So sánh thành phần loài giữa các hệ sinh thái cho thấy động vật đáy trong thảm cỏ biển có thành phần loài 148 taxa đa dạng hơn so với nền đáy bùn cát 135 taxa và rừng dừa nước 47 taxa..
Trang 1Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 17, Số 4A; 2017: 108-115
DOI: 10.15625/1859-3097/17/4A/13266 http://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
ĐỘNG VẬT ĐÁY VÙNG ĐÁY MỀM Ở KHU DỰ TRỮ
SINH QUYỂN THẾ GIỚI CÙ LAO CHÀM - HỘI AN
Phan Thị Kim Hồng *
, Nguyễn An Khang, Đào Tấn Học, Hứa Thái Tuyến
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
* E-mail: phn_kimhong@gmail.com Ngày nhận bài: 20-9-2017
TÓM TẮT: Quần xã động vật đáy được khảo sát tại 19 trạm từ vùng hạ lưu sông Thu Bồn đến
đảo Cù Lao Chàm, trong các hệ sinh thái khác nhau như rừng dừa nước, thảm cỏ biển và nền đáy đáy bùn cát Kết quả đã ghi nhận được 206 taxa thuộc 94 họ, gồm 120 taxa giun nhiều tơ (Polychaeta), 44 taxa giáp xác (Crustacea), 35 taxa thân mềm (Mollusca) và 7 taxa da gai (Echinodermata) Vùng hạ lưu sông Thu Bồn có số lượng loài ít nhất (64 taxa), tiếp đến là Cù Lao Chàm (123 taxa) và vùng chuyển tiếp có thành phần loài đa dạng nhất (135 taxa) So sánh thành phần loài giữa các hệ sinh thái cho thấy động vật đáy trong thảm cỏ biển có thành phần loài (148 taxa) đa dạng hơn so với nền đáy bùn cát (135 taxa) và rừng dừa nước (47 taxa) Mật độ động vật đáy toàn khu vực khảo sát khá cao, trung bình đạt 3.731 cá thể/m2
và tập trung chủ yếu vào hai nhóm giáp xác và giun nhiều tơ với mật độ lần lượt là 1.973 cá thể/m2 và 1.109 cá thể/m2; Thân mềm và da gai có mật độ thấp hơn nhiều (604 cá thể/m2
và 52 cá thể/m2) Khu vực sông Thu Bồn có mật độ động vật đáy (5.095 cá thể/m2
) cao hơn nhiều so với khu vực Cù Lao Chàm và vùng chuyển
tiếp (lần lượt là 3.222 cá thể/m2 và 2.877 cá thể/m2
) Đa số các trạm trong thảm cỏ biển đều có mật
độ cao hơn nhiều so với rừng dừa nước và vùng chuyển tiếp, đặc biệt là thảm cỏ biển ở vùng cửa sông Thu Bồn (7.387 cá thể/m2
)
Từ khóa: Động vật đáy, đáy mềm, Cù Lao Chàm - Hội An.
MỞ ĐẦU
Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm từ lâu được
xem là một trong những khu vực quan trọng
trong việc cung cấp chính các nguồn lợi thủy
hải sản cho khu vực Sự hiện diện của các hệ
sinh thái quan trọng gồm rạn san hô, thảm cỏ
biển, bờ đá và vùng đáy mềm góp phần làm
cho khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có tính đa
dạng sinh học cao và là ngư trường quan trọng
đối với hoạt động nghề cá của cộng đồng Tổng
quan các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay
cho thấy tài nguyên sinh vật khu vực đảo Cù
Lao Chàm khá phong phú, đa dạng trong đó có
nhiều giống loài quí hiếm và có giá trị kinh tế
Hơn nữa, Cù Lao Chàm cũng được đánh giá là
nơi có tiềm năng hải sản cao, là bến đỗ và ngư
trường quan trọng của tỉnh Quảng Nam Trong mùa gió Đông Bắc và Tây Nam, các loài cá sống nổi và sống đáy tụ tập lại tạo nên một số ngư trường chính ngoài khơi phía bắc và đông nam của quần đảo [1] Bên cạnh đó, Cù Lao Chàm được xem là một trong những nơi của Việt Nam mà các tài nguyên sinh vật còn được bảo tồn tốt Bài báo này cung cấp nguồn dữ liệu
về hiện trạng về thành phần loài và mật độ động vật đáy làm cơ sở khoa học, để đề xuất các giải pháp quản lý và phát huy các giá trị vốn có của ở khu dự trữ thế giới Cù Lao Chàm
- Hội An
TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP Địa điểm và thời gian thu mẫu
Trang 2Động vật đáy được khảo sát tại 19 trạm ở 3
khu vực với các hệ sinh thái khác nhau gồm hạ
lưu sông Thu Bồn với hệ sinh thái là rừng dừa
nước và thảm cỏ biển, vùng chuyển tiếp giữa
giữa sông Thu Bồn và đảo Cù Lao Chàm với nền đáy là bùn cát và đảo Cù Lao Chàm với hệ sinh thái là cỏ biển (hình 1)
Hình 1 Vị trí các trạm khảo sát động vật đáy ở khu dự trữ
sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An
Phương pháp thu và phân tích mẫu
Sử dụng cuốc thu trầm tích có diện tích
1/25 m2 để thu mẫu trong nền đáy mềm, thu lặp
lại 3 mẫu ở mỗi trạm Với thảm cỏ biển và rừng
dừa nước, động vật đáy được thu bằng khung
vuông 15 cm × 15 cm, thu 3 mẫu đại diện cho 3
đới trên - giữa - dưới theo một mặt cắt từ bờ ra
hết thảm cỏ biển và rừng dừa nước Tổng cộng
số lượng mẫu thu của 19 trạm là 57 mẫu
Ngoài hiện trường, mẫu được rửa và rây
qua lưới 500 µm để thu tất cả các nhóm sinh
vật Sau đó cố định mẫu bằng formalin 10% và
chuyển về phòng thí nghiệm Trong phòng thí
nghiệm, mẫu được tách ra làm 4 nhóm chính là
giun nhiều tơ, thân mềm, giáp xác và da gai
Mẫu được cố định lại bằng cồn 70% và thêm
một lượng nhỏ glycerin
Phân loại động vật đáy theo phương pháp giải phẫu so sánh hình thái dựa theo các tài liệu [2-25]
Phân tích và xử lý số liệu
Mật độ của động vật đáy được tính theo đơn vị là cá thể/m2
Sử dụng phần mềm Primer 6.0 để phân tích nhóm trung bình Cluster, số liệu phân tích gồm thành phần loài và mật độ
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Thành phần loài và phân bố
Thành phần loài
Kết quả phân tích 6.769 cá thể trong 57 mẫu động vật đáy thu ở 19 trạm tại Hội An -
Cù Lao Chàm đã ghi nhận được tổng cộng 206
Trang 3Phan Thị Kim Hồng, Nguyễn An Khang,…
taxa thuộc 94 họ, trong đó nhóm giun nhiều tơ
có số lượng loài nhiều nhất 120 taxa, tiếp đến
là nhóm giáp xác với 44 taxa, thân mềm có 35
taxa và ít nhất là nhóm da gai với 7 taxa
(hình 2) Một số họ có số lượng loài nhiều như
Spionodae (17 loài), Capitellidae (11 loài),
Nereididae (8 loài), Syllidae (7 loài) đều thuộc
nhóm giun nhiều tơ; các nhóm thân mềm và
giáp xác thường tối đa chỉ 3 - 4 loài
Có sự dao động rất lớn về số lượng loài bắt
gặp tại các trạm kháo sát, thấp nhất là trạm
RDN5 (15 taxa) và cao nhất ở trạm VTC5 (76
taxa) (bảng 1) Một số loài có phân bố rộng,
thường bắt gặp ở các khu vực thu mẫu như
Amphipoda, Anthura sp (giáp xác);
Heteromastus similis (giun nhiều tơ),
Lucinoma sp (thân mềm) với tần số xuất hiện
lần lượt là 100; 59,6; 40,4 và 36,8%)
Hình 2 Tỷ lệ % thành phần loài thuộc các nhóm
động vật đáy ghi nhận ở vùng nghiên cứu
Bảng 1 Số lượng taxa của các nhóm động vật đáy ở các trạm khảo sát
Nhóm Rừng dừa nước (RDN) Thảm cỏ biển (TCB) Vùng chuyển tiếp
(VCT)
Toàn vùng nghiên cứu
1 2 3 4 5 1 2 3 4 5 6 8 9 10 1 2 3 4 5 Họ Taxa Giun nhiều tơ
(Polychaeta) 15 10 14 14 7 6 9 11 15 11 21 26 30 41 8 30 31 44 47 37 120 Giáp xác
(Crustacea) 6 6 6 5 7 6 3 4 8 5 11 12 11 15 12 8 8 16 13 30 44
Da gai
(Echinodermata) 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 2 2 2 3 1 3 5 4 4 3 7 Thân mềm
(Mollusca) 6 0 6 5 1 5 5 6 7 11 12 7 5 9 2 8 4 8 9 21 35
Tổng 27 16 26 24 15 17 17 21 30 27 46 47 48 68 23 49 48 72 76 94 206
So sánh sự phân bố thành phần loài giữa ba
khu vực khảo sát
So sánh sự phân bố thành phần loài giữa ba
khu vực khảo sát cho thấy vùng hạ lưu sông Thu
Bồn có số lượng loài ít nhất với 64 taxa chiếm
31% tổng số lượng loài ghi nhận được ở toàn
vùng nghiên cứu, tiếp theo là khu vực Cù Lao
Chàm với 123 taxa chiếm xấp xỉ 60% và đa dạng
nhất ở vùng chuyển tiếp giữa sông Thu Bồn và
Cù Lao Chàm (135 taxa chiếm 65%) Trong đó,
nhóm giun nhiều tơ luôn chiếm ưu thế về số
lượng ở cả 3 khu vực so với các nhóm khác
Nhóm Giun nhiều tơ có số lượng loài thay đổi nhiều giữa các vùng khảo sát, tập trung nhiều ở vùng chuyển tiếp và Cù lao Chàm (lần lượt là 87 taxa và 77 taxa) và ít hơn hẳn ở vùng sông Thu Bồn (27 taxa) Trong khi đó, hai nhóm giáp xác và thân mềm có số lượng không thay đổi nhiều ở cả 3 khu vực khảo sát Nhóm
da gai có số lượng loài ít, chỉ xác định được 7 taxa ở vùng chuyển tiếp và 4 taxa ở Cù Lao Chàm và hoàn toàn không bắt gặp trong các mẫu thu ở vùng sông Thu Bồn (bảng 2)
Bảng 2 Số lượng taxa của các nhóm động vật đáy giữa các khu vực khảo sát
Nhóm Sông Thu Bồn Vùng chuyển tiếp Cù Lao Chàm Toàn vùng nghiên cứu
Trang 4100
80
60
40
20
Hình 3: Mức độ giống nhau về thành phần loài (%) giữa các khu vực khảo sát
%
Hình 3 Mức độ giống nhau về thành phần loài
(%) giữa các khu vực khảo sát
Có sự khác nhau về đặc trưng thành phần
loài giữa ba khu vực khảo sát, mức độ giống
nhau về thành phần loài động vật đáy giữa sông
Thu Bồn (STB) với Cù Lao Chàm (CLC) và
vùng chuyển tiếp (VCT) chỉ khoảng 30%, trong
khi đó chỉ số giống nhau giữa Cù Lao Chàm và
vùng chuyển tiếp là 56,8% (hình 3) Xét mức
độ phân loại đến loài, các loài thường gặp ở
sông Thu Bồn là các loài đặc trưng cho vùng
cửa sông như loài giun nhiều tơ Dendronereis
aestuarina hay các loài có phân bố rộng
Ceratonereis sp., Clithon oualaniensis với tần
suất xuất hiện lần lượt là 97%, 63%, 60%, 50%; Khu vực Cù Lao Chàm có các loài
Modiolus sp (67%), Nitidotellina minuta
(67%), Septifer sp thuộc nhóm thân mềm và các loài giun nhiều tơ Prionospio sp (58%)
So sánh sự phân bố thành phần loài động vật đáy trong các sinh cư
Kết quả phân tích cho thấy động vật đáy trong hệ sinh thái cỏ biển có thành phần loài (148 taxa) đa dạng hơn so với nền đáy bùn cát (135 taxa) và rừng dừa nước (47 taxa) (bảng 3) Tuy cùng sinh cư là thảm cỏ biển nhưng số lượng loài động vật đáy ở cửa sông Thu Bồn (53 taxa) ít hơn nhiều so với vùng biển Cù Lao Chàm (123 taxa) So sánh với các kết quả nghiên cứu trước đây đều có xu hướng này khi
Đỗ Công Thung (2000) [26], đã ghi nhận 36 loài thuộc 35 giống và 29 họ động vật đáy trong thảm cỏ biển vùng cửa sông từ Thanh Hóa đến Quảng Trị ít hơn nhiều so với Phan Thị Kim Hồng (2011) [27] xác định 163 taxa thuộc 88 họ phân bố ở vịnh Nha Trang
Bảng 3 Số lượng taxa của các nhóm động vật đáy giữa các sinh cư
Ngành Đáy mềm Rừng dừa nước Thảm cỏ biển Toàn vùng nghiên cứu
Bảng 4 Ma trận chỉ số giống nhau về thành
phần loài giữa các sinh cư
Mức độ giống nhau về thành phần loài giữa
các sinh cư được thể hiện trong bảng 4 Quần
xã động vật đáy trong rừng dừa nước (RDN) và
thảm cỏ biển ở sông Thu Bồn (TCB-STB) có
chỉ số giống nhau cao nhất 70,3%; tiếp theo là
giữa thảm cỏ biển Cù Lao Chàm (TCB-CLC)
và vùng chuyển tiếp (VCT), giống nhau 56,8%
Trong khi đó, tuy cùng sinh cư là thảm cỏ biển nhưng quần xã động vật đáy ở hai vùng Cù Lao Chàm và sông Thu Bồn chỉ giống nhau 29,1%
Mật độ các nhóm sinh vật
Mật độ động vật đáy toàn khu vực khảo sát khá cao, đạt 3.731 cá thể/m2
và tập trung chủ yếu vào hai nhóm giáp xác và giun nhiều tơ với mật độ trung bình lần lượt là 1.973 cá thể/m2
và 1.109 cá thể/m2; nhóm thân mềm và da gai có mật độ thấp hơn nhiều (604 cá thể/m2
và 52 cá thể/m2
) Có sự dao động rất lớn về mật độ giữa
các trạm khảo sát, từ 817 cá thể/m2
ở trạm RDN5 đến 15.007 cá thể/m2
ở trạm TCB3 và chủ yếu là do sự phân bố không đều của nhóm giáp xác
Trang 5Phan Thị Kim Hồng, Nguyễn An Khang,…
So sánh mật độ của các nhóm động vật
đáy giữa ba khu vực khảo sát cho thấy khu
vực sông Thu Bồn có mật độ động vật đáy
(5.096 cá thể/m2) cao hơn nhiều so với khu
vực Cù Lao Chàm và vùng chuyển tiếp (lần
lượt là 3.222 cá thể/m2 và 2.877 cá thể/m2
)
(bảng 5) Nếu so với kết quả nghiên cứu của Phạm Viết Tích và nnk., (2009) [28] về mật
độ 4 nhóm sinh vật đáy ở các trạm khảo sát thuộc sông Thu Bồn ra đến Hội An là 3.347 cá thể/m2 thì mật độ sinh vật đáy của nghiên cứu này cao hơn
Bảng 5 Mật độ trung bình (cá thể/m2) của các nhóm động vật đáy tại các trạm
Trạm Giun nhiều tơ
(Polychaeta)
Giáp xác (Crustacea)
Da gai (Echinodermata)
Thân mềm (Mollusca) Tổng
Xét sự phân bố mật độ động vật đáy giữa
các sinh cư cho thấy đa số các trạm trong thảm
cỏ biển đều có mật độ cao hơn nhiều so với
rừng dừa nước và vùng chuyển tiếp, đặc biệt là
thảm cỏ biển ở vùng cửa sông Thu Bồn với mật
độ rất cao (7.387 cá thể/m2) và ưu thế về mật
độ thuộc về nhóm giáp xác (4.471 cá thể/m2
- chiếm hơn 60%) (hình 4), hai nhóm thân mềm
và giun nhiều tơ có mật độ 1.781 cá thể/m2
và 1.135 cá thể/m2 Các loài Clithon oualaniensis,
Heteromastus similis xuất hiện nhiều ở thảm cỏ
biển ở sông Thu Bồn; Myriochele picta,
Balanus sp ở thảm cỏ biển Cù Lao Chàm; Ceratonereis sp., Prionospio sp., Sermyla cf tornatella ở rừng dừa nước và loài Prionospio neenae ở vùng chuyển tiếp
Trang 6Hình 4 Mật độ (cá thể/m2) của các nhóm động vật đáy giữa các sinh cư
KẾT LUẬN
Đã ghi nhận được 206 taxa thuộc 94 họ,
gồm 120 taxa giun nhiều tơ, 44 taxa giáp xác,
35 taxa thân mềm và 7 taxa Da gai Trong đó
vùng hạ lưu sông Thu Bồn có số lượng loài ghi
nhận được ít nhất (64 taxa), tiếp theo là Cù Lao
Chàm (123 taxa) và vùng chuyển tiếp (135
taxa) Nhóm giun nhiều tơ luôn chiếm ưu thế
về số lượng ở cả 3 khu vực khảo sát Các loài
thường gặp ở khu vực khảo sát là là
Heteromastus similis, Ceratonereis sp., Clithon
oualaniensis; Modiolus sp, Nitidotellina
minuta, Septifer sp và Prionospio sp Hệ sinh
thái cỏ biển có thành phần loài (148 taxa) đa
dạng hơn so với vùng đáy bùn cát (135 taxa) và
rừng dừa nước (47 taxa)
Mật độ động vật đáy toàn khu vực khảo sát
khá cao, trung bình đạt 3.731 cá thể/m2 và tập
trung chủ yếu vào hai nhóm Giáp xác và Giun
nhiều tơ với mật độ lần lượt là 1.973 và 1.109
cá thể/m2; Thân mềm và Da gai có mật độ thấp
hơn nhiều (604 và 52 cá thể/m2
) Khu vực sông Thu Bồn có mật độ động vật đáy (5.095 cá
thể/m2
) cao hơn nhiều so với khu vực Cù Lao
Chàm và vùng chuyển tiếp (lần lượt là 3.222 và
2.877 cá thể/m2
) Đa số các trạm trong thảm cỏ biển đều có mật độ cao hơn nhiều so với rừng
dừa nước và vùng chuyển tiếp, đặc biệt là thảm
cỏ biển ở vùng cửa sông Thu Bồn (7.387 cá
thể/m2
)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Võ Sĩ Tuấn (chủ biên), Nguyễn Huy Yết và Nguyễn Văn Long, 2005 Hệ sinh thái rạn
san hô biển Việt Nam Nxb Khoa học và
Kỹ thuật, Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, 212 tr
2 Abbott, R T., 1991 Seashells of Southeast
Asia Graham Brash
3 Abbott, R T., and Dance, S P., 1986 Compendium of Shells: a full-color guide
to more than 4200 of the world’s marine shells American Malacologist Inc., Melbourne, Fl and Burlington, MA
4 Böggemann, M., and Eibye-Jacobsen, D.,
2002 The glyceridae and goniadidae (Annelida: Polychaeta) of the bioshelf
project, Andaman Sea, Thailand Phuket
Publication, 24, 149-196
5 Cernohorsky, W O., 1972 Marine shells of
the Pacific (Vol 2) Pacific Publications
6 Aiyun, D., and Siliang, Y A N G., 1991 Crabs of the China seas, 608 pp
7 Dance, S P., 1977 Das grosse Buch der Meeresmuscheln; Schnecken und Muscheln der Weltmeere 304 pp
8 Day, J H., 1967 A monograph on the
Polychaeta of Southern Africa British
Trang 7Phan Thị Kim Hồng, Nguyễn An Khang,…
Museum of Natural History, Publication,
656, 1-878
9 Fauchald, K., 1968 Nephtyidae
(Polychaeta) from the Bay of Nha Trang,
South Viet Nam Naga Report, 4(3), 5-34
10 Fauvel, P., 1923 Faune de France, 5:
Polychètes Errantes 488 pp Le Chevalier,
Paris
11 Fauvel, P., 1927 Faune de France:
Polychètes Sédentaires Vol 16 Librairie
Lechevalier: Paris
12 Fauvel, P., 1935 Annélides polychètes de
l'Annam Memoriae Pontificia Academia
Scientiarum Novi Lyncaei, Ex Serie III, 2,
279-354
13 Fauvel, P., 1953 Annelida Polychaeta The
Fauna of India, Including Pakistan, Ceylon,
Burma and Malaya Allahabad, The Indian
Press, 507 pp
14 Fitzhugh, K., 2002 Fan worm polychaetes
(Sabellidae: Sabellinae) collected during
the Thai-Danish BIOSHELF project
Phuket Marine Biological Center Special
Publication, 24, 353-424
15 Gallardo, V A., 1968 Polychaeta from the
Bay of Nha Trang, South Viet Nam Naga
Report, 4(3), 35-279
16 Holthuis, L B., Fransen, C H J M., and
Van Achterberg, C., 1993 The recent
genera of the Caridean and Stenopodidean
shrimps (Crustacea, Decapoda): with an
appendix on the order Amphionidacea
328 pp
17 Imajima, M., 1972 Review of the annelid
worms of the family Nereidae of Japan,
with descriptions of five new species or
subspecies Bulletin of the National Science
Museum Tokyo, 15, 37-153
18 Imajima, M., and Hartman, O., 1964 The
polychaetous annelids of Japan Allan
Hancock Foundation, Occasional Papers,
452 pp
19 Lovell, L L., 2002 Paraonidae (Annelida: Polychaeta) of the Andaman Sea, Thailand
Phuket Marine Biological Center Special
Publication, 24, 33-56
20 Moris, P A., 1947 A field guide to shells
of the Atlantic and Gulf Coasts and the West Indies
21 Turner, R D., and Boss, K J., 1962 The genus Lithophaga in the western Atlantic
Department of Mollusks, Museum of Comparative Zoölogy, Harvard University
22 Radashevsky, V I., and Hsieh, H L., 2000 Polydora (Polychaeta: Spionidae) Species
from Taiwan Zoological Studies, 39(3),
203-217
23 Sakai, T., 1976 Crabs of Japan and the adjacent seas
24 Serène, R., 1937 Inventaires des
invertébrés marine de l’Indochine Inst
Océanogr, 30, 3-38
25 Serène, R., 1984 Crustaces Decapodes Brachyoures de l'Ocean Indien Occidental
et de la Mer Rouge, Xanthoidea: Xanthidae
et Trapeziidae Avec un addendum par Crosnier A.: Carpiliidae et Menippidae
Faune tropicale, 24, 1-243
26 Phan Thị Kim Hồng, Hứa Thái Tuyến, Nguyễn An Khang, Hoàng Xuân Bền, Nguyễn Văn Long và Võ Sĩ Tuấn, 2011
Đa dạng loài động vật đáy trong thảm cỏ
biển ở vịnh Nha Trang - Khánh Hòa Hội
nghị Khoa học và Công nghệ biển toàn quốc lần thứ V Nxb Khoa học Tự nhiên và Cộng nghệ, Tr 170-177
27 Đỗ Công Thung, 2000 Động vật đáy trong thảm cỏ biển từ Quảng Ninh đến Đà Nẵng
Báo cáo khoa học Hội nghị sinh học quốc gia Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Tr
464-468
28 Phạm Viết Tích và nnk., 2009 Khảo sát, đánh giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước
ven biển Quảng Nam Báo cáo tổng kết đề
tài Sở Thủy sản Quảng Nam, Quảng Nam,
160 tr
Trang 8
MACROBENTHOS IN THE SOFT BOTTOM IN CU LAO CHAM
- HOI AN BIOSPHERE RESERVE
Phan Thi Kim Hong, Nguyen An Khang, Dao Tan Hoc, Hua Thai Tuyen
Institute of Oceanography, VAST
ABSTRACT: Benthic fauna on soft bed was surveyed in different ecosystems such as the nipa
forest, seagrass beds and muddy sand substrate at 19 stations located from the downstream of Thu Bon River to Cu Lao Cham island There were 206 taxa of 94 families, including 120 taxa of polychaeta, 44 taxa of crustacean, 35 taxa of mollusc and 7 taxa of echinoderma to be recorded In which, the number of species in downstream of Thu Bon river was the least (64 taxa), and higher in
Cu Lao Cham island (123 taxa) The most diverse range of species (135 taxa) was found in the transition zone In comparison between ecosystems, species composition of macrobenthos in seagrass beds (148 taxa) were more diverse than those in muddy sand substrate (135 taxa) and nipa forest (47 taxa) The average density of macrobenthos in study areas was high, with 3,731 individuals/m2, The crustacea and polychaeta were dominant groups with average density of 1,973 and 1,109 individuals/m2 respectively Meanwhile, the density of other groups such as molusc and echinoderms were much less than with 604 and 52 individuals/m2, respectively Downstream of Thu Bon river had higher macrobenthos density (5,095 individuals/m2) compared to Cu Lao Cham and transition zone (3,222 and 2,877 individuals/m2, respectively) Most stations in seagrass bed had denser zoo-benthos density than those in the nipa and transition areas, especially in downstream of Thu Bon river (7,387 individuals/m2)
Keywords: Macrobenthos, soft bottom, Cu Lao Cham - Hoi An.