Luận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt NamLuận án tiến sĩ: Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Lý do lựa chọn đề tài
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Dự báo dòng tiền tương lai có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các nhà đầu tư, ngân hàng và nhà quản trị tài chính trước khi ra quyết định kinh tế, với 80% nhân viên tín dụng tại Hoa Kỳ cho rằng việc có kế hoạch dòng tiền là điều bắt buộc trong hồ sơ vay vốn (Đỗ Thị Hồng Nhung, 2014; Fulmer, Gavin và Bertin, 1991; Waddell D & cộng sự, 1994) Tuy nhiên, tại Việt Nam, công tác dự báo dòng tiền chưa được thực hiện đầy đủ, chưa đánh giá đúng các yếu tố ảnh hưởng và phần lớn dựa vào kinh nghiệm của kế toán trưởng, đồng thời phương pháp dự báo còn đơn giản và thiếu sự chú trọng, đặc biệt khi thị trường chứng khoán Việt Nam mới đi vào hoạt động (Đỗ Thị Hồng Nhung, 2014).
Nghiên cứu dự báo dòng tiền trong các doanh nghiệp tại Việt Nam là yếu tố thiết yếu both về lý luận và thực tiễn, giúp nâng cao hiệu quả quá trình ra quyết định kinh tế Các nước phát triển đã thực hiện nghiên cứu dự báo dòng tiền hàng chục năm qua, tuy nhiên, ở Việt Nam, lĩnh vực này vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống Do đó, việc tập trung nghiên cứu dự báo dòng tiền sẽ góp phần cải thiện khả năng quản lý tài chính và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Các công ty phi tài chính niêm yết tại Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp lớn hoạt động trong các ngành nghề thiết yếu, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải và vật chất cho đất nước, đồng thời góp phần đáng kể vào tổng giá trị sản phẩm quốc dân Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) phản ánh khả năng tạo ra doanh thu chính của doanh nghiệp và là chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng đáp ứng hoạt động hàng ngày của công ty Theo Bộ Tài chính (2002), dòng tiền này là tín hiệu cho thấy sức khỏe tài chính và khả năng sinh lời của doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính doanh nghiệp.
Tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài luận án liên quan đến dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhằm nâng cao khả năng phân tích và dự đoán tài chính doanh nghiệp trong môi trường thị trường chứng khoán đang phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của Luận án là xây dựng và kiểm định các mô hình dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời, luận án cũng so sánh khả năng dự báo của các mô hình để xác định mô hình phù hợp và hiệu quả nhất Để đạt được điều này, luận án tiến hành tổng hợp, hệ thống hoá cơ sở lý luận về thông tin kế toán theo phương pháp dồn tích và theo phương pháp tiền, nhằm cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc cho việc xây dựng các mô hình dự báo dòng tiền.
Thứ hai, tập trung xây dựng và đánh giá mô hình dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, dựa trên phân tích lợi nhuận quá khứ để nâng cao độ chính xác của dự báo.
Vào thứ ba, chúng tôi sẽ xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM Mô hình này dựa trên phân tích dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để dự đoán dòng tiền trong tương lai, giúp tăng tính chính xác và hiệu quả trong quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Đầu tiên, bài viết tập trung vào việc xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM Mô hình này kết hợp dữ liệu dòng tiền quá khứ và thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích, bao gồm thành phần dồn tích gộp chung và thành phần dồn tích cụ thể, nhằm nâng cao độ chính xác và khả năng dự báo của các dự đoán dòng tiền trong tương lai.
Trong năm thứ nhất, xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM dựa trên các tỷ suất tài chính liên quan đến dòng tiền, nhằm nâng cao độ chính xác và khả năng dự báo của mô hình.
Thứ sáu, xác định mô hình dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM là bước quan trọng nhằm nâng cao độ chính xác trong dự báo tài chính Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng giúp xác định mô hình dự báo phù hợp nhất, từ đó hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác Các mô hình dự báo này giúp phân tích rõ ràng các yếu tố tác động tới dòng tiền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Áp dụng mô hình hiệu quả có thể nâng cao khả năng dự báo dòng tiền chính xác, góp phần giúp các công ty tối ưu hóa dòng tiền và phát triển bền vững.
Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu, luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
Câu hỏi 1: Lợi nhuận trong quá khứ có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ
HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM hay không?
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM Việc phân tích số liệu dòng tiền quá khứ giúp nhà đầu tư và các bên liên quan hiểu rõ hơn về khả năng sinh lợi và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Do đó, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động và dự báo xu hướng tài chính dài hạn của các công ty trên thị trường chứng khoán TP.HCM.
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ, khi kết hợp với các thông tin kế toán dồn tích gộp chung, có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM Việc sử dụng dữ liệu quá khứ cùng với các thông tin kế toán hợp nhất giúp cải thiện khả năng dự báo dòng tiền tương lai, hỗ trợ nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp ra quyết định chính xác hơn Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của phân tích dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cùng với các số liệu kế toán để dự đoán chính xác hơn về hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính trên thị trường chứng khoán TP.HCM.
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ, kết hợp với các thông tin kế toán dồn tích cụ thể, có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Phân tích này giúp nhà đầu tư và doanh nghiệp đánh giá chính xác hơn về khả năng tạo ra dòng tiền trong tương lai dựa trên dữ liệu lịch sử và các yếu tố kế toán liên quan Việc sử dụng thông tin kế toán dồn tích kết hợp với các chỉ số dòng tiền mang lại lợi thế trong việc dự đoán chính xác hoạt động tài chính của các công ty trên thị trường chứng khoán TP.HCM.
Câu hỏi 5: Các tỷ suất dòng tiền có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ
HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM hay không?
Mô hình dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM cần có khả năng chính xác và tin cậy cao Trong số các mô hình phân tích, mô hình [tên mô hình phù hợp] thể hiện hiệu quả vượt trội, giúp dự báo dòng tiền chính xác hơn các phương pháp khác Việc lựa chọn mô hình phù hợp sẽ hỗ trợ nhà đầu tư và các công ty đưa ra quyết định tài chính chính xác và kịp thời Do đó, mô hình [tên mô hình] được xem là dự báo tốt nhất dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong bối cảnh nghiên cứu này.
Giả thuyết khoa học
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu trên, những giả thuyết khoa học sau đây được Luận án xây dựng và kiểm định:
Lợi nhuận kế toán trong quá khứ của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai Nghiên cứu cho thấy, các số liệu lợi nhuận kế toán đã phản ánh tốt hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và là chỉ số quan trọng để dự đoán dòng tiền tiếp theo Việc sử dụng dữ liệu lợi nhuận kế toán trước đó giúp các nhà đầu tư và quản lý đưa ra quyết định chính xác hơn về hoạt động tài chính và chiến lược phát triển của công ty.
Giả thuyết 2 cho thấy dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM, giúp các nhà đầu tư và quản lý đưa ra các quyết định chính xác dựa trên hiệu quả hoạt động trước đó của doanh nghiệp.
Giả thuyết 3 cho rằng, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh kết hợp với các thành phần thông tin kế toán dồn tích gộp chung có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, giúp nhà đầu tư và các bên liên quan đưa ra các quyết định chính xác hơn dựa trên phân tích dữ liệu tài chính toàn diện và đáng tin cậy.
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh kết hợp với các yếu tố thông tin kế toán dồn tích như chi phí khấu hao TSCĐ, chênh lệch tăng giảm trong các khoản phải thu, hàng tồn kho, các khoản chi phí trả trước và các khoản phải trả có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM.
Gi ả thuy ế t 5: Các tỷ suất dòng tiền có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ
HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM
Giả thuyết 6 đề xuất mô hình kết hợp dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) và các thành phần thông tin kế toán dồn tích như chi phí khấu hao TSCĐ, chênh lệch tăng giảm trong các khoản phải thu, hàng tồn kho, các chi phí trả trước, và khoản phải trả Mô hình này cho thấy khả năng dự báo dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (SGDCK TP.HCM) là tốt nhất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đố i t ượ ng nghiên c ứ u c ủ a Lu ậ n án :
Luận án này tập trung vào khả năng dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai dựa trên các thông tin kế toán trong quá khứ Các loại thông tin kế toán được nghiên cứu bao gồm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh quá khứ, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh quá khứ, các thành phần dữ liệu kế toán tích lũy như chênh lệch giữa lợi nhuận và dòng tiền, cùng với các thành phần kế toán cụ thể như chi phí khấu hao tài sản cố định, sự biến động của các khoản phải thu, hàng tồn kho, chi phí trả trước và các khoản phải trả Ngoài ra, nghiên cứu còn xem xét tỷ suất tài chính liên quan đến dòng tiền nhằm nâng cao khả năng dự báo chính xác trong quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trong nội dung, luận án tập trung vào đánh giá khả năng của các thông tin kế toán tài chính từ Báo cáo tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM để dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Các yếu tố được phân tích bao gồm lợi nhuận từ HĐKD, dòng tiền từ HĐKD, các thành phần thông tin kế toán như chi phí khấu hao TSCĐ, chênh lệch tăng/giảm trong các khoản phải thu, hàng tồn kho, chi phí trả trước và các khoản phải trả, cùng với tỷ suất tài chính về dòng tiền Luận án không xem xét các yếu tố như thời gian hoạt động, thời gian niêm yết hay quy mô lao động của công ty.
Luận án tập trung nghiên cứu các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE), trong khi các công ty tài chính như ngân hàng, tổ chức tín dụng, và công ty bảo hiểm do có đặc thù hoạt động kinh doanh khác biệt nên không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án.
Thứ ba, ngày 20/7/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ra đời theo số liệu từ Công ty Truyền thông Tài chính Stoxplus Chỉ tám ngày sau, ngày 28/7/2000, thị trường bắt đầu tổ chức phiên giao dịch đầu tiên Đây là những mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
Từ năm 2009 đến 2014, số lượng công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM duy trì ổn định với tổng cộng 284 công ty, trong đó có 90 công ty ngành tài chính và 194 công ty phi tài chính Trong giai đoạn này, các hoạt động thay đổi sàn, rời sàn hoặc ngừng niêm yết không gây nhiều biến động lớn Trong số các công ty phi tài chính, luận án đã loại bỏ các công ty thiếu dữ liệu về dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và những công ty có dòng tiền thuần bất thường, thu hẹp còn 142 công ty phù hợp cho nghiên cứu Dữ liệu thu thập gồm 852 quan sát, phản ánh 6 năm dữ liệu tài chính của các công ty này, tất cả đều có kết thúc năm tài chính vào ngày 31/12 hàng năm.
Khung nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án, khung nghiên cứu của Luận án được thể hiện qua Sơ đồ 1.1 dưới đây:
Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu của luận án
(Nguồn: Tác giả xây dựng)
Theo lý luận về kế toán theo cơ sở dồn tích và cơ sở tiền, việc dự báo dòng tiền đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp Các nghiên cứu trước đây đã tập trung phân tích cách thức dự báo dòng tiền giúp nâng cao khả năng lập kế hoạch tài chính và ra quyết định chiến lược Kết hợp các phương pháp kế toán này cùng với các công trình nghiên cứu có cùng chủ đề về dự báo dòng tiền, cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng linh hoạt các phương pháp dự báo phù hợp với đặc thù của từng loại hình doanh nghiệp Việc dự báo chính xác dòng tiền không chỉ giúp cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh mà còn tăng cường khả năng dự phòng rủi ro tài chính trong tương lai.
Dòng tiền từ HĐKD và các thông tin kế toán dồn tích cụ thể
Các tỷ suất dòng tiền Dòng tiền từ HĐKD quá khứ
Dòng tiền từ HĐKD và các thông tin kế toán dồn tích gộp chung
DÒNG TIỀN TỪ HĐKD TRONG TƯƠNG LAI
Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận
Khung lí thuyết, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Khoảng trống nghiên cứu về dự báo dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính
Các mô hình kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Luận án về dự báo dòng tiền đã chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, từ đó phát triển mô hình dự báo dòng tiền bao gồm mô hình lợi nhuận, mô hình dòng tiền quá khứ, mô hình dòng tiền quá khứ kết hợp với thông tin kế toán dồn tích gộp chung và cụ thể, cùng mô hình tỷ suất dòng tiền Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phân tích định lượng, hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), hồi quy nhân tố ảnh hưởng cố định (FEM), hồi quy nhân tố ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và hồi quy từng bước Kết quả sau xử lý dữ liệu được thảo luận và đưa ra các khuyến nghị giúp nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư, cơ quan Nhà Nước sử dụng thông tin kế toán từ Báo cáo tài chính để dự báo dòng tiền, từ đó đưa ra quyết định kinh doanh, đầu tư hợp lý và ban hành chính sách phù hợp.
Kết cấu Luận án
Luận án gồm có 5 Chương:
Ch ươ ng 1: Gi ớ i thi ệ u đề tài nghiên c ứ u
Trong Chương 1 của luận án, tác giả trình bày rõ lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, đồng thời xác định mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu một cách cụ thể Các mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa thông qua các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nhằm hướng tới kết quả nghiên cứu rõ ràng Ngoài ra, luận án còn giới thiệu khái quát về mô hình nghiên cứu và những kết quả mong đợi từ quá trình nghiên cứu, nhằm xây dựng nền tảng vững chắc cho toàn bộ luận án.
Ch ươ ng 2: C ơ s ở lí lu ậ n và t ổ ng quan nghiên c ứ u v ề dòng ti ề n và d ự báo dòng ti ề n trong các công ty niêm y ế t trên th ị tr ườ ng ch ứ ng khoán
Trong Chương 2, Luận án trình bày các vấn đề lý luận về dòng tiền và phương pháp dự báo dòng tiền trong các công ty niêm yết trên TTCK Đồng thời, chương này tổng quan các công trình nghiên cứu đã thực hiện về dự báo dòng tiền, làm rõ các phương pháp và kết quả đạt được Trên cơ sở phân tích lý thuyết và các nghiên cứu đã có, Luận án chỉ ra những khoảng trống còn tồn tại trong các nghiên cứu về dự báo dòng tiền, từ đó đề xuất hướng tiếp cận phù hợp cho nghiên cứu của mình.
Ch ươ ng 3: Xây d ự ng gi ả thuy ế t khoa h ọ c và ph ươ ng pháp nghiên c ứ u
Dựa trên cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu trong Chương 2, Chương 3 của Luận án, đề xuất các giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh sử dụng phương pháp định lượng Phương pháp này áp dụng kỹ thuật hồi quy OLS, REM, FEM và hồi quy từng bước qua 5 mô hình: mô hình lợi nhuận, mô hình dòng tiền, mô hình các thành phần dồn tích gộp chung, mô hình các thành phần dồn tích cụ thể và mô hình tỷ suất dòng tiền.
Chương 4 trình bày kết quả thực nghiệm về dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cung cấp cái nhìn toàn diện về khả năng dự đoán dòng tiền dựa trên dữ liệu thực tế Các phân tích trong chương cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hoạt động kinh doanh và dòng tiền, góp phần nâng cao hiệu quả dự báo tài chính cho các doanh nghiệp Việt Nam Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng mô hình dự báo có thể ứng dụng trong quản lý rủi ro và ra quyết định đầu tư của nhà đầu tư trong thị trường chứng khoán.
Chương 4 của Luận án cung cấp tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc điểm các công ty niêm yết phi tài chính và công tác dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Phần tiếp theo trình bày phân tích mô tả thống kê và phân tích tương quan các biến trong mô hình dự báo nhằm nâng cao độ chính xác dự báo Trong phần kết, Luận án trình bày kết quả hồi quy của 5 mô hình dự báo đã xây dựng, gồm hồi quy bình phương nhỏ nhất thường, hồi quy cố định, hồi quy ngẫu nhiên (OLS, FEM, REM) và phương pháp hồi quy từng bước, giúp đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đối với dòng tiền của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Ch ươ ng 5: Th ả o lu ậ n k ế t qu ả nghiên c ứ u, các khuy ế n ngh ị và k ế t lu ậ n
Từ kết quả hồi quy các mô hình dự báo dòng tiền ở Chương 4, trong Chương
Trong quá trình nghiên cứu, năm luận án sẽ tiến hành kiểm định các mô hình và dựa vào giá trị của hệ số xác định hiệu chỉnh (Adjusted R 2) để lựa chọn mô hình phù hợp nhất giữa các phương pháp OLS, REM và FEM Kết quả về khả năng dự báo dòng tiền của các yếu tố nghiên cứu sẽ được trình bày rõ trong Chương 5 Phần cuối của Chương 5 cung cấp các đề xuất, khuyến nghị dành cho các cơ quan quản lý nhà nước, nhà quản trị doanh nghiệp và nhà đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và đầu tư dựa trên các kết quả nghiên cứu.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÒNG TIỀN VÀ DỰ BÁO DÒNG TIỀN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Cơ sở lí luận về dòng tiền và dự báo dòng tiềntrong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
2.1 Cơ sở lí luận về dòng tiền và dự báo dòng tiềntrong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
2.1.1 Đặ c đ i ể m thông tin k ế toán theo c ơ s ở d ồ n tích và k ế toán theo c ơ s ở ti ề n Đặc điểm thông tin kế toán phụ thuộc rất nhiều vào cách ứng xử của kế toán đối với các nghiệp vụ kinh tế Nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi nhận trên sổ kế toán dựa trên cơ sở số tiền thực tế doanh nghiệp đã thu vào hay chi ra được gọi là kế toán theo cơ sở tiền, dựa trên cơ sở bản chất của nghiệp vụ kinh tế, không phụ thuộc vào số tiền doanh nghiệp thu hay chi được gọi là kế toán theo cơ sở dồn tích Mỗi cơ sở ghi nhận của kế toán đều có đặc điểm riêng Để phục vụ công tác dự báo dòng tiền từ HĐKD tương lai, cần tính đến vai trò của cả thông tin kế toán theo cơ sở tiền và thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích
Kế toán theo cơ sở dồn tích ghi nhận doanh thu và chi phí tại thời điểm phát sinh giao dịch, không dựa vào thời điểm thu hoặc chi tiền, giúp phản ánh chính xác hoạt động kinh tế của doanh nghiệp (Bernard, V., & Stober, T., 1989; Chambers, R.J, 1996) Các khoản chi phí trong kỳ được ghi nhận phù hợp với doanh thu tạo ra trong kỳ đó, đảm bảo tính chính xác của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính theo phương pháp này không chỉ cung cấp thông tin về các hoạt động trong quá khứ mà còn thể hiện các nghĩa vụ phải trả hoặc quyền thu tiền trong tương lai, tạo sự minh bạch và đáng tin cậy Hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích, trong đó Châu Âu đã chuyển từ kế toán theo phương pháp tiền tệ sang phương pháp dồn tích kể từ năm 1978 (Fourth EU Accounting Directive, 1978) Tại Hoa Kỳ, các doanh nghiệp bắt buộc sử dụng kế toán theo cơ sở dồn tích khi lập báo cáo tài chính để phản ánh khả năng tạo tiền của doanh nghiệp thay vì chỉ cung cấp thông tin về thu chi đã thực hiện (FASB, 1978).
Những đặc điểm thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích:
Thứ nhất, lợi nhuận mỗi kỳ kế toán được xác định trên cơ sở doanh thu và chi phí của kỳ đó
Lợi nhuận doanh nghiệp bao gồm hai thành phần chính: số tiền thực thu trừ đi số tiền thực chi trong kỳ và các khoản doanh nghiệp dự kiến thu hoặc phải chi trong tương lai, như doanh thu từ bán chịu, chi phí trích trước, chi phí phải trả, và chi phí khấu hao tài sản cố định Điều này có nghĩa là lợi nhuận không chỉ phản ánh thành quả tài chính thực tế mà còn bao gồm các thành phần phi tiền tệ, còn gọi là các thành phần thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích Mối quan hệ giữa lợi nhuận trong kỳ và các thành phần thông tin kế toán này được thể hiện qua phương trình đặc trưng, giúp hiểu rõ hơn về cách xây dựng và phân tích lợi nhuận dựa trên dữ liệu kế toán theo phương pháp dồn tích.
Lợi nhuận = Dòng tiền thuần + Các thành phần dồn tích có trong lợi nhuận(2.1)
(Nguồn: Cheng và Hollie, 2008; Dechow, 1994; Dechow và Dichev, 2002;
Thông tin kế toán theo phương pháp dồn tích chịu ảnh hưởng bởi các ước tính và đánh giá chủ quan, như lựa chọn phương pháp tính khấu hao tài sản cố định hay giá hàng tồn kho Theo Graham và cộng sự (2005), khi doanh nghiệp có khả năng lựa chọn phương pháp ghi sổ, chất lượng thông tin lợi nhuận công bố có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến việc lợi nhuận bị bóp méo hoặc khai khống, đặc biệt thường xảy ra trước mỗi đợt phát hành cổ phiếu (Erickson và Wang, 1999; Teoh, Wong và Rao, 1998).
[130] hay mỗi khi doanh nghiệp bắt đầu ký kết hợp đồng vay nợ (DeFond và Jiambalvo, 1998; Watts và Zimmerman, 1986) [69, [132]
Thứ ba, kế toán theo cơ sở dồn tích cung cấp thông tin hữu ích và toàn diện
Kế toán dồn tích không chỉ cung cấp thông tin về các nghiệp vụ đã thu, chi mà còn dự báo các nghiệp vụ sẽ thu và phải chi trong tương lai, giúp các đối tượng sử dụng đánh giá tổng thể tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự kiến trong tương lai Theo Bierman (1988/1992), phương pháp này giúp cung cấp cái nhìn toàn diện về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, hỗ trợ quản lý và ra quyết định hiệu quả hơn.
Kế toán theo cơ sở tiền ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế dựa trên số tiền doanh nghiệp đã thực thu hoặc thực chi, trong đó doanh thu được ghi nhận khi đã thu tiền, chi phí được ghi nhận khi đã chi tiền, và lợi nhuận là chênh lệch giữa thu và chi trong kỳ Khác với kế toán theo cơ sở dồn tích, kế toán theo cơ sở tiền mặt ít có quy định về phương pháp khấu hao tài sản cố định và phương pháp ghi nhận doanh thu (Elliott và Elliott, 2007) [73].
Kế toán theo cơ sở tiền ghi nhận thông tin tại thời điểm doanh nghiệp nhận tiền hoặc chi tiền, bất kể xuất xứ của nghiệp vụ thu hay chi, như bán hàng hay phát sinh nghĩa vụ nợ phải trả Điều này có thể dẫn đến thiếu phù hợp của thông tin kế toán và không thể hiện chính xác thời điểm phát sinh các nghiệp vụ tài chính Ngoài ra, phương pháp này dễ gây hiểu lầm cho người sử dụng báo cáo tài chính về kết quả kinh doanh trong kỳ do mất cân đối giữa thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí.
Thông tin kế toán theo cơ sở tiền mặt có tính khách quan và dễ hiểu hơn so với cơ sở dồn tích Đây là phương pháp phù hợp để phản ánh chính xác các khoản thu, chi khi phát sinh, giúp doanh nghiệp nắm bắt tình hình tài chính một cách rõ ràng và minh bạch hơn Trong khi đó, thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích phản ánh các khoản thu chi khi phát sinh, dù cung cấp thông tin toàn diện hơn về tình hình tài chính dài hạn nhưng có độ phức tạp cao và ít dễ hiểu đối với người đọc Do đó, việc lựa chọn giữa hai cơ sở này cần dựa trên mục đích và đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
Thông tin kế toán theo cơ sở tiền mặt được đánh giá là đáng tin cậy hơn so với cơ sở dồn tích vì nó ghi nhận chính xác dòng tiền thực tế của doanh nghiệp mà không dựa trên các dự tính tương lai (Elliott và Elliott, 2007) Các chuyên gia kế toán thường ưa chuộng kế toán theo cơ sở dồn tích, trong khi nhà đầu tư lại ưu tiên sử dụng thông tin theo cơ sở tiền mặt vì tính khách quan cao hơn (Murdoch và cộng sự, 1989; Athukorala và Reid, 2003; Elliott và Elliott, 2007) Thông tin kế toán theo cơ sở tiền mặt ít bị ảnh hưởng bởi các chính sách kế toán khác nhau của doanh nghiệp, giúp so sánh hoạt động kinh doanh giữa các công ty một cách chính xác hơn (Chotkunakitti, 2005; IASB, 2001).
Thứ hai, thông tin kế toán theo cơ sở tiền kém toàn diện hơn kế toán theo cơ sở dồn tích
Kế toán theo cơ sở tiền chỉ phản ánh các nghiệp vụ đã thu tiền và đã chi tiền, nhưng không thể ghi nhận các nghiệp vụ sẽ thu hoặc chi tiền trong tương lai, dẫn đến thông tin kế toán thiếu toàn diện Ngoài ra, phương pháp này không thể thể hiện mối quan hệ giữa các nghiệp vụ kinh tế phát sinh qua các kỳ kế toán, đặc biệt là những nghiệp vụ bắt nguồn từ các kỳ trước Do đó, thông tin kế toán theo cơ sở tiền không có tính dự báo cho các kỳ kế toán tiếp theo, hạn chế sự phản ánh chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp (FASB, 1978).
Kế toán theo cơ sở tiền không ghi nhận tăng giá trị tài sản nếu chưa chi tiền, do đó không hỗ trợ quản lý tài sản, lập kế hoạch bảo dưỡng, xác định tài sản thừa hoặc kiểm soát rủi ro mất mát tài sản (Athukorala và Reid, 2003) Trong khi đó, kế toán theo cơ sở dồn tích cung cấp thông tin giúp người đọc báo cáo tài chính nhận biết các khoản thu và phải thanh toán của doanh nghiệp, từ đó đánh giá chính xác hơn về dòng tiền tương lai và khả năng thanh toán của doanh nghiệp (Athukorala và Reid, 2003).
Kế toán theo cơ sở dồn tích được khuyến khích áp dụng rộng rãi hơn so với kế toán theo cơ sở tiền, vì nó cung cấp thông tin lợi nhuận toàn diện và hữu ích Thông tin về dòng tiền, mặc dù là thông tin khách quan, chỉ mang tính bổ sung và không thể thay thế lợi nhuận trong phân tích tài chính (IASB, 2001) Tích hợp cả thông tin dòng tiền và lợi nhuận sẽ giúp doanh nghiệp dự báo tương lai chính xác hơn trong công tác quản lý tài chính.
2.1.2 M ố i quan h ệ dòng ti ề n v ớ i tình hình tài chính c ủ a các công ty niêm y ế t trên th ị tr ườ ng ch ứ ng khoán
Dòng tiền trong doanh nghiệp được ví như dòng máu trong cơ thể con người, đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động kinh doanh Mối quan hệ giữa dòng tiền và tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện rõ qua các khía cạnh quan trọng như khả năng duy trì hoạt động, thanh khoản và khả năng đầu tư Quản lý dòng tiền hiệu quả giúp doanh nghiệp duy trì sự ổn định tài chính và thúc đẩy phát triển bền vững Do đó, kiểm soát và tối ưu dòng tiền là yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Thứ nhất, dòng tiền là nhân tố quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp thể hiện qua số tiền doanh nghiệp sở hữu để trả nợ đúng hạn Một công ty có khả năng thanh toán là khi đủ tài chính để đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ, trong khi ngược lại là không khả thi Theo các chuyên gia cho vay, tiền là chủ thể chính trong quá trình cho vay và trả nợ Nghiên cứu của Fulmer, Gavin và Bertin (1991) trên 266 nhân viên tín dụng tại Mỹ cho thấy, 90% yêu cầu báo cáo dòng tiền hiện tại của doanh nghiệp trong hồ sơ vay vốn, và 80% yêu cầu kế hoạch dòng tiền dự kiến trong tương lai Các doanh nghiệp nhận được khoản vay thường có dòng tiền ổn định qua các năm, lợi nhuận đều đặn, đáp ứng các yêu cầu tài chính về tỷ suất và các yếu tố khách quan như quy mô, uy tín, mối quan hệ tín dụng, ngành nghề hoạt động và điểm tín dụng.
Dòng tiền có mối quan hệ mật thiết với chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp, khi mức cổ tức phụ thuộc vào khả năng chi trả dựa trên lợi nhuận và số tiền hiện có của doanh nghiệp (Charitou & Vafeas, 1998) Tại Việt Nam, Bộ Tài chính (2014) quy định rằng các doanh nghiệp cần xem xét các khoản mục phi tiền tệ trong lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, vì chúng có thể ảnh hưởng đến luồng tiền và khả năng chi trả cổ tức Trong giai đoạn khó khăn về tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế, lượng tiền khan hiếm, dẫn đến mức cổ tức thường bị giảm hoặc không có, khiến cổ đông cần quan tâm đến giá trị dòng tiền trong tương lai để đảm bảo quyền lợi cổ tức.
Thứ ba, tỷ suất dòng tiền là căn cứ đo lường kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp Giacomino & Mielke (1988/1993), Leonie Jooste (2006) [87],[88],
Tổng quan các nghiên cứu dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Các nghiên cứu về dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trên TTCK bắt đầu từ năm 1986, với công trình nổi bật của Bowen và cộng sự Những nghiên cứu này đã giúp hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và hiệu quả tài chính của công ty, góp phần nâng cao khả năng dự báo tài chính trong nền kinh tế thị trường.
Các nghiên cứu về lĩnh vực này bắt đầu từ các tác giả nổi bật như Greenberg và cộng sự (1986) tại Hoa Kỳ, Habib (2010) tại Australia, cùng với Austin L và Andrew B (1989) tại New Zealand Những công trình này đã góp phần mở rộng kiến thức toàn cầu và lan tỏa mạnh mẽ đến nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Ánh (2013).
[18] Các nghiên cứu dự báo dòng tiền từ HĐKD phong phú cả v ề ph ạ m vi nghiên c ứ u, v ề s ử d ụ ng cácnhân t ố d ự báovà v ề ph ươ ng phápd ự báo Cụ thể như sau:
Xét về không gian nghiên cứu: Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng dữ liệu trên
Báo cáo tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán được sử dụng trong nghiên cứu, trong khi các công ty tài chính bị loại bỏ do dữ liệu về các thành phần dồn tích như hàng tồn kho và các khoản phải thu không thể thu thập từ báo cáo của các công ty này (Chong, K W, 2012; Ebaid, 2011; Seng, 2006).
Nghiên cứu về các công ty phi tài chính thường phân chia thành các nhóm ngành như Dược phẩm, Hóa chất, Thực phẩm, Xây dựng, Xi măng và Vật liệu xây dựng, Sản xuất hàng tiêu dùng, Dệt may, Vận tải và Truyền thông, theo các khảo sát của Barth et al., 2001; Ebaid, 2011; Farshadfar et al., 2008; Zhao et al., 2007 Ngoài ra, nhiều tác giả cũng tiến hành khảo sát chung các doanh nghiệp qua các nhóm ngành hoặc mẫu doanh nghiệp trong cùng ngành nghề như Stammerjohan và Nasiripour, 2001; Seng, 2006; Mooi, 2007; Ebaid, 2011; Chotkunakitti, 2005; Nguyễn Hữu Ánh, 2013, hoặc tập trung vào các doanh nghiệp hoạt động trong một ngành nghề cụ thể, như Chong, 2012 nghiên cứu ngành công nghiệp tại Malaysia hay Jordan & Wallace, 2007 tập trung vào dự báo dòng tiền trong ngành dầu mỏ ở Hoa Kỳ.
Nghiên cứu dự báo dòng tiền trong từng lĩnh vực hay ngành cụ thể thường phục vụ nhóm đối tượng có mối quan tâm đặc thù, nhưng không thể bao quát toàn bộ thị trường Điều này khiến dữ liệu dự báo không đáp ứng được nhu cầu thông tin của các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế, giới hạn khả năng cung cấp thông tin toàn diện và đa dạng.
Xét về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu dự báo dòng tiền đầu tiên của Greenberg & cộng sự (1986) [93] sử dụng bộ dữ liệu 20 năm từ năm 1963 tới năm
1982 tại Hoa Kỳ Tiếp nối công trình của Greenberg & cộng sự (1986) [93], tại Hoa
Kỳ có nhiều nghiên cứu quan trọng về dự báo dòng tiền, như Finger (1994) sử dụng bộ dữ liệu dài 50 năm từ 1935 đến 1987, hay Dechow và cộng sự (1998) với bộ dữ liệu 30 năm từ 1963 đến 1992 Ngoài Hoa Kỳ, các nghiên cứu tại các quốc gia khác như Anh của Al-Altar (2004) trong 10 năm từ 1991 đến 2000, Thái Lan của Chotkunakitti (2005) trong 9 năm từ 1994 đến 2002, và Malaysia của Chong, K.W (2012) trong 11 năm từ 1999 đến 2009 cũng đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực này.
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng dữ liệu từ các năm trước 2010, phản ánh các yếu tố của thời điểm đó Trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay với nhiều biến động khó lường, việc cập nhật dữ liệu từ những năm gần đây trở nên vô cùng cần thiết Điều này giúp cung cấp thông tin chính xác và phù hợp với tình hình mới, hỗ trợ các quyết định và chính sách hiệu quả hơn trong thời kỳ đổi mới.
Các nhân tố dự báo dòng tiền từ HĐKD có thể chia thành các nhóm:
Nhóm th ứ nh ấ t, s ử d ụ ng l ợ i nhu ậ n trong quá kh ứ
Lợi nhuận kế toán theo cơ sở dồn tích có khả năng dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, như đã được đề cập trong Chuẩn mực Kế toán Hoa Kỳ (FASB, 1978) Nhà đầu tư thường quan tâm đến thông tin lợi nhuận hơn là dòng tiền để dự đoán dòng tiền tương lai, mặc dù FASB chưa có bằng chứng thực nghiệm xác nhận quan điểm này Nhiều nghiên cứu từ những năm 1990 đến nay đã tìm kiếm chứng cứ hỗ trợ mối liên hệ giữa lợi nhuận và dòng tiền, qua đó giúp các nhà đầu tư và nhà quản lý đưa ra quyết định chính xác hơn về tương lai tài chính của doanh nghiệp Do đó, lợi nhuận thường xuyên được xem là yếu tố quan trọng trong dự báo dòng tiền trong các nghiên cứu của các tác giả như McBeth (1993), Ali (1994), Finger (1994), Supriyadi (1998), Quirin và cộng sự (1999), Barth.
& cộng sự (2001) [41], Stammerjohan và Nasiripour (2001) [128], Jordan và Waldron, 2001 [99]; Al-Attar (2004) [25], Mooi, T.L (2007) [117], Zhao & cộng sự
Trong các nghiên cứu trước đây, lợi nhuận thường được đưa vào mô hình dự báo dựa trên lợi nhuận của năm trước hoặc có độ trễ từ 2 đến 4 năm để dự đoán dòng tiền tương lai của doanh nghiệp (Chong, K.W, 2012; Nguyễn Hữu Ánh, 2013; Stammerjohan et al., 2000/2001; Chotkunakitti, 2005) Một số tác giả đã sử dụng lợi nhuận thuần sau các biến đổi như chia lợi nhuận cho tổng tài sản của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp đến kết quả nghiên cứu (Stammerjohan et al., 2000/2001; Farshadfar, 2008; Ebaid, 2011) hoặc chia lợi nhuận cho giá trị cổ phần bình quân (Murdoch et al., 1989/1990) hoặc số lượng cổ phiếu đang lưu hành (Barth et al., 2001; Zhao, 2007) Dù sử dụng lợi nhuận gốc hay đã biến đổi, các tác giả đều đồng ý rằng lợi nhuận là yếu tố dự báo khả năng dòng tiền trong tương lai của các công ty Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất về nhân tố dự báo hay mô hình dự báo nào trong các mô hình (mô hình lợi nhuận, mô hình dòng tiền, mô hình kết hợp dòng tiền và các thành phần tích luỹ trong lợi nhuận) có khả năng dự báo chính xác hơn (Ebaid, 2011; Farshadfar et al., 2008; Stammerjohan et al., 2000/2001; Seng, 2006).
Nhómth ứ hai, dòng ti ề n t ừ H Đ KD trong quá kh ứ
Nhiều học giả công nhận khả năng dự báo dòng tiền tương lai dựa trên dòng tiền quá khứ Các nghiên cứu về dự báo dòng tiền sử dụng dữ liệu quá khứ như là nhân tố chính, trong đó dữ liệu dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) có thể được lấy từ hai nguồn chính: (1) Dòng tiền được ước tính dựa trên quan điểm chủ quan của nhà nghiên cứu, và (2) Dòng tiền từ HĐKD được trích xuất trực tiếp từ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Các nghiên cứu của Largay & Stickney (1980) [107], Gombola, M.J and Ketz, J.E (1983a) [89], Greenberg & cộng sự (1986) [93], Bowen & cộng sự (1986)
[47], Percy & Stokes (1992) [120], Finger (1994) [78], Austin, L và Bradbury, M.E (1995) [36], Laitinin,E.K (1994) [105], Jordan và Waldron (2001)[99] đã sử dụng giá trị dòng tiền ước tính
Các nghiên cứu của McBeth (1993) [112], Finger (1994) [78], Barth và cộng sự (2001) [41], Al-Attar (2004) [25], Chotkunakitti, (2005) [61],Mooi, T.L, (2007) [117]; Farshadfar và cộng sự (2008) [76]; Ebaid (2011) [72], Chong K.W (2012)
[62], Nguyễn Hữu Ánh (2013) [18], Đỗ Hồng Nhung (2014) [12], Arthur, N & Chuang, G.C.H (2006/2007) [32], [33] đã sử dụng thông tin dòng tiền trực tiếp từ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ thường được sử dụng làm yếu tố dự báo cho dòng tiền tương lai, với nghiên cứu chỉ ra rằng dòng tiền của 1 năm trước hoặc nhiều năm trước (Barth và cộng sự, 2001; Ebaid, 2011; Chong, K.W, 2012; Mooi, T.L, 2007) có khả năng dự báo hiệu quả Nhiều nghiên cứu đã nhất trí về khả năng dự báo này dựa trên bằng chứng thực nghiệm Bên cạnh đó, các tác giả còn so sánh khả năng dự báo dòng tiền từ các loại dòng tiền khác nhau và khi kết hợp các yếu tố dự báo, qua đó thể hiện các mô hình dự báo như mô hình dòng tiền, mô hình lợi nhuận hoặc mô hình kết hợp dòng tiền và thông tin tích cực dồn tích Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất rõ ràng về yếu tố hoặc mô hình dự báo nào là hiệu quả nhất.
Nhóm th ứ ba: k ế t h ợ p dòng ti ề n t ừ H Đ KD trong quá kh ứ v ớ i t ổ ng các thành ph ầ n thông tin k ế toán d ồ n tích có trong l ợ i nhu ậ n (chênh l ệ ch gi ữ a l ợ i nhu ậ n t ừ H Đ KD v ớ i dòng ti ề n t ừ H Đ KD)
Các nhà nghiên cứu như: Barth & cộng sự (2001), Al – Altar (2003), Ebaid
(2011), Chong, K.W (2012), Ehsan Khansalar (2012) [74], Laura Arnedo (2012)
Lợi nhuận theo cơ sở kế toán dồn tích gồm hai thành phần chính: thành phần tiền tệ thể hiện lợi nhuận thực bằng tiền và thành phần phi tiền tệ phản ánh lợi nhuận dưới dạng quyền thu tiền chưa thực hiện được, như từ bán hàng nhưng chưa thu tiền Do đó, khi dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai, các nghiên cứu đã kết hợp cả thành phần tiền tệ và phi tiền tệ để làm yếu tố dự báo chính Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy mô hình tích hợp dòng tiền và các thành phần kế toán dồn tích có khả năng dự báo chính xác dòng tiền tương lai hơn so với các mô hình chỉ dựa trên dòng tiền hoặc lợi nhuận riêng lẻ (Barth et al., 2001; Al-Altar, 2003; Ebaid, 2011; Chong, 2012) Nghiên cứu của Al-Altar (2003) đã chỉ ra rằng mô hình kết hợp này có khả năng dự báo tốt hơn các mô hình chỉ sử dụng dòng tiền hoặc lợi nhuận đơn lẻ.
2 mô hình kia nhưng nghiên cứu của Stammerjohan & cộng sự (2000/2001) lại cho rằng chưa có bằng chứng đủ mạnh để kết luận
Nhóm thứ nhất liên quan đến kết hợp dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ với các thành phần thông tin kế toán đốn tích cực như chi phí và hao phí tài sản cố định, sự tăng hoặc giảm trong các khoản phải thu, chi phí trả trước, hàng tồn kho và các khoản phải trả, giúp phản ánh chính xác hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh được xác định qua việc điều chỉnh lợi nhuận trước thuế dựa trên các khoản chi phí khấu hao tài sản cố định và sự thay đổi của vốn lưu động như phải thu, hàng tồn kho, phải trả và các thành phần thông tin dồn tích khác trong lợi nhuận, phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam Các nghiên cứu của Barth cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều chỉnh này trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp, giúp phản ánh chính xác dòng tiền thực tế từ hoạt động kinh doanh.
Nhiều nghiên cứu như của cộng sự (2001), Chotkunakitti (2005), Ebaid (2011), và Chong, K.W (2012) đã chỉ ra rằng việc sử dụng các yếu tố như chi phí khấu hao tài sản cố định, sự thay đổi trong các khoản phải thu, hàng tồn kho, các khoản phải trả và các thành phần thông tin dồn tích khác trong lợi nhuận giúp cải thiện khả năng dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai Hầu hết các tác giả đều đồng ý rằng mô hình dự báo dựa trên các nhân tố này có hiệu quả hơn so với các mô hình chỉ dựa vào lợi nhuận hoặc dòng tiền thuần túy Tuy nhiên, nghiên cứu của Chotkunakitti (2005) tại Thái Lan lại cho thấy mô hình sử dụng dòng tiền thuần túy có khả năng dự báo tốt hơn cả mô hình kết hợp dòng tiền với các thành phần kế toán dồn tích, dù đã tách rời hoặc cộng gộp Vì vậy, việc phân tích các thành phần dồn tích như chi phí khấu hao, biến động của các khoản phải thu và phải trả trong dự báo dòng tiền và so sánh với các yếu tố khác vẫn là vấn đề đang tranh luận trong lĩnh vực nghiên cứu tài chính và kế toán.
Nhóm th ứ n ă m: các t ỷ su ấ t tài chính v ề dòng ti ề n
Khoảng trống nghiên cứu
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu ở trên, luận án nhận ra một số
“khoảng trống” của các nghiên cứu trước đây như sau:
Các nghiên cứu về dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh thường tập trung chủ yếu vào các nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Australia Trong khi đó, nghiên cứu về dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ bắt đầu trong vài năm gần đây, và số lượng còn rất hạn chế Do đó, cần thúc đẩy thêm các nghiên cứu về vấn đề này nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho khả năng dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dựa trên thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả công tác dự báo tài chính trong môi trường kinh tế Việt Nam.
Các nghiên cứu dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) chủ yếu dựa trên các thông tin kế toán cơ bản như lợi nhuận quá khứ, dòng tiền quá khứ và các thành phần dồn tích trong lợi nhuận như chi phí khấu hao Tuy nhiên, các thông tin kế toán khác như tỷ suất dòng tiền cũng có tiềm năng trở thành yếu tố dự báo dòng tiền tương lai, mặc dù chưa được nghiên cứu đầy đủ Do đó, khi phân tích dự báo dòng tiền từ HĐKD trong tương lai, việc xem xét các tỷ suất tài chính liên quan đến dòng tiền là rất cần thiết để nâng cao độ chính xác của dự báo.
Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ lập dự toán tiền mặt hoặc ngân quỹ dựa trên các giả định cố định, thiếu phương pháp dự báo dòng tiền khoa học Việc chủ yếu dựa vào suy luận và kinh nghiệm của nhân viên lập kế hoạch khiến kết quả thường chưa được kiểm định chính xác Trang bị thêm các phương pháp định lượng khoa học phù hợp chắc chắn sẽ cải thiện năng lực dự báo dòng tiền, mang lại kết quả chính xác hơn và hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định hiệu quả hơn.
Thứ nhất, theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 24 “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”, thông tin về các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) là yếu tố then chốt giúp dự báo chính xác dòng tiền trong tương lai Khi kết hợp với các dữ liệu tài chính khác, những thông tin này hỗ trợ người sử dụng phân tích và dự đoán xu hướng dòng tiền của doanh nghiệp hiệu quả hơn Do đó, cần tiến hành các nghiên cứu bổ sung để xác định các loại thông tin tài chính hữu ích trong dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, từ đó nâng cao phương pháp dự báo dòng tiền cho các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Trong các nghiên cứu dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu định lượng, trong khi các kỹ thuật hồi quy khác như hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM), hồi quy ảnh hưởng cố định (FEM) và hồi quy từng bước (step-wise) còn ít được áp dụng Việc tích hợp các kỹ thuật thống kê mới này có thể làm phong phú kết quả dự báo, kiểm soát tốt hơn các yếu tố ảnh hưởng và giảm thiểu sai số dự báo Do đó, các nghiên cứu về dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cần thiết phải nghiên cứu và áp dụng các phương pháp thống kê tiên tiến này để nâng cao độ chính xác và hiệu quả của dự báo.
Thứ sáu, các nghiên cứu dự báo dòng tiền thường tập trung vào phạm vi thời gian trước năm 2010, trong đó nghiên cứu của Barth và cộng sự nổi bật.
(2001) từ năm 1987 đến 1996, nghiên cứu của Greenberg & cộng sự (1986) từ năm
1963 đến 1982, gần đây có nghiên cứu của Ebaid (2011) sử dụng dữ liệu từ năm
1999 đến 2007 hay nghiên cứu của Chong, K.W (2012) sử dụng dữ liệu từ năm
Trong giai đoạn 1999 đến 2009, nền kinh tế toàn cầu liên tục biến động và chịu ảnh hưởng của nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, làm cho dữ liệu kế toán cũng liên tục thay đổi Những thay đổi này có thể dẫn đến sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu so với các thời kỳ trước, do đó, cần thực hiện các nghiên cứu sử dụng dữ liệu gần với hiện tại để cung cấp các bằng chứng cập nhật về khả năng dự báo dòng tiền.
Chương 2 Luận án đã trình bày những vấn đề lí luận cơ bản về dòng tiền và công tác dự báo dòng tiền của các công ty niêm yết trên TTCK và tổng quan các nghiên cứu dự báo dòng tiền Về cơ sở lí luận, Luận án đã phân tích đặc điểm thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích và đặc điểm kế toán theo cơ sở tiền bởi đây chính là nền tảng vững chắc giúp Luận án xây dựng được mô hình dự báo dòng tiền (sử dụng dòng tiền hay lợi nhuận làm nhân tố dự báo) Bên cạnh đó, Chương 2 Luận án cũng nêu bật được tầm quan trọng của dự báo dòng tiền và các nhân tố ảnh hưởng tới dự báo dòng tiền Về tổng quan các nghiên cứu dự báo dòng tiền, Luận án đã chỉ ra được: các nghiên cứu dự báo dòng tiền khá đa dạng cả về nhân tố dự báo, phương pháp dự báo tuy nhiên kết quả dự báo còn chưa thống nhất nhân tố nào, mô hình dự báo nào có khả năng dự báo dòng tiền hữu hiệu nhất Trên cơ sở lí luận về dự báo dòng tiền và tổng quan thực tế các nghiên cứu dự báo dòng tiền, Chương 2 Luận án đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu cần thực hiện.