1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu thuyết mắt biếc (the bluest eye) của toni morrison dưới góc nhìn tự sự học

41 77 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Thuyết Mắt Biếc (The Bluest Eye) của Toni Morrison Dưới Góc Nhìn Tự Sự Học
Tác giả Toni Morrison
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Nghiên cứu Văn học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 231,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục 9 TIỂU THUYẾT MẮT BIẾC (THE BLUEST EYE) CỦA TONI MORRISON DƯỚI GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC Mục lục Mục lục 2 Mở đầu 3 Chương 1 Khái quát về lý thuyết Tự sự học 4 1 1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu lý th. Mở đầu Tự sự học (narratology) được hiểu là khoa học về trần thuật nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn truyện kể do nhà nghiên cứu người Pháp gốc Bungari T. Todorov đề xuất vào năm 1969. Lý thuyết tự sự học dựa trên hai nền tảng cơ bản của thi pháp học và cấu trúc học. Có thể kể đến một số nhà tự sự học kinh điển như Paul Ricoeur, Roland Barthes, Gérard Genette… Tự sự học phát triển qua hai thời kỳ : thời kỳ kinh điển và hậu kinh điển. Tự sự học kinh điển tập trung vào nghiên cứu cấu trúc của truyện và diễn ngôn tự sự, mối quan hệ giữa các sự kiện tạo nên truyện, đi sâu nhận thức hình thái kết cấu, quy luật vận động, phương thức biểu đạt và đặc trưng thẩm mỹ của thể loại tự sự, điểm hạn chế của tự sự học kinh điển đó là xem văn bản tác phẩm như là một hệ thống khép kín, không có liên hệ với bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội. Tự sự học hậu kinh điển ngược lại có thái độ cởi mở và vận dụng nhiều phương pháp để nghiên cứu văn học, trong khi phân tích văn bản tác phẩm đã chú ý đến độc giả và tác động của hoàn cảnh lịch sử, tiếp thu có ý thức phương pháp, góc độ phê bình và những trường phái lý luận của các nghệ thuật khác. Với mong muốn mang lại hướng nghiên cứu mới cho các tác phẩm văn học, chúng tôi chọn tác phẩm Mắt biếc của Toni Morrison làm đối tượng nghiên cứu dưới cái nhìn Tự sự học. Bởi thông qua tác phẩm này, tác giả đã mạnh mẽ nói lên thực trạng bất công mà người Mỹ da đen đang gặp phải đồng thời bày tỏ khát vọng về một thế giới công bằng nơi yêu thương, bình đẳng, bác ái phải được xem trọng và thực hiện.

Trang 1

EYE) CỦA TONI MORRISON DƯỚI GÓC

NHÌN TỰ SỰ HỌC

Trang 2

Mục lục

Mục lục 2

Mở đầu 3

Chương 1: Khái quát về lý thuyết Tự sự học 4

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu lý thuyết Tự sự học 4

1.2 Hai hệ hình lý thuyết Tự sự học 6

1.2.1 Tự sự học kinh điển 6

1.2.2 Tự sự học hậu kinh điển 10

Chương 2: Toni Morrison và tiểu thuyết Mắt biếc (The Bluest Eye) 12

2.1 Đôi nét về tác giả Toni Morrison 12

2.1.1 Cuộc đời 12

2.1.2 Sự nghiệp giảng dạy và sáng tác văn học 12

2.2 Tiểu thuyết Mắt biếc (The Bluest Eye) 15

Chương 3: Một số hình thức tự sự trong Mắt biếc (The Bluest Eye) của Toni Morrison) 18

3.1 Kết cấu trần thuật 18

3.2 Thời gian – không gian trần thuật 21

3.3 Người kể chuyện 26

3.4 Điểm nhìn trần thuật 29

3.5 Tính chất đa thanh 35

3.6 Tính chất huyễn ảo 36

Kết luận 39

Danh mục tài liệu tham khảo 40

Trang 3

Mở đầu

Tự sự học (narratology) được hiểu là khoa học về trần thuật nghiên cứu cấu trúcdiễn ngôn truyện kể do nhà nghiên cứu người Pháp gốc Bungari T Todorov đề xuất vàonăm 1969 Lý thuyết tự sự học dựa trên hai nền tảng cơ bản của thi pháp học và cấu trúchọc Có thể kể đến một số nhà tự sự học kinh điển như Paul Ricoeur, Roland Barthes,Gérard Genette…

Tự sự học phát triển qua hai thời kỳ : thời kỳ kinh điển và hậu kinh điển Tự sựhọc kinh điển tập trung vào nghiên cứu cấu trúc của truyện và diễn ngôn tự sự, mối quan

hệ giữa các sự kiện tạo nên truyện, đi sâu nhận thức hình thái kết cấu, quy luật vận động,phương thức biểu đạt và đặc trưng thẩm mỹ của thể loại tự sự, điểm hạn chế của tự sựhọc kinh điển đó là xem văn bản tác phẩm như là một hệ thống khép kín, không có liên

hệ với bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội Tự sự học hậu kinh điển ngược lại có thái độcởi mở và vận dụng nhiều phương pháp để nghiên cứu văn học, trong khi phân tích vănbản tác phẩm đã chú ý đến độc giả và tác động của hoàn cảnh lịch sử, tiếp thu có ý thứcphương pháp, góc độ phê bình và những trường phái lý luận của các nghệ thuật khác

Với mong muốn mang lại hướng nghiên cứu mới cho các tác phẩm văn học,

chúng tôi chọn tác phẩm Mắt biếc của Toni Morrison làm đối tượng nghiên cứu dưới cái

nhìn Tự sự học Bởi thông qua tác phẩm này, tác giả đã mạnh mẽ nói lên thực trạng bấtcông mà người Mỹ da đen đang gặp phải đồng thời bày tỏ khát vọng về một thế giớicông bằng nơi yêu thương, bình đẳng, bác ái phải được xem trọng và thực hiện

Trang 4

Chương 1 Khái quát về lý thuyết Tự sự học 1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu lý thuyết Tự sự học

Tự sự học vốn là một nhánh của Thi pháp học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng làmôn khoa học nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan Nói cáchkhác, đó chính là hoạt động nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản đểphát hiện, định hướng một cách đọc đúng đắn

Xét về từ nguyên, Tự sự học (narratology) được hiểu là khoa học về trần thuật(narration: trần thuật, kể chuyện) Tên gọi narratology (hay narratologie) là do nhà

nghiên cứu người Pháp gốc Bungari T Todorov đề xuất vào năm 1969 trong sách Ngữ

pháp “Câu chuyện mười ngày” Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt cho ngành ngiên cứu

tự sự trước nay có được một cái tên chính thức và trở thành một khoa nghiên cứu có tínhđộc lập

Theo Wallace Martin (1986), Tự sự học đương đại, Đại học Cornel, thì tính từ

năm Todorov đề xuất ý tưởng đó, lý luận tự sự đã thay thế cho lý luận về tiểu thuyết vàtrở thành một vấn đề chủ yếu của nghiên cứu văn học Nó đã trở thành một bộ mônnghiên cứu liên ngành, có tính quốc tế và có vị trí ngày càng quan trọng trong lĩnh vựcnghiên cứu văn học nói chung Sở dĩ xem đây là một bộ môn liên ngành vì nghiên cứu

tự sự học đòi hỏi phải liên kết với ngôn ngữ học, sử học, nhân học… Tự sự không chỉđóng khung trong tiểu thuyết mà còn vận dụng cả vào các hình thức tự sự khác như lịch

sử, bút ký, điện ảnh, sân khấu…

Bản chất của tự sự ngày nay được hiểu là một sư truyền đạt thông tin, là quá trìnhphát ra đơn phương trong quá trình giao tiếp Văn bản tự sự là cụm thông tin được phát

ra và tự sự có thể thực hiện bằng nhiều phương thức, con đường: hội họa, điêu khắc,kiến trúc…và chắc chắn rằng trong cả văn học

Trang 5

Tự sự học đã có từ rất lâu, thời của Platon, Aristote người ta đã có ý thức phânbiệt các loại hình tự sự : tự sự lịch sử khác tự sự nghệ thuật Đến thế kỷ thứ V trướcCông nguyên, người ta đã phân biệt :

 Tự sự mô phỏng : không có sự can dự của người kể chuyện (thể loại kịch)

 Tự sự giải thích : có kèm phân tích, bình luận

 Tự sự hỗn hợp : (thể loại sử thi)

Tuy nhiên, phạm vi quan tâm của các nhà hiền triết chỉ gói gọn trong lĩnh vực Tu

từ học mà thôi

Tự sự học hiện đại manh nha hình thành từ cuối thế kỷ XIX Nhưng cho đến nay

có thể chia chia làm ba thời kỳ :

Thời kỳ trước chủ nghĩa cấu trúc : Tự sự học nghiên cứu các thành phần và chứcnăng của tự sự Cụ thể là các nhà nghiên cứu B Tomasepxki tìm hiểu yếu tố và đơn vịcủa tự sự V Shklovski chia truyện thành hai yếu tố Fabula (chất liệu) và Xiuzhet (hìnhthức) V Propp nghiên cứu cấu trúc và chức năng của tự sự trong truyện cổ tích Bakhtin

đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, ngôn từ trần thuật và tính đối thoạicủa nó Đây là những nhà nghiên cứu mở đường cho tự sự học hiện đại

Ở phương Tây, với sáng tác của Flaubert (Pháp) ở thế kỷ XIX, cũng như các sángtác của Henry James (Mỹ), M Proust (Pháp) đầu thế kỷ XX, người ta đã biết rằng trongtiểu thuyết, sự kiện không phải là cái quan trọng nhất, mà quan trọng nhất là ý thức, làphản ánh tâm lý của nhân vật đối với sự kiện Từ đó người nghiên cứu chúng phải quantâm tới cốt lõi ý thức Do vậy, các vấn đề điểm nhìn, dòng ý thức được đặc biệt quantâm ở các học giả như Percy Lbbock, K Friedemann Về sau các vấn đề này còn đượcphát triển bởi một loạt các tác giả Châu Âu, Châu Mỹ khác như J Pouillon, A Tate, C.Brooks, T Todorov, G Gennette…

Thời kỳ kế tiếp là thời kỳ của chủ nghĩa cấu trúc đi tìm mô hình cho hình thức tự

sự Mở đầu với công trình Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự của R Barthes năm 1968

và “S/Z” năm 1970 Todorov với Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”… Sơ khởi của

Trang 6

quan niệm này là Hình thái học truyện cổ tích của Propp, nghiên cứu cấu trúc thần thoại

của Claude Levi – Strauss và mô hình hành vi ngôn ngữ của Jakobson

Đặc điểm của lý thuyết tự sự chủ nghĩa cấu trúc là lấy ngôn ngữ làm hình mẫu,xem Tự sự học là sự mở rộng của Cú pháp học còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ.Mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ phápcủa tự sự nhằm tìm ra một cách đọc tự sự mà không cần đối chiếu tác phẩm với hiệnthực khách quan Mặc dù không làm sáng tỏ được mối quan hệ giữa văn học với đờisống nhưng Tự sự học chủ nghĩa cấu trúc đã góp phần làm sáng tỏ bản chất biểu đạt vàgiao tiếp của tự sự

Thời kỳ thứ ba của Tự sự học gắn liền với Ký hiệu học, một bộ môn quan tâm tớicác phương thức biểu đạt ý nghĩa khác nhau, lấy văn bản làm cơ sở theo đó, hình thức

tự sự là phương thức biểu đạt ý nghĩa tác phẩm Các tác giả như I Lotman, B Uspenskicũng theo hướng này Họ nhìn thấy đằng sau điểm nhìn một lập trường quan điểm xã hộinhất định Đặc điểm lý tuyết tự sự này tuy cũng coi trọng phân tích hình thức nhưngkhông tán thành việc sao phỏng giản đơn các mô hình Ngôn ngữ học mà đi theo Ký hiệuhọc và Siêu ký hiệu học

Như vậy, Tự sự học là một loại hình lý thuyết quan trọng, được quan tâm củanhiều nhà nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX cho đến nay Nó chứa đựng một tiềm năngphong phú trong nghiên cứu văn học

1.2 Hai hệ hình lý thuyết Tự sự học

Tự sự họclà một ngành nghiên cứu hết sức non trẻ, nhưng đã nhanh chóng trở thànhmột trong những lĩnh vực học thuật được quan tâm phổ biến trên thế giới hiện nay

Nhìn lại quá trình hình thành Tự sự học cho đến nay có thể nhận thấy những đổi thay

hệ hình lí thuyết, các tầng bậc và phương pháp nghiên cứu tự sự Nhìn chung thì giai đoạnphát triển, lý thuyết Tự sự học được chia thành hệ hình: Tự sự học kinh điển và Tự sự họchậu kinh điển

1.2.1 Tự sự học kinh điển

Trang 7

Tự sự học kinh điển theo tổng kết của nhà lý luận Tự sự học người Mỹ Gerald

Prince có thể phân làm ba nhóm

Nhóm thứ nhất là các nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hình thức Nga

như V Propp, Todorov, Barthes, Greimas, Norman Friedman,… Họ tập trung nghiên cứu

cấu trúc của truyện, đối tượng của trần thuật, trong đó chú ý xây dựng ngữ pháp của tự sự,chức năng của sự kiện, kết cấu, logic phát triển của chúng

Nhóm lý thuyết này xem công trình Hình thái học truyện cổ tích thần kì Nga (1928)

của Propp là cuốn sách mở đầu cho tự sự học cấu trúc chủ nghĩa Propp bất mãn với lối phânloại truyện cổ tích chỉ dựa vào nhân vật, mà nhân vật thì biến hoá khôn lường, không cungcấp tiêu chí bất biến cho sự phân loại, vì thế mà ông nghiên cứu chức năng hành vi như mộtyếu tố bất biến

Trước đó, V Shklovski đã phân biệt “tích truyện” (fabula) với “truyện kể” (siuzhet).

Phân tích tương quan tích truyện và truyện kể là con đường đi tìm nghệ thuật và ý nghĩa củatruyện B Tomashevski nghiên cứu đơn vị motif và phân loại các motif

Sau các nhà hình thức Nga các nhà Tự sự học Pháp nghiên cứu hệ thống cấu trúc bềsâu và cấu trúc bề mặt của truyện kể Greimas nghiên cứu logic ngữ nghĩa của truyện,Bremond chủ yếu nghiên cứu cấu trúc bề mặt của truyện C Levi - Strauss trái lại chỉ quantâm khám phá cấu trúc bề sâu, tĩnh tại của truyện để tìm nghĩa R Barthes nghiên cứu cấutrúc, yếu tố của truyện

Khi đề xuất Tự sự học T Todorov tiếp tục nối bước người đi trước Ông định nghĩa:

“Tự sự học là lý luận về cấu trúc của tự sự Để phát hiện cấu trúc và miêu tả cấu trúc ấy, người nghiên cứu đem hiện tượng tự sự chia thành các bộ phận hợp thành, sau đó cố gắng xác định chức năng và mối quan hệ qua lại của chúng” (Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”) Ông dựa vào phương pháp ngôn ngữ học nhằm tìm đơn vị nhỏ nhất và chuỗi sắp xếp

các đơn vị ấy để miêu tả truyện Theo ông, đơn vị ấy là mệnh đề Mỗi truyện theo ông cónăm mệnh đề sắp xếp thành một dãy:

 Mệnh đề biểu thị trạng thái thăng bằng ban đầu

Trang 8

 Mệnh đề biểu thị ngoại lực xâm phạm

 Mệnh đề biểu thị trạng thái thăng bằng bị phá vỡ

 Mệnh đề biểu thị thăng bằng được khôi phục

 Mệnh đề biểu thị một trạng thái thăng bằng mới

Dãy mệnh đề này kèm theo các phương thức như xen vào, nối tiếp, thay thế… là tạonên văn bản tự sự

Tuy lấy truyện kể làm đối tượng nghiên cứu, nhưng chủ nghĩa cấu trúc ban đầuchỉ tập trung chú ý vào hành động, sự kiện mà bỏ qua việc nghiên cứu cách kể, nhân vật

và ý nghĩa của truyện, đồng thời thiên về lạm dụng thuật ngữ Ngôn ngữ học

Nhóm thứ hai tiêu biểu là G Genette, tập trung nghiên cứu sự triển khai của diễnngôn trần thuật hay diễn ngôn tự sự Diễn ngôn trần thuật là phương thức kể chuyện

Rimmon - Kenan trong Tác phẩm hư cấu tự sự nêu ra 3 phương diện độc lập với diễn ngôn

trần thuật:

 Phong cách thể loại

 Chủng loại ngôn ngữ mà nhà văn sử dụng

 Hệ thống kí hiệu - phương tiện truyền đạt (ngôn ngữ, điện ảnh, vũ đạo )

Năm 1972 Genette nêu ra ba phạm trù của diễn ngôn trần thuật:

 Thời thái (tence): quan hệ với thời gian

 Ngữ thức (mood): quan hệ với cự li và góc độ trần thuật

 Ngữ thái (voice): liên quan đến tình huống, quan hệ người kể và người nhận trongtrần thuật

Genette đã nghiên cứu các yếu tố như người kể, tụ điểm, giọng điệu, tần suất Ôngphân biệt người mang điểm nhìn với người kể, người kể và người mang điểm nhìn thườngkhông trùng nhau Phần lớn tự sự mang điểm nhìn phức hợp F Stanzel, người Áo đề rakhái niệm “tình huống kể” (narrative situation), thực ra là một cách phân loại điểm nhìn,bao gồm tình huống kể theo ngôi thứ nhất, tình huống kể của người kể, tình huống kể củanhân vật, phân biệt mức độ tham dự vào truyện, mức độ hiểu biết về truyện, mục đích kể,

Trang 9

điểm nhìn… Một sự kiện, nhân vật có thể có nhiều hình thức kể rất khác nhau và ý nghĩa

do đó sẽ khác nhau

Về giọng điệu kể, S Lanser và James Phelan gắn với việc sử dụng các biện pháp tu

từ, bởi đó là phương tiện biểu cảm nhằm đạt tới hiệu quả mong muốn

Có thể nói lí thuyết tự sự cấu trúc chủ nghĩa đã cung cấp một hệ thống các khái niệmcông cụ rất có hiệu quả để phân tích diễn ngôn tự sự Nhược điểm của lí thuyết cấu trúc tự

sự là dừng lại ở việc miêu tả các yếu tố hình thức cấu trúc tự sự trong thế tĩnh tại, khép kín,

mà chưa đi sâu tìm hiểu cơ chế vận hành của tự sự trong ngữ cảnh tiếp nhận và văn hoá

Tự sự học cấu trúc chủ nghĩa, theo tổng kết của Martin Cortazziquan tâm năm vấnđề:

1 Coi Tự sự học là một đối tượng nghiên cứu độc lập, dùng quy tắc và cấu trúctường minh để nghiên cứu tổ chức ngữ nghĩa

2 Chú trọng phân biệt chuyện và diễn ngôn

3 Vận dụng ngữ pháp tạo sinh phân biệt cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu

4 Xem nhân vật như là vai hoặc yếu tố hành động của tự sự

5 Trung tâm chú ý của họ là dãy đơn vị tự sự, cách tổ chức và tầng bậc tự sự

Tất cả các bình diện đó đều chưa hề miêu tả các thông tin tự sự một cách hệ thống.Đối tượng nghiên cứu của Tự sự học kinh điển chủ yếu là các tác phẩm tương đối giản đơnnhư truyện cổ tích, truyện kể thời Phục hưng cho nên không thích hợp với các hình thức tự

sự phức tạp

Nhóm thứ ba tiêu biểu là Gerald Prince, S Chatman và Mieke Bal Họ cho rằng cấutrúc diễn ngôn và cấu trúc chuyện đều quan trọng như nhau, chủ trương nghiên cứu kết hợp

cả hai mặt

Nhà nghiên cứu Hà Lan Mieke Bal, trong sách Trần thuật học - Dẫn luận lí luận tự

sự (bản sửa chữa, năm 1999) đã kết hợp nghiên cứu cấu trúc chuyện với văn bản và định

nghĩa về tự sự học khác với Todorov Bà viết: “Tự sự học (narratology) là lí luận về trần

Trang 10

thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, hình ảnh sự vật, sự kiện cùng sản phẩm văn hoá “kể chuyện”” M Bal chia tự sự làm ba tầng bậc:

 Văn bản trần thuật (narrative text) gồm người kể chuyện, trần thuật, bình luận phitrần thuật, miêu tả

 Chuyện kể (story) gồm: trật tự sắp xếp, nhịp điệu, tần xuất, từ người hành vi đếnnhân vật, không gian, tiêu điểm

 Chất liệu (fabula) gồm: sự kiện, kẻ hành vi, thời gian, địa điểm

Mỗi khái niệm hạt nhân trên lại gồm nhiều khái niệm bộ phận Các tầng bậc đan kết,xuyên thấm vào nhau trong chức năng và mục đích kể chuyện Công trình của M Bal đãcung cấp một hệ thống khái niệm được định nghĩa khá chính xác và chặt chẽ, có thể làm cơ

sở cho các công trình nghiên cứu tự sự Nếu trước đây người ta nghiên cứu tự sự theo từngmặt tách rời như chức năng của hành động, ngữ pháp tự sự, tu từ học tự sự, nhiều khái niệmnhầm lẫn và thiếu rạch ròi, thì giờ đây tất cả các mặt đều được xét trong tính hệ thống củachúng

1.2.2 Tự sự học hậu kinh điển

Tự sự học hậu kinh điển xuất hiện vào những năm 80, khi Tự sự học kinh điển bịcông kích từ phía chủ nghĩa giải cấu trúc và chủ nghĩa lịch sử, là một hướng nghiên cứu

mở, nghiên cứu tự sự trong quan hệ với người đọc, với ngữ cảnh và với các lĩnh vực tự sựngoài văn học Tự sự học hậu kinh điển có hai hướng nghiên cứu chính

Một là nghiên cứu đặc trưng chung của tác phẩm tự sự, bất kể sự khác nhau vềphương tiện và thể loại (văn học, truyện tranh, điện ảnh, truyền hình, báo chí ), trong khikhái niệm tự sự truyền thống chỉ đóng khung trong phạm vi văn học mà thôi

Đặc trưng chung ở đây bao gồm 5 điểm:

 Từ văn bản tự sự chuyển sang quá trình người đọc tiếp nhận tự sự (xem xét mốiquan hệ qua lại giữa cấu trúc văn bản và người đọc)

 Từ tự sự văn học chuyển sang tự sự ngoài văn học

 Vận dụng những công cụ phân tích từ lĩnh vực khoa học khác

Trang 11

 Từ cấu trúc tự sự đồng đại chuyển sang cấu trúc tự sự lịch đại

 Từ chỉ quan tâm hình thức chuyển sang phân tích mối quan hệ hình thức vớihình thái ý thức xã hội

Hướng thứ hai là từ phân tích cấu trúc tự sự trừu tượng chuyển sang phân tích cấutrúc tự sự của tác phẩm cụ thể

Hướng mở thứ ba là mô hình tự sự học hôm nay có công thức “Tự sự học + X”, “X”

ở đây có thể là chủ nghĩa nữ quyền hay nghiên cứu giới tính, nghiên cứu văn hóa haynghiên cứu hậu thực dân, nghiên cứu tự sự học tâm lí… Đây có lẽ là tư tưởng bắt đầu từ R.Barthes Sau ông, M Bal cũng có quan niệm mở về thể tự sự bao gồm văn học, lịch sử, hộihoạ, điện ảnh, báo chí,… Quan điểm này gần gũi với quan điểm của Arthur Asa Berger

trong sách Tự sự trong văn hoá thông tục, truyền thông và sinh hoạt đời thường (1997),

phân tích tự sự trong giấc mơ, trong đồng thoại, trong tranh liên hoàn, chương trình truyềnhình, phát thanh, điện ảnh, tiểu thuyết thông tục, các chuyện đời thường như đàm thoại, cáophó, truyện cười… Quan niệm này thực sự mở rộng Tự sự học sang một phạm vi mới

Bên cạnh đó, Tự sự học hậu kinh điển còn quan tâm các hướng nghiên cứu vềphương tiện kể, Tự sự học so sánh, Tự sự học văn hóa…

Nhìn chung, Tự sự học kinh điển đã cung cấp hệ thống khái niệm, phương pháp

để không chỉ khai thác các giá trị của tác phẩm cụ thể mà còn đi sâu nhận thức hình tháikết cấu, quy luật vận động, sáng tác, phương thức biểu đạt và đặc trưng thẩm mĩ của thểloại tự sự Thế nhưng, Tự sự học kinh điển lại coi văn bản tác phẩm là một hệ thống tựthân khép kín, không có liên hệ với bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Tự sự học hậu kinhđiển có thái độ mở và vận dụng nhiều phương pháp để nghiên cứu văn học, trong khiphân tích văn bản tác phẩm đã chú ý đến độc giả và tác động của hoàn cảnh lịch sử, tiếpthu một cách có ý thức phương pháp, góc độ phê bình, phân tích của những trường phái

lí luận phê bình, của các nghệ thuật khác, mở rộng cách nhìn đối với Tự sự học, ở mộtgóc độ nhất định, nó đã khắc phục được hạn chế của bản thân

Trang 12

Chương 2

Toni Morrison và tiểu thuyết Mắt biếc (The Bluest Eye)

2.1 Đôi nét về tác giả Toni Morrison

2.1.1 Cuộc đời

Toni Morrison là nhà văn hiện thực tiêu biểu cho thế kỉ XX của văn học Mỹ Bà

là nữ văn sĩ da đen đầu tiên được trao tặng giải Nobel Văn chương năm 1993 với tác

phẩm tiểu thuyết đầu tay The Bluest Eye (Mắt biếc, 1970)

Toni Morrison sinh ngày 18 tháng 2 năm 1931, tên thật của bà là Chloe AnthonyWofford

Bà là con một tá điền ở bang Alabama sau chuyển đến sống tại Loran, bangOhaio, Hoa Kỳ Cha mẹ Toni Morrison đều xuất thân từ tầng lớp lao động nhưng làngười dũng cảm, nghị lực sẵn sàng xả thân vì người khác Bà nội của Toni Morrison biếtrất nhiều bài dân ca và những câu chuyện cổ của người da đen

Đây là một yếu tố giúp cho trí tưởng tượng thời thơ ấu của Toni Morrison baybổng Morrison luôn tự hào trước hành động đầy quyết đoán của bà nội, một phụ nữ dađen sống đầu thế kỉ đã can đảm từ bỏ mảnh đất mình đang sống, trong túi chỉ vỏn vẹn có

30 dollar để đưa bảy đứa con đến sống ở những vùng khác nhằm tránh nạn bạo lực tìnhdục của người da trắng Morrison cũng luôn biết ơn sự hy sinh bền bỉ của người mẹ,người phải làm “những công việc hèn kém” để kiếm tiền nuôi bà ăn học

Toni Morrison được nuôi dưỡng trong một môi trường đầy đủ giáo huấn và tôn

giáo, bà đã viết rằng “chúng tôi được dạy dỗ rằng là các cá nhân, chúng tôi có giá trị”.

Toni Morrison được nghe kể về những hoàn cảnh nguy hiểm và vinh quang trong lịch sửcủa người da đen nhờ ông bà ngoại

2.1.2 Sự nghiệp giảng dạy và sáng tác văn học

Sau khi tốt nghiệp Trung học vào năm 1949 với thứ hạng cao, bà quyết định vàohọc tại đại học Howard Chính tại Đại Học Howard, Toni Morrison đã đổi tên từ ChloeAnthony thành Toni và theo học những bậc thầy của phong trào bảo vệ người da màu

Trang 13

như nhà thơ Sterling Brown, nhà triết học Alain Locke kiêm “phê bình gia và học giả

Rhodes” và đây cũng là nhà biên tập của tờ báo Người da đen mới (The New Negro)

Tại Đại Học Howard bà chuyên về giảng dạy sinh viên da đen, Toni Morrison tìmhiểu văn chương của các văn hào danh tiếng như Shakespeare, Hawthorne, Melville vàWordsworth và cũng tham gia vào ban kịch Howard Unity Players, đi trình diễn tại cáctiểu bang Miền Nam vào thời kỳ trước khi có phong trào tranh đấu cho Dân Quyền củangười da đen Năm 1953, Morrison tốt nghiệp đai học, hai năm sau bà nhận bằng thạc sĩ.Năm 1957 bà được mời làm giảng viên môn tiếng Anh tại đại học Howard

Năm 1959 bà lập gia đình với Harold Morrison – một kiến trúc sư người Jamaica

và có hai con trai Năm 1965 hai người ly dị và bà trở về Lorrain

Năm 1966, bà tham gia một nhóm chủ trương văn học bằng các truyện ngắn Từnăm 1967 tới năm 1983, Toni Morrison làm biên tập viên các sách giáo khoa cho nhàxuất bản Random House, rồi sau đó trở thành nhà biên tập thâm niên làm việc cho cơ sởxuất bản gốc đặt tại thành phố New York

Trong hai thập niên 1960 và 1970, tại Hoa Kỳ đã có một số người da đen danhtiếng như Angela Davis, Toni Cade Bambara, Wesley Brown, Gayle Jones vàMuhammad Ali, và thị trường các sách truyện viết về người da đen cũng bắt đầu pháttriển Nhà xuất bản Random House muốn có các truyện kể về người da đen do các nhà

văn da đen sáng tác Năm 1968, Toni Morrison hoàn thành cuốn truyện Mắt biếc (The

Bluest Eye), nhưng bị từ chối xuất bản Cuối cùng, nhà xuất bản Holt, Rinehart &

Winston đồng ý xuất bản và phổ biến tác phẩm Bốn năm sau, Toni Morrison viết xong

cuốn truyện thứ hai tên là Sula qua đó tác giả mô tả các giới hạn của người phụ nữ da đen Tác phẩm Sula được xuất bản vào năm 1973 đã khiến cho tác giả lãnh Giải thưởng

sách Quốc gia và được công nhận là một tài năng trên bình diện quốc gia

Tony Morrison nhận chức Giáo Sư thỉnh giảng tại Đại học Yale từ năm 1975 tớinăm 1977 và tại Đại học Bard trong hai năm 1979 - 1980 Bà đảm nhận giảng dạy mônhọc viết văn sáng tạo và nền Văn chương Mỹ da đen Trong những khoảng thời gian

Trang 14

này, bà sáng tác tác phẩm đầu tiên viết về người da đen Bài ca của Solomon (Song of

Solomon, 1977), kể về thân phận một người đàn ông da đen sống quên quá khứ nô lệ của

mình để làm một điều gì đó với hoang tưởng và điên rồ Cuốn sách mang lại cho bà GiảiThưởng Quốc gia Phê bình sách và được Tổng thống Jimmy Carter mời vào Hội đồng

Tác phẩm thứ tư của Toni Morrison có tên là Tar Baby (1981) mô tả một người đàn ông

da đen và một người đàn bà đã gặp thất bại trong việc duy trì mối liên hệ tình cảm bởi vì

sự khác biệt giữa các giai cấp, đến cuối tác phẩm, nhà văn đã giúp người đọc thức tỉnh ra

một chân lý “muốn hạnh phúc thì họ phải chống lại sự phân biệt chủng tộc của những

người da trắng” Cuốn tiểu thuyết này cũng trở nên thứ bán chạy nhất khiến cho tờ Tuần Báo Newsweek phải đưa hình tác giả lên bìa báo và Toni Morrison được ca ngợi là

“nhà văn da đen hàng đầu” của Hoa Kỳ

Năm 1984, bà rời nhà xuất bản Ranndom House

Năm 1987, bà bắt tay viết tiểu thuyết Người yêu dấu (Beloved) và đây được xem

là tác phẩm thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của Toni Morrison Câu chuyện kể

về cô Sethe, một người mẹ giết chết đứa con gái của mình hơn là để nó lớn lên thànhmột người nô lệ Với tác phẩm này, bà đã khai thác nhiều chủ đề phức tạp, kể cả sự liên

hệ của người da đen vào chế độ nô lệ và sử dụng nhiều khung thời gian với các đột biến,chứng tỏ tài năng kể chuyện độc đáo của tác giả, khiến cho độc giả phải chấp nhận cácbất thường là hiện thực Chính tác phẩm này đã mang lại Giải thưởng Pulitzer cho ToniMorrison đồng thời đưa lại cơ hội cho bà trở thành Gíao sư bộ môn Xã hội học tại Đạihọc Princeton

Ngoài ra, bà còn sáng tác những tiểu thuyết khác như Jazz (1992) và Thiên

Đường (Paradise, 1998)…

Bà là nhà tiểu thuyết gia nổi tiếng và là người viết kịch có tài, là giáo sư văn họccủa trường đại học Princeton, biên tập kì cựu của nhà xuất bản Random House, vừa là

Trang 15

nghệ sĩ, vừa là học giả uyên thâm với các bằng cao nhất ở đại học Howard, bằng Phótiến sĩ văn chương ở Cornell, và là chuyên gia văn học hàng đầu Mỹ - Phi.

Vào ngày 3/11/2010, Toni Morrison được trao tặng huân chương Bắc Đẩu BộiTinh Đây là danh hiệu cao quý nhất của nước Pháp dành cho bà vì những sáng tác viết

về nạn nô lệ, sự phân biệt chủng tộc…Bộ trưởng Bộ Văn hóa Pháp Frederri Mitterrand

gắn huân chương cho nhà văn đã nói: “Tôi muốn nói với bà rằng trong con mắt của

chúng tôi bà là hiện thân cho phần tốt đẹp nhất của nước Mĩ, nơi tình yêu tự do dựa trên những ước mơ mãnh liệt nhất, nơi đã biến đứa trẻ da màu sinh ra trong một gia đình nghèo ở Ohaio, trong những năm đầu còn nặng nề về sự phân biệt chủng tộc đã trở thành một nhà văn Mĩ vĩ đại nhất trong thời đại của mình”.

Các tác phẩm của Toni Morrison đi sâu vào một số giá trị mang tính sâu sắc như

sự đề cao tính thuần phục và bản tính thực của phụ nữ, sự đề cao tình yêu lý tưởng, cáctiêu chuẩn mẫu mực về vẻ đẹp, về đạo đức làm việc theo đạo Tin Lành, sự đề cao chế độ

tư bản và tính ưu việt của nền văn hóa tây phương, của nền kỹ thuật mới Địa vị mà ToniMorrison giành được chính do được thiết lập một phần trên cơ sở văn học sẵn có, mộtphần trên nền văn hóa của sắc dân thiểu số da màu

2.2 Tiểu thuyết Mắt biếc ( The Bluest Eye )

Mắt Biếc là một tiểu thuyết mang tính phi thời gian, kết cấu tác phẩm thông qua

trình tự bốn mùa thu, đông, xuân, hè Thời gian trong tác phẩm đã đảo lộn hoàn toàn tráivới thời gian thông thường Câu chuyện trong tác phẩm xoay xung quanh cuộc đời nhânvật Pecola và những người thân của cô

Mùa Thu: Câu chuyên được kể bởi nhân vật xưng “tôi” – tức Claudia Dưới cáinhìn của Claudia, cuộc sống của những con người da đen nói chung trở nên vô cùng sầuthảm và tăm tối, cũng qua cái nhìn ấy mà người đọc có thể thấy được cuộc sống mangnhiều bất hạnh và đau xót của Pecola Pecola bị chính người cha ruột hãm hiếp và sau đó

cả gia đình ly tan, cô bé được đưa về sống chung với Claudia và Frieda Thiếu hiểu biết

và không được chăm sóc đúng cách nên ngay cả những dấu hiệu dậy thì cô bé cũng

Trang 16

không hiểu được Từ kết quả đáng thương của cô bé, tác giả lùi dần về quá khứ thờiđiểm mà gia đình Breedlove còn chung sống với nhau Sống trong gia đình cha mẹ suốtngày cãi vã, đối xử tệ bạc với nhau, Pecola chỉ còn biết nhẫn nhục và chịu đựng, cô bétin rằng nếu như cô bé có đôi mắt khác thì cuộc sống đã dễ chịu và không còn bức bốithế này Qua nhữg cái nhìn, cách đối xử, nhận xét của mọi người chung quang dành chomình, cô bé nhận ra đâu là lý do bị mọi người khinh rẻ, coi thường và bắt đầu ấp ủ ước

mơ có đôi mắt xanh biếc để được yêu thương và hạnh phúc

Mùa Đông: Sự xuất hiện của Maureen Peal - một cô bé da trắng cùng học chungvới Pecola, được nuông chiều trong một gia đình giàu có, chính sự xuất hiện ấy đã nhennhóm trong lòng Pecola một sự đố kị và cô bé luôn cố tìm nhược điểm của Maureen để

tự bằng tâm lý cho chính mình Thêm nữa, hàng ngày đi học lại bị đám con trai trêuchọc và sỉ nhục chỉ vì sự khác biệt về màu da của cô bé, rồi thì mẹ con Junior cũng xua

đuổi Pecola và gọi cô bé là “Con chó đen nhỏ dơ dáy”… Tất cả những tình huống ấy đã

tạo nên một vết thương đau đớn trong tâm hồn cô bé, và khiến cô bé không ngừng tự hỏi

“Chúng tôi khiếm khuyết ở điểm nào ? Tại sao điều đó lại quan trọng đến thế ? Và như thế là sao ?”.

Mùa Xuân : Cô bé da màu tội nghiệp Frieda bị ông Henry lạm dụng Tác giả một lầnnữa hé mở về cuộc đời của bà Pauline từ lúc nhỏ đến khi gặp Cholly Breedlove Họcùng nhau đến miền Bắc sinh sống Tại đây bà Pauline bị đối xử phân biệt hà khắc vàngay cả người da đen cũng coi thường bà Sau đó tác giả lùi về quá khứ của ông Cholly

từ lúc bị sinh ra đã bị mẹ ruồng bỏ, Cholly do một tay bà Jimmy nuôi dưỡng, chăm sóc

và dạy dỗ Sau lễ tang của bà cô, Cholly quyết định đi tìm bố và bị xua đuổi

Cuộc gặp gỡ định mệnh với Pauline và mang hai người đến với nhau nhanhchóng Cuộc sống gia đình đôi lúc rơi vào tình trạng vợ chồng đấm đá, cãi nhau triềnmiên nhưng mọi chuyện trở lại tốt đẹp như cũ khi Pauline cho Cholly biết mình đangmang thai Khi bé Pecola được khoảng 11, 12 tuổi, và đang rửa chén bát thì bị Chollychiếm đoạt Liên tiếp gặp phải những bất hạnh trong cuộc sống, Pecola tìm gặp

Trang 17

Soaphead Church – một mục sư nhưng không có đàn con chiên riêng cho mình, bày tỏ

nguyện vọng và khát khao có được đôi mắt màu xanh biếc, “một con bé da đen muốn

vượt lên khỏi cái hố của màu da đen và nhìn thế giới với đôi mắt xanh” Điều đó khiến

mục sư cảm động và quyết định ban cho cô bé đôi mắt xanh như mơ ước “Không có ai

khác sẽ thấy được đôi mắt xanh biếc đó của cô bé – Nhưng cô bé sẽ thấy – Và cô bé sẽ sống hạnh phúc mãi mãi sau đó”.

Mùa Hạ: Pecola có thai Chị em Claudia ươm hạt giống với mong muốn mọichuyện sau này sẽ tốt đẹp hơn với Pecola Nhưng năm đó chẳng có hạt giống nào nảy

mầm cả Kết thúc tác phẩm là cuộc đối thoại giữa Pecola và “một người bạn” xung

quanh câu chuyện về việc từ khi Pecola có đôi mắt xanh biếc Cô bé luôn bận tâm vàkhông ngừng trăn trở về đôi mắt xanh của mình, không ngừng mong muốn nó là duynhất Những bất hạnh tuổi thơ luôn khiến cô bé lo sợ và ngay cả khi có được đôi mắtxanh biếc, cô vẫn không ngừng lo sợ và ám ảnh

Trang 18

đa tầng thứ, đa chiều kích của kết cấu hình thành nên hình thức nghệ thuật mang nộidung tự sự cụ thể Vì vậy, phân tích kết cấu trần thuật là một điểm quan trọng trongnghiên cứu văn học tự sự.

Trong tác phẩm Mắt biếc (The Bluest Eye), kết cấu trần thuật được nữ nhà văn

Toni Morrison vận dụng một cách nhuần nhuyễn, mang lại một không gian huyền ảo,phản ánh được những vấn đề lớn của xã hội như: tố cáo chế độ nô lệ, tình trạng phânbiệt chủng tộc, thông qua những câu chuyện nhỏ về số phận, cuộc đời của các nhân vật

được xây dựng cụ thể Với Mắt biếc Toni Morrison sử dụng lối viết của văn xuôi hiện

đại và đặc biệt là lối kết cấu tự sự vòng tròn vô cùng độc đáo Chính kết cấu trần thuật

ấy khiến cho tác phẩm gia tăng tính chất huyền ảo, xoáy sâu vào những câu chuyện đancài giữa quá khứ - hiện tại

Kết cấu tự sự vòng tròn trong Mắt biếc thể hiện qua chuỗi tuần hoàn của cốt

truyện, không gian, thời gian, tình tiết - sự kiện, nhân vật và ngôn từ Chuỗi tuần hoàn

ấy được phát triển theo kiểu đồng tâm lan tỏa, xoay vòng gợi nhắc những cái trước đó và

Trang 19

cái đã qua Từ đó cuộc sống, số phận của các nhận vật đều tạo nên một tiếng nói chung

về sự tuyệt vọng trong một xã hội tồn tại vấn đề phân biệt chủng tộc nặng nề

Về cốt truyện, Mắt biếc xây dựng chuỗi câu chuyện bắt nguồn từ một đứa bé gái

da đen tên là Pecola Nhưng đây không là chuỗi sự kiện liên hoàn tiếp nối thông thườngtheo kiểu cổ điển, mà cốt truyện được phát triển theo kiểu vòng tròn, mở rộng lan tỏa từđiểm đồng tâm là nhân vật chính Pecola và mỗi phần đều có sự lặp lại những sự kiện củaquá khứ, của những điều trước đó

Toni Morrison đã không chia tác phẩm của mình theo tên gọi từng chương Nữnhà văn chỉ đơn giản gọi tên các chương của mình bằng tên bốn mùa Thu, Đông, Xuân,

Hạ Thông qua cách gọi ấy người đọc đã có thể nhận thấy được tính chất xoay vòng củacốt truyện như vòng tròn của thời tiết trong một năm

Mở đầu chương Mùa Thu, nhà văn đặt ra câu chuyện ở khung cảnh của hiện tại,nơi mà những nhân vật xuất hiện đầu tiên không phải là nhân vật chính Đó là nhữngnhân vật đóng vai trò của người kể lại câu chuyện của nhân vật chính Pecola với cáinhìn khách quan nhưng vẫn nói lên được mối quan hệ với Pecola Qua đó còn nhằm bộc

lộ nhiều hơn nữa những suy nghĩ, dẳn vặt, đau khổ của cuộc đời nhân vật chính Ởchương này, Toni Morrison đã nêu khái quát về xuất thân cũng như hoàn cảnh hiện tạicủa Pecola để từ điểm xuất phát đó, nhà văn sẽ khởi đầu những câu chuyện của nhữngngười thân hoặc những người có liên quan xung quanh cuộc đời của nhân vật Pecola ởthì quá khứ, hay hiện tại Đó là câu chuyện về gia đình của Pecola, về cuộc đời những côgái điếm mà cô bé quen biết

Khi đến chương Mùa Đông, câu chuyện lại được rẽ ngoặt sang một hướng khác.Nhưng thông qua câu chuyện về sự phân biệt màu da của những cô cậu bé trong trườnghọc, tác giả đã đưa vấn đề lên một tầm cao mới, vượt ra khỏi những suy nghĩ của trẻcon Đó là vấn đề phân biệt chủng tộc của những người da trắng đối với người da đentrên vùng Bắc Mỹ bây giờ, mà ngay cả những đứa trẻ cũng có thể hiểu và bày tỏ thái độnhư thế

Trang 20

Qua đến chương Mùa Xuân, câu chuyện được nói đến là cuộc của mẹ Pecola, bàPauline và cha của cô bé là Cholly từ khi còn nhỏ đến lúc lập gia đình Đây là một câuchuyện mang tính khách quan Bởi bên cạnh lời của người kể chuyện là những đoạn độcthoại nội tâm dài của nhân vật Pauline Đây không chỉ là câu chuyện về số phận của mộtcon người cụ thể, nhân vật Pauline là điển hình cho những người phụ nữ da đen trong xãhội đương thời Tiếng nói của nhân vật là những lời tâm sự của số đông người phụ nữđang phải chịu đựng sự bất công, bóc lột từ gia đình và chế độ xã hội.

Ở chương Mùa Hạ cuối cùng của tác phẩm, Toni Morrison lại nêu lên câu chuyệncủa người thầy bùa để từ đó quay về với câu chuyện của Pecola Đây có thể được xemnhư một chương đặc biệt ở lối viết của tác giả Ở cuối chương này, nhà văn đã dành hẳnnhững trang dài cho cuộc độc thoại nội tâm của Pecola với đôi mắt biếc của mình Từ đókhắc họa được tâm lý của cô bé gái sau những biến cố lớn trong cuộc đời Điều đó đãphản ánh được một cách chân thật và rõ nét nhất những góc khuất sâu kín nhất trong tâmhồn nhân vật

Với lối viết sắc sảo và kiểu kết cấu trần thuật vòng tròn của một cốt truyện nhưthế đã tạo điều kiện cho các sự kiện, các tình tiết được trở đi trở lại, với những điểmnhấn khác nhau, nhưng vẫn tạo cho người đọc cảm giác câu chuyện khép kín của mộtthế giới Trong đó, mỗi câu chuyện, mỗi phân mảnh của quá khứ, mở ra một số thông tinliên quan đến cuộc đời nhân vật chính Pecola, đồng thời lý giải được những trạng tháitâm lý của nhân vật Chính tính chất mảnh ghép thành vòng tròn và cách thức tự sự đachủ thể đã giúp cho tác giả dễ dàng và tự do trong việc chuyển mạch truyện, tạo ranhững sự kiện rời rạc không tiếp nối Hơn thế nữa, lối tự sự vòng tròn ấy làm cho tác

phẩm Mắt biếc mang đậm tính chất huyền ảo, tạo được sức lan tỏa của những nỗi đau,

cũng như tính chân thực của lịch sử trong từng sự kiện

Ngôn từ trong Mắt biếc là sự xen kẽ của văn xuôi và chất thơ Trong mỗi chương

đều có những câu tác giả sử dụng lối ngôn ngữ điệp trùng, lặp lại cú pháp để mở đầu chomột câu chuyện Những cách khởi đầu và lặp lại kiểu câu như thế ở mỗi chương, mỗi

Ngày đăng: 14/02/2023, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14.Nhận Thức Lại Vấn Đề Kết Cấu Tác Phẩm Văn Học Dưới Góc Nhìn Cấu Trúc Luận.[http://www.hopluu.net/D_1-2_2-126_4-1273_5-9_6-3_17-32_14-2/] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận Thức Lại Vấn Đề Kết Cấu Tác Phẩm Văn Học Dưới Góc Nhìn Cấu Trúc Luận
16.Trần Đình Sử, Tự sự học từ Kinh điển đến Hậu kinh điển.[http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/tu-su-hoc-tu-kinh-dien-den-hau-kinh-dien.741525.html] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học từ Kinh điển đến Hậu kinh điển
Tác giả: Trần Đình Sử
17. Susanna Onega - J.A.Garcýa Landa, Lê Lưu Oanh – Nguyễn Đức Nga dịch, Dẫn luận về Tự sự học.[http://leluuoanh.wordpress.com/2011/05/25/d%E1%BA%ABn-lu%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-t%E1%BB%B1-s%E1%BB%B1-h%E1%BB%8Dc/] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận về Tự sự học
Tác giả: Susanna Onega, J.A. García Landa, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Đức Nga
18. Đỗ Hải Phong, Tư tưởng tự sự học Nga: Lịch sử và triển vọng.[http://nguvan.hnue.edu.vn/?comp=content&id=146&Tu-tuong-tu-su-hoc-Nga:-Lich-su-va-trien-vong-(Phan-1).html] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng tự sự học Nga: Lịch sử và triển vọng
Tác giả: Đỗ Hải Phong
15.Nguyễn Phương Khánh, Cấu trúc xoay vòng trong tiểu thuyết "Người yêu dấu" của Toni Morrison (Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng - Số 5 (28)2008[http://www.ud.edu.vn/bankhcnmt/tapchi_so.asp?Nam=32&ID=84] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w