Phân tích bài Quan Âm Thị Kính Dàn ý Phân tích bài Quan Âm Thị Kính I Mở bài Giới thiệu khái quát về thể loại chèo (khái niệm, khái quát các đặc trưng cơ bản của thể loại ) Giới thiệu về vở chèo “Quan[.]
Trang 1Dàn ý Phân tích bài Quan Âm Thị Kính
II Thân bài
1 Thị Kính xén râu mọc ngược dưới cằm cho chồng
- Khung cảnh gia đình:
+ Chồng dùi mài kinh sử để nhập hội long vân
+ Vợ ngồi khâu quần áo, dọn kỉ cho chồng, quạt cho chống nghỉ
⇒ Khung cảnh gia đình ấm cúng, hạnh phúc Thị Kính dịu dáng, hết mựcthương yêu, quan tâm chồng
- Thị Kính thấy râu mọc ngược dưới cằm chồng:
+ Tâm trạng: băn khoăn
+ Suy nghĩ: trước đẹp mặt chồng sau đẹp mặt ta, dạ thưa chồng lòng thiếp saoan
+ Hành động: cầm dao khâu xén chiếc râu
- Thiện Sĩ giật mình tỉnh giấc, kêu lên
2 Thị Kính bị nhà chồng vu oan và phải theo cha về nhà
- Thiện Sĩ: vừa chợp mắt đã thấy dao kia kề cổ
Trang 2- Sùng bà:
+ Nói về nhà mình: giống nhà bà đây giống phượng giống công, nhà bà đây caomôn lệnh tộc, trứng rồng lại nở ra rồng
⇒ Khoe khoang, hãnh diện, vênh váo
+ Nói về Thị Kính: liu điu lại nở ra dòng liu điu, mày là con nhà ốc, cả gan sayhoa đắm nguyệt, dụng tình bất trắc, gái say trai lập chí giết chồng,mặt trơ nhưmặt thớt,…
⇒ Coi thường, dè bỉu, khinh bỉ, mắng nhiếc, lăng nhục
+ Hành động: dúi đầu Thị Kính xuống, bắt Thị Kính ngửa đầu lên, không choThị Kính phân bua, dúi tay đẩy Thị Kính ngã khuỵu xuống…
⇒ Thô bạo, tàn nhẫn
- Thị Kính:
+ Hết lời phân bua, minh oan cho bản thân nhưng không được
+ Hành động: theo cha về nhà, đi theo cha mấy bước,quay vào nhìn từ tràng kỉđến sách, thúng khâu, cầm chiếc áo đang khâu dở bóp chặt trong tay
⇒ Sự bất lực của Thị Kính
3 Thị Kính từ biệt cha mẹ, giả dạng nam nhi tu hành
- Cuộc sống sau khi bị oan:
+ Sát hại chồng nên không thể ở lại nhà được
+ Xấu hổ không về được nhà cha mẹ
+ Không thể lấy người khác
Trang 3+ Bỏ đi xa thì mang tiếng không đoan chính
+ Minh oan không ai tin
⇒ Thị Kính rơi vào đau khổ, bế tắc
- Thị Kính quyết định giả dạng nam nhi để đi tu
- Ý nghĩa hành động đi tu của Thị Kính:
+ Tích cực: Thị Kính muốn sống để tỏ rõ mình là người đoan chính
+ Tiêu cực: Thị Kính không tìm ra nguyên nhân nỗi khổ của mình,không đấutranh mà nhẫn nhịn, cam chịu
⇒ Thị Kính không thể thoát khỏi đau khổ
+ Nghệ thuật: xung đột kịch, xây dựng nhân vật bằng đối thoại và hành động
- Cảm nhận của bản thân về vở chèo
Phân tích bài Quan Âm Thị Kính - Mẫu 1
Quan Âm Thị Kính là một vở chèo cổ nổi tiếng của sân khấu chèo Nội dungcủa vở chèo chia làm ba phần Phần 1 là Án giết chống: Thiện Sĩ, con trai Sùng
Trang 4ông, Sùng bà gia đình khá giả, kết duyên cùng Thị Kính, con gái Mãng ông, mộtnông dân nghèo Một hôm, vợ ngồi khâu, chồng đọc sách rồi thiu thiu ngủ.Thấy chồng có sợi dâu mọc ngược, Thị Kính cầm dao khâu toan xén đi Thiện
Sĩ giật mình hoảng sợ vội hô hoán lên, Sùng bà giận dữ đổ riệt cho con dâu có ýgiết chồng, mắng chửi thậm tệ và đuổi Thị Kính về nhà bố mẹ đẻ Phần 2 là Ánhoang thai : Bị oan ức nhưng không thể thanh minh, Thị Kính đành giả trai, vàotưở chùa Vân Tự, lấy pháp danh là Kính Tâm Thị Mầu, con gái phú ông, vốntính lẳng lơ, đem lòng say mê chú tiểu Kính Tâm Ve vãn Kính Tâm khôngđược, Thị Màu ăn nằm với anh Nô là đầy tớ rồi có thai Làng bắt vạ Bí thế, ThịMầu đổ cho Kính Tâm, Kính Tâm chịu oan, bị sư cụ đuổi ra khỏi tam quan(cổng chùa), Thị Màu đem con bỏ cho Kính Tâm Phần 3 là Oan tình được giải,Thị Kính lên tòa sen: Trải qua ba năm, Kính Tâm đi xin sữa từng ngày nuôi concủa Thị Mầu Rồi nàng "hóa" (chết), được lên tòa sen, trở thành Phật Bà Quan
Âm Trước khi "hóa", Kính Tâm viết thư để lại cho đứa trẻ Bấy giờ mọi ngườimới biết Kính Tâm là gái và hiểu ro tấm lòng từ bi nhẫn nhục của nàng
Nỗi oan hại chồng và cái án oan hoang thai là hai sự kiện chính của vở chèo.Qua đó, tác giả dân gian phản ánh bi kịch trong thân phận của người phụ nữnghèo khổ thời phong kiến Hai sự kiện tuy thuộc hai mảnh đời khác nhau củaThị Kính nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau Cảnh ngộ nào cũng éo le, đau đớnnhưng mỗi cảnh ngộ lại có một vẻ riêng Chúng kết hợp với nhau, bổ sung chonhau để hoàn chỉnh tấn bi kịch về cuộc đời người phụ nữ Bên cạnh nội dung
đó, vở chèo còn có dụng ý đề cao phẩm chất cao quý của người phụ nữ và lên
án cái xấu, cái ác trong xã hội phong kiến xưa
Trích đoạn Nỗi oan hại chồng là cốt lõi trong phần mở đầu của vở chèo Phầnnày có năm nhân vật tham gia vào quá trình tạo nên xung đột kịch và làm nềncho nhân vật Thị Kính bộc lộ phẩm chất cao đẹp thiện Sĩ và Sùng ông là những
kẻ nhu nhược, không có chủ kiến, chỉ đóng vai phụ để làm nổi bật tính cáchđiêu ngoa, nanh ác của Sùng bà Xung đột cơ bản của vở chèo được thể hiệnqua mâu thuẫn của Sùng bà và Thị Kính (mẹ chồng, nàng dâu) Sùng bà thuộc
Trang 5loại nhân vật mụ ác, đại diện cho tầng lớp địa chủ phong kiến với những thói hưtật xấu như hóm hĩnh, tự phụ về dòng giống cao sang, cả vú lấp miệng em, luônlấy mình làm chuẩn mực để xem xét, đánh giá người khác theo nhân thức hồ đồcủa mình, Thị Kính thuộc loại nhân vật nữ chính trong chèo, đại diện cho ngườiphụ nữ lao động nghèo Thị Kính là nàng dâu ngoan hiền nết na, thùy mị nhưng
bị Sùng bà nanh ác buộc tội giét chồng Gia đình nhà chồng đã gây ra cho ThịkÍnh những nỗi oan chồng chất Nàng bị hàm oan, hạnh phúc tan vỡ, bị đuổikhỏi nhà chồng và đau khổ nhất là phải chứng kiến cảnh người cha thân yêu bị
sỉ nhục
Mâu thuẫn giữa Sùng bà và Thị Kính về hình thức là xung đột trực tiếp giữa mẹchồng nàng dâu nhưng về bản chất lại là mâu thuẫn sâu sắc giữa kẻ thống trị vàngười bị trị Đó là cái nút đầu tiên trong vở chèo bộc lộ thân phận, địa vị thấpkém của người phụ nữ nghèo trong quan hệ gia đình và hôn nhân phong kiến
Mở đầu là cảnh sinh hoạt đầm ấm, (vợ vá may thêu thùa Chồng đọc sách), tuykhông phổ biến và gần gũi như cảnh chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa trong cadao nhưng nó cũng thể hiện khát vọng về hạnh phúc gia đình của nhân dân laođộng
Trong khung cảnh ấy nổi bật lên hình ảnh người vợ thương chồng Những cửchỉ của Thị Kính đối diện với Thiện Sĩ rất ân cần, dịu dàng Khi chồng học bàimệt mỗi đêm ngủ thiếp đi, nàng dọn lại kỉ rồi ngồi quạt cho chồng Thấy sợi râumọc ngược dưới cằm chồng, nàng băn khoăn lo lắng về một điềm báo chẳnglành Thị Kính muốn làm đẹp cho chồng và cho mình: Trước đẹp mặt chồng,sau đẹp mặt ta , Dạ thương chồng, lòng thiếp sao an Âu dao bén, thiếp xéntày một mực Tâm trạng của nàng là tâm trạng của người vợ yêu thương chồngthắm thiết
Việc làm đầy thiện ý của Thị Kính chưa kịp thực hiện thì Thiện Sĩ chợt giậtmình choàng thức dậy, hốt hoảng nắm lấy con dao kêu lên : Hỡi cha! Hỡi mẹ !Hỡi xóm ! Hỡi làng ! Đêm hôm khuya khoắt bỗng làm sao thấy sự bất thường khiến cho cả nhà tỉnh giấc Chẳng cần hỏi rõ đầu đuôi câu chuyện ra sao, Sùng
Trang 6bà đã sừng sộ khép ngay Thị Kính vào tội giết chồng: Cái con mặt gan lim này !Mày định giết con bà à? Thái độ của Sùng bà rất thô bạo và tàn nhẫn Khi ThịKính khóc lóc van xin được thanh minh, Sùng bà dúi đầu Thị Kính ngã xuốngrồi lại bắt nàng ngửa mặt lên để nghe mụ chửi, chứ không cho phân bua, thanhminh gì cả.
Sùng bà nói với Thị Kính toàn là những lời đay nghiến, mắng nhiếc, lăng mạ.Dường như một lần mụ cất lời, Thị Kính lại bị kết thêm một tội Mụ trút cho ThịKính đủ tội mà không cần biết sự tình Mụ xỉ vả, đuổi Thị Kính ra khỏi nhàkhông chỉ vì lí do cho rằng Thị Kính giết chồng mà Thị Kính còn là loại đàn bà
hư đốn, tâm địa xấu xa; là con nhà thấp hèn không xứng với nhà mụ: Giống nhà
bà đây giống phượng giống công Còn tuồng bay mèo mã gà đồng lẳng lơ Nhà bà đây cao môn lệnh tộc - Mày là con nhà cua ốc - Trứng rồng lại nở ratrứng rồng - Lìu điu lại nở ra dòng lìu điu - Đồng nát thì về Cầu Nôm, Con gái
-nỏ mồm về ở với cha Tất cả những lời nói và cử chỉ đó đã bộc lộ bản chất củamột mụ nhà giàu bất nhân, bất nghĩa
Lời lẽ của mụ chứa đựng toàn là sự phân biệt đối xử Vốn từ ngữ dùng để sosánh chuyện cao thấp, sang hèn, giàu nghèo của mụ phong phú đến mức đáng
sợ Mâu thuẫn giữa mụ và Thị Kính đã vượt khỏi mâu thuẫn mẹ chồng - nàngdâu Mụ đã trả nó vào đúng vị trí là mâu thuẫn giai cấp Các điệu hát sắp, nóilệch phù hợp với việc thể hiện thái độ trấn áp phũ phàng và giọng nói điệukiêu kì, tự phụ về dòng, giống giàu sang, khinh thị người nghèo khó của mụ.Nhân vật Sùng bà chỉ xuất hiện trong một lớp diễn nhưng đã bộc lộ đầy đủ tínhcách của vai mụ ác trong vai chèo cổ Mụ ra oai sấm sét để tỏ ra " phép nhà"
Mụ tự cho mình cái quyền tạo ra "luật" và "lệ" trong gia đình Thị Kính tuy có
đủ đức hạnh như lễ giáo phong kiến quy định nhưng vẫn không được gia đìnhchấp nhận bởi vì nàng không xuất thân từ nguồn gốc " con nhà gia thế" Quả làmâu thuẫn giai cấp không thể dung hòa đã tác động ghê gớm đến cuộc hôn nhânnày
Trang 7Khi bị mẹ chồng khép vào tội giết chồng, Thị Kính đã có những lời nói, cử chỉthật nhẫn nhục, đáng thương Năm lần kêu oan thì bốn lần tiếng kêu của nànghướng về chồng và mẹ chồng Lần thứ nhất, nàng kêu oan với mẹ chồng : Giời
ơi ! Mẹ ơi, oan cho con lắm mẹ ơi ! Lần thứ hai, vẫn với mẹ chồng : Oan chocon lắm mẹ ơi! Lần thứ ba, kêu oan với chồng: Oan thiếp lắm chàng ơi! Lần thứ
tư, một lần nữa, lại kêu oan, van xin mẹ chồng : Mẹ xét tình cho con, oan conlắm mẹ ơi!
Thị Kính kêu oan với chồng nhưng vô ích bởi Thiện Sĩ là gã đàn ông đơn hèn,nhu nhược Hắn bỏ mặc người vợ hết lòng thương yêu, chăm sóc gắn bó vớimình cho bà mẹ độc ác hành hạ Lúc này, Thiện Sũ chỉ là một nhân vật thừa trênsân khấu Lời van xin của Thị Kính giống như lửa đổ thêm dầu, càng làm bùnglên những lời đay nghiến lăng nhục của Sùng bà Thị Kính càng kêu oan, nỗioan lại càng dày Giữa gia đình nhà chồng người phụ nữ đức hạnh ấy hoàn toàn
cô độc Chỉ đến lần cuối cùng, Thị Kính kêu oan với cha đẻ là Mãng ông thìnàng mới nhận được sự cảm thông, nhưng đó là sự cam thông đau khổ và bấtlực Mãng ông nói trong nước mắt:
Con ơi! Dù oan dù nhẫn chẳng oan
Xa xôi cha biết nỗi con nhường nào!
Kết cục của nối oan là tình vợ chồng giữa Thị Kính và Thiện Sĩ tan vỡ Nàng bịđuổi ra khỏi nhà chồng Trước khi đuổi Thị Kính, Sùng bà và Sùng ông cònnhẫn tâm dựng lên một vở kịch tàn ác: lừa Mãng ông sang ăn cữ cháu, kì thực làbắt Mãng ông nhận con gái về Chúng có thú vui làm điều ác, muốn cha conMãng ông phải nhục nhã ê chề Hơn thế nữa, nhanh như trở bàn tay, Sùng ông
đã thay đổi quan hệ thông gia bằng những hành động vũ phu Cảnh này đượcxây dựng bằng những chi tiết, hình ảnh, lời nói thật sinh động:
Mãng ông: Ông ơi! Ông cho tôi biết đầu đuôi câu chuyện với, ông ơi! -Sùngông: Biết này! -(Sùng ông dúi ngã Mãng ông rồi bỏ vào, Thị Kính chạy vội lại
Trang 8đỡ cha Hai cha con ôm nhau khóc) Sự việc Sùng bà cho gọi Mãng ông đến đểtrả Thị Kính đã thể hiện tính cách bất nhân bất nghĩa của mụ, đồng thời bộc lộnỗi bất hạnh lớn nhất của Thị Kính Thị Kính như bị đẩy đến cực điểm của bikịch Nàng chới với trong nỗi oan ức tày trời, nỗi đau tình vợ chồng tan vỡ cộngthêm nỗi nhục nhã, đau đoén trước ảnh người cha già kính yêu bị chính cha mẹchồng khinh khi, hành hạ.
Cuối lớp diễn, trên sân khấu chỉ còn lại hai hca con Thị Kính lẻ loi đơn độc giữa
sự vô tình đến lạnh lùng, tàn nhẫn Cảnh hai cha con ôm nhua than khóc là hìnhảnh của những người nghèo khổ chịu oan ức mà hoàn toàn bất lực Cảnh Sùng
bà quy kết, đổ vạ cho Thị Kính diễn ra chóng vánh, dồn dập Còn cảnh hai chacon Thị Kính ôm nhau than khóc thì kéo dài trên sân khấu Sự bố trí như vậymang ý nghĩa tố cáo cái ác và cảm thông sâu sắc với cái thiện đang bị cái ác bủavây giwuax trùng trùng sóng dữ
Thái độ của Thị Kính trước khi ra khỏi nhà chồng được đặc tả : Thị Kính đi theocha mấy bước nữa, rồi dừng lại và thở than, quay vào nhìn từ cái kỉ đến sách,thúng khâu, rồi cầm chiếc áo ddang khâu dở, bóp chặt trong tay Chiếc kỉ, thúngkhâu, chiếc áo đang khâu dở là bằng chứng chứng minh cho tình cảm thủy
chung, hiền dịu của người vợ yêu chồng nhưng giờ đây lại bị coi là chứng cứcủa sự thất tiết Sự đảo lộn đột ngột đó đã làm cho trái tim đa cảm của Thị Kínhđau đớn, bàng hoàng Tâm sự của nàng thể hiện qua điệu sử rầu và nói thảm:Thương ôi! Bấy lâu nay sắt cầm tịnh hảo
Bỗng ai làm chăn gối lẻ loi
Một bên là những kỉ niệm hạnh phúc của tình vợ chồng, một bên là khoảnhkhắc chớp nhoáng của sự tan vỡ, chia lìa Lời thoại gợi lên rất rõ hình ảnh mộtngười con gái bị hàm oan đang vô cùng đau khổ và bơ vơ trước cuộc đời vôđịnh Thị Kính đột ngột bị đẩy vào tình thế éo le: Biết đi đâu ? Về đâu bây giờ?Đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến tránh sao khỏi cảnh Lênh đênh chiếcbách giữa dòng?!
Trang 9Trong nỗi đau tình vợ chồng chia cắt, nỗi nhục khi phẩm giá bị chà đạp, sự êchề khi khong bảo vệ được người cha già bị gia đình chồng sỉ nhục, Thị Kínhvẫn giữ bản chất chân thật, hiền lành, giữ phép tắc luân lí của đạo dâu con.Người đọc càng xót thương, Thị Kính bao nhiêu thì càng căm ghét sự bất nhânbất nghĩa của gia đình Sùng bà bấy nhiêu.
Kết thúc đoạn trích nỗi oan hại chồng là cảnh Thị kính cúi lạy cha rồi nói lênnguyện vọng của mình là sẽ giả trai để bước vào cửa phật tu hành Con đườnggiải thoát của Thị Kính có hai mặt tích cực và tiêu cực Mặt tích cực là Thị kínhxác định phải sống ở đời, mới mong tỏ rõ là người đoan chính Mặt tiêu cực lànàng cho rằng mình khỏ do số kiếp đã định, do phận hẩm duyên ôi, nên tìm vàocửa Phật để lánh đời Thái độ của Thị Kính thiếu cái khỏe khoắn, lạc quan, dũngcảm của những người vợ nghèo trong ca dao Nàng không dám đứng lên chốnglại những oan trái bất công, chưa đủ bản lĩnh vượt qua hoàn cảnh nghiệt ngã,trái lại đã cam chịu bằng sự nhẫn nhục đáng thương Phản ứng của Thị Kínhmới chỉ dừng lại ở lời trách móc số phận và ước muốn lòng dạ ngay thẳng củamình được nhật nguyệt sáng soi
Vở chèo Quan Âm Thị Kính nói chung và đoạn trích Nỗi oan hại chồng nóiriêng là vở diễn và trích đoạn chèo rất tiêu biểu của sân khấu chèo truyền thống,thể hiện chân thực cuộc sống bi thảm, bế tắc của nhiều số phận, đồng thời cangợi phẩm chất tốt đẹp, cao quý của người phụ nữ nghèo trong xã hội phongkiến xưa kia
Phân tích bài Quan Âm Thị Kính - Mẫu 2
Việt Nam nổi tiếng với nhiều các thể loại văn hóa dân gian độc đáo, đặc trưngcho mỗi vùng miền trên đất nước, ví như vùng Nam Bộ có đờn ca tài tử ngọtngào, Huế có điệu Nam ai, Nam bằng say đắm lòng người, xứ Nghệ Tĩnh có câu
hò ví dặm, đất Bắc Ninh có dân ca quan họ đậm tình truyền thống, thì cả vùngBắc Bộ lại có những thể loại ca kịch đã lưu truyền biết bao đời này ấy là cảilương, chèo, tuồng, Tuy nhiên do sự phát triển mạnh mẽ của nền âm nhạc hiện
Trang 10đại, đến ngày hôm nay các thể loại này dẫu đặc sắc mang nhiều dấu ấn truyềnthống của dân tộc thế nhưng cũng dần bị mai một Trong đó nhắc đến chèo có lẽ
vở Quan m Thị Kính đã từng in sâu trong trí óc của không ít người dân ViệtNam, trở thành vở kịch kinh điển của chèo Việt Nam và từng được diễn đi diễnlại rất nhiều lần trên các sân khấu lớn nhỏ khác nhau, thu về sự tán thưởng củakhán giả bởi nội dung sâu sắc và ý nghĩa nhân văn tốt đẹp mà nó gửi gắm
Vở Quan m Thị Kính có nguồn gốc từ một mẩu chuyện cổ tích cùng tên, chủyếu xoay quanh trục bĩ cực - thái lai của kiếp nhân sinh, tập trung ca ngợi nhữngphẩm chất tốt đẹp, tài năng đức độ để mọi người trông đó mà noi theo Cảmthông với số phận người lao động, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ, đềcao phẩm chất và tài năng của họ Đồng thời cũng lên án, tố cáo, đả kích mộtcách mạnh mẽ những oan trái, bất công và con người cường quyền xấu xa trong
xã hội cũ Quan m Thị Kính là câu chuyện kể về Thị Kính một người phụ nữ tàisắc vẹn toàn, nhưng lại có xuất thân bần hàn, được gả vào nhà phú ông giàu có,rồi bị vu tội giết chồng Sau giả trai đi tu những tưởng đã thoát được nợ hồngtrần thì lại vướng vào mối oan nghiệt với Thị Mầu, bị vu tội làm Thị Mầu chửahoang, rồi bị đuổi khỏi chùa Thị Kính lại tiếp tục nuôi con của Thị Mầu, chođến khi chết thì được lên tòa sen trở thành Quan Thế m bởi tấm lòng đức độ, hysinh, để tạo phúc cho muôn dân
Đoạn trích Nỗi oan hại chồng, là phần đầu tiên của tác phẩm kể về việc ThịKính bị đổ oan giết chồng, rồi bị nhục mạ, xúc phạm và đuổi về nhà mẹ đẻtrong nỗi đớn đau tủi nhục, có oan khuất mà kêu trời trời không thấu, kêu đấtđất không nghe Trước hết nói về nhân vật Thị Kính, nhân vật chính của tácphẩm, trước hết chưa nói đến ngoại hình thế nhưng ta đã thấy hiện lên Thị Kính
là một người phụ nữ tỉ mỉ, săn sóc và hết mực yêu thương chồng con Sự tỉ mỉ ta
có thể thấy ở việc nàng cẩn thận ngắm dung nhan chồng, rồi chợt phát hiện ramột sợi râu nhỏ mọc ngược, lòng săn sóc, yêu thương chồng là ở cách Thị Kính
Trang 11suy nghĩ cầm quạt quạt cho chồng an giấc, lại cẩn thận suy nghĩ đến thể diệncủa chồng với chiếc râu mọc ngược (vốn cái gì ngược ngạo cũng dễ cản trởcuộc sống) Và đặc biệt tình yêu thương ấy được thể hiện rất rõ nét trong câu hátcủa nàng rằng "Dạ thương chồng lòng thiếp sao an".
Tuy nhiên tình yêu, sự một lòng ấy của nàng lại trở thành tai vạ, đôi lúc thiếtnghĩ Thị Kính vì quá thương chồng thành ra nghĩ chẳng chu toàn, lại mất đi cáicẩn thận Phải chăng nàng đợi chồng dậy rồi nói về chiếc râu, rồi với cắt thì có
lẽ tình cảm vợ chồng lại càng trở nên khăng khít chứ chẳng đến nỗi u cũng phảinói rằng sự chịu đựng, hy sinh âm thầm của người phụ nữ xưa đôi lúc đã trởthành cái cớ khiến họ khổ sở cả một đời Đến khi bị vu tội giết chồng, thì ThịKính lại tỏ rõ là một người phụ nữ yếu đuối, tội nghiệp, nàng cũng từng nhiềulần mở miệng thanh minh với cha mẹ chồng và với chồng, thế nhưng đángthương cho kiếp đàn bà, lại còn là kiếp nghèo khó thế nên người ta cứ mặcnhiên là nàng âm mưu giết chồng vì trót có lang chạ với ai
Như vậy, ngay trong trích đoạn này ta đã thấy được thông qua lời buộc tội củaSùng bà, thì Thị Kính đã phải gánh trên lưng hai nỗi oan khuất, thứ nhất là giếtchồng, thứ hai ấy là tội bất trung, bất trinh, lén lút tư tình với kẻ khác Mà đốivới người phụ nữ ngày xưa, vướng phải hai tội ấy thì coi như thanh danh cả đờiđem bỏ, phải chịu bị người đời phỉ nhổ, cuộc đời về sau coi như hết Đến caotrào của phần Nỗi oan hại chồng ấy là cảnh Sùng ông gọi Mãng ông đến, nóikháy và đuổi trả Thị Kính về nhà mẹ đẻ Lúc này đây Thị Kính đứng trước viễncảnh vô cùng đớn đau, bị nhà chồng ruồng bỏ lại phải gánh trên lưng hai nỗioan khó lòng hóa giải, khiến nàng vô cùng đau khổ Trước là đau xót nối duyên
vợ chồng mới bén chưa lâu đã đứt gánh giữa đường, sau là nhìn đến tương laicuộc đời nếu có trở về nhà thì cũng phải gánh điều tiếng xấu xa cả đời Thị Kínhvới tấm lòng hiếu thảo, thương xót cha mẹ, không muốn để cha mẹ trở thành