MỤC LỤC MỤC LỤC i PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2 1 1 Khái niệm và dấu hiệu vi phạm pháp luật 2 1 1 1 Khái niệm 2 1 1 2 Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật 2 1 3 Các. MỤC LỤCMỤC LỤCiPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM21.1. Khái niệm và dấu hiệu vi phạm pháp luật21.1.1. Khái niệm21.1.2. Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật.21.3. Các loại vi phạm pháp luật41.3.1. Vi phạm pháp luật hình sự hay còn gọi là tội phạm41.3.2. Vi phạm hành chính5CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ VÍ DỤ VỀ CÁC LOẠI VI PHẠM PHÁP LUẬT62.1. Ví dụ về vi phạm hành chính62.1.1. Tình huống ví dụ 162.1.2. Tình huống ví dụ 272.2. Ví dụ về vi phạm pháp luật hình sự72.2.1. Tình huống ví dụ 172.2.2. Tình huống ví dụ 29KẾT LUẬN13TÀI LIỆU THAM KHẢO14 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUVi phạm pháp luật là một hiện tượng nguy hiểm, tác động tiêu cực đến các mặt của đời sống xã hội, làm mất ổn định xã hội. Một vi phạm pháp luật được nhận diện, đánh giá và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý là nhờ có cấu thành cơ bản xác định.Nó bao gồm các yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật. Thiếu một trong những yếu tố này thì sẽ không tồn tại một vi phạm pháp luật trong thực tế. Việc xác định từng bộ phận này là cơ sở quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lý,nhờ đó mà tìm ra được mối quan hệ giữa chúng với nhau, xác định được các biện pháp trách nhiệm pháp lý tương ứng, tìm ra nguyên nhân của vi phạm pháp luật, và còn đánh giá được mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy mà ta có thể thấy việc phân tích các yếu tố làm cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật là rất quan trọng. Do đó, qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Lý luận về vi phạm pháp luật, cho ví dụ về từng loại vi phạm pháp luật và phân tích” PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1. Khái niệm và dấu hiệu vi phạm pháp luật1.1.1. Khái niệmVi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.1.1.2. Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật.Theo Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2013: 1. Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người, tức là xử sự thực tế, cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức nhất định, bởi vì pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của các chủ thể mà không điều chỉnh suy nghĩ của họ. Mác đã từng nói: ngoài hành vi của tôi ra, tôi khòng tồn tại đối với pháp luật, không phải là đối tượng của nó. Vì vậy, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật. Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động (ví dụ: đi xe máy vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông) hoặc bằng không hành động (ví dụ: trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế). 2. Vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật, tức là xử sự trái với các yêu cầu của pháp luật. Hành vi này được thể hiện dưới các hình thức sau: a. Chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm. Ví dụ: đi xe máy vào đường ngược chiều… b. Chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện. Ví dụ: trốn tránh nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà, cha mẹ… c. Chủ thể sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép. Ví dụ: trưởng thôn bán đất công cho một số cá nhân nhất định… 3. Vi phạm pháp luật phải là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý, vì hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng của chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật. Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Theo quy định của pháp luật, chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường. Đó là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép chủ thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Chủ thể là tổ chức sẽ có khả năng này khi được thành lập hoặc được công nhận. 4. Vi phạm pháp luật phải là hành vi có lỗi của chủ thể, tức là khi thực hiện hành vi trái pháp luật, chủ thể có thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, đồng thời điều khiển được hành vi của mình. Như vậy, chỉ những hành vi trái pháp luật mà có lỗi của chủ thể thì mới bị coi là vi phạm pháp luật. Còn trong trường hợp chủ thể thực hiện một xử sự có tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành vi và hậu quả của hành vi của mình nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi và không phải là vi phạm pháp luật. 5. Vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, tức là làm biến dạng đi cách xử sự là nội dung của quan hệ pháp luật đó.1.3. Các loại vi phạm pháp luậtVi phạm pháp luật có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau. Ví dụ, nếu căn cứ vào đối tượng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật thì có thể chia vi phạm pháp luật thành các loại tương ứng với các ngành luật như vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật dân sự… Trong khoa học pháp lý Việt Nam phổ biến là cách phân loại vi phạm pháp luật căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật. Theo tiêu chí này, vi phạm pháp luật được chia thành các loại sau:1.3.1. Vi phạm pháp luật hình sự hay còn gọi là tội phạm Theo pháp luật hình sự của Việt Nam thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN.Phân loại tội phạmBộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định bốn loại tội phạm tại khoản 1 Điều 9, bao gồm: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2
1.1 Khái niệm và dấu hiệu vi phạm pháp luật 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật 2
1.3 Các loại vi phạm pháp luật 4
1.3.1 Vi phạm pháp luật hình sự hay còn gọi là tội phạm 4
1.3.2 Vi phạm hành chính 5
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ VÍ DỤ VỀ CÁC LOẠI VI PHẠM PHÁP LUẬT 6
2.1 Ví dụ về vi phạm hành chính 6
2.1.1 Tình huống ví dụ 1 6
2.1.2 Tình huống ví dụ 2 7
2.2 Ví dụ về vi phạm pháp luật hình sự 7
2.2.1 Tình huống ví dụ 1 7
2.2.2 Tình huống ví dụ 2 9
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Vi phạm pháp luật là một hiện tượng nguy hiểm, tác động tiêu cực đến các mặt của đời sống xã hội, làm mất ổn định xã hội Một vi phạm pháp luật được nhận diện, đánh giá và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý là nhờ
có cấu thành cơ bản xác định.Nó bao gồm các yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật Thiếu một trong những yếu tố này thì sẽ không tồn tại một vi phạm pháp luật trong thực tế Việc xác định từng bộ phận này là cơ sở quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lý,nhờ đó mà tìm ra được mối quan hệ giữa chúng với nhau, xác định được các biện pháp trách nhiệm pháp lý tương ứng, tìm ra nguyên nhân của vi phạm pháp luật, và còn đánh giá được mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật Vì vậy mà ta có thể thấy việc phân tích các yếu tố làm cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật là rất quan trọng Do đó, qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “
Lý luận về vi phạm pháp luật, cho ví dụ về từng loại vi phạm pháp luật
và phân tích”
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1 Khái niệm và dấu hiệu vi phạm pháp luật
1.1.1 Khái niệm
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
1.1.2 Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật.
Theo Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2013:
1 Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người, tức là xử
sự thực tế, cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức nhất định, bởi vì pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của các chủ thể mà không điều chỉnh suy nghĩ của họ Mác đã từng nói: ngoài hành vi của tôi ra, tôi khòng tồn tại đối với pháp luật, không phải là đối tượng của nó Vì vậy, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật
Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động (ví dụ: đi
xe máy vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông) hoặc bằng không hành động (ví dụ: trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế)
2 Vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật, tức là xử sự trái với các yêu cầu của pháp luật Hành vi này được thể hiện dưới các hình thức sau:
a Chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm Ví dụ: đi xe máy vào đường ngược chiều…
b Chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện Ví dụ: trốn tránh nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà, cha mẹ…
Trang 4c Chủ thể sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép Ví dụ: trưởng thôn bán đất công cho một số cá nhân nhất định…
3 Vi phạm pháp luật phải là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý, vì hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng của chủ thể không
có năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật
Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
Theo quy định của pháp luật, chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường Đó là độ tuổi
mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép chủ thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Chủ thể là tổ chức sẽ có khả năng này khi được thành lập hoặc được công nhận
4 Vi phạm pháp luật phải là hành vi có lỗi của chủ thể, tức là khi thực hiện hành vi trái pháp luật, chủ thể có thể nhận thức được hành vi của mình
và hậu quả của hành vi đó, đồng thời điều khiển được hành vi của mình
Như vậy, chỉ những hành vi trái pháp luật mà có lỗi của chủ thể thì mới
bị coi là vi phạm pháp luật Còn trong trường hợp chủ thể thực hiện một xử sự
có tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành
vi và hậu quả của hành vi của mình nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi và không phải là vi phạm pháp luật
5 Vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, tức là làm biến dạng đi cách xử sự là nội dung của quan hệ pháp luật đó
Trang 51.3 Các loại vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau Ví dụ, nếu căn cứ vào đối tượng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật thì có thể chia vi phạm pháp luật thành các loại tương ứng với các ngành luật như vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật dân sự…
Trong khoa học pháp lý Việt Nam phổ biến là cách phân loại vi phạm pháp luật căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp luật Theo tiêu chí này, vi phạm pháp luật được chia thành các loại sau:
1.3.1 Vi phạm pháp luật hình sự hay còn gọi là tội phạm
Theo pháp luật hình sự của Việt Nam thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN
Phân loại tội phạm
Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định bốn loại tội phạm tại khoản 1 Điều 9, bao gồm: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
1 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
Trang 6a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt
tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do
Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
1.3.2 Vi phạm hành chính
Theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Việt Nam thì vi phạm hành chính là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hoặc trái với các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hành chính
Vi phạm dân sự là hành vi trái pháp luật và có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm dân sự xâm hại tới các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản
Vi phạm kỷ luật là hành vi có lỗi của chủ thể trái với các quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ cơ quan, tổ chức, tức là không thực hiện đúng
Trang 7kỷ luật lao động, học tập, công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ quan, tổ chức đó
Vi phạm Hiến pháp là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hiến pháp trái với các quy định của Hiến pháp
Về chủ thể
Chủ thể vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật
Khách thể của vi phạm hành chính
Khách thể là những quan hệ xã hội, quy tắc quản lý nhà nước được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm hành chính xâm hại Dấu hiệu nhận biết là hành vi vi phạm hành chính đã xâm hại đến trật tự quản
lý nhà nước được pháp luật hành chính quy định, bảo vệ
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ VÍ DỤ VỀ CÁC LOẠI VI PHẠM
PHÁP LUẬT 2.1 Ví dụ về vi phạm hành chính
2.1.1 Tình huống ví dụ 1
A bán hoa quả, các loại bánh trái trên vỉa hè ở nơi có quy định cấm bán hàng rong, bị cảnh sát giao thông phạt 100.000 đồng
Việc A bán hoa quả chính là vi phạm hành chính, cụ thể vi phạm kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ tại mục 2 chương II Nghị định 100
Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính:
Hành vi có lỗi:
Điều 35 Luật giao thông đường bộ 2008: Lòng đường và hè phố chỉ được sử dụng cho mục đích giao thông Trong một số trường hợp vẫn cho phép tổ chức một số hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội trên đường bộ
Trang 8Vì vậy, việc bán hàng rong là hành vi có lỗi Lỗi ở đây có thể là lỗi cố ý (A biết nhưng vẫn làm) hoặc lỗi vô ý (không biết quy định của pháp luật)
Theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Khoản 1 điều 12 Nghị định 100 quy định hành vi này phải bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng
2.1.2 Tình huống ví dụ 2
Ví dụ: Doanh nghiệp A sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng
Các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm của Doanh nghiệp A:
– Hành vi có lỗi: Căn cứ theo các quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thì tổ chức kinh doanh có trách nhiệm cung cấp hàng hóa đảm bảo chất lượng, rõ nguồn gốc đối với sản phẩm đưa ra thị trường Vì vậy, hành vi sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng là hành vi có lỗi (lỗi cố ý)
– Hành vi vi phạm này gây ra những thiệt hại cho người tiêu dùng và
xã hội
– Hành vi trên vi phạm quy định quản lý nhà nước về hoạt động thương mại (buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng)
– Thuộc trường hợp bị xử phạt hành chính: Hành vi này được quy định tại Điều 10 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Mức phạt cụ thể sẽ tùy thuộc vào giá trị tài sản vi phạm
2.2 Ví dụ về vi phạm pháp luật hình sự
2.2.1 Tình huống ví dụ 1
– Tháng 9/2008, Bộ tài nguyên môi trường đã phát hiện ra vụ việc sai phạm của công ty Bột ngọt Vedan (Công ty TNHH Vedan Việt Nam)
Trang 9– Theo đó thì công ty Vedan đã hằng ngày sả nước thải bẩn (chưa qua
xử lý) trực tiếp ra sông Thị Vải (Đồng Nai) suốt 14 năm qua kể từ khi đi vào hoạt động (1994): khoảng 45000m3/1tháng
– Hành động này gây ô nhiễm nặng cho dòng sông Thị Vải, gây chết các sinh vật sống ở sông này và ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe người dân ven sông…
Cấu thành vi phạm pháp luật
– Chủ thể vi phạm:
+ Công ty Vedan (thuộc Công ty TNHH Vedan Việt Nam) là một công
ty thực phẩm với 100% vốn đầu tư Đài Loan
+ Được xây dựng từ năm 1991
+ Có giấy phép hoạt động từ năm 1994 Dẫn đến, là một tổ chức có đầy
đủ trách nhiệm pháp lý khi thực hiện hành vi trái pháp luật này
– Mặt chủ quan:
+ Lỗi: là lỗi cố ý gián tiếp Vì, Công ty Vedan khi thực hiện hành vi này thì nhận thấy trước hậu quả, tuy không mong muốn nhưng vẫn để hậu quả xảy ra
+ Mục đích: nhằm giảm bớt chi phí xử lý nước thải Theo quy định thì công ty Vedan phải đầu tư khoảng 1 chục triệu để xử lý 1m3 dịch thải đậm đặc Đáng ra phải chi từ 15%-20% vốn đầu tư cho việc xử lý nước thải thì Công ty Vedan chỉ dành 1,5% vốn cho việc đó
– Khách thể:
Việc làm của công ty Vedan đã xâm hại đến các quy tắc quản lý nhà nước: vi phạm trật tự quản lý nhà nước, làm tổn hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Trang 10– Mặt khách quan:
+ Hành vi nguy hiểm: sả nước thải bẩn chưa qua xử lý ra sông Thi Vải: 45000m3/1tháng Đây là hành vi trái pháp luật hành chính
+ Hậu quả: dòng sông bị ô nhiễm nặng, phá hủy môi trường sống và làm thủy sản chết hàng loạt, gây thiệt hại cho các hộ nuôi thủy sản và ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe người dân sống ven sông Những thiệt hại đó
do hành vi trái pháp luật của công ty Vedan gây ra trực tiếp và gián tiếp
+ Thời gian: 14 năm (từ năm 1994-2008)
+ Địa điểm: sông Thị Vải (thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tp.Hồ Chí Minh)
+ Phương tiện: sử dụng hệ thống ống sả ngầm
2.2.2 Tình huống ví dụ 2
X và P rủ nhau đi săn thú rừng, khi đi X và P mỗi người mang theo khẩu súng săn tự chế Hai người thoả thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần, nếu không thấy phản ứng gì sẽ bắn Sau đó họ chia tay mỗi người một ngả Khi X đi được khoảng 200 mét, X nghe có tiếng động, cách X khoảng 25 mét X huýt sao 3 lần nhưng không nghe phản ứng gì của P X bật đèn soi về phía có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú Sau đó, X chạy đến thì phát hiện P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn X vội đưa P đến trạm xá địa phương để cấp cứu, nhưng P đã chết trên đường đi
Căn cứ vào tình huống đã cho thì X phạm tội vô ý làm chết người theo khoản 1 Điều 128 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017): “Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ
01 năm đến 05 năm”
Cấu thành tội vô ý làm chết người
Trang 11* Khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội vô ý làm chết người là quyền nhân thân, đây là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ Đó là quyền sống quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng Đối tượng của tội này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng Đó là những người đang sống, những người đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là con người – thực thể tự nhiên và xã hội Như vậy, trong tình huống trên X tước đoạt tính mạng của P, xâm phạm tới quan hệ nhân thân được luật hình sự bảo vệ
* Mặt khách quan của tội phạm:
– Hành vi khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi vi phạm quy tắc an toàn Đó là những quy tắc nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người Những quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy phạm hóa hoặc có thể là những quy tắc xử sự xã hội thông thường đã trở thành những tập quán sinh hoạt, mọi người đều biết và thừa nhận Trong tình huống trên thì X và P rủ nhau đi săn thú rừng và hai người thỏa thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần nếu không thấy phản ứng gì thì sẽ bắn Sau đó X lên phía đồi còn P xuống khe cạn Và khi X nghe thấy có tiếng động, đã X huýt sáo 3 lần nhưng không nghe thấy phản ứng gì của P X bật đèn soi về phìa có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú Sau đó, X xách súng chạy đến thì phát hiện là P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn X vội vã đưa P đi đến trạm xá địa phương nhưng P đã chết trên đường đi cấp cứu Như vậy, hành vi của X do không cẩn thận xem xét kỹ lưỡng trong khi đi săn nên đã để đạn lạc vào người P làm cho P chết