1. Trang chủ
  2. » Tất cả

17 2022 03 29 14 18 31 phuyen, bcth ktxh quyi 2022 202203251425500142582 202203251427114932013

40 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề 17 2022 03 29 14 18 31 Phuyen, BCTH KTXH Quyi 2022 202203251425500142582 202203251427114932013
Trường học Phu Yen University
Chuyên ngành Unknown
Thể loại Unknown
Năm xuất bản 2022
Thành phố Phu Yen
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 3,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, dữ liệu hiện có cho thấy các hoạt động kinh tế trong nước tiếp tục phục hồi, với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,5%, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tăng 3,1%

Trang 10

Trong năm 2022, Kinh tế toàn cầu được dự báo giảm so với các dự báo đưa

ra trước đó Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế nhận định cuộc xung đột giữa Nga và U-cờ-rai-na đã tạo ra một cuộc khủng hoảng lớn ảnh hưởng đến hàng triệu người và là một cú sốc kinh tế nghiêm trọng làm tăng trưởng toàn cầu có thể giảm

hơn 1 điểm phần trăm trong năm 2022, từ mức dự báo 4,5% đưa ra vào tháng

12/2021.

Theo ấn phẩm Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 3/2022, số ca mắc Covid-19 mới tăng đột biến, lên đến hơn 100.000 ca mỗi ngày trong nửa cuối tháng 2 sau kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán, khiến các chỉ số di chuyển chính giảm Tuy nhiên, dữ liệu hiện có cho thấy các hoạt động kinh tế trong nước tiếp tục phục hồi,

với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,5%, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước Giá năng lượng tăng nhưng lạm phát tiếp tục được kiềm chế nhờ giá lương thực, thực phẩm tương đối ổn định và nhu cầu trong nước còn yếu Nhu cầu tín dụng vẫn cao sau Tết Nguyên Đán khiến lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng giữ ở mức 2,56% vào thời điểm cuối tháng 2, so với mức dưới 1% cuối năm 2021 Cân đối ngân sách thặng dư 1,1 tỷ USD trong tháng 2/2022 do kết quả thu ngân sách tốt Chi ngân sách tăng nhờ cải thiện tiến độ giải ngân đầu tư công Mặc dù nền kinh tế tiếp tục cho thấy khả năng

chống chịu và đang phục hồi, nhưng rủi ro đã tăng cao do các ca nhiễm Omicron đang diễn ra trên cả nước; xung đột giữa Nga và U-cờ-rai-na làm gia tăng tính bất định về phục hồi kinh tế toàn cầu, tạo ra những căng thẳng mới đối với chuỗi cung ứng toàn cầu và tăng áp lực lạm phát

Ở trong tỉnh, các hoạt động kinh tế trong quý I/2022 đã chuyển sang trạng thái bình thường mới Các cấp, các ngành tập trung chuẩn bị và tổ chức tốt các hoạt động đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, đảm bảo mọi người, mọi nhà đều đón Tết trong không khí đầm ấm, lành mạnh, an toàn Các hoạt động dịch vụ như dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống và các dịch vụ vui chơi giải trí diễn ra nhộn

nhịp do nhu cầu sử dụng của người dân trong tỉnh và khách du lịch ngoài tỉnh đến Phú Yên tăng mạnh Tuy nhiên, sau Tết Nguyên đán, số ca lây nhiễm Covid-19

có chiều hướng gia tăng nên tỉnh đã chỉ đạo tăng cường kiểm tra việc chấp hành các quy định phòng, chống dịch Covid-19 theo các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh, nhất là tại các địa bàn, khu vực có nguy cơ cao Với sự quyết tâm, chung sức, đồng lòng, quyết liệt vào cuộc của cả hệ thống chính trị và Nhân dân toàn tỉnh trong triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện “mục tiêu kép” nên tình hình kinh tế và an sinh xã hội trong quý I/2022 duy trì được sự ổn định và

176

Trang 11

đang có sự phục hồi và phát triển Dự ước tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh

tế - xã hội quý I/2022 như sau:

1 Tình hình s ản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Ngành nông, lâm nghi ệp và thủy sản hoạt động ổn định và tăng trưởng là

nh ờ sự đóng góp của Công ty TNHH trang trại Bò sữa công nghệ cao Phú Yên (ở huy ện Sơn Hòa) bắt đầu khai thác Sữa tươi với sản lượng ước quí I/2022 đạt 1.250 t ấn; Công ty Cổ phần Nông nghiệp BaF Việt Nam đã tổ chức khánh thành

và đưa vào hoạt động trang trại chăn nuôi heo quy mô 5.000 con heo nái theo mô hình tại xã Ea Trol, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên

- Tính đến ngày 15/3/2022, toàn tỉnh gieo trồng được 26,6 ngàn ha lúa đông xuân, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh - thu hoạch, đến nay đã thu hoạch 377 ha, năng suất ước đạt 50 tạ/ha Các cây trồng khác đã gieo trồng như: Ngô 1.707 ha, tăng 0,5%; rau các loại 3.590 ha, tăng 1,7%; đậu các loại 1.247 ha, tăng 0,2%; lạc 247 ha, tăng 0,4%; đậu tương 65 ha, tăng 3,2%, so với cùng kỳ năm trước

Trong quý I/2022, sản lượng thu hoạch một số cây công nghiệp lâu năm như: Điều 58 tấn, giảm 3,3%; hồ tiêu 354 tấn, tăng 1,1%; cao su 1.250 tấn, tăng 4,2% Sản lượng một số loại cây ăn quả chủ yếu: Chuối 5.713 tấn, tăng 1,1%; dứa 4.200 tấn, tăng 4,2%; xoài 132 tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước

Một số đối tượng sâu bệnh gây hại: Trên cây lúa, bệnh khô vằn gây hại 22,5

ha, bệnh thối thân gây hại 15 ha, rầy nâu gây hại 20 ha, bệnh đen lép hạt gây hại

5 ha, sâu đục thân gây hại 2,8 ha ; rau các loại, bọ nhảy gây hại 1,2 ha; cây ngô,

sâu keo mùa thu gây hại diện tích nhiễm nhẹ 8,3 ha ở giai đoạn sinh trưởng 3 đến

7 lá - trỗ cờ tại các huyện trong tỉnh; cây sắn, bệnh khảm lá virus gây hại với tổng

diện tích nhiễm bệnh 10.077 ha (niên vụ 2021-2022 nhiễm bệnh 3.750 ha và niên

vụ 2022-2023 nhiễm bệnh 6.327 ha); cây mía, bệnh đốm vàng phát sinh gây hại

diện tích nhiễm nhẹ 190 ha tại huyện Sơn Hòa

- Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định Chăn nuôi lợn và gia cầm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của dân cư trong dịp Tết Nguyên đán Mô hình chăn nuôi lợn theo hình thức gia trại và trang trại với phương thức nuôi công nghiệp hoặc bán công nghiệp có xu hướng phát triển tại nhiều địa phương Ước tính tổng đàn lợn 137,3 ngàn con, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm 4.081 ngàn con, tăng 0,2%, trong đó: Đàn gà 3.343 ngàn con, tăng 4,7%; số lượng đàn trâu, bò có giảm nhưng không đáng kể là do giá thịt hơi giảm, đầu tư ít lãi nên người chăn nuôi có hướng giảm số lượng đầu con nuôi mà tăng trọng lượng khi xuất chuồng, đàn trâu 5.825 con, giảm 1,3%; đàn bò 165.507 con, giảm 0,7%

so với cùng kỳ năm trước

Sản lượng thịt hơi gia súc xuất chuồng 11.211,6 tấn, tăng 2,6%, gồm: Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 82 tấn, tăng 2,8%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng 4.580 tấn, tăng 4,1%; sản lượng lợn hơi xuất chuồng 6.550 tấn, tăng 1,7%

so với cùng kỳ năm trước Công ty TNHH trang trại Bò sữa công nghệ cao Phú Yên (ở huyện Sơn Hòa) bắt đầu khai thác sữa tươi với sản lượng ước tính qúy

Trang 12

3 I/2022 đạt 1.250 tấn Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 4.573 tấn, tăng 3,4%, trong đó: Sản lượng thịt gà 3.950 tấn, tăng 3,1%; sản lượng trứng gia cầm gần 45,5 triệu quả, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước

Tình hình dịch bệnh ở động vật trên địa bàn tỉnh ổn định, không xảy ra các

bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, viêm da nổi cục ở trâu bò, lở mồm long móng

- Về công tác tiêm phòng vaccine đợt I/2022 cho gia súc, gia cầm từ ngày 01/3/2022; vắc xin LMLM trâu, bò tiêm được 17.350 con; vắc xin viêm da nổi

cục trâu, bò tiêm được 25.360 con; vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò tiêm được 5.250 con; vắc xin dại chó tiêm được 4.085 con; vắc xin cúm gia cầm tiêm được 24.500 con

1.2 Lâm nghi ệp

Trong quý I/2022 ước tính khai thác 265 ha rừng trồng tập trung với sản lượng 22.500 m3, tăng 1,6%; củi khai thác 2.550 ster, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước

Từ đầu năm đến nay, đã tổ chức tuần tra rừng và kiểm soát lâm sản phát

hiện 61 vụ, trong đó: 18 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại 11,35 ha; 04 vụ khai thác rừng trái pháp luật, 01 vụ vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng; 10 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật; 28 vụ tàng

trữ, mua bán, chế biến lâm sản trái pháp luật Xử lý vi phạm 49 vụ; trong đó: 17

vụ chuyển cơ quan CSĐT hình sự, 32 vụ vi phạm hành chính; lâm sản tịch thu 41,02 m3; tiền nộp ngân sách Nhà nước 454,6 triệu đồng (tiền bán tang vật phương

tiện tịch thu 410,6 triệu đồng; tiền nộp phạt 44 triệu đồng)

Tình hình dịch bệnh trên tôm thẻ chân trắng có 10 ha nuôi khoảng 20 đến

42 ngày tuổi bị hoại tử gan tụy cấp, chủ yếu ở thị xã Đông Hòa Các ngành chức năng đã hướng dẫn các biện pháp xử lý, tiêu độc hồ nuôi theo quy định, tiếp tục theo dõi không để dịch bệnh lây lan sang diện rộng

Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ước đạt 17.792 tấn, tăng 6,3%

so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 14.655 tấn, tăng 3,4%; tôm 1.013 tấn, gấp 2,2 lần; thủy sản các loại 2.124 tấn, tăng 1,1%

+ Sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 16.882 tấn, tăng 3 % so với cùng

kỳ năm truớc, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản biển 16.804 tấn, tăng 3,1%, chia ra: Cá các loại 14.530 tấn, tăng 3,4 %; tôm 158 tấn, tăng 3,4%; thủy sản khác 2.116 tấn, tăng 1,2% Sản lượng khai thác thủy sản nội địa 78 tấn, giảm 8,2 % so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá các loại 70 tấn, giảm 6,7%, thủy sản khác 08

tấn, giảm 20% Nguyên nhân giảm là do nước thải sinh hoạt đổ ra sông, kênh

Trang 13

mương gây ô nhiễm nguồn nước; nguồn lợi thủy sản nội địa không sinh sản, phát triển kịp thời cho việc khai thác, một số ao hồ san lấp mặt bằng xây dựng các công trình nên thủy sản nội địa ngày càng cạn kiệt

+ Sản lượng thủy sản nuôi trồng 910 tấn, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Tôm 855 tấn, gấp 2,8 lần (tôm thẻ chân trắng 655 tấn, gấp 4,4

lần, tôm hùm 200 tấn, tăng 25%); cá nuôi lồng các loại 55 tấn, tăng 36,8% Sản lượng tôm tăng mạnh chủ yếu thu hoạch 88,7 ha tôm thẻ chân trắng của thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu, thị xã Đông Hòa và doanh nghiệp nuôi tôm thẻ siêu thâm canh, năng suất bình quân 7,4 tấn/ha Sản lượng cá nuôi lồng, tôm hùm tăng

so với cùng kỳ là do năm trước ảnh hưởng tình hình dịch bệnh Covid-19, giá các

loại sản phẩm nuôi trồng giảm nên người dân phải nuôi cầm chừng Năm nay, các ngành kinh tế hoạt động bình thường trở lại, một số sản phẩm nuôi trồng được xuất khẩu nên giá bán tăng

2 Sản xuất công nghiệp

Ho ạt động công nghiệp từng bước phục hồi và có mặt phát triển Các doanh nghi ệp thể hiện sự quyết tâm, nỗ lực ngay từ những ngày đầu ra quân với mong

mu ốn đạt được những thành công mới, hoàn thành thắng lợi kế hoạch sản xuất, góp phần quan trọng vào sự phục hồi và phát triển của tỉnh

Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tháng 3/2022 tăng 4,6% so với cùng

kỳ năm trước, tính chung quý I/2022 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,6% so

với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 5,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,9%1; sản xuất, phân phối điện, hơi nước tăng 7,1%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 4,3%

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) ước tính quý I/2022 tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, phân theo ngành công nghiệp cấp I như sau:

+ Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước Tăng chủ yếu là sản phẩm đá xây dựng các loại quý I năm 2022 ước đạt 199,8 ngàn m3, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm

+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước,

tiếp nối đà phục hồi kinh tế sau dịch Covid-19, ngay từ những ngày đầu năm mới (sau Tết), các doanh nghiệp đã phấn khởi ra quân, quyết tâm đẩy mạnh sản xuất nên các sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn giữ được nhịp độ tăng so với cùng kỳ năm trước, một số sản phẩm tăng như: Viên nén các loại 2.076 m3, tăng 15%; bia các loại 9.365 ngàn lít, tăng 10,8%; thuốc viên các loại 523 triệu viên, tăng 10,3%; phân bón các loại 9.304 tấn, tăng 9,8%; ván lạng gỗ các loại 1.986 tấn, tăng 8,8%; nhân hạt điều các loại 4.034 tấn, tăng 7,8%; linh kiện điện tử các loại 164 triệu

sản phẩm, tăng 5,8%; mây tre lá các loại 109 ngàn sản phẩm, tăng 3,8%; nước đá

1 M ột số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (ngành cấp II) có chỉ số sản xuất công nghiệp trong quý I/2022 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 21,1%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 15%; sản xuất đồ uống tăng 12,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 9%; s ản xuất trang phục tăng 7%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 4,8%; sản xuất hóa ch ất và sản phẩm hóa chất tăng 4,3%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 0,6%

Trang 14

5

các loại 137,9 tấn, tăng 2,9%; trang in các loại 563 triệu trang, tăng 2,9%; đường

kết tinh các loại 32.724 tấn, tăng 2,7%; quần áo các loại 3.816 ngàn sản phẩm, tăng 1,7%.Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên khó khăn về thị trường tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm nên chưa phát huy hết công suất như: Hải sản các loại 2.805 tấn, giảm 4,3%; dăm

gỗ các loại 22.456 tấn, giảm 7,9%; xi măng các loại 14.701 tấn, giảm 26,1%; tinh

bột sắn các loại 24.545 tấn, giảm 34%

+ Ngành sản xuất và phân phối điện, hơi nước tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước Trong quý lượng nước về các hồ của các nhà máy thủy điện nhiều hơn cùng kỳ, nên phát huy được năng lực sản xuất, đồng thời vừa đảm bảo hài hòa

giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp nước phục vụ cho sinh hoạt ở vùng hạ du và nhu cầu sản xuất của nhà máy nên sản lượng điện sản xuất qúy I/2022 ước tính 498,6 triệu kwh, tăng 3,4% và điện thương phẩm 221,9 triệu kwh, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước

+ Ngành cung cấp nước và quản lý, xử lý rác thải tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, tăng chính là sản phẩm nước uống được ước tính 3,1 triệu m3, tăng 2,8%

Việc ban hành và triển khai kịp thời Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 đã góp phần quan trọng trong khôi phục sản xuất và thúc đẩy thị trường, từng bước tạo niềm tin cho các doanh nghiệp Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy

sự lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như sau:

+ Về xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến,

chế tạo dự ước quý I/2022 so với quý trước có 20% số doanh nghiệp lạc quan cho

rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn và có 48,9% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định

+ Về khối lượng sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến,

chế tạo dự ước quý I/2022 so với quý trước có 22,2% số doanh nghiệp đánh giá

khối lượng sản xuất của doanh nghiệp tốt lên và có 42,2% số doanh nghiệp cho

rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định

+ Về số lượng đơn đặt hàng mới của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế

biến, chế tạo dự ước quý I/2022 so với quý trước có 19,1% số doanh nghiệp lạc quan cho rằng số lượng đơn đặt hàng mới của doanh nghiệp tăng lên và có 57,1%

số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định

+ Về khối lượng thành phẩm tồn kho của doanh nghiệp ngành công nghiệp

chế biến, chế tạo dự ước quý I/2022 so với quý trước có 20% doanh nghiệp cho

rằng khối lượng thành phẩm tồn kho của doanh nghiệp tăng lên và có 46,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định

+ Về số lượng lao động bình quân của doanh nghiệp ngành công nghiệp

chế biến, chế tạo quý I/2022 so với quý trước có 11,1% doanh nghiệp lạc quan cho rằng số lượng lao động bình quân của doanh nghiệp tăng lên và có 64,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định

Trang 15

3 Tình hình ho ạt động của doanh nghiệp

- Tính từ đầu năm đến ngày 01/3/2022 trên địa bàn tỉnh Phú Yên có 100 doanh nghiệp2 đăng ký thành lập mới tăng 37% so với cùng kỳ năm trước Tổng

vốn đăng ký là 878,9 tỷ đồng (doanh nghiệp ngành nông lâm và thủy sản có vốn đăng ký là 191 tỷ đồng; doanh nghiệp ngành công nghiệp và xây dựng có vốn đăng ký là 315,5 tỷ đồng; doanh nghiệp ngành thương mại và dịch vụ có vốn đăng

ký là 372,4 tỷ đồng) gấp 2,1 lần, số doanh nghiệp đăng ký quay trở lại hoạt động

là 04 doanh nghiệp gấp 4 lần so với cùng kỳ năm trước

- Có 42 doanh nghiệp đến ngày 01/3/2022 do gặp nhiều khó khăn đã tạm

ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng 31,3%, số doanh nghiệp hoạt động sản

xuất kinh doanh không hiệu quả đã hoàn tất thủ tục giải thể là 18 DN gấp 2,6 lần

so với cùng kỳ năm trước

4 Xây d ựng, đầu tư

4.1 Xây d ựng

Công tác đầu tư xây dựng cơ bản tiếp tục được tỉnh tập trung chỉ đạo quyết

li ệt, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2022, đẩy nhanh công tác b ồi thường, giải phóng mặt bằng để khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm Tuy nhiên do tình hình dịch Covid-19 còn di ễn biến phức tạp, công tác giải phóng mặt bằng chậm; giá vật

li ệu xây dựng, nhiên liệu tăng cao gây khó khăn cho hoạt động xây dựng

Giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn quý I/2022 theo giá so sánh (năm 2010) ước tính 1.229,9 tỷ đồng, giảm 14,9%, trong đó: Công trình nhà ở 385,8 tỷ đồng, tăng 13,9%; công trình nhà không để ở 248,7 tỷ đồng, giảm 32,5%; công trình kỹ thuật dân dụng 544,2 tỷ đồng, giảm 13,5%; hoạt động xây dựng chuyên dụng 51,2 tỷ đồng, giảm 53% so với cùng kỳ năm trước

4 2 Đầu tư

T ổ công tác của UBND tỉnh đang phối hợp với Tổ công tác của Đại học

Qu ốc gia thành phố Hồ Chí Minh tập trung xây dựng và hoàn thiện Kế hoạch

ph ục hồi phát triển kinh tế tỉnh Phú Yên thích ứng an toàn, linh hoạt trong điều

ki ện dịch bệnh Covid-19 giai đoạn 2022-2025 để có cơ sở triển khai nhằm sớm

ph ục hồi kinh tế, thúc đẩy đầu tư, kích thích phát triển kinh tế

Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn quý I/2022 ước tính 3.580,5 tỷ đồng giảm 31,1% so quý trước và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước Trong đó: Vốn đầu

tư thuộc ngân sách Nhà nước 822,1 tỷ đồng, tăng 1%; vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước 58,5 tỷ đồng, gấp 10,6 lần; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 2.456,9 tỷ

đồng, tăng 3,4%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 26,4 tỷ đồng, giảm 61%; vốn huy động khác 170,5 tỷ đồng, tăng 54,8% so với cùng kỳ năm trước

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương

quản lý tháng 3/2022 ước tính 296,2 tỷ đồng, tăng 23,3% so tháng trước và giảm

2 D oanh nghiệp ngành nông lâm và thủy sản có 06 DN; doanh nghiệp ngành công nghiệp và xây dựng có 26 DN; doanh nghiệp ngành thương mại và dịch vụ có 68 DN

Trang 16

7

1,7% so với cùng kỳ năm trước Tính chung quý I/2022 vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính 822,1 tỷ đồng đạt 14,9% so kế hoạch năm và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 526,5 tỷ đồng, tăng 25,5% hiện nay các chủ đầu tư đang đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm…;

vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 294,2 tỷ đồng, giảm 24,1% vì nhiều dự án cấp huyện quản lý có khối lượng thực hiện lớn trong quý I/2021…, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm 2021, hiện nay thực hiện các công trình chuyển tiếp

từ năm ngoái sang; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1,4 tỷ đồng, tăng 8,2%

5 Thương mại, giá cả, dịch vụ

Quý I/2022, tình hình ho ạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh

ti ếp tục phát triển và tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước Công tác tiêm phòng v ắc xin ngừa Covid-19 đã được phủ rộng hầu khắp cả nước đã đáp ứng tiêu chu ẩn đi du lịch trong nước làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống có

m ức tăng cao; doanh thu các ngành thuộc lĩnh vực dịch vụ thông tin và truyền thông tăng so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ giảm do các doanh nghiệp nhận đơn hàng ít và không có đơn hàng để hoạt động

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 3/2022 ước tính 3.393,9 tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng trước và 11,8% so với cùng kỳ năm trước Tính chung quý I/2022 đạt 10.228,2 tỷ đồng, tăng 7,5%; trong đó, tổng mức bán

lẻ hàng hóa 8.496,6 tỷ đồng, tăng 5,7%; lưu trú và ăn uống, du lịch lữ hành 1.260,2

tỷ đồng, tăng 20,9%; dịch vụ khác đạt 471,4 tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2022 ước tính 2.826,6 tỷ đồng, tăng 6,2% so với tháng trước và 9,7% so với cùng kỳ năm trước Trong 12 nhóm ngành hàng chủ yếu, thì các nhóm đều tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng khá đó là: Hàng may mặc tăng 13,9%; ô tô con (loại dưới 9 chỗ ngồi trở xuống) tăng 45% là nhóm tăng cao nhất,

do giá bán lẻ các loại ô tô con đang có chương trình giảm giá và các doanh nghiệp thành lập mới mua tăng; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 29,3%; nhiên liệu khác tăng 15,1%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 19,5%

Tính chung quý I/2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 8.496,6 tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước Trong 12 nhóm ngành hàng chủ yếu, chỉ có nhóm

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm là giảm 11,4% so với cùng kỳ năm trước do sức mua trong dân giảm; các nhóm còn lại đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số nhóm tăng khá đó là: Ô tô con (loại dưới 9 chỗ ngồi trở xuống) tăng 23,9% do sức mua tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán; xăng, dầu các loại tăng 7,3%; nhiên liệu khác tăng 18,8%

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 3/2022 ước tính 420,5 tỷ đồng, giảm 6,5% so với tháng trước và tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú 19,2 tỷ đồng, giảm 28,6% và tăng

Trang 17

23,7%; doanh thu dịch vụ ăn uống 401,2 tỷ đồng, giảm 5,1% và tăng 26,5% so

với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước Thực hiện Thông báo số VPCP ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Văn phòng Chính phủ về việc mở cửa lại hoạt động du lịch trong điều kiện bình thường mới từ ngày 15 tháng 3 năm 2022, nên các cơ sở lưu trú của tỉnh hy vọng được đón nhiều lượt khách du lịch đến với Phú Yên

43/TB-Tính chung quý I/2022, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt 1.260,2 tỷ đồng, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, doanh thu

dịch vụ lưu trú 55,2 tỷ đồng, tăng 37,1%; doanh thu dịch vụ ăn uống 1.204,8 tỷ đồng, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước

Về hoạt động dịch vụ và du lịch, tuy bị ảnh hưởng tình hình dịch bệnh Covid-19 nhưng lượng khách du lịch đến Phú Yên tăng so với cùng kỳ năm trước Ước tính doanh thu dịch vụ lưu trú quý I đạt 55,2 tỷ đồng, tăng 37,1% Qua đó, lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ 141 ngàn lượt khách tăng 4,7% (lượt khách

ngủ qua đêm 114,4 ngàn lượt khách, tăng 10,1%, trong đó lượt khách quốc tế 0,67 ngàn lượt khách, giảm 19,5% so với cùng kỳ năm trước)

Đến nay, toàn tỉnh có 390 cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch, tăng 05 cơ sở, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó có 02 khách sạn 5 sao, 02 khách

sạn 4 sao, 04 khách sạn 3 sao, 05 khách sạn 2 sao, 39 khách sạn 1 sao, 72 khách sạn, 87 nhà nghỉ và 26 homestay đáp ứng đủ điều kiện tối thiểu kinh doanh lưu trú du lịch Tổng số buồng lưu trú du lịch hiện có khoảng 6.340 buồng, trong đó

có gần 800 buồng đạt tiêu chuẩn 3 - 5 sao, các khu du lịch vui chơi giải trí được

cải tạo nâng cấp để phục vụ tốt nhu cầu vui chơi giải trí của du khách khi đến Phú Yên

- Doanh thu dịch vụ vụ khác: Tháng 3/2022 ước tính 146,8 tỷ đồng, giảm 5% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước; quý I/2022 là 471,4 tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản 45,2 tỷ đồng, tăng 17,6%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ

trợ 96,5 tỷ đồng, tăng 8,6%; dịch vụ giáo dục và đào tạo 27,8 tỷ đồng, tăng 14,1%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 32 tỷ đồng, tăng 11,3%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí 106,7 tỷ đồng, tăng 4,1%; dịch vụ khác 112,9 tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước

5 2 Giá cả

5.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng

Th ị trường giá cả trong quý I/2022 nhìn chung đảm bảo cung - cầu hàng hóa; công tác điều hành, kiểm tra, kiểm soát và bình ổn giá cả thị trường trong

d ịp Tết Nguyên đán thực hiện tốt, nhất là tại thị trường nông thôn, vùng sâu, vùng

xa, đã có nhiều chuyến hàng phục vụ bà con trong dịp Tết đảm bảo chất lượng,

v ệ sinh an toàn thực phẩm, có nguồn gốc rõ ràng, hàng hóa phong phú và đa

d ạng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2022 tăng 0,48% so tháng trước, trong đó 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng: Nhóm giao thông tăng 4,59%, mặt hàng xăng tăng 13,40%; dầu diezel tăng 18,27% đây là mức tăng cao nhất từ đầu

Trang 18

9

năm đến nay do giá xăng dầu thế giới tăng (tác động làm CPI chung tăng 0,43%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,44%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,08%; nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 0,94%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,59%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,26%; giáo dục tăng 0,23%; thuốc và dịch vụ y

tế tăng 0,12%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08%; các nhóm hàng hóa và dịch

vụ có chỉ số giá giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,89% (tác động làm CPI chung giảm 0,3%); bưu chính viễn thông giảm 0,41%

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2022 so cùng tháng năm trước tăng 2,63% do

chịu tác động tăng từ nhóm: Nhóm giao thông tăng 18,68%; đồ uống và thuốc lá tăng 7,25%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 6,78%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 4,71%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,08% Các nhóm còn lại tăng giảm trong khoảng giảm 14,72% đến tăng 1%

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2022 tăng 0,94% so tháng 12 năm trước: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,19% (lương thực giảm 1,33%, thực phẩm giảm 2,36%, ăn uống ngoài gia đình tăng 1,91%); đồ uống và thuốc lá tăng 2,81%; may

mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,37%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,68%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,73%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,12%; giao thông tăng 8,64%; bưu chính viễn thông giảm 0,41%; giáo dục tăng 0,52%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,29%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,07%

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2022 so bình quân quý I/2021 tăng 2,19%, trong đó 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng: Nhóm giao thông tăng 16,73% (tác động làm CPI chung tăng 1,58%); đồ uống và thuốc lá tăng 6,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 6,23%; nhà ở, điện nước, chất đốt

và VLXD tăng 3,9%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,77%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,39%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,38%; bưu chính viễn thông tăng 0,37%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,28%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,19%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Giáo dục giảm 14,92% (tác động làm CPI chung giảm 0,96%) nguyên nhân do trong quý ảnh hưởng bởi

dịch Covid-19 nên giá học phí các trường công lập giảm 50% học phí học kỳ 1 theo Nghị quyết của HDND tỉnh

5.2.2 Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trên địa bàn chịu tác động chính của giá vàng thế giới, biến động tăng giảm theo giá vàng trong nước Trong tháng 3/2022, giá vàng 99,99 bình quân là 5.571.000 đồng/chỉ; so tháng trước tăng 3%, so cùng tháng năm trước tăng 3,9%, so tháng 12 năm trước tăng 7,8%, so kỳ gốc 2019 tăng 43,1% Giá Đô

la Mỹ bình quân là 22.980 VND/USD; so tháng trước tăng 0,63%, so cùng tháng năm trước giảm 0,65%, so tháng 12 năm trước tăng 0,04%, so kỳ gốc 2019 giảm 1,3%

Quý I/2022, giá vàng 99,99 bình quân 5.427.000 đồng/chỉ; so cùng kỳ năm trước giảm 1,27% Giá Đô la Mỹ tại NHNN Việt Nam bình quân 22.905 VND/USD so cùng kỳ năm trước giảm 1,03%

5.2.3 Chỉ số giá sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trang 19

Chỉ số giá sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2022 tăng 4,72% so với quý trước, so cùng quý năm trước giảm 0,63%

So quý trước chỉ số giá sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,72% do tác động từ các nhóm mặt hàng như:

+ Sản phẩm từ cây hàng năm tăng 2,12%3 so quý trước; sản phẩm từ cây lâu năm tăng 10,53%4; sản phẩm từ chăn nuôi tăng 1,28% (tăng chủ yếu nhóm

sản phẩm chăn nuôi ngựa, lừa, la và giống ngựa lừa, la tăng 5,56%; gia cầm tăng 3,65%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò và giống trâu, bò giảm 1,01% nguyên nhân

do nhu cầu giảm;

+ Sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,96%, tăng chủ yếu nhóm sản phẩm gỗ khai thác tăng 10,21%; nhóm lâm sản khai thác, thu nhặt khác

trừ gỗ tăng 4,59%, trong đó: sản phẩm lâm sản khác trừ gỗ tăng 4,71%; sản phẩm lâm sản thu nhặt từ rừng trừ gỗ tăng 2,59%

Nhóm sản phẩm thủy sản khai thác tăng 10,81%, thủy sản nuôi trồng tăng 7,55% trong đó, nhóm sản phẩm thủy sản biển nuôi trồng tăng 7,79% cụ thể: Sản

phẩm cá nuôi biển tăng 8,78%; tôm nuôi biển tăng 9,15%; nguyên nhân do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết tăng đã đẩy giá nhiều sản phẩm thủy sản tăng

Tháng 3/2022, giá xăng dầu tăng cao tác động đến chi phí đầu vào của

ho ạt động vận tải đã đẩy đơn giá vận chuyển bình quân tăng lên từ 5-10% so tháng trước Hiện nay, hoạt động vận tải hành khách đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 trong tình hình mới; vận chuyển các

lo ại vật tư, hàng hóa tăng do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao trong dịp

T ết Nguyên đán và sự phục hồi nhanh của sản xuất, kinh doanh, cùng với nhu cầu vào mùa v ụ thu hoạch nông sản như mía, nhu cầu vận chuyển hàng hóa cho sản

xu ất, xây dựng

3 T ăng chủ yếu sản phẩm thóc khô tăng 0,81% nguyên nhân do không phải mùa vụ thu hoạch chính, nguồn cung giảm cũng như sản lượng lương thực dự trữ trong dân ít mà nhu cầu tăng và thương lái thu mua với giá cao nên giá thóc khô tăng so với quý trước; sản phẩm ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác tăng 2,14%; sản phẩm củ có chất bột tăng 4,63%; sản phẩm mía cây tươi tăng 3,35% nguyên nhân là do người dân chuyển trồng cây khác do giá mía vụ trước không được giá nên nguồn cung ít đã đẩy giá tăng; sản phẩm thuốc lá, thuốc lào tăng 1,62%; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 2,8% do chưa vào mùa vụ thu hoạch lượng cung không đủ nên đẩy giá các sản phẩm này tăng; sản phẩm rau, đậu, hoa cây cảnh tăng 1,41% Bên cạnh đó, sản phẩm có chỉ số giảm như: Đậu tương giảm 1,01%; vừng/mè giảm 1,04%; rau các loại giảm 1,97%; rau họ đậu giảm 3,04%; rau lấy lá giảm 5,09%; rau lấy củ, rễ hoặc lấy thân giảm 2,49% nguyên nhân do đang vào chính vụ, mặt khác thời tiết nắng ấm tạo điều kiện thuận lợi cho các loại rau lấy lá, rau họ đậu, rau lấy củ, rễ hoặc lấy thân sinh trưởng và phát triển tốt, nguồn cung dồi dào làm cho giá các mặt hàng này giảm

4 S ản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tăng 11,94%; cam, quýt và các loại quả có múi khác tăng 15,25% nguyên nhân, do nhu cầu tăng những ngày Tết Nguyên đán nên một số quả tươi tăng giá như chuối, dứa, xoài… làm cho nhóm sản phẩm cây ăn quả tăng cao nhất trong các nhóm hàng chỉ số tăng 12,04%; Sản phẩm hồ tiêu tăng 24,57% đang cuối vụ nên thương lái thu mua giá cao; Riêng sản phẩm dừa quả khô tăng

do nhu cầu dùng làm mứt Tết cao nên làm cho chỉ số sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 3,72%; Nhóm sản phẩm cây lâu năm khác tăng 13,84% trong đó, nhóm sản phẩm cây cảnh lâu năm tăng 14,59% do nhu cầu tăng những ngày Tết Nguyên Đán Bên cạnh đó, Sản phẩm có chỉ số giảm như: sản phẩm hạt điều khô giảm 3,85% đang mùa thu hoạch nên thương lái thu mua giá thấp; sản phẩm cây chè giảm 0,9% do nhu cầu giảm

Trang 20

11

Tổng doanh thu ngành vận tải tháng 3/2022 ước tính 272,8 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách đường bộ 32,1 tỷ đồng, giảm 6,6% giảm chủ yếu do vận tải hành khách đường bộ nội tỉnh vì người dân lo ngại dịch bệnh nên di chuyển bằng phương tiện cá nhân tăng; vận tải hàng hóa đường bộ 235,3 tỷ đồng, tăng 11,6%; kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 4,7 tỷ đồng, giảm 14,9%

Tính chung quý I/2022 là 937,6 tỷ đồng, tăng 13,9%; trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đường bộ 122,5 tỷ đồng, tăng 3,6% (do thời điểm này năm trước phần lớn học sinh, sinh viên học online); doanh thu vận tải hàng hóa đường

bộ 803,2 tỷ đồng, tăng 16,8%; kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 10,6 tỷ đồng, giảm 38,1%

Tháng 3/2022, khối lượng hành khách vận chuyển đường bộ ước tính 607,8 ngàn lượt khách, giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển 33.947,8 ngàn lượt khách.km, giảm 9,7%; khối lượng hàng hóa vận chuyển đường bộ là 898,5 ngàn tấn, tăng 5,8%; khối lượng hàng hoá luân chuyển 50.220,4 ngàn tấn.km, tăng 6,5%

Quý I/2022, khối lượng hành khách vận chuyển 2.369,9 ngàn lượt khách, tăng 1,5%; khối lượng hành khách luân chuyển 140.807,4 ngàn lượt khách.km, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước Khối lượng hàng hóa vận chuyển 2.753 ngàn tấn, tăng 6,9%; khối lượng hàng hóa luân chuyển 188.704,2 ngàn tấn.km, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước

Luồng tuyến vận tải: Đến nay có 29 tuyến vận tải khách liên tỉnh (giảm 06 tuyến so với cùng kỳ năm trước), 07 tuyến nội tỉnh, 04 tuyến vận tải khách công

cộng bằng xe buýt (riêng tuyến xe buýt liên tỉnh Bình Định - Phú Yên chưa hoạt động trở lại); tổng số phương tiện vận tải hành khách 1.160 xe/16.621 ghế (trong

đó, số lượng xe hoạt động tuyến cố định 160 xe/4.874 ghế, hợp đồng 408 xe/6.930

ghế, xe buýt 32 xe/1.600 ghế, xe taxi 545 xe/2.977 ghế, 15 xe trung chuyển/240

ghế); tổng số phương tiện vận tải hàng hóa (đầu kéo, cotainer, xe tải) được cấp phép vận tải 3.825 xe/32.061 tấn

Vận tải hàng không: Lượng hành khách qua Cảng Hàng không Tuy Hòa trong quý đạt 98.509 lượt khách5, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước

Vận tải đường sắt: Lượng hành khách lên tàu tại các Ga trên địa bàn tỉnh trong quý đạt 14.665 lượt khách, giảm 25,3% so với cùng kỳ năm trước

Khai thác cảng biển: Lượng hàng hóa thông qua cảng Vũng Rô trong quý đạt 38.000 tấn, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước

6 Tài chính, ngân hàng, b ảo hiểm

5 Trong đó: Tuyến TP HCM – Tuy Hòa, trong quý (từ ngày 01/01/2022 đến ngày 14/3/2022, thực hiện

548 chuy ến bay (cả đến và đi), vận chuyển 74.332 HK, hệ số sử dụng ghế đạt 60,7%; so với cùng kỳ năm trước, tăng 44% số khách và tăng 16,6% số chuyến Tuyến Hà Nội – Tuy Hòa thực hiện 252 chuyến bay (cả đến và đi),

v ận chuyển 24.177 HK, hệ số sử dụng ghế đạt 52,2%; so với cùng kỳ năm trước, tăng 24% số khách và tăng 23,5%

số chuyến

Ngày đăng: 13/02/2023, 22:55

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w