1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng công tác chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối của điều dưỡng tại bệnh viện k tam hiệp năm 2022

35 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng công tác chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối của điều dưỡng tại Bệnh viện K Tam Hiệp năm 2022
Tác giả Trần Thị Thanh Thủy
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Công Trình
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng nội người lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 397,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word Trȧ̕n ThiÌ£ Thanh ThuÌ›y BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH TRẦN THỊ THANH THỦY THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CHO NGƯỜI BỆNH UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI[.]

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

TRẦN THỊ THANH THỦY

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CHO NGƯỜI BỆNH UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN K TAM HIỆP NĂM 2022

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

TRẦN THỊ THANH THỦY

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CHO NGƯỜI BỆNH UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI CỦA ĐIỀU

DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN K TAM HIỆP NĂM 2022

Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

ThS Nguyễn Công Trình

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 3

i LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp và khóa học này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học và quý Thầy/ Cô giáo các Khoa/ Trung tâm của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình dìu dắt, trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường

- Ban Giám Đốc Bệnh viện, Ban lãnh đạo và nhân viên y tế Bệnh viện K Tam Hiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thiện được chuyên đề Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến:

- ThS Nguyễn Công Trình, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn làm chuyên đề,

đã tận tình quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề này

- Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ và

đã động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề

Nam Định, ngày 20 tháng 7 năm 2022

Học viên

Trần Thị Thanh Thủy

Trang 4

ii LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, chuyên đề này do chính tôi trực tiếp thực hiện dưới sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn Các số liệu và thông tin trong chuyên đề hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ chuyên đề nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!

Nam Định, ngày 20 tháng 7 năm 2022

Học viên

Trần Thị Thanh Thủy

Trang 5

iii MỤC LỤC

Trang 6

iv DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo ước tính của cơ quan nghiên cứu Ung thư quốc tế năm 2012, trên thế giới

đã có khoảng 14,1 triệu ca ung thư mắc mới, 8,2 triệu ca tử vong và 32.6 triệu người sống với ung thư [1], [4], [15] Cũng theo tổ chức này đến năm 2018, có khoảng 18,1 triệu ca mắc mới và 9,6 triệu ca tử vong do ung thư Con số này dự kiến sẽ tăng lên 24,1 triệu ca mắc mới và 13 triệu ca tử vong vào năm 2030 [1], [4], [15] Tổng chi phí kinh tế hàng năm do ung thư trên thế giới năm 2010 ước tính xấp xỉ 1,16 nghìn tỉ đô

la Tính riêng ở châu Á, năm 2012 có khoảng 6,7 triệu ca ung thư mắc mới và hơn 4,49 triệu ca tử vong vì ung thư [1], [4], [15] Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore

là nước có tỷ lệ mắc ung thư cao nhất, kế đó là Philipines; Thái Lan và Lào, Việt Nam

là quốc gia xếp vị trí thứ 5 tại khu vực Đông Nam Á và xếp vị trí thứ 19 của Châu Á Hàng năm, có khoảng 94.000 người tử vong vì ung thư và số người mắc ung thư đang

có xu hướng tăng nhanh Ung thư thường gây ra nhiều triệu chứng như đau đớn, suy sụp tinh thần và quá trình chữa trị ung thư có thể gây ra nhiều tác dụng phụ trở thành một gánh nặng cho người bệnh, gia đình và cho toàn xã hội [6], [8] Vì vậy, việc chăm sóc giảm nhẹ những triệu chứng và tác dụng phụ của thuốc là một phần quan trọng trong quá trình điều trị ung thư nói chung và người bệnh ung thư giai đoạn cuối nói riêng

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới(WHO), Chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) là các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người mắc các bệnh nặng đe dọa cuộc sống và gia đình họ bằng cách phòng ngừa, phát hiện sớm, điều trị đau và các triệu chứng thực thể, các vấn đề tâm lý và tinh thần mà người bệnh

và gia đình họ phải chịu đựng [3] Mỗi năm ước tính có 40 triệu người đang cần CSGN, 78% trong số đó sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình và trong

đó có Việt Nam Dựa vào tỉ lệ bình quân người bệnh cần được CSGN của thế giới thì tại Việt Nam hiện nay với dân số trên 97 triệu người năm 2020 thì mỗi năm phải có ít nhất khoảng 365.690 người lớn và trên 15.000 trẻ em cần CSGN [1] Việt Nam xếp hạng năng lực CSGN đứng thứ 12 trong số 18 nước Châu Á – Thái Bình Dương

Nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho những người bệnh ung thư giai đoạn cuối, tại Bệnh viện K cơ sở Tam Hiệp đã thành lập Đơn vị Chăm sóc giảm nhẹ Tại đây, người bệnh sẽ được điều trị để giảm nhẹ những đau đớn về thể xác Ngoài ra, đơn

vị còn phối hợp cùng gia đình người bệnh, nhân viên thiện nguyện để tư vấn về tâm

Trang 8

lý, tín ngưỡng nhằm nâng đỡ về tinh thần góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh Thời gian vừa qua dưới ảnh hưởng của dịch COVID-19 tại Thành phố Hà Nội, công tác chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối gặp rất nhiều khó khăn từ việc cung cấp dịch vụ y tế trực tiếp, cấp thuốc, khám bệnh, tư vấn cho người bệnh Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Với mục đích nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối tại Bệnh viện K cơ sở Tam Hiệp; cung cấp những cơ sở khoa học để bệnh viện thực hiện tốt hơn công tác chăm sóc giảm nhẹ, tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực trạng công tác chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối của điều dưỡng tại Bệnh viện K Tam Hiệp năm 2022” với các mục tiêu sau

1 Mô tả thực trạng công tác chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối của điều dưỡng tại Bệnh viện K Tam Hiệp năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng đối với người bệnh ung thư giai đoạn cuối đang điều trị tại Bệnh viện K Tam Hiệp

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Định nghĩa điều dưỡng

Theo Florence Nightingale, 1860: Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ

Theo Hiệp hội điều dưỡng Hoa Kỳ (2003): Điều dưỡng là sự bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và thương tích; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người, tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội

Theo quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22/5/2005 của Bộ nội vụ: “Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế”

1.1.2 Định nghĩa chăm sóc giảm nhẹ

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO -2002): Chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) là các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh (NB) và gia đình người bệnh, những người đang phải đối mặt với những vấn đề liên quan đến sự ốm đau, đe doạ tính mạng thông qua sự ngăn ngừa và giảm gánh nặng họ phải chịu đựng bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện, điều trị đau và các vấn đề khác như triệu chứng thực thể, tâm lý xã hội, tâm linh [2], [3]

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam 2022: Là chuyên ngành chăm sóc, điều trị vận dụng những chứng cứ tốt nhất hiện có nhằm ngăn ngừa và giảm nhẹ các đau khổ về thể chất, tâm lý, xã hội, hay tâm linh mà người bệnh là người lớn tuổi hay trẻ

em mắc bệnh nặng, nghiêm trọng đang phải chịu đựng Đây là quá trình chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, đồng hành với người bệnh và gia đình người bệnh trong toàn bộ quá trình diễn biến của bệnh, kể cả giai đoạn cuối đời, nhằm đạt được chất lượng và giá trị của cuộc sống cao nhất Đây là một cấu phần không thể thiếu của chăm sóc toàn diện cho người bệnh mắc các bệnh nặng, nghiệm trọng Do đó người bệnh phải được tiếp cận dễ dàng với hình thức chăm sóc giảm nhẹ này tại cơ sở y tế ở tất cả các tuyến, đặc biệt tại nhà người bệnh Đặc biệt chăm sóc giảm nhẹ chuyên sâu cần được cung cấp tại các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến trên, các trung tâm ung thư lớn; chăm sóc giảm nhẹ mức độ trung gian/nâng cao là trách nhiệm của tất cả

Trang 10

nhân viên y tế trong toàn viện [3]

1.1.3 Nguyên tắc của chăm sóc giảm nhẹ

Dưới đây là những nguyên tắc quốc tế về CSGN, những nguyên tắc này là cơ sở cho các bệnh viện xây dựng “Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ” gồm [3]:

*Nguyên tắc 1:

Nghĩa vụ đạo đức của nhân viên y tế là làm giảm bớt khổ đau về thể chất, tâm lý hay xã hội bất kể căn bệnh có thể được chữa khỏi hay không

*Nguyên tắc thứ 2:

Chăm sóc giảm nhẹ đáp ứng với bất kỳ đau khổ nào cấp tính hay mạn tính

mà chưa được dự phòng hay giảm nhẹ một cách đầy đủ Các loại hình và mức độ đau

có thể thay đổi theo địa điểm, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa, thời gian, do đó công tác chăm sóc giảm nhẹ và quy mô chăm sóc giảm nhẹ cũng cần thay đổi theo từng nhóm người bệnh

*Nguyên tắc thứ 3:

Đánh giá các giá trị mà mỗi người bệnh trân trọng trong cuộc sống, đối với trẻ em cần đánh giá theo giai đoạn phát triển của trẻ để có thể chăm sóc phù hợp với sự tôn trọng, đạo đức, văn hóa, xã hội, tâm linh và từng giai đoạn phát triển;

Có thể áp dụng chăm sóc giảm nhẹ ngay trong giai đoạn sớm của những bệnh lý nghiêm trọng đồng thời với các liệu pháp điều trị chữa bệnh như là hóa trị cho người bệnh ung thư hay lao kháng thuốc và thuốc kháng vi rút dành cho người bệnh HIV/AIDS

Hỗ trợ người bệnh tiếp cận và tuân thủ các điều trị bệnh tối ưu nhất nếu các điều trị này là mong muốn của người bệnh, và có thể góp phần chữa khỏi bệnh hoặc cải thiện sự sống còn;

Có thể được áp dụng cho những người sống với các di chứng lâu dài về mặt thể chất, tâm lý, xã hội hay tâm linh của các bệnh lý đe dọa tính mạng như ung thư hay các điều trị ung thư

Có thể được áp dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ em có vấn đề sức khỏe bẩm sinh nghiêm trọng;

Tư vấn cho người bệnh tiên lượng có các vấn đề sức khỏe đe dọa tính mạng và/hoặc gia đình của họ, về việc xác định mục tiêu chăm sóc, về lợi ích và tác hại tiềm tàng của các điều trị duy trì sự sống [5];

Trang 11

Không được cố ý đẩy nhanh cái chết;

Cung cấp các hỗ trợ cá nhân hóa cho người lớn và trẻ em bị mất mát người thân khi cần thiết;

Tìm cách giúp đỡ người bệnh và gia đình người bệnh tránh những khó khan tài chính do bệnh tật hoặc khuyết tật gây nên;

Cung cấp giáo dục và hỗ trợ trong việc phòng ngừa và giảm thiểu đau đớn, đau mạn tính cũng như đau cấp tính, khi cần thiết;

Cần được lồng ghép vào tất cả các cấp của các hệ thống chăm sóc sức khỏe

và vào các chương trình ứng phó chuẩn đối với các thảm họa nhân đạo;

Nên được thực hành bởi các bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên công tác xã hội, chuyên viên tâm lý, người hỗ trợ tâm linh, nhân viên y tế cộng đồng, tình nguyện viên

và những người khác, sau khi họ nhận được đào tạo đầy đủ;

Nên được đào tạo ở ba cấp bậc:

+ Đào tạo chăm sóc giảm nhẹ cơ bản cho tất cả sinh viên y khoa, sinh viên điều dưỡng, sinh viên dược và các nhân viên chăm sóc sức khỏe nhất là nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu;

+ Đào tạo chăm sóc giảm nhẹ bậc trung cấp/nâng cao cho tất cả các chuyên gia y tế chăm sóc người bệnh mắc các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, phức tạp hoặc giới hạn

sự sống như ung thư, suy các cơ quan trọng yếu, bệnh thần kinh - tâm thần nghiêm trọng hoặc sinh non nghiêm trọng;

+ Đào tạo chăm sóc giảm nhẹ chuyên sâu

CSGN được thực hành tốt nhất bởi một nhóm liên chuyên ngành có thể cung cấp các chăm sóc lấy con người làm trung tâm, đáp ứng lại tất cả các hình thức đau khổ;

Cần khuyến khích sự tham gia tích cực của cộng đồng và các thành viên trong cộng đồng;

CSGN nên được tiếp cận bởi bất kỳ ai cần đến CSGN

1.1.4 Các giá trị văn hóa Việt Nam liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi các bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho người bệnh như bà mẹ chăm sóc con của mình: “Lương y như từ mẫu” Giống như trẻ em, người bệnh có thể rất dễ bị tổn thương do bệnh tật hoặc lo lắng hoặc nghèo đói hoặc thiếu giáo dục hoặc thiếu hỗ trợ xã hội Các bác sĩ cần phải luôn tôn trọng tính dễ bị tổn

Trang 12

thương này và không bao giờ được trục lợi từ nó Hải Thượng Lãn Ông (Lê Hữu Trác,

1720 - 1791) đã mô tả cách thầy thuốc nên cư xử với người bệnh và đối với đồng nghiệp và do đó đã đi trước các nguyên tắc y đức chính của phương Tây Lời khuyên đạo đức của ông có thể được tóm tắt bởi một số điều sau [3], [9], [10]:

Phân loại bệnh: Chăm sóc trước tiên cho những người bệnh bị bệnh nặng nhất hoặc đau khổ nhất Không nên xét đến sự giàu có hay địa vị của người bệnh trong việc quyết định sẽ điều trị cho ai trước

Tránh lợi ích kép: Khi chăm sóc cho người bệnh, mối quan tâm duy nhất của bạn nên là người bệnh Y học không phải là một công việc kinh doanh và lợi ích

cá nhân hoặc các mối quan tâm khác không nên ảnh hưởng đến quyết định điều trị Tôn trọng sự yếu thế, dễ bị tổn thương của người bệnh: Luôn duy trì mối quan hệ thầy thuốc-người bệnh một cách chuyên nghiệp và không bao giờ lợi dụng quyền lực mà bạn có đối với người bệnh, bất kể người bệnh là ai Các mối quan hệ xã hội hoặc quan

hệ tình dục với người bệnh đều bị cấm

đỡ, bất kể bạn đang ở đâu, nếu không có sự giúp đỡ khác nào có thể thay thế

Đồng thuận sau khi được giải thích (informed consent): Giải thích cho người bệnh hoặc gia đình về chẩn đoán và các phương pháp điều trị tiềm năng theo cách dễ hiểu nếu họ muốn biết và hỗ trợ họ ra quyết định điều trị tốt nhất

Đừng cảm thấy bị xúc phạm nếu người bệnh hay gia đình của họ tức giận với bạn: Nhận ra rằng người bệnh và gia đình có thể rất đau khổ khi một người bệnh bị bệnh nặng hoặc tử vong và do đó có thể thể hiện sự tức giận ngay cả khi bạn đã chăm sóc tốt Hãy tử tế với đồng nghiệp và tôn trọng các thầy cô và các bậc đàn anh, đàn chị

Quan tâm nhất đến người nghèo và những người không có gia đình: Nghèo đói là mầm mống của bệnh tật và người nghèo có nhiều đau khổ hơn người giàu, vì vậy hãy đặc biệt chú ý đến họ Cung cấp hoặc sắp xếp các hỗ trợ xã hội như thực phẩm nếu họ không có

1.1.5 Ứng dụng thực tiễn các giá trị văn hóa Việt Nam và đạo đức phương Tây

Thông báo tin xấu: Hãy cẩn thận, nhẹ nhàng và thận trọng khi thông báo tin xấu Hãy trung thực, nhưng đừng khiến người bệnh hoặc người nhà xúc động quá mức cũng như đừng khăng khăng buộc họ nhận các thông tin y tế nếu họ từ chối nghe Đôi

Trang 13

khi, tin tức nên được đưa ra dần dần Hỏi người bệnh hoặc người thân nếu họ muốn có

ai đó cùng họ thảo luận và cố gắng tìm một nơi riêng tư để thảo luận Không bao giờ đưa ra tin xấu mà không chuẩn bị trước để đề xuất một kế hoạch chăm sóc Cho người bệnh hoặc gia đình thời gian để tiếp nhận và xử lí thông tin Hãy chuẩn bị đón nhận những phản ứng cảm xúc như khóc than, nước mắt hoặc sự giận dữ [6], [7], [10]

Quyết định các mục tiêu chăm sóc: Khi kế hoạch chăm sóc tốt nhất cho người bệnh không rõ ràng, cần cố gắng để xác định mục tiêu chăm sóc chính hoặc các mục tiêu chăm sóc Ví dụ về các mục tiêu chăm sóc:

+ Điều trị bệnh ngay cả khi việc điều trị có thể có tác dụng không mong muốn nghiêm trọng

+ Chỉ tập trung vào sự thoải mái

+ Tập trung vào cả hai mục tiêu trên cùng một lúc

+ Chỉ điều trị các tình trạng bệnh có khả năng đảo ngược được Nếu không thể, hãy tập trung vào sự thoải mái của người bệnh

Nhận biết lợi ích và tác hại của điều trị duy trì sự sống: Dựa trên các mục tiêu chăm sóc, hỗ trợ người bệnh và gia đình quyết định sử dụng hay không sử dụng các phương pháp điều trị duy trì sự sống bao gồm hồi sinh tim phổi, thở máy xâm lấn, chạy thận nhân tạo và thở máy không xâm lấn Hỗ trợ họ nhận ra khi các phương pháp điều trị duy trì sự sống này có khả năng gây hại và không mang lại lợi ích gì

cái chết cho người bệnh Cụ thể, bác sĩ không nên tham gia vào việc cung cấp hình thức an tử, tự tử có sự trợ giúp của bác sĩ hoặc trợ giúp của bác sĩ trong cái chết của người bệnh

An tử (euthanasia): Cố ý trực tiếp gây ra cái chết của người bệnh Điều này không được chấp nhận vì bất kỳ lý do gì, bao gồm để giảm bớt đau khổ hoặc tuân thủ yêu cầu từ người bệnh hoặc gia đình Ngay cả những đau khổ khó chịu nhất cũng có thể được giảm bớt bằng những cách khác An thần giảm nhẹ có thể được sử dụng nếu tất cả các nỗ lực khác để giảm đau khổ không thành công (xem Phần về an thần giảm nhẹ dưới đây)

Tự tử có sự trợ giúp của bác sĩ hoặc trợ giúp của bác sĩ trong cái chết của người bệnh (Physician-assisted suicide hoặc physician aid in dying): Cố ý giúp người bệnh kết thúc cuộc sống của mình bằng cách kê đơn hoặc cung cấp cho họ phương tiện

Trang 14

để kết thúc cuộc sống của mình Thực hành này không được chấp nhận hoặc cho phép

An thần giảm nhẹ: An thần trong mức độ cho phép để làm giảm các triệu chứng kháng trị của người bệnh hấp hối Điều này khác biệt về mặt đạo đức với an tử,

tự tử có sự trợ giúp của bác sĩ và trợ giúp của bác sĩ trong cái chết của người bệnh và phù hợp với nguyên tắc Hệ quả kép Có hai hình thức:

An thần giảm nhẹ tương xứng (proportionate palliative sedation): Cố ý hạ thấp mức độ ý thức của người bệnh hấp hối thông qua việc tăng dần một hoặc nhiều loại thuốc an thần một cách cẩn thận để chỉnh liều thuốc nhằm giảm bớt các đau khổ không thể chịu đựng được từ các triệu chứng kháng trị, tới mức người bệnh chấp nhận được, sử dụng liều an thần cần thiết thấp nhất để đạt được mục tiêu này

(Các) thuốc an thần nên được thêm vào kèm các loại thuốc kiểm soát triệu chứng trong mức độ cho phép và mức độ an thần phải tương xứng với mức độ đau của người bệnh vì nó phải đủ sâu để giảm đau như mong muốn

thần dẫn nhập có kiểm soát đến mức mất ý thức để giảm bớt đau khổ nghiêm trọng của một người bệnh hấp hối, vốn kháng trị với tất cả can thiệp hợp lý và tích cực bao gồm

cả an thần nhưng chưa đến mức mất ý thức

1.1.6 Vai trò của Điều dưỡng trong Chăm sóc giảm nhẹ

- Thực hiện thông tư 31/2021/TT-BYT công tác Điều dưỡng về chăm sóc người bệnh

- Là một phần của nhóm làm việc bao gồm Bác sỹ, nhân viên chăm sóc sức khỏe

- Hiểu rõ về tiến trình diễn biến mắc phải của người bệnh

- Hiểu biết về các vấn đề thực thể, tâm lý, tâm linh xã hội

- Xây dựng kế hoạch chăm sóc của Điều dưỡng

- Đánh giá các nhu cầu chăm sóc của người bệnh, hỗ trợ đáp ứng các nhu cầu cơ bản

- Cung cấp và tạo điều kiện cho chăm sóc Điều dưỡng tốt nhất

1.1.7 Định nghĩa ung thư

Theo tổ chức Y tế thế giới, ung thư là một bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân gây ung thư thì tế bào tăng sinh một cách vô hạn, không tuân theo cơ chế kiểm soát về mặt phát triển của cơ thể [2]

1.1.8 Phân loại theo TNM

Trên lâm sàng thường xếp loại giai đoạn TNM theo hiệp hội chống ung thư quốc tế (uICC 2010) Trong đó T (Tumor): xét tới kích thước nguyên phát của khối u; N

Trang 15

(Node): Xét tới mức độ lan rộng đến các hạch bạch huyết; M (Metastasis): Xét tới sự

di căn Tuỳ từng loại ung thư sẽ có phân lớp T, N, M khác nhau và từ đó có chẩn đoán giai đoạn bệnh khác nhau

1.1.9 Phân loại ung thư theo giai đoạn

Hầu hết các loại ung thư có bốn giai đoạn: Giai đoạn I đến IV, một số bệnh ung thư cũng có giai đoạn 0

Giai đoạn 0: Các tế bào bất thường có mặt nhưng không lây lan sang các mô lân cận Giai đoạn này của ung thư thường được chữa trị cao, hầu hết loại bỏ toàn bộ khối

u bằng cách phẫu thuật

Giai đoạn I: Giai đoạn này thường là một khối u nhỏ hoặc khối u không phát triển sâu vào các mô lân cận, nó cũng không lan rộng tới hạch bạch huyết hoặc các bộ phận khác của cơ thể Nó thường được gọi là ung thư giai đoạn sớm

Giai đoạn II và III: Các giai đoạn này cho thấy ung thư hoặc khối u lớn hơn đã phát triển sâu hơn vào các mô gần đó, chúng cũng có thể lan tới các hạch bạch huyết nhưng không lan sang các phần khác của cơ thể

Giai đoạn IV: Giai đoạn này có nghĩa là ung thư đã lan ra các cơ quan khác hoặc bộ phận khác của cơ thể (ung thư di căn)

Các phương pháp điều trị ung thư hiện nay

Mỗi loại ung thư, mỗi giai đoạn bệnh có những phương pháp điều trị khác nhau:

Điều trị bằng phương pháp phẫu thuật: Thường áp dụng ở các giai đoạn sớm, chưa di căn

Điều trị tia xạ: Thường áp dụng cho ung thư ở các giai đoạn tương đối muộn hơn Thường phối hợp với phẫu thuật làm thu nhỏ bớt khối u đẻ dễ mổ hoặc diệt nốt những tế bào u tại chỗ và hạch khu vực mà khi mổ nghi ngờ chưa lấy hết hạch hoặc áp dụng tia xạ ở những vị trí không thể mổ được

Điều trị hoá chất: Là phương pháp dùng thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các

tế bào ác tính trong cơ thể bệnh ung thư Thường áp dụng cho ung thư có tính chất toàn thân hoặc ở giai đoạn muộn, có di căn xa Những ung thư giai đoạn sớm nhưng tính chất ác tính cao, dễ di căn cũng sử dụng điều trị hoá chất để phòng ngừa và nâng cao hiệu quả điều trị

Các phương pháp khác: Điều trị miễn dịch (miễn dịch thụ động không đặc hiệu

Trang 16

và miễn dịch chủ động không đặc hiệu); điều trị ung thư đích

1.1.10 Tình hình mắc bệnh ung thư trên thế giới và ở Việt Nam

Ung thư đã trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai chỉ sau bệnh tim mạch Là một mối đe doạ đặc biệt với các quốc gia đang phát triển vì có hệ thống

y tế yếu kém, không được trang bị các phương pháp điều trị ung thư phức tạo và chi phí điều trị ngày càng đắt tiền

Theo cơ quan nghiên cứu Ung thư quốc tế thống kê từ 182 quốc gia trong chương trình GLOBOCAN năm 2008, tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư trên thế giới là 12,7 triệu ca mắc mới và 7,6 triệu ca tử vong Trong đó, 56% các trường hợp ung thư mắc mới và 63% các ca tử vong do ung thư xảy ra ở các khu vực kém phát triển như châu Phi, Nam và Bắc Mỹ [1], [10]

Xu hướng mắc bệnh ung thư trên thế giới ngày càng gia tăng về cả số ca mắc mới và số ca tử vong Cũng theo thông kê của chương trình GLOBOCAN, năm 2012 trên thế giới có khoảng 14,1 triệu ca mắc mới; 8,2 triệu ca tử vong và khoảng 32, 6 triệu người sống với ung thư (trong vòng 5 năm chẩn đoán) Ung thư phổ biến nhất vẫn là ung thư phổi với 1,8 triệu ca mắc mới chiếm 13% tổng số các ca mắc mới của tất cả các bệnh ung thư và 1,59 triệu ca tử vong chiếm 19,4% tổng số các trường hợp

tử vong của tất cả các bệnh ung thư Đến năm 2018, số ca mắc mới khoảng 18,1 triệu

ca và 9,6 triệu ca tử vong do ung thư Các loại ung thư có số trường hợp tử vong cao nhất là ung thư phổi với 1,76 triệu ca tử vong, tiếp đến là ung thư đại trực tràng với 862.000 người tử vong, ung thư dạ dày với 783.000 người tử vong, ung thư gan với 782.000 người tử vong và ung thư vú với 627.000 người tử vong Tổng chi phí kinh tế hàng năm do ung thư năm 2010 ước tính xấp xỉ 1,16 nghìn tỷ đôla Mỹ trên toàn thế giới

Tính riêng Châu Á, năm 2012 có khoảng 6,76 triệu ca ung thư mắc mới và hơn 4,49 triệu ca tử vong vì ung thư Trong đó ung thư phổi là ung thư có tỷ lện mắc và tử vong cao nhất với 1,05 triệu ca mắc mới chiếm 15,5% tổng số ca mắc mới của tất cả các loại ung thư và 936.051 ca tử vong chiếm tỷ lệ 20,5%

Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore là nước có tỷ lệ mắc ung thư cao nhất (282/100.000 dân), kế đó là Philipines (163/100.000 dân, vị trí 89 thế giới), Thái Lan đứng vị trí 92 thế giới (152/100.000 dân), Lào (154/100.000 dân, vị trí 97 thế giới) Việt Nam xếp vị trí 99/185 quốc gia và vùng lãnh thổ với tỷ lệ mắc ung thư

Trang 17

151/100.000 dân, xếp thứ 19 Châu Á và thứ 5 tại khu vực Đông Nam Á Theo thống

kê, năm 2000 số ca ung thư mắc mới là 68.000 ca đến năm 2010 lên 126.000 ca và đến năm 2018 số ca mắc mới lên đến gần 165.000 ca/96,5 triệu dân, trong đó gần 70% trường hợp tử vong, tương đương 115.000 ca Ung thư gan vẫn là ung thư phổ biến nhất và gây tử vong số một do ung thư (25.335 ca mắc mới; 25.404 ca tử vong), tiếp theo là ung thư phổi (23.667 ca mắc mới; 20.710 ca tử vong), ung thư dạ dày (17.527

ca mắc mới; 15.065 ca tử vong) và ung thư vú (15.229 ca mắc mới; 6.103 ca tử vong) Điều đó dẫn đến tình trạng quá tải tại các bệnh viện Gây thiệt hại, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế, xã hội của đất nước do bệnh phải điều trị suốt đời làm tăng chi phí y

tế, giảm năng suất lao động và sản phẩm xã hội [9]ư, [10]

1.1.11 Những quy định liên đến chăm sóc giảm nhẹ

CSGN được bắt đầu ở Việt Nam từ năm 2001 nhưng chưa có một chính sách nào quy định về CSGN Đến năm 2005, Bộ Y tế Việt Nam đã bắt đầu khởi xướng xây dựng mô hình CSGN với việc khảo sát, phân tích, đánh giá nhu cầu CSGN cho NB ung thư và HIV/AIDS ở 5 tỉnh thành phố Kết quả cho thấy, tỷ lệ NB có nhu cầu CSGN là rất lớn với 30,1% NB cần hỗ trợ tinh thần, 33% NB cần hỗ trợ tâm lý, 41,7%

NB cần dùng thuốc giảm đau và 39,8% NB cần được chăm sóc tại nhà Có 79,48% NB ung thư đã từng chịu đựng các cơ đau, 97,43% NB đã từng phải chịu đựng những triệu chứng khó chịu về thể xác và 87% NB thấy không vui hoặc rất buồn [2], [3]

Thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của CSGN đối với NB, từ năm 2006, với

sự giúp đỡ của các chuyên gia và Tổ chức quốc tế Cục quản lý Khám, chữa bệnh đã xây dựng và ban hành “Hướng dẫn Quốc gia về Chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS” (Quyết định 3483/BYT ngày 19/5/2006) Đây là cơ sở pháp lý

và là tài liệu tham khảo mang tính thực tiễn để các nhà lâm sàng trên toàn quốc triển khai các hoạt động điều trị và CSGN cho người nhiễm HIV/AIDS, ung thư và các bệnh hiểm nghèo đe doạ tính mạng khác Trong đó có quy định, hướng dẫn cụ thể về: Kiểm soát đau, xử trí các triệu chứng như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, táo bón, đau miệng và nuốt đau, khó thở, ho, yếu, mệt mỏi, sốt, mất ngủ, trầm cảm, lo âu, ngứa, loét

do nằm lâu, chăm sóc tâm lý xã hội cho NB và người chăm sóc nhằm cải thiện CSGN của NB và gia đình NB khi họ phải đối mặt với những vấn đề liên quan đến những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng

Năm 2014, Thủ Tướng đã ký Quyết định phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng

Ngày đăng: 14/02/2023, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (2006), Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹđối với người bệnh ung thư và AIDS. Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹđối với người bệnh ung thư và AIDS
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2006
3.Bộ Y tế (2022), Quyết định số 183/QĐ-BYT ngày 25/01/2022 về việc ban hành hường dẫn chăm sóc giảm nhẹ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 183/QĐ-BYT ngày 25/01/2022 về việc ban hành hường dẫn chăm sóc giảm nhẹ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2022
4.Phạm Thị Dịu (2020). Thực trạng nhu cầu và đáp ứng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020. Luận văn thạc sĩ điều dưỡng. Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhu cầu và đáp ứng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020
Tác giả: Phạm Thị Dịu
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2020
5. Hồ Thị Hoa (2012). Thực trạng chăm sóc giảm nhẹ trên bệnh nhân ung thư được điều trị hóa chất tại khoa chăm sóc triệu chứng và điều trị đau, Bệnh viện K cơ sở 1.Khóa luận tốt nghiệp cử nhân y khoa. Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc giảm nhẹ trên bệnh nhân ung thư được điều trị hóa chất tại khoa chăm sóc triệu chứng và điều trị đau, Bệnh viện K cơ sở 1
Tác giả: Hồ Thị Hoa
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2012
6.Trần Thị Hảo (2014). Nghiên cứu nhu cầu khám chữa bệnh ung thư, chăm sóc giảm nhẹ và một số yếu tố liên quan tại 10 tỉnh của Việt Nam năm 2014. Luận vặn thạc sĩ y tế công cộng. Trường Đại học y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu khám chữa bệnh ung thư, chăm sóc giảm nhẹ và một số yếu tố liên quan tại 10 tỉnh của Việt Nam năm 2014
Tác giả: Trần Thị Hảo
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2014
7. Khoa Lão - Bệnh viện Đại học Y DượcTP. HCM (2021). Báo cáo hoạt động 6 tháng đầu năm 2021. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động 6 tháng đầu năm 2021
Tác giả: Khoa Lão - Bệnh viện Đại học Y DượcTP. HCM
Nhà XB: Bệnh viện Đại học Y DượcTP. HCM
Năm: 2021
11.Sở Y tế TP HCM (2020). 10 Vấn đề về chăm sóc giảm nhẹ trên toàn cầu 2020. http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/quan-ly-chat-luong-kham-chua-benh/10-van-de-ve-cham-soc-giam-nhe-tren-toan-cau-c8-6593.aspx. Xem ngày 20/7/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 Vấn đề về chăm sóc giảm nhẹ trên toàn cầu 2020
Tác giả: Sở Y tế TP HCM
Năm: 2020
15. World Health Organization (2011). Palliative care 2011. http://www.who.int/cancer/palliative/definition/en. Xem ngày 20/7/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Palliative care 2011
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2011
1. Đặng Thị Vân Anh và Đỗ Thị Hạnh Trang (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư tại trung tâm ung bướu bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2021. Tạp chí Y học Việt Nam. Số 514 (1) Khác
8. Trần Thị Liên, Lê Thanh Tùng (2019). Thực trạng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư điều trị tại trung tâm ung bướu -bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 2(3):tr.13-21 Khác
9. Trương Thị Nhung (2014). Nhu cầu Chăm sócgiảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Thực Hành. 2(20)-14 Khác
10. Nguyễn Thị Hiếu Phương và Bùi Tú Quyên (2022). Hoạt động chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Tạp chí Y dược học. Số 43 (55-57) Khác
12. Heins Marianne, Hofstede Jolien, et al (2018). Palliative care for patientswith cancer: do patients receive the care theyconsider important? A survey study. BMC palliative care. 17(1):1-7 Khác
13. Ndiok Akon, Ncama Busisiwe (2018). Assessment of palliative care needs ofpatients/families living with cancer in adeveloping country. Scandinavian journal ofcaring sciences. 32(3):1215-26 Khác
14. Yun Young Ho, Kang Eun Kyo, et al (2018). Development and validation of thequality care questionnaire–palliative care (QCQ-PC): patient-reported assessment of quality ofpalliative care. BMC palliative care,17(1):1-8 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w