1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Top 50 bai phat bieu cam nghi ve tac pham song chet mac bay hay nhat

38 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Top 50 bài phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm Sống Chết Mặc Bay Hay Nhất
Tác giả Phạm Duy Tốn
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Bài phát biểu cảm nghĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 284 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm Sống chết mặc bay Dàn ý Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm Sống chết mặc bay 1 Mở bài – Giới thiệu qua về tác giả, tác phẩm – Đúc kết tóm tắt cảm nghĩ của em về tác phẩm Sốn[.]

Trang 1

● Phân tích ý nghĩa nhan đề “Sống chết mặc bay” Nhan đề của tác phẩm

là “Sống chết mặc bay” tác giả đã phản ảnh được sự vô trách nhiệm,bàng quan của một tên quan được xem là quan phụ mẫu (cha mẹ củadân)

● Trong tác phẩm thể hiện hai bức tranh hoàn toàn trái ngược nhau: Mộtbên là hình ảnh những người dân nghèo khổ, đang lo lắng dốc sứcphòng hộ chống vỡ đê Một bên là những quan chức phụ trách giúpdân hộ đê nhưng lại mải mê chơi trò đỏ đen, kiếm chác tiền bạc

● Phân tích sự tha hóa của bọn quan lại, sự xuống cấp của xã hội, chế độ

→ Qua tác phẩm ta thấy được sự xuống cấp, sự thối nát của một chế độ đã đếngiai đoạn suy thoái, để nhường lại cho một chế độ mới tiến bộ, phát triển hơn,

có thể giúp cho người dân nhiều hơn

Cảm nhận về đặc sắc nghệ thuật

● Tác giả Phạm Duy Tốn đã khéo léo sử dụng những chi tiết tương phản

để tăng độ hấp dẫn của câu chuyện cũng như làm nổi bật sự đặc sắc thểhiện sự vô cảm của quan hiện với sự đau khổ sống chết của người dân

Trang 2

● Tác giả cũng khôn khéo sử dụng cùng một lúc hai bút pháp nghệ thuậtcho hai bức tranh cuộc sống để nói lên sự tương phản, sự thối nát củachế độ.

● Phân tích cảnh thời tiết, trời mưa tầm tã, người dân thì ướt sũng như

“chuột lột”, vất vả , cơ cực nhiều cam go, thử thách

● Một bên là những tên quan chức, trong cuộc đỏ đen cũng cam go, thửthách không kém, chúng cũng sát phạt ăn thua nhau nảy lửa, cuộcchiến trên chiếu bạc cũng không kém phần thử thách gay cấn như cuộcchiến chống vỡ đê

● Hình ảnh tên quan huyện vơ hết tiền thắng bạc nhét vào túi, và tênngười làm vào thưa “Bẩm, đê có khi vỡ” thì hắn dửng dưng vô cảm nói

“Mặc kệ” rồi khi nghe nói “Đê vỡ mất rồi” thì hắn nói lớn, đầy tứcgiận đòi “cắt cổ, bỏ tù” người khác Qua đó bộc lộ rõ nét tính cáchnhân vật Hắn là kẻ vô cảm, tham lam và quan liêu, lạm quyền như thếnào?

● Tình huống của câu chuyện nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn, nói viết tảthực xem lẫn hư cấu, tương phản làm cho câu chuyên mang nhiều màusắc cảm xúc khác nhau

→ “Sống chết mặc bay” người đọc cảm thấy thấm thía nỗi khốn khổ của ngườidân khi phải sống trong một thời kỳ áp bức, bóc lột tới như vậy

3 Kết bài

– Qua tác phẩm “Sống chết mặc bay” tác giả Phạm Duy Tốn đã lên án mạnh mẽbọn quan tham ô lại, mặt người dạ thú, chỉ biết sống cho mình, vơ vét lợi ích.– Nó phản ánh sự xuống cấp về đạo đức của những người cầm đầu chế độ cũ,đòi hỏi sự thay đổi của chế độ nhằm phục vụ lợi ích của người dân tốt hơn

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Sống chết mặc bay - Mẫu 1

Trang 3

Trong truyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được in trên báo NamPhong, số 18, năm 1918 Đến năm 1989, Nhà xuất bản khoa học xã hội tuyểnchọn đưa vào tập Truyện ngắn Nam Phong Tác phẩm được xem là “bông hoađầu mùa” của truyện ngắn Việt Nam hiện đại bởi lẽ nó là một trong nhữngtruyện ngắn đầu tiên được viết bằng chữ quốc ngữ, mặc dù cách diễn đạt vẫncòn lưu lại khá rõ dấu ấn của văn học trung đại (lối văn biền ngẫu).

Nội dung truyện kể về sự kiện vỡ đê, nhân vật chính của truyện là viên quanphủ Cốt truyện gồm ba cảnh, diễn biến theo trình tự thời gian : Cảnh 1: Mưa togió lớn, nước lũ dâng cao, đê sắp vỡ, dân chúng hối hả đắp đất giữu đê Cảnh 2:Đám quan lại, nha lệ, lính tráng mải mê đánh tổ tôm trong đình Cảnh 3: Vỡ đê.Tác giả đã vẽ nên bức tranh tương phản giữa sự ăn chơi hưởng lạc của nhứng kẻcầm quyền với nối cơ cực, thê thảm của dân chúng Thông qua đó lên án gay gắtgiai cấp thống trị thối nát, bất tài và vô trách nhiệm trước tài sản, tính mạng củadân nghèo, đồng thời bày tỏ mối thương cảm sâu sắc của mình trước những nốiđau thương,, hoạn nạn của đồng bào

Mở đầu thiên truyện là tình thế vô cùng nguy hiểm của khúc đê sông Nhị Thế

đê được nhà văn tả bằng nhiều chi tiết cụ thể về thời gian, không gian: Gần mộtgiờ đêm Trời mữa tầm tã Nước sông Nhị Hà lên to quá ; khúc sông làng Xthuộc Phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéothì vỡ mất

Cảnh hàng trăm nghìn con người hốt hoảng, lo lắng, tất bật… tìm mọi cách đểgiữ cho con đê không bị vỡ trước sức tấn công khủng khiếp của nước lũ đượctác giả miêu tả bằng ngòi bút hiện thực thấm đẫm cảm xúc xót thương:… kẻ thìthuỗng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bóm dưới bùnlầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy lướt thướt như chuột lột Tìnhcảnh trông thê thảm

Không khí căng thẳng, hãi hùng Sự đối lập giữa sức người với sức nước đã lêntới điểm đỉnh : Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác

Trang 4

gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai ai cũng mệt lữ cả rồi Ấy vậy mà trêntrời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên Than

ôi ! Sức người khó lòng định nỗi với sức trời ! Thế đê không sao cự lại được vớithế nước ! Lo thay ! Nguy thay ! Khúc đê này hỏng mất Cảnh dân phu đangloay hoay, tuyệt vọng chống chọi với nước để cứu đê là để chuẩn bị cho sự xuấthiện của cảnh tượng hoàn toàn trái ngược diễn ra trong đình ấy, lũ con dân đangchân lầm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa tonước lớn, để bảo thủ lấy tính mạng gia tài, thế thôi nào quan cha mẹ ở đâu?Thưa rằng : Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trăm trước Đình ấycũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vưng chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng khôngviệc gì

Ở cảnh hai này, tác giả kể chuyện viê quan phủ mải mê chơi tổ tôm với đámquan lại dưới quyền và được lũ sai nha, lính lệ hầu hạ, cung phụng đến nơi đếnchốn, Giọng văn tường thuật khách quan cụ thể, chi tiết nhưng đằng sau nó chứachất thái độ mĩa mai, châm biếm và phẩn uất

Trước nguy cơ đê bị vỡ, bậc “phụ mẫu chi dân” cũng đích thân ra “chỉ đạo” việc

hộ đê, nhưng trớ trêu thay, chỗ của ngài không phải là ở giữa đám dân đen đangvất vả, lấn láp, ra sức cứu đê mà lại ở trong đình với không khí, quang cảnh thậttrang nghiêm, nhàn hạ; đèn thắp sáng trưng; nha lệ kính tráng, kẻ hầu người hạ,

đi lại rộn ràng Chân dung của quan lớn hiện lên thật cụ thể, sắc nét: Trên sập,mới kê ở gian giữa, có một người quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi Taytrái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà ở dưới đất màgãi Một tên lính lệ đứng bên, cầm cái quạt lông, chốc chốc sê phẩy… Đặc biệt

là quanh quan có đủ thầy đề, thầy đội nhất, thầy thông nhì và chánh tổng cùngngồi hầu bài Quan nhàn hạ, ung dung, không mảy may quan tâm đến tình cảnhthảm thương của dân chúng đang diễn ra trên đê Trong đình vẫn duy thì cáikhông khí uy nghiêm của chốn công đường, không hề có một chút liên hệ nàovới cảnh hộ đê tất bật ngoài kia của dân phu Dựng lên hai cảnh đối lập, tác giả

Trang 5

có dụng ý tố cáo thái độ vô trách nhiệm, vô lương tâm, sống chết mặc bay củabọn quan lại phong kiến đương thời.

Trên cái nền là cảnh toan chống giặc nước, chân dung “quan phụ mẫu” hiện lên

rõ ràng qua nhưng nét vẽ sinh động về hình dạng, cử chỉ, lời nói và diễn biếntâm lý nhân vật Người đọc không thể tưởng tượng nổi là trong tình cảnh nướcsôi lửa bỏng, tính mạng và của cải của hàng nghìn con người con người đang bị

đe dọa từng giờ từng phút, vậy mà ” quan phụ mẫu” vẫn điềm nhiên vui chơi,hưởng lạc Xung quanh hắn bầy biện đủ thứ sang trọng, xa hoa: Bên cạnh ngài,

mé tay trái, bát yến hấp đường phèn, để trong khay khảm, khói bay nghi ngút,tráp đồi mồi chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đầy những trầu vàng, cau đậu, rễtia, hai bên nào ống bạc, nào đồng hồ vàng, nào dao chuôi ngà, nào ống vôichạm, ngoáy tai, vỉ thuốc, quản bút, tăm bông trông mà thích mắt

Quả là hoàn toàn trái ngược với hình ảnh:… mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít…trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến ở trên đê…

Sự đối lập đó càng làm nổi bật tính cách ích kỉ, độc ác, vô nhân đạo của tênquan phủ và thmar cảnh của dân chúng; đồng thời góp phần gia tăng ý nghĩaphê phán gay gắt của truyện

Trong khi thảm họa vỡ đê khủng khiếp đang ập vào mắt dân chúng thì bọn nhalại tay chân vẫn cúc cung hầu hạ quan lớn đánh bạc Tuy chỉ là một cuộc chơi,lại chơi khi làm nhiệm vụ đôn đốc dân phu hộ đê nhưng quan lớn vẫn giữ cáitrật tự trên duois và không khí tôn nghiêm, nghi vệ như ở chốn công đường :Chung quanh sập, bắc bốn ghế mây, bắt đầu từ phía hữu quan thì có thầy đề, rồilần lượt đến thầy đội nhất, thầy thông nhì, sau hết giáp phía tay tả ngài, thì đếnchánh tổng sở tại cùng ngồi hầu bàn Mặc cho dân tình nháo nhác, khổ sở, quanvẫn mải mê dồn hết tâm trí vào các quân bài tổ tôm Cung cách ấy tố cáo bảnchất xấu xa cùng thái độ vô trách nhiệm đến mức vô cùng nhân đạo của hắn.Nếu ở trên mặt đê, khong khí sôi động, nhổn nháo, hối hả với công việc cứu đethì trong đình không khí cũng rộn ràng với những lời lẽ xoay quanh ván bài đen

Trang 6

đỏ : “Bát sách! Ăn”; “Thất văn… Phổng”, lúc mau, lúc khoan, ung dung êm ái,kkhi cười, khi nói vui vẻ dịu dàng… Ngoài kia, đê vỡ mặc đê, nước sông dùnguy không bằng nước bài cao thấp.

Sự đam mê cờ bạc của tên quan phủ với đám nha lại duois quyền diễn ra ngaytrên mặt đê, trong hoàn cảnh ngặt nghèo đã nói lên sự tàn ác, vô liêm sỉ của kẻcầm quyền Những lá bài tổ tôm có một ma lực lớn đến độ nào mà khiến cho tênquan phủ quên hết trách nhiệm của mình, quên cả mối hiểm nguy, chết chócđang đe dọa sinh mạng, tài sản của bao người ? Phải ! Hắn ta đâu cần biếtnhững điều đó vì quanh hắn lúc nào cũng có bọn tay sai mịnh nọt, hầu hạ, dạvâng… Chúng thi nhau tỏ ra cho quan biết là: Mình vào được, nhưng khôngdám cố ăn kìm, rằng: Mình có đôi, mà không dám phỗng qua mặt Thì ra chúng

cố ý nhường cho quan thắng bài liên tiếp để lấy lòng quan lớn Sau khi quan xơibát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọc,bỗng nghe ngoài xa, tiếng kêu vang trời dậy đất Mọi người đều giật nảy mình,duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà

hạ Có người bẩm báo là có khi đê vỡ hắn trả lời thật phũ phàng : Mặc kệ! Sau

đó lại tiếp tục đánh bài

Thú cờ bạc và những đồng tiền vơ vét được từ ván bài đã làm cho hắn mất hếtlương tri: Ngài mà còn dở ván bài, hoặc chưa hết hôih thì dẫu trời long đất lở,

đê vỡ dân trôi, ngài cũng thấy kệ

Tính cách của tên quan phủ được tác giả miêu tả khá tỉ mỉ qua các cử chỉ, lờinói thật tiêu biểu Về cử chỉ : Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi Ngài xơi bát yếnvừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọc… Về lờinói: Tiếng thầy đề hỏi : Dạ bẩm bốc! Tiếng quan lớn truyền: Ừ, khi có ngườichạy vào báo tin đê vỡ, quan đồ đỏ mặt tía tai, quay ra quát rằng: Đê vỡ rồi! Đê

vỡ rồi, thời ông cahcs cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không?Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không cònphép tắc gì nữa à ? Khi chơi bài, quan lớn tỏ ra vô cùng thành thạo: Ù ! Thôngtôm, chi chi nảy!… Điếu, mày!

Trang 7

Hàng loạt hình ảnh tương phản được tác giả sử dụng rất tài tình trong đoạn văntrên : Tiếng kêu vang trời dậy đất ngoài đê tương phản với thái độ điềm nhiênhưởng lạc của tên quan phủ Lời nói khe khẽ sợ sệt của người hầu: Bẩm, có khi

đê vỡ tương phản với lời gắt của quan cùng cái cau mặt : Mặc kệ! Hình ảnhngười nhà quê, mình mẩy lấm láp, áo quần ướt đầm, tất tả chạy xông vào thởkhông ra lời báo tin đê vỡ tương phản với hình ảnh quan lớn đỏ mặt tía tai quay

ra quát rằng : Đê vỡ rồi… thời ông cách cổ chúng mày

Trong khi miêu tả và kể chuyện cảnh hộ đê, tác giả thể hiện nỗi xót thương vàđồng cảm với nỗi khổ của dân chúng :

Than ôi ! Cứ như cái cách quan ngồi ung dung như vậy, mà hai bên tả hữu, nhalại nghiêm trang, lính hầu rầm rập, thì đó ai dám bảo rằng: gần đó có sự nguyhiểm to, sắp sinh ra một cảnh nghìn sầu muôn thẳm, trừ những kẻ lòng lang dạthú, còn ai nghĩ đến, mà chẳng động tâm, thương xót đồng bào huyết mạch !…Thiên truyện khép lại bằng cảnh vỡ đê : Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to nhưthế, thì khắp mọi noi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửatrôi băng, lúa má ngập hết ; kẻ sống không có chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn,lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao siết !

Ở đoạn cuối truyện, tác giả vừa dùng ngôn ngữ miêu tả, vừa dùng ngôn ngữbiểu cảm đề tài cảnh tượng vỡ đê và tỏ lòng ai oán cảm thương của mình đối vớinhững người nông dân khốn cùng Nhà văn muốn nhấn mạnh rằng : Cuộc sốnglầm than đói khổ của nhân dân không phải chỉ do thiên tai gây nên mà trước hết

và trực tiếp hơn cả là do thái độ thờ ơ vô trách nhiệm, vô nhân đạo của những

kẻ cầm quyền đương thời

Về nghệ thuật, trong toàn bộ tác phẩm, bên cạnh phép tương phản thì phép tăngcấp đã được nhà văn sử dụng một cách có chủ ý nhằm nêu bật ý nghĩa của tácphẩm và khắc họa rõ nét tính cách nhân vật chính là tên “quan phụ mẫu”

Phép tăng cấp thể hiện rõ trong việc miêu tae cảnh hộ đê dưới trời mưa mỗi lúcmột dồn dập : Nước sông Nhị lên to quá… Aay vậy mà trên trời thời vẫn mưa

Trang 8

tầm tả trút xuống, dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên giữa tiếng trống,tiếng tù và tiếng người gọi nhau sang hộ đê mỗi lúc một ầm ĩ, náo động.

Phép tăng cấp còn được vận dụng vào việc miêu tả cảnh tên quan phủ cùng đámnha lại đánh bài tổ tôm trong đình Thái độ vô trách nhiệm, vô lương tâm củatên quan phủ mỗi lúc một tăng Mê bài bạc bỏ nhiệm vụ đôn đốc hộ đê đã đành,đến khi có người phu vào báo tin đê vỡ mà vẫn thờ ơ, lại lên giọng quát nạt bọntay sai rồi quay lại tiếp tục đánh bài và vui sướng reo to : Ù! Thông tôm, chi chinảy! thì độ say mê cờ bạc quả là làm cho quan lớn mất hết tính người.Nói theolời bình của nhà văn thì hắn là loại lòng lang dạ thú

Nhờ khéo léo két hợp thủ pháp nghệ thuật tương phản và tăng cấp trong miêu

tả, kể chuyện nên tác giả truyện ngắn Sống chết mặc bay đã đạt được mục đíchlên án gay gắt tên quan phủ tàn ác và bày tỉ niềm thương cảm sâu sắc trước cảnhnghìn sâu muôn thảm của nhân dân do thiên tai và do thái độ vô trách nhiệm của

kẻ cầm quyền gây nên

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Sống chết mặc bay - Mẫu 2

Truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được in trên báo NamPhong, số 18, năm 1918 Đến năm 1989, Nhà xuất bản khoa học xã hội tuyểnchọn đưa vào tập Truyện ngắn Nam Phong Tác phẩm được xem là “bông hoađầu mùa” của truyện ngắn Việt Nam hiện đại bởi lẽ nó là một trong nhữngtruyện ngắn đầu tiên được viết bằng chữ quốc ngữ, mặc dù cách diễn đạt vẫncòn lưu lại khá rõ dấu ấn của văn học trung đại (lối văn biền ngẫu)

Nội dung truyện kể về sự kiện vỡ đê, nhân vật chính của truyện là viên quanphủ Cốt truyện gồm ba cảnh, diễn tiến theo trình tự thời gian: Cảnh 1: Mưa togió lớn, nước lũ dâng cao, đê sắp vỡ, dân chúng hối hả đắp đất giữ đê Cảnh 2:Đám quan lại, nha lệ, lính tráng mải mê đánh tổ tôm trong đình Cảnh 3: Vỡ đê.Tác giả đã vẽ nên bức tranh tương phản giữa sự ăn chơi hưởng lạc của những kẻcầm quyền với nỗi cơ cực, thê thảm của dân chúng Thông qua đó lên án gay gắtgiai cấp thống trị thối nát, bất tài và vô trách nhiệm trước tài sản, tính mạng của

Trang 9

dân nghèo, đồng thời bày tỏ mối cảm thương sâu sắc của mình trước những đauthương, hoạn nạn của đồng bào.

Mở đầu thiên truyện là tình thế vô cùng hiểm nguy của khúc đê sông Nhị Thế

đê được nhà văn tả bằng nhiều chi tiết cụ thể về thời gian, không gian: Gần mộtgiờ đêm Trời mưa tầm tã Nước sông Nhị Hà lên to quá Khúc sông làng X,thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéothì vỡ mất

Cảnh hàng trăm nghìn con người hốt hoảng, lo lắng, tất bật… tìm mọi cách đểgiữ cho con đê không bị vỡ trước sức tấn công khủng khiếp của nước lũ đượctác giả miêu tả bằng ngòi bút hiện thực thấm đẫm cảm xúc xót thương: … kẻ thìthuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùnlầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy lướt thướt như chuột lột Tìnhcảnh trông thật thảm

Không khí căng thẳng, hãi hùng Sự đối lập giữa sức người với sức nước đã lêntới điểm đỉnh: Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọinhau sang hộ, nhưng xem chừng ai cù củng mệt lử cả rồi Ấy vậy mà trên trờithời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên.Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lạiđược với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất Cảnh dân phuđang loay hoay, tuyệt vọng chống chọi với nước để cứu đê là để chuẩn bị cho sựxuất hiện của cảnh tượng hoàn toàn trái ngược diễn ra trong đình:

Ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu màđối với sức mưa to nước lớn, để bảo thủ lấy tính mạng gia tài, thế thời nào quancha mẹ ở đâu?

Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trăm thước Đình ấycủng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng khôngviệc gì

Trang 10

Ở cảnh hai này, tác giả kể chuyện viên quan phủ mải mê chơi tổ tôm với đámquan lại dưới quyền và được lũ sai nha, lính lệ hầu hạ, cung phụng đến nơi đếnchốn Giọng văn tường thuật khách quan cụ thể, chi tiết nhưng đằng sau nó chứachất thái độ mỉa mai, châm biếm và phẫn uất.

Trước nguy cơ đê bị vỡ, bậc “phụ mẫu chi dân” cũng đích thân ra “chỉ đạo” việc

hộ đê, nhưng trớ trêu thay, chỗ của ngài không phải là ở giữa đám dân đen đangvất vả, lấm láp, ra sức cứu đê mà là ở trong đình với không khí, quang cảnh thậttrang nghiêm, nhàn hạ: đèn thắp sáng trưng; nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ,

đi lại rộn ràng Chân dung của quan lớn được hiện lên thật cụ thể, sắc nét: Trênsập; mới kê ở gian giữa, có một người quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi.Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ ở dướiđất mà gãi Một tên lính lệ đứng bên, cầm cái quạt lông, chốc chốc sẽ phẩy…Đặc biệt là quanh quan có đủ thầy đề, thầy đội nhất, thầy thông nhì và chánhtổng cùng ngồi hầu bài Quan nhàn hạ, ung dung, không mảy may quan tâm đếntình cảnh thảm thương của dân chúng đang diễn ra trên đê Trong đình vẫn duytrì cái không khí uy nghiêm của chốn công đường, không hề có một chút liên hệnào với cảnh hộ đê tất bật ngoài kia của dân phu Dựng lên hai cảnh đôi lập tácgiả có dụng ý tố cáo thái độ vô trách nhiệm, vô lương tâm, sống chết mặc baycủa bọn quan lại phong kiến đương thời

Trên cái nền là cảnh trăm họ lo toan chống giặc nước, chân dung “quan phụmẫu” hiện lên rõ ràng qua những nét vẽ sinh động về hình dáng, cử chỉ, lời nói

và diễn biến tâm lí nhân vật Người đọc không thể tưởng tượng nổi là trong tìnhcảnh nước sôi lửa bỏng, tính mạng và của cải của hàng nghìn con người đang bị

đe dọa từng giờ từng phút, vậy mà “quan phụ mẫu” vẫn điềm nhiên vui chơi,hưởng lạc Xung quanh hắn bầy biện đủ thứ sang trọng, xa hoa: Bên cạnh ngài,

mé tay trái, bát yến hấp đường phèn để trong khay khảm, khói bay nghi ngút,tráp đồi mồi chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đầy những trầu vàng, cau đậu, rễtía, hai bên nào ống thuốc bạc, nào đồng hồ vàng, nào dao chuôi ngà, nào ốngvôi chạm, ngoáy tai, ví thuốc, quản bút, tăm bông trông mà thích mắt

Trang 11

Quả là hoàn toàn trái ngược với hình ảnh: … mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít…trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến ở trên đê…

Sự đối lập đó càng làm nổi bật tính cách ích kỉ, độc ác, vô nhân đạo của tênquan phủ và thảm cảnh của dân chúng; đồng thời góp phần gia tăng ý nghĩa phêphán gay gắt của truyện

Trong khi thảm họa vỡ đê khủng khiếp đang đập vào mắt dân chúng thì bọn nhalại tay chân vẫn cúc cung hầu hạ quan lớn đánh bạc Tuy chỉ là một cuộc chơi,lại chơi trong khi làm nhiệm vụ đôn đốc dân phu hộ đê nhưng quan lớn vẫn giữcái trật tự trên dưới và không khí tôn nghiêm, nghi vệ như ở chốn công đường:Chung quanh sập, bắc bốn ghế mây, bắt đầu từ phía hữu quan thì có thầy đề, rồilần lượt đến thầy đội nhất, thầy thông nhì, sau hết giáp phía tay tả ngài, thì đếnchánh tổng sở tại cùng ngồi hầu bài Mặc cho dân tình nháo nhác, khổ sở, quanvẫn mải mê dồn hết tâm trí vào các quân bài tổ tôm Cung cách ấy tố cáo bảnchất xấu xa cùng thái độ vô trách nhiệm đến mức vô nhân đạo của hắn

Nếu ở trên mặt đê, không khí sôi động, nhốn nháo, hối hả với công việc cứu đêthì trong đình không khí cũng rộn ràng với những lời lẽ xoay quanh ván bài đenđỏ: Bát sách ! Ăn; Thất văn,… Phỗng, lúc mau, lúc khoan dung, êm ái, khi cười,khỉ nói vui vẻ, dịu dàng… Ngoài kia, đê vỡ mặc đê, nước sông dù nguy khôngbằng nước bài cao thấp

Sự đam mê cờ bạc của tên quan phủ với đám nha lại dưới quyền diễn ra ngaytrên mặt đê, trong hoàn cảnh ngặt nghèo đã nói lên sự tàn ác, vô liêm sỉ của kẻcầm quyền Những lá bài tổ tôm có một ma lực lớn đến độ nào mà khiến cho tênquan phủ quên hết trách nhiệm của mình, quên cả mối hiểm nguy, chết chócđang đe dọa sinh mạng, tài sản của bao người? Phải! Hắn ta đâu cần biết nhữngđiều đó vì quanh hắn lúc nào cũng có bọn tay sai nịnh nọt, hầu hạ, dạ vâng…Chúng thi nhau tỏ ra cho quan biết là: Mình vào được, nhưng không dám cố ănkìm, rằng: Mình có đôi, mà không dám phỗng qua mặt Thì ra chúng cố ýnhường cho quan thắng bài liên tiếp để lấy lòng quan lớn Sau khi quan xơi bátyến vừa xong, ngồi khểnh rung đùi, vuốt râu mắt đang mải trông đĩa nọc, bỗng

Trang 12

ngoài xa, tiếng kêu vang trời dậy đất Mọi người đều giật nảy mình, duy quanvẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ Cóngười bẩm báo là có khi đê vỡ, hắn trả lời thật phũ phàng: Mặc kệ! Sau đó lạitiếp tục đánh bài.

Thú cờ bạc và những đồng tiền vơ vét được từ ván bài đã làm cho hắn mất hếtlương tri: Ngài mà còn dở ván bài, hoặc chưa hết hội thì dẫu trời long đất lở, đê

vỡ dân trôi, ngài cũng thây kệ

Tính cách của tên quan phủ được tác giả miêu tả khá tỉ mỉ qua các cử chỉ, lờinói thật tiêu biểu, về cử chỉ: Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi Ngài xơi bát yếnvừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọc… Về lờinói: Tiếng thầy đề hỏi: Dạ bẩm bốc tiếng quan lớn truyền: ừ Khi có người chạyvào báo tin đê vỡ, quan đỏ mặt tía tai, quay ra quát rằng: Đê vỡ rồi ! Đê vỡ rồi,thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không? Línhđâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy ? Không còn phéptắc gì nữa à ? Khi chơi bài, quan lớn tỏ ra vô cùng thành thạo: ù Ị Thông tôm,chi chi nảy!… Điếu, mày !

Hàng loạt hình ảnh tương phản được tác giả sử dụng rất tài tình trong đoạn văntrên: Tiếng kêu vang trời dậy đất ngoài đê tương phản với thái độ điềm nhiênhưởng lạc của tên quan phủ Lời nói khe khẽ sợ sệt của người hầu: Bẩm, có khi

đê vỡ tương phản với lời gắt của quan cùng cái cau mặt: Mặc kệ ! Hình ảnhngười nhà quê, mình mẩy lấm láp, áo quần ướt đầm, tất tả chạy xông vào thởkhông ra hơi báo tin đê vỡ tương phản với hình ảnh quan lớn đỏ mặt tía tai quay

ra quát rằng: Đê vỡ rồi… thời ông cách cổ chúng mày

Trong khi miêu tả và kể chuyện cảnh hộ đê, tác giả thể hiện nỗi xót thương vàđồng cảm với nỗi khổ của dân chúng:

Than ôi ! Cứ như cái cách quan ngồi ung dung như vậy, mà hai bên tả hữu, nhalại nghiêm trang, lính hầu rầm rập, thì đố ai dám bảo rằng: gần đó có sự nguy

Trang 13

hiểm to, sắp sinh ra một cảnh nghìn sầu muôn thảm, trừ những kẻ lòng lang dạthú, còn ai nghĩ đến, mà chẳng động tâm, thương xót đồng bào huyết mạch!…Thiên truyện khép lại bằng cảnh đê vỡ: Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to nhưthế, thì khắp mọi run miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửatrôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênhđênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết !

Ở đoạn cuối truyện, tác giả vừa dùng ngôn ngữ miêu tả, vừa dùng ngôn ngữbiểu cảm để tả cảnh tượng vỡ đê và tỏ lòng ai oán cảm thương của mình đối vớinhững người nông dân khốn cùng Nhà văn muốn nhấn mạnh rằng: Cuộc sốnglầm than đói khổ của nhân dân không phải chỉ do thiên tai gây nên mà trước hết

và trực tiếp hơn cả là do thái độ thờ ơ vô trách nhiệm, vô nhân đạo của những

kẻ cầm quyền đương thời

Về nghệ thuật, trong toàn bộ tác phẩm, bên cạnh phép tương phản thì phép tăngcấp đã được nhà văn sử dụng một cách tài tình, có tác dụng nhấn mạnh ý nghĩacủa tác phẩm và khắc hoạ rõ nét tính cách của nhân vật chính là tên “quan phụmẫu”

Phép tăng cấp thể hiện rõ trong việc miêu tả cảnh hộ đê dưới trời mưa mỗi lúcmột dồn dập: Nước sông Nhị Hà lên to quá… Ấy vậy mà trên trời thời vẫn mưatầm tã trút xuống… Dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên giữa tiếng trống,tiếng tù và tiếng người gọi nhau sang hộ đê mỗi lúc một ầm ĩ, náo động

Phép tăng cấp còn được vận dụng vào việc miêu tả cảnh tên quan phủ cùng đámnha lại đánh bài tổ tôm trong đình Thái độ vô trách nhiệm, vô lương tâm củatên quan phủ mỗi lúc một tăng Mê bài bạc mà bộ nhiệm vụ đôn đốc hộ đê đãđành Đến khi có người dân phu vào báo tin đê vỡ mà vẫn thờ ơ, lại lên giọngquát nạt bọn tay sai rồi quay lại tiếp tục đánh bài và vui sướng reo to: ù ! Thôngtôm, chi chi nảy ! thì độ say mê cờ bạc quả đã làm cho “quan lớn” mất hết tínhngười Nói theo lời bình của nhà văn là loại lòng lang dạ thú

Trang 14

Nhờ khéo léo kết hợp thủ pháp nghệ thuật tương phản và tăng cấp trong miêu

tả, kể chuyện nên tác giả truyện ngắn Sống chết mặc bay đã đạt được mục đíchlên án gay gắt tên quan phủ tàn ác và bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc trướccảnh nghìn sầu muôn thảm của nhân dân do thiên tai và do thái độ vô tráchnhiệm của kẻ cầm quyền gây nên

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Sống chết mặc bay - Mẫu 3

Bước vào thế kỉ XX, văn học nói chung, truyện (truyện ngắn, truyện dài) ViệtNam nói riêng có nhiều đổi mới, mang tính hiện đại Truyện ngắn hiện đại thiên

về tính chất hư cấu, cốt truyện phức tạp hơn, khắc hoạ được nhiều hình tượng,chi tiết sinh động nhằm phát hiện bản chất trong quan hệ nhân sinh, trong đờisống tâm hồn con người phong phú, tinh tế hơn truyện cổ tích, truyện ngắn, tiểuthuyết thời xưa Một trong những tác phẩm mở đầu cho truyện ngắn hiện đại làtruyện Sống chết mặc hay của Phạm Duy Tốn

Tác phẩm kể chuyện một viên quan phủ đang làm nhiệm vụ cai quản, chỉ đạonhân dân đắp đê chống bão lụt ở một vùng sông nước Bắc Bộ trong một đêmvào đầu thế kỉ XX Câu chuyện có thể chia ba đoạn

Đoạn một: từ “Gần một giờ đêm…” đến “… Khúc đê này hỏng mất”: nguy cơ

đê vỡ và sự chống đỡ tuyệt vọng của người dân

Đoạn hai: từ “Ấy, lũ con dân…” đến “… Điếu mày”: cảnh quan phủ và nha lạiđánh tổ tôm trong khi “đi hộ đê”

Đoạn ba: phần còn lại : cảnh đê vỡ, nhân dân lâm vào tình trạng thảm sầu

Với tiêu đề Sống chết mặc bay, dường như tác giả Phạm Duy Tốn muốn tậptrung phát hiện và nghiêm khắc phê phán thái độ vô trách nhiệm, bỏ mặc nhândân trong tình cảnh khốn cùng của một viên quan phủ khi xuống địa phương chỉđạo việc hộ đê Đọc tác phẩm, chúng ta nhận rõ nhà văn đã xây dựng các chitiết, tình huống tương phản, tăng cấp rất đặc sắc Hai mặt tương phản đó là:trong khi nhân dân phải vật lộn căng thẳng, vất vả đến cực độ trước bão lụt thì

Trang 15

viên quan phủ cùng nha lại, chánh tống – những kẻ chức sắc ở địa phương – saysưa cờ bạc, không mảy may nghĩ tới việc chỉ đạo dân “hộ đê” Đúng là hai bứctranh đời tương phản, đối lập gay gắt, khiến người đọc phải suy ngẫm và xúcđộng…

Bức tranh thứ nhất, cảnh nhân dân chống bão lụt: về thời gian, đây là lúc “gầnmột giờ đêm” nghĩa là thời điểm khuya khoắt, mà khi bình thường, mọi ngườiđang ngủ say Xác định thời gian nửa đêm như thế, nhà văn muốn nói rằng :cuộc hộ đê của nhân dân nơi đây đã kéo dài suốt cả ngày đến tối, tới tận đêmkhuya mà chưa được ngơi nghỉ Nặng nề và căng thẳng biết bao ! Trong khi đó,mưa, gió mỗi lúc một mạnh “Mưa tầm tã”, rồi lại “trên trời thời vẫn mưa tầm tãtrút xuống” Phối hợp với mưa, nước sông cũng mỗi lúc một dâng cao “Nướcsông Nhị Hà lên to quá” rồi lại “nước cứ cuồn cuộn bốc lên” Giữa cảnh trời,nước dữ dằn, bạo liệt như thế, công cuộc hộ đê của nhân dân diễn ra thế nào ?Nhốn nháo, căng thẳng, vất vả, cơ cực, khốn khổ, hiểm nguy vô cùng ! “Hằngtrăm nghìn con người … kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre,nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy… người nào người nấy lướt thướt nhưchuột lột… Trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hổi, tiếng người xao xác gọinhau…” Ngôn ngữ miêu tả rất tập trung Những tính từ, động từ dồn dập, nốinhau : “tầm tã… tầm tã… cuồn cuộn, đội, vác, đắp, cừ,… bì bõm”, kết hợp mộthình ảnh so sánh “người nào người nấy lướt thướt như chuột lột” khiến chongười đọc có cảm tưởng được trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy, và đang sống giữamột cuộc đắp đê chống bão lụt có thật Cùng với những từ ngữ, câu văn tả thực,nhà văn điểm vào vài ba câu cảm thán “xem chừng núng thế lắm… không khéothì vỡ mất… Tình cảnh trông thật là thảm … Than ôi ! Sức người khó lòng địchnổi với sức trời Lo thay ! Nguy thay !…” Sự yếu kém của đê điều, sức lực củacon người trước thiên tai mỗi lúc một thê thảm, rất đáng lo ngại, rất đáng xótthương ! Phạm Duy Tốn đã kết hợp ngòi bút tả thực với biểu cảm, trữ tình, dẫnngười đọc vào trung tâm cuộc chống đê lay động lòng người, đánh thức nhữngtình cảm đúng đắn trong chúng ta

Trang 16

Bức tranh đời thứ hai, tương phản với cảnh nhân dân chống lụt cơ cực, vất vả làcảnh viên quan phủ cùng tay chân chơi bời, cờ bạc, hưởng thụ, để dân… Sốngchết mặc bay Ở bức tranh này, nhà văn cũng dùng ngòi bút tả thực, chân thựcđến… lạnh lùng, về địa điểm, bọn quan lại ấy đang ngồi ở trong đình vững chãi,

đê vỡ cũng không sao Quang cảnh, không khí tĩnh mịch, trang nghiêm, mọingười nhàn nhã đánh tổ tôm “Đèn thắp sáng trưng; nha lộ, lính tráng kẻ hầungười hạ đi lại…” Đặc biệt là hình ảnh viên quan phủ Hắn “uy nghi, chễm chệngồi Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra để cho tên người nhà quỳ ởdưới đất mà gãi…” Bên cạnh, xung quanh hắn là bọn lính lệ chầu chực đợi saikhiến và những vật dụng quý giá, đắt tiền như bát yến hấp đường phèn, khaykhảm, tráp đồi mồi đựng trầu vàng, cau đậu,… Lại thêm cả đồng hồ vàng, daochuôi ngà, ống vôi chạm bạc, ngoáy tai, ví thuốc,… Đúng là hình ảnh của một

kẻ giàu sang, phú quý, mang danh đi chỉ dạo dân hộ đê mà như đi chơi, để khoekhoang của cải Đúng là hắn đi… chơi ! Giữa lúc nhân dân đang trăm thảm,nghìn sầu thì tên quan cùng đồng bọn say sưa, đắm minh trên chiếu bạc Ngồixung quanh hắn, một lũ tay chân nín thin thít hầu hạ quan, tạo mọi điều kiện đểquan được thắng bạc Đến thời điểm ngoài kia đê sắp vỡ, sự gắng sức của dânlên đến đỉnh điểm, thì viên quan hồi hộp dđợi chờ ván bài ù to

Ở phần cuối bức tranh, quan phủ ngồi đợi thắng bạc, tác giả sử dụng nghệ thuậtmiêu tả tăng cấp rất ấn tượng, rất hồi hộp Hình ảnh đối lập vì thế càng gay gắt.Nghe ngoài xa vẳng vào tiếng kêu vang trời, có người khẽ nói : “Bẩm, đê có khi

đê vỡ !” Tên quan gắt : “Mặc kệ !” Khi một người nhà quê hớt hải chạy vàobáo tin “Bẩm quan lớn đê vỡ mất rồi” thì tên quan đỏ mặt tía tai quát mắng :

“Đê vỡ rồi !… thời ông cách cổ chúng mày, bó tù chúng mày !” Hắn đã quênhết nhiệm vụ giúp dân chống lụt, để chỉ đợi một quân bài Sự đối lập giữa tìnhcảnh khốn khổ của dân chúng, nỗi âu lo của mọi người xung quanh và thái độ

vô trách nhiệm của tên quan lên đến đỉnh điểm Nhưng chưa dừng lại Sự đốilập vẫn tiếp tục tăng cấp Trong khi thầy đề “tay run cầm cập thò vào đĩa nọc…”(nghĩa là người nhân viên này cùng mọi người xung quanh rất lo sợ trước cảnh

Trang 17

đê vỡ), thì tên quan sung sướng hả hê ngả ra những quân bài, ù một ván to.Không những thế, hắn còn vỗ tay xuống sập kêu to, miệng vừa cười vừa nói :

“Ù ! Thông tôm, chi chi nảy !… Điếu, mày !” Nghĩa là kẻ quan liêu, vô tráchnhiệm ấy reo vui, sung sướng đến tột đỉnh được hướng thụ một món tiền lớn,giữa lúc nhân dân đau khổ cũng đến mức độ thẳm sâu, không thể đo được Tìnhhuống truyện diễn biến đến đây quả là căng thẳng, sự tương phản, đối lập quả làgay gắt, mâu thuẫn không thể dung hoà Người đọc như bị cuốn vào câu chuyện

và cũng cảm thấy căng thẳng, ngột ngạt, bức bối, tràn đầy nỗi tức giận, cămghét tên quan vô trách nhiệm, tham tiền và tràn đầy tình cảm xót thương nhữngngười dân khốn khổ bị lãng quên, bị bỏ mặc… Giận và thương, hai cung bậccảm xúc ấy dường như thấm đẫm trong từng từ ngữ, câu văn Kết thúc truyệnnhà văn viết : “Ấy, trong khi quan lớn ù ván to như thế, thì khắp mọi nơi miền

đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết

; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng

bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết !” Câu văn kéo dài, nhấn mạnh haibức tranh đời tương phản, vừa kể chuyện vừa miêu tả, vừa biểu ý vừa biểu cảm.Nhịp câu biền ngẫu, đối xứng lâm li, hài hoà tiếng nấc nghẹn, căm phẫn vớidòng nước mắt xót đau, thương cảm

Bằng sự khéo léo trong việc vận dụng kết hợp hai phép tương phản và tăng cấptrong nghệ thuật, tác giả Sống chết mặc bay đã lên án gay gắt tên quan phủ

“lòng lang dạ thú” trước sinh mạng của người dân và bày tỏ niềm cảm thươngcủa mình trước cảnh “nghìn sầu muôn thảm” của nhân dân do thiên tai và cũng

do thái độ vô trách nhiệm của kẻ cầm quyền đưa đến Hai bức tranh đời tươngphản, trái ngược ấy đậm đà chất hiện thực và thấm đẫm cảm hứng nhân đạo,nhân văn

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Sống chết mặc bay - Mẫu 4

“Sống chết mặc bay” được xem là “bông hoa đầu mùa” của truyện ngắn ViệtNam hiện đại Tác phẩm đã giúp người đọc cảm nhận được bức tranh về cuộcsống người dân, cũng như bộ mặt của giai cấp cầm quyền trong xã hội cũ

Trang 18

Truyện mở đầu bằng một tình huống hết sức căng thẳng, gay cấn: mọi ngườiđang cùng nhau gắng sức hộ đê Thời gian lúc đó là gần một giờ đêm, nướcsông Nhị Hà mỗi lúc một cao, trời mưa tầm tã không ngớt “Dân phu kể hàngtrăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức giữ gìn, kẻ thì thuổng, người thìcuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quákhuỷu chân, người nào người nấy ướt như chuột lột” Việc sử dụng biện pháp tu

từ liệt kê kết hợp với các câu hội thoại, tiếng gọi, tiếng hô, thể hiện tình thếnguy ngập, căng thẳng, nghìn cân treo sợi tóc Từ đó người đọc như bị cuốn vào

để tiếp tục tìm hiểu xem diễn biến tiếp theo của câu chuyện

Nhà văn tiếp tục khắc họa khung cảnh hàng trăm nghìn dân phu tìm đủ mọicách để giữ cho con đê không bị vỡ trước sức tấn công khủng khiếp của nước

lũ Tác giả còn miêu tả bằng ngòi bút hiện thực thấm đẫm cảm xúc xót thương:

“Kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõmdưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy lướt thướt như chuộtlột Tình cảnh trông thật thảm” Đọc đến đây, có ai mà không cảm thấy xót xathay cho những người dân đang rơi vào một hoàn cảnh thật là khổ sở, éo le.Không khí căng thẳng, hãi hùng Sự đối lập giữa sức người với sức nước đã lêntới điểm đỉnh: “Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xácgọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai cù cũng mệt lử cả rồi Ấy vậy mà trêntrời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên.Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lạiđược với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất” Những lờibình luận của nhà văn gợi cho người đọc cảm nhận được một thái độ đồng cảm,đau xót của tác giả

Phạm Duy Tốn đã khắc họa hình ảnh tương phản Nếu ngoài kia, dân phu đangloay hoay, tuyệt vọng chống chọi với nước để cứu đê là để chuẩn bị cho sự xuấthiện của cảnh tượng hoàn toàn trái ngược diễn ra trong đình Câu hỏi tu từ nhưmột lời mỉa mai, châm biếm: “Ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm longhìn sợ, đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa to nước lớn, để bảo thủ lấy tính

Trang 19

mạng gia tài, thế thời nào quan cha mẹ ở đâu?” Và rồi câu trả lời đã bộc lộ sựchế giễu: “Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trămthước Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thếnữa, cũng không việc gì” Ở cảnh hai này, tác giả kể chuyện viên quan phủ mải

mê chơi tổ tôm với đám quan lại dưới quyền và được lũ sai nha, lính lệ hầu hạ,cung phụng đến nơi đến chốn Giọng văn tường thuật khách quan cụ thể, chi tiếtnhưng đằng sau nó chứa chất thái độ mỉa mai, châm biếm và phẫn uất

Trước nguy cơ đê bị vỡ, bậc “phụ mẫu chi dân” cũng đích thân ra “chỉ đạo” việc

hộ đê, nhưng trớ trêu thay, chỗ của ngài không phải là ở giữa đám dân đen đangvất vả, lấm láp, ra sức cứu đê mà là ở trong đình với không khí, quang cảnh thậttrang nghiêm, nhàn hạ: đèn thắp sáng trưng; nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ,

đi lại rộn ràng Tác giả đã khắc họa cho người đọc về chân dung của quan lớnđược hiện lên thật cụ thể, sắc nét: “Trên sập; mới kê ở gian giữa, có một ngườiquan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗithẳng ra, để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi Một tên lính lệ đứng bên,cầm cái quạt lông, chốc chốc sẽ phẩy…” Đặc biệt là quanh quan có đủ thầy đề,thầy đội nhất, thầy thông nhì và chánh tổng cùng ngồi hầu bài Quan nhàn hạ,ung dung, không mảy may quan tâm đến tình cảnh thảm thương của dân chúngđang diễn ra trên đê Trong đình vẫn duy trì cái không khí uy nghiêm của chốncông đường, không hề có một chút liên hệ nào với cảnh hộ đê tất bật ngoài kiacủa dân phu Như vậy, có thể thấy được thông qua việc dựng lên hai khung cảnhđối lập, Phạm Duy Tốn đã muốn tố cáo thái độ vô trách nhiệm, vô lương tâm,sống chết mặc bay của bọn quan lại phong kiến đương thời

Đặc biệt, nhà văn còn cho thấy sự đam mê cờ bạc của tên quan phủ với đám nhalại dưới quyền diễn ra ngay trên mặt đê Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đã nói lên

sự tàn ác, vô liêm sỉ của kẻ cầm quyền Những lá bài tổ tôm có một ma lực lớnđến độ nào mà khiến cho tên quan phủ quên hết trách nhiệm của mình, quên cảmối hiểm nguy, chết chóc đang đe dọa sinh mạng, tài sản của bao người Đặcbiệt là đoạn cuối truyện, tác giả vừa dùng ngôn ngữ miêu tả, vừa dùng ngôn ngữ

Ngày đăng: 14/02/2023, 18:34

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm