là con người xa vắng, trong hoài niệm bâng khuâng Nhà thơ luôn cảm thấy mình hụt

Trang 15

hẫng, chơi với trước một mối tình đơn phương mộng ảo Một chút hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhòa và mờ đi cùng sương khói?

Hàn Mặc Tử đã để lại cho ta một bài thơ tình thật hay Cảnh và người, mộng và thực, say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ bao hình ảnh và cảm xúc đẹp hội tụ trong ba khổ thơ thất ngôn, câu chữ toàn bích.Cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ bằng sự thấu hiểu, cảm thông chúng ta có thể thấy đây là một bài thơ tình tuyệt tác Cái màu xanh như ngọc của vườn ai, con thuyền ai trên sông trăng, và cái màu trắng của áo em như đang dẫn hồn ta đi về miền sương khói của Vĩ Dạ thôn một thời xa vắng:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

Phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ - Mẫu 5

Theo ông Quách Tấn, người bạn chí thân và đồng thời cũng là người hiểu khá rõ

về nhà thơ Hàn Mặc Tử, thì bài thơ này, tức bài Đây thôn Vĩ Dạ được sáng tác vào năm 1939, ngay sau khi tác giả nhận được một bức bưu ảnh, một "phiến phong cảnh" kèm với lời hỏi thăm sức khỏe của cô Hoàng Cúc – cố nhân, người yêu cũ của Hàn Chính lời hỏi thăm của người con gái ấy đã khiến tứ thơ vụt sáng trong đầu thi nhân, trong lúc thi nhân đang lâm vào nghịch cảnh, thời điểm bi đát nhất của cuộc đời mình

Bài thơ được Hàn chia thành ba đoạn, mỗi đoạn là một cung bậc cảm xúc xong đều

bị chi phối bởi một sắc màu phức cảm nhất định

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Âm điệu, giọng thơ từ những vần đầu của thi phẩm là một phần vô cùng quan trọng, bởi nó sẽ quyết định âm hưởng chủ đạo xuyên suốt toàn bộ hành trình cảm xúc của tác phẩm Về những đoạn sau, âm hưởng, nhạc điệu của bài thơ có đa dạng, biến hóa hơn lúc đầu thế nào đi nữa thì ý thức thơ và tư duy thơ của người đọc cũng như của nhân vật trữ tình hay của tác giả vẫn bị ảnh hưởng, chi phối

Trang 16

mạnh bởi cấu thanh ấy Cảm xúc chính: Quá khứ sống dậy trong miền nhớ Cảm xúc chính của nhân vật trữ tình ở đây là xao xuyến, bâng khuâng, nhớ nhung da diết

Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Câu thơ lắng lại trong một nội lực phù sa xúc cảm đầy mạnh mẽ, nỗi buồn từng phá nhuốm trên từng con chữ vần thơ, mặc cảm chia lìa, dáng dấp của một nỗi sầu chia ly tan tác quyết định cái tôi của Mặc Tử, và đổ bóng xuống cảm quan không gian, nó dựng lên bối cảnh tương quan trong Đây thôn Vĩ Dạ, thiên nhiên trong thơ

bị chi phối bởi tâm trạng con người, nó là một thực tại cô đơn, phiêu tán: gió bay

đi, mây trôi đi, sông cũng lặng lờ buồn thiu chảy về miền xa vắng – cái hiện thực, cảnh tượng ấy ám ảnh một cái nhìn khác đời, ngang trái và trớ trêu: gió mây, hai vật thể gắn chặt ấy làm sao có thể rách rời (gió thổi mây bay, mây không thể tự nhiên mà di chuyển được, mây và gió cũng không thể đi ngược hai luồng), nếu nhìn qua lăng kính của đôi mắt không thôi, thì Hàn Mặc Tử chắc chắn không thể viết nên những vần thơ như thế, khung cảnh thiên nhiên đã được Tử ghi lại bằng rung cảm tâm hồn đầy “mặc cảm”, và, “mặc cảm ấy đã chia lìa những thứ tưởng không thể chia lìa”

Dòng nước hồn nhiên, vô tư kia cũng trở nên buồn bã Dòng nước ấy vừa như mang sẵn một mạch buồn vô hạn, vừa như bị chia phôi nỗi sầu từ gió, từ mây Bức tranh sự chuyển động ấy cũng không làm khung cảnh ấy vui lên, sống động lên; tranh có hoa, song, cũng chỉ là hoa bắp –một thứ hoa vô sắc vô hương, buồn bã, vô tình Động từ láy là một động từ “trung tính”, thế nhưng, đặt từ ngữ ấy vào bối cảnh bài thơ, sao mà buồn bã, thê thiết thế: Hàn Mặc Tử nhìn hoa bắp chỉ cảm nhận được được sự ly biệt, phiêu tán, rời xa: gió, mây, dòng nước đã đi hết rồi, chỉ còn hoa bắp là không thể tự mình di chuyển được, cái “lay” phảng phất những cái níu giữ vu vơ, cái níu giữ vô hình Trong hoa bắp đã in hình cuộc đời của Hàn Mặc Tử: một cuộc đời côi cút, cô đơn, một cuộc đời “bị quang ra ngoài xã hội”

Trang 17

Gió, mây, dòng nước đều muốn ra đi, chỉ còn trăng là lội ngược dòng, xuôi về với lòng thi nhân, chỉ còn trăng mới tìm thi nhân bầu bạn:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

Một câu hỏi không hồi âm, không lời đáp, cô đơn nối tiếp cô đơn, thoáng bóng những đợi chờ khắc khoải, thuyền trăng, sông trăng đã được huyền ảo hóa, trở nên lộng lẫy và lãng mạn, trăng là vị cứu tinh, vị cứu cánh duy nhất cho nỗi sầu tê tái khắc khoải của thi nhân ~> Nỗi buồn những vần thơ đầu đến bây giờ đã trở thành

"nỗi niềm" Phức cảm chính trong đoạn thơ này sự tuyệt vọng, buồn thảm da diết khắc khởi bởi sự cô đơn không lối thoát vì bị giam cầm

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà…

Hai câu thơ đầu tốc ký về cái khoảnh khắc bâng khuâng, bồng bềnh phiêu lắng trong cõi mộng, đau đáu dõi theo bóng của một ảo ảnh trên con thuyền chở trăng với khát khao mong tìm được "chân ảnh" của kẻ thi nhân lạc loài cô đơn ham sống đang tìm về "cõi mộng mong nhập thế" Song, cảnh thiên tiên đẹp mấy cũng sẽ tàn, mộng nơi trần gian say lâu rồi cũng tỉnh, trong phút chốc, mọi cá thể hư ảo đều hóa

ra thành mây khói: ánh nắng của những khổ thơ trước đã tan, sắc trăng đã tắt, nhân ảnh hư mờ, cả đoạn thơ bao phủ bởi một màu trắng gắt đến lặng cả những vần thơ Thi nhân bị đẩy lại nơi trần thế đầy nghịch cảnh Chữ quá như nghẹn ngào, như xót

xa tiếc nuối trong nỗi đau của mặc cảm chia lìa

Có thể phân tích thêm ý nghĩa của sắc trắng trong những câu thơ cuối Gam trắng

là gam màu quyền lực nhất trong thơ văn Hàn Mặc Tử, nó mang một ý nghĩa riêng

Đi tìm cái đẹp của cõi thực, cõi thực hờ hững Đi tìm sự đồng cảm, đồng điệu trong cõi mộng, cõi mộng hư ảo, mù mịt Cho nên, đắm say rồi nguội lạnh, bằng gió, mộng rồi lại tỉnh Đó là logic vận động tâm trạng của một cái tôi ham sống, yêu đời trong Đây thôn Vĩ Dạ Cảnh lúc như gần, lúc như xa, lúc rất thực, càng về sau càng trở nên hư ảo, huyền hồ Sắc điệu tiếng nói trữ tình lúc âm u, lúc chói lạnh Cảm

Trang 18

nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ cũng chính là tiếng lòng khắc khoải của Hàn Mặc Tử vừa đẹp nhưng lại đau thắt tới tận cùng

Phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mặc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ - Mẫu 6

Hàn Mặc Tử là một trong số những tài năng độc đáo và thống soái một trường thơ: thơ điên Chế Lan Viên từng quả quyết rằng : "Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kì này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử Bên cạnh thơ điên, Hàn Mặc Tử còn

có những vần thơ trữ tình rất dịu dàng và duyên dáng Trong số đó có bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” Mở đầu bài thơ về Vĩ Dạ thôn là một câu thơ rất gợi tình, gợi thương:

"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Câu hỏi tu từ mở ra một trời liên tưởng Nó dường như là lời của một người con gái:”sao lâu quá anh không về Vĩ Dạ? Câu hỏi mang bao giận hờn trách móc mà cũng ẩn chứa biết bao niềm thương nhớ: sao anh không về thăm em Nhưng ngẫm

kĩ thêm chút nữa, cũng có thể nhà thơ đã đã tự đặt câu hỏi cho chính mình:” Sao mình không về thôn Vĩ?” , hỏi cũng để tác giả tự bài tỏ lòng mình, tự giãi bày nỗi niềm thương nhớ Thôn Vĩ Dạ đã từng in dấu chân của tác giả và những kỉ niệm về người thương Về với Vĩ Dạ là về với những hình ảnh quen thuộc, với chân trời cảm xúc Cảnh cũ người xưa thấp thoáng trong vần thơ đẹp mang hoài niệm, bao

kỷ niệm sống dậy trong một hồn thơ Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế mộng mơ:

“Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền?”

Tất cả là của quá khứ hay của hiện tại trong tưởng tượng của nhà thơ?

Chỉ biết là thiên nhiên và con người thôn vĩ hiện lên thật đẹp “Nắng hàng cau” là thứ nắng mai tinh khiết khi những hàng cau thẳng tắp vươn lên chào đón bình minh Viết về cau trước Hàn Mặc Tử có nhiều:

Trang 19

“Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau”

(Hồng Nguyên)

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào”

(Nguyễn Bính)

Những hàng cau trong hừng đông thì chỉ Hàn Mặc Tử mới có Đó là một cái nhìn

mê mải, câu thơ tiếp theo là một lời reo mừng thích thú: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” Nhìn vào vườn cây xanh mướt ấy con người thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn Đó là lời ca ngợi say sưa của người yêu thiên nhiên và có ân tình đậm đà với thôn Vĩ Không những thiên nhiên mà con người hiện lên với một hình ảnh cụ thể:

“lá trúc che ngang mặt chữ điền” Mặt chữ điền có thể là khuôn mặt của một người con gái ngay thẳng, phúc hậu và cũng là khuôn mặt của thôn Vĩ, của con người xứ Huế Hàn Mặc Tử đã tinh tế dùng lá trúc che ngang để khuôn mặt chữ điền hiện lên trong một vẻ đẹp kín đáo Có thể nói đây là khổ thơ đầu mang nặng những kí

ức của tác giả Tuy câu hỏi đầu mang vẻ ngậm ngùi tiếc nuối nhưng nhanh chóng chìm đi khi tâm hồn nhà thơ bị cuốn vào cảnh sắc Qua đó ta có thể đồng cảm cho một con người mang mặc cảm bệnh tật nhưng vẫn hướng về cảnh và người thôn Vĩ với tình yêu dạt dào

Cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ có những biến chuyển, thay đổi theo tư duy, theo cảm xúc và theo nỗi nhớ không nguôi của Hàn Mặc Tử về Vĩ Dạ

Khổ thơ sau vẫn nối tiếp mạch thơ, nhưng không còn êm ái mà tan tác chia lìa:

“Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Thường thì gió và mây luôn gắn kết với nhau nhưng từ nay xa cách nhau Gió mây

ở đây không phải là hiện thực mà nó mang tâm trạng của người trong cảnh chia lìa Nhớ Vĩ Dạ nhưng không thể trở về nơi ấy được nữa nên buồn và nỗi buồn đã tràn

ra cảnh vật :”Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” Dòng nước thấm cái buồn của ngoại cảnh hay chính là cái buồn thiu của tâm cảnh Thiên nhiên đẹp nhưng cũng

Trang 20

thật lạnh lẽo, nó mang đầy tâm trạng u buồn, cô đơn của nhà thơ trước sự xa cách, thờ ơ của cuộc đời đối với mình Dù vậy tâm hồn thơ của tác giả vẫn chan chứa tình yêu : "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó - Có chở trăng về kịp tối nay?” Trăng từng xuất hiện rất nhiều trong thơ Hàn Mặc Tử với đủ hình dạng, trạng thái khác nhau:

"Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Đợi gió thu về để lả lơi"

Nhưng Còn ánh trăng ở đây lại là một ánh trăng huyền ảo, một không gian tràn đầy trăng và thơ Thuyền ở đây là thuyền của người thôn Vĩ hay con thuyền của chính tác giả? Chỉ biết con thuyền chở đầy trăng Dòng sông Hương dát ánh trăng trở thành dãy ngân hà của vũ trụ Liệu con thuyền ấy có chở trăng về kịp tối nay hay là một tối khác? Câu hỏi này cũng là câu hỏi của tác giả liệu mình có đến được bến

bờ thời gian khi mà cuộc sống ngày một khép lại Có lẽ chỉ có trăng là hiểu được nỗi lòng của nhà thơ, có thể là một người bạn đồng hành cùng ông vơi đi cảm giác

cô đơn và mặc cảm bệnh tật

Qua một loạt các câu hỏi tu từ vườn ai thuyền ai đến cuối cùng là “tình ai”:

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Có phải là hình dáng của “thuyền ai” “vườn ai”? Hay tác giả lại là một khách

đường xa đang trở về trong mơ nên :”Áo em trắng quá nhìn không ra”, tất cả tạo thành một lời trăn trở “Ai biết tình ai có đậm đà“ Đó là câu hỏi tu từ đặt ở cuối bài thơ khiến cho nỗi niềm riêng của nhà thơ càng trở nên xót xa, làm tăng lên nỗi cô đơn trong tâm một con người thiết tha yêu đời yêu người Hỏi mà không biết ai hỏi, hỏi ai Hỏi mà không có câu trả lời Câu hỏi rơi vào hư vô, day dứt ám ảnh không nguôi để lại dư âm trong lòng người đọc

Ngày đăng: 14/02/2023, 18:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w