MỤC LỤC MỤC LỤC i PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN 2 1 1 Những lý luận cơ bản về ly hôn 2 1 1 1 Nguồn gốc và quan điểm của các n. MỤC LỤCMỤC LỤCiPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN21.1. Những lý luận cơ bản về ly hôn21.1.1. Nguồn gốc và quan điểm của các nước về ly thân21.1.2. Căn cứ ly thân và hậu quả pháp lý của ly thân21.2. Thực trạng pháp luật và về vấn đề ly thân31.2.1. Thực trạng pháp luật ly hôn31.2.2. Thực trạng về vấn đề ly thân ở nước ta hiện nay3CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN QUA NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG BẢN ÁN SỐ 382019Hôn nhân gia đình ST CỦA TOÀN ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ52.1. Tóm tắt nội dung bản án quyết định52.2. Đánh giá việc áp dụng cở sở pháp lý trong bản án62.3. Nhận xét việc áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc ly hôn62.4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về pháp luật ly hôn8KẾT LUẬN10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO11 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUHiện nay cuộc sống vợ chồng rất phức tạp và không thể tránh khỏi những mâu thuẫn xích mích giữa hai vợ chồng dẫn đến hôn nhân rơi vào tình trạng bế tắc. Tuy nhiên, vì nhiều lí do khác nhau mà họ không muốn ly hôn để chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật hoàn toàn, do đó họ chọn giải pháp ly thân. Vậy ly thân là như thế nào, ly thân xuất phát từ đâu, tại sao họ lại chọn ly thân, có nên quy định ly thân trong luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hay không, …Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về ly hôn qua nghiên cứu áp dụng bản án số 382019Hôn nhân gia đình ST tại TAND tỉnh Thừa Thiên Huế PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN1.1. Những lý luận cơ bản về ly hôn1.1.1. Nguồn gốc và quan điểm của các nước về ly thânLy thân( Ly hôn) là chấm dứt nghĩa vụ sống chung giữa vợ chồng trong khi quan hệ hôn nhân không chấm dứt.Trong thực tế cuộc sống chung giữa vợ và chồng có nhiều trường hợp vì nhiều nguyên nhân, lí do, động cơ mà nảy sinh xung đột, mâu thuẫn sâu sắc, vợ chồng không muốn hoặc không thể sống chung. Pháp luật theo quan điểm tôn giáo thường cấm vợ chồng ly hôn và chế định ly thân được quy định trong luật với mục đích ban đầu coi ly thân là giải pháp nhằm giải tỏa xung đột trong đời sống vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ chồng “sống riêng”.Hiện nay trên thế giới có nhiều nước công nhận quyền được ly thân của vợ chồng và quy định về ly thân. Một số nước phân biệt ly thân về pháp lý với ly thân thực tế. Ly thân về pháp lý là trường hợp vợ chồng yêu cầu ly thân và Tòa án ra quyết định công nhận ly thân. Ly thân thực tế là trường hợp vợ chồng tự nguyện sống riêng mà chưa có quyết định của một có quan thẩm quyền . Pháp luật một số nước quy định ly thân thực tế là một trong những căn cứ để giải quyết cho vợ chồng ly hôn, ví dụ: pháp luật Singapore, Philippin, Pháp, Canađa… Pháp luật một số nước không quy định ly thân như: Việt Nam, Trung Quốc , Nhật Bản…1.1.2. Căn cứ ly thân và hậu quả pháp lý của ly thânPháp luật của mỗi quốc gia quy định về căn cứ ly thân có khác nhau. Nhìn chung, pháp luật các nước đều quy định căn cứ ly thân giống như căn cứ ly hôn.Hậu quả pháp lý về ly thân về bản chất là hoàn toàn khác với hậu quả pháp lý về ly hôn. Ly thân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng mà chỉ chấm dứt việc sống chung. Tuy nhiên, do vợ chồng không cùng sống chung với nhau nên phát sinh vấn đề là giải quyết về tài sản và con chung. Những nước mà pháp luật quy định vợ và chồng có tài sản chung thì khi ly thân tài sản chung được chia. Nguyên tắc chia tài sản chung giống như khi vợ chồng ly hôn. Một nguyên tắc mà các quốc gia đều áp dụng là ly thân sẽ dẫn đến biệt sản. Về vấn đề con chung thì các nước đều quy định phương thức giải quyết giống như khi vợ chồng ly hôn. 1.2. Thực trạng pháp luật và về vấn đề ly thân1.2.1. Thực trạng pháp luật ly hônHiện nay, pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về vấn đề ly thân. Trong quá trình xây dựng Luật hôn nhân và gia đình 2014, từng có những đề xuất bổ sung “chế định ly thân” trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 với lý do là để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em tốt hơn. Tuy nhiên, đề xuất này đã bị Quốc hội bác bỏ, như:Nếu quy định “chế định ly thân” thì vợ chồng sẽ phải đưa nhau ra Tòa án để đăng ký ly thân. Việc Tòa án can thiệp vào quan hệ vợ chồng khi họ chưa có ý định ly hôn là điều tối kỵ đối với văn hóa Việt Nam. Và có thể gây thêm tổn thương cho tình nghĩa vợ chồng mà còn ảnh hưởng xấu đến tâm lý của con cái, họ hàng 2 bên nội – ngoại.Nhiều cặp vợ chồng chọn ly thân như giải pháp tạm thời để giải quyết mâu thuẫn khi cảm thấy hôn nhân chưa bế tắc đến mức phải ly hôn. Trong thời gian ly thân họ sẽ tĩnh tâm, suy nghĩ kỹ lại những rạn nứt để có thể hàn gắn quan hệ và yêu thương nhau hơn. Việc vợ chồng phải đưa nhau ra Tòa án để đăng ký ly thân rất có thể sẽ khoét sâu hơn mâu thuẫn vợ chồng và khiến họ nhanh chóng tiến tới ly hôn
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN 2
1.1 Những lý luận cơ bản về ly hôn 2
1.1.1 Nguồn gốc và quan điểm của các nước về ly thân 2
1.1.2 Căn cứ ly thân và hậu quả pháp lý của ly thân 2
1.2 Thực trạng pháp luật và về vấn đề ly thân 3
1.2.1 Thực trạng pháp luật ly hôn 3
1.2.2 Thực trạng về vấn đề ly thân ở nước ta hiện nay 3
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN QUA NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG BẢN ÁN SỐ 38/2019/Hôn nhân gia đình - ST CỦA TOÀN ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 5
2.1 Tóm tắt nội dung bản án quyết định 5
2.2 Đánh giá việc áp dụng cở sở pháp lý trong bản án 6
2.3 Nhận xét việc áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc ly hôn 6
2.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về pháp luật ly hôn 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay cuộc sống vợ chồng rất phức tạp và không thể tránh khỏi những mâu thuẫn xích mích giữa hai vợ chồng dẫn đến hôn nhân rơi vào tình trạng bế tắc Tuy nhiên, vì nhiều lí do khác nhau mà họ không muốn ly hôn để chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật hoàn toàn, do đó họ chọn giải pháp ly thân Vậy ly thân là như thế nào, ly thân xuất phát từ đâu, tại sao họ lại chọn ly thân, có nên quy định ly thân trong luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hay không, …
Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về ly hôn qua nghiên cứu áp dụng bản án số 38/2019/Hôn nhân gia đình - ST tại TAND tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN 1.1 Những lý luận cơ bản về ly hôn
1.1.1 Nguồn gốc và quan điểm của các nước về ly thân
Ly thân( Ly hôn) là chấm dứt nghĩa vụ sống chung giữa vợ chồng trong khi quan hệ hôn nhân không chấm dứt
Trong thực tế cuộc sống chung giữa vợ và chồng có nhiều trường hợp
vì nhiều nguyên nhân, lí do, động cơ mà nảy sinh xung đột, mâu thuẫn sâu sắc, vợ chồng không muốn hoặc không thể sống chung Pháp luật theo quan điểm tôn giáo thường cấm vợ chồng ly hôn và chế định ly thân được quy định trong luật với mục đích ban đầu coi ly thân là giải pháp nhằm giải tỏa xung đột trong đời sống vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ chồng “sống riêng”
Hiện nay trên thế giới có nhiều nước công nhận quyền được ly thân của
vợ chồng và quy định về ly thân Một số nước phân biệt ly thân về pháp lý với
ly thân thực tế Ly thân về pháp lý là trường hợp vợ chồng yêu cầu ly thân và Tòa án ra quyết định công nhận ly thân Ly thân thực tế là trường hợp vợ chồng tự nguyện sống riêng mà chưa có quyết định của một có quan thẩm quyền Pháp luật một số nước quy định ly thân thực tế là một trong những căn cứ để giải quyết cho vợ chồng ly hôn, ví dụ: pháp luật Singapore, Philippin, Pháp, Canađa… Pháp luật một số nước không quy định ly thân như: Việt Nam, Trung Quốc , Nhật Bản…
1.1.2 Căn cứ ly thân và hậu quả pháp lý của ly thân
Pháp luật của mỗi quốc gia quy định về căn cứ ly thân có khác nhau Nhìn chung, pháp luật các nước đều quy định căn cứ ly thân giống như căn cứ
ly hôn
Hậu quả pháp lý về ly thân về bản chất là hoàn toàn khác với hậu quả pháp lý về ly hôn Ly thân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng mà chỉ chấm dứt việc sống chung Tuy nhiên, do vợ chồng không cùng sống chung với nhau nên phát sinh vấn đề là giải quyết về tài sản và con chung Những nước mà pháp luật quy định vợ và chồng có tài sản chung thì khi ly thân tài
Trang 4sản chung được chia Nguyên tắc chia tài sản chung giống như khi vợ chồng
ly hôn Một nguyên tắc mà các quốc gia đều áp dụng là ly thân sẽ dẫn đến biệt sản Về vấn đề con chung thì các nước đều quy định phương thức giải quyết giống như khi vợ chồng ly hôn
1.2 Thực trạng pháp luật và về vấn đề ly thân
1.2.1 Thực trạng pháp luật ly hôn
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về vấn đề ly thân Trong quá trình xây dựng Luật hôn nhân và gia đình 2014, từng có những đề xuất bổ sung “chế định ly thân” trong Luật hôn nhân và gia đình
2014 với lý do là để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em tốt hơn Tuy nhiên, đề xuất này đã bị Quốc hội bác bỏ, như:
Nếu quy định “chế định ly thân” thì vợ chồng sẽ phải đưa nhau ra Tòa
án để đăng ký ly thân Việc Tòa án can thiệp vào quan hệ vợ chồng khi họ chưa có ý định ly hôn là điều tối kỵ đối với văn hóa Việt Nam Và có thể gây thêm tổn thương cho tình nghĩa vợ chồng mà còn ảnh hưởng xấu đến tâm lý của con cái, họ hàng 2 bên nội – ngoại
Nhiều cặp vợ chồng chọn ly thân như giải pháp tạm thời để giải quyết mâu thuẫn khi cảm thấy hôn nhân chưa bế tắc đến mức phải ly hôn Trong thời gian ly thân họ sẽ tĩnh tâm, suy nghĩ kỹ lại những rạn nứt để có thể hàn gắn quan hệ và yêu thương nhau hơn Việc vợ chồng phải đưa nhau ra Tòa án
để đăng ký ly thân rất có thể sẽ khoét sâu hơn mâu thuẫn vợ chồng và khiến
họ nhanh chóng tiến tới ly hôn
1.2.2 Thực trạng về vấn đề ly thân ở nước ta hiện nay
Theo thống kê, tỷ lệ ly hôn của các gia đình tại Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong các gia đình trẻ ở các thành phố lớn
Trong thực tế, trước khi ly hôn các cặp vợ chồng thường có quãng thời gian sống ly thân với nhau và có thể hiện vẫn đang sống ly thân nhưng chưa
ly hôn Tỷ lệ ly thân chiếm một con số không hề nhỏ trong đời sống của các cặp vợ chồng Vậy nên dù muốn hay không thì vẫn phải thừa nhận ly thân là một hiện tượng xã hội đã đang và sẽ tiếp tục tồn tại Có khá nhiều nguyên do
Trang 5mà nhiều cặp vợ chồng tuy xác định mâu thuẫn không thể hàn gắn, nhưng vẫn không ly hôn mà chọn cách ly thân
Trong khi xét xử một số vụ việc cụ thể, thẩm phán vẫn xem xét đến tình trạng ly thân như một trong những cơ sở cho thấy mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, không thể hàn gắn để cho ly hôn Nhưng vì không được luật quy định nên ngay cả việc xác định một cặp vợ chồng nào đó trong tình trạng ly thân hay không cũng không dễ dàng
Trong khi đó, ly thân (được hiểu là vợ chồng không cùng chung sống, không có quan hệ tình cảm, không thiết lập khối tài sản chung… với nhau) lại nảy sinh rất nhiều vấn đề phức tạp
Trong thời gian ly thân, nhiều người đã tìm cách tẩu tán, hợp thức hóa tài sản chung thành tài sản riêng, hoặc cố tình vay mượn để bắt người kia phải chung trách nhiệm “vợ chồng” trả nợ… Đặc biệt, con cái là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều vì ly thân vẫn đang là thời kỳ hôn nhân, song do không cùng chung sống, nên ai là người có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con cái cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn
Trang 6CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN QUA NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG BẢN ÁN SỐ 38/2019/Hôn nhân gia đình - ST CỦA TOÀN
ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Tóm tắt nội dung bản án quyết định
Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 28/2019/TLST-Hôn nhân gia đình ngày 20 tháng 5 năm 2019 về ly hôn Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2019/QĐXXST-Hôn nhân gia đình ngày 01/7/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1988
Địa chỉ: thị trấn Thuận A, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế Có mặt
Bị đơn: Ông Hồ Kiến N (Ho N Kien), sinh năm 1989
Địa chỉ: Hoa Kỳ Có đơn xin xét xử vắng mặt
Nhận định của tòa án
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Hồ Kiến N kết hôn với nhau trên cơ
sở hoàn toàn tự nguyện, đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn
[2] Sau khi kết hôn với nhau một thời gian ngắn thì ông N trở lại Hoa
Kỳ Do điều kiện mỗi người ở một nơi nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt Trong quá trình xác minh và tại phiên tòa bà H vẫn xin được ly hôn với ông N Đối với ông N, cũng đã đồng ý ly hôn với bà H
Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của các bên đương sự, cho bà H được ly hôn ông N để ổn định cuộc sống riêng của mỗi người
[3] Về con chung, tài sản chung: Bà H và ông N khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết
Trang 7[4] Về án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Quyết định
Áp dụng Điều 56, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án, xử:
[1] Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Cẩm H ly hôn với ông Hồ Kiến N (Ho N Kien)
[2] Về con chung và tài sản: Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Hồ Kiến N không yêu cầu, nên Toà án không xem xét giải quyết
[3] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai số
005515 ngày 17/5/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế
2.2 Đánh giá việc áp dụng cở sở pháp lý trong bản án
Quan bản án Số 382019HNGĐ -ST, việc Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của cả hai bên( Bà Nguyễn Thị Cẩm H và Ông Hồ Kiến N) trong trường hợp họ hết tình cảm với nhau, không có mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân, muốn ly hôn bằng việc xem xét tình trạng hôn nhân, và đưa ra quyết định
“công nhận thuận tình ly hôn” Trường hợp cả hai bên cùng đồng ý yêu cầu ly hôn thì chứng tỏ cả hai đã không còn quan hệ tình cảm với nhau, việc Tòa án
ra quyết định ly hôn là một giải pháp tốt nhất đối với họ Tuy nhiên để chấp nhận CNTTLH cần buộc họ phải cam kết Tiến tới ly hôn không vì mục đích khác như trốn tránh nghĩa vụ với người thứ 3, tránh chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, xuất ngoại, vì mục đích khác….Để giải quyết các vấn đề trên, pháp luật cần phải có những bước sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn
2.3 Nhận xét việc áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc ly hôn
Căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý và chỉ khi có các điều kiện đó thì Tòa án mới có thể giải quyết ly hôn: Tuy nhiên, thực tế giải quyết vụ việc Hôn nhân gia đình còn nhiều bất cập:
Thứ nhất, bất cập trong việc CNTTLH Vì phải được đảm bảo quyền tự
do, tự nguyện trong ly hôn, trong việc tiến tới ly hôn không cần phải căn cứ
Trang 8vào yếu tố lỗi, không cần phải căn cứ vào yếu tố “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” mới được ly hôn Các đương sự không cần chứng cứ chứng minh ai là người gây ra lỗi dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng và Tòa án cũng không phải thu thập chứng cứ chứng minh vấn đề đó; mà Tòa án chỉ căn cứ vào ý chí thật sự tự nguyện mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân của cả vợ
và chồng, đồng thời họ thống nhất được toàn bộ các vấn đề liên quan khác thì
sẽ đủ điều kiện CNTTLH hôn cho họ Do đó, thực tế có không ít những cặp
vợ chồng trên thực tế vẫn chung sống với nhau, quan hệ hôn nhân của họ vẫn tồn tại nhưng vì muốn trốn tránh nghĩa vụ về tài sản đối với người thứ ba; ly hôn giả vì mục đích xuất ngoại; vì chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình
… nên đã nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết CNTTLH Tòa án đã ra Quyết định CNTTLH cho vợ chồng theo đúng quy định của pháp luật
Thứ Hai, bất cập trong việc đánh giá tình trạng trầm trọng của hôn nhân trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của vợ hoặc chồng Khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn
cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” Đây là một quy định mới, mang tính khái quát cao Tuy nhiên, việc quy định về căn cứ ly hôn thể hiện yếu tố tình cảm vẫn còn chung chung Khi giải quyết các trường hợp cụ thể, với sự đa dạng của cuộc sống, thì mỗi cặp
vợ chồng, mỗi vụ án ly hôn thường có mâu thuẫn cũng như hoàn cảnh không giống nhau Trong khi đó, không có căn cứ rõ ràng để xác định thế nào là
“làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”, thế nào là hành vi “vi phạm nghiêm trọng” nên việc xem xét, đánh giá căn cứ trên là rất khó khăn, vướng mắc
Thứ ba, đối với trường hợp vợ, chồng đã ly thân trên thực tế: Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 không quy định ly thân là căn cứ cho ly hôn Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, các Tòa án thường đánh giá ly thân là căn cứ để
Trang 9giải quyết cho ly hôn Vấn đề này không được luật quy định nên đã gây khó khăn trong cả việc xác định vợ, chồng nào đó có trong tình trạng ly thân hay không Mặt khác, không xác định được thời gian ly thân, nên việc giải quyết
án ly hôn thường phải kéo dài khiến cho nhiều đương sự gặp khó khăn trong việc xây dựng cuộc sống mới
Thứ tư, trường hợp vợ hoặc chồng ly hôn với chồng hoặc vợ đang chấp hành án phạt tù, trốn truy nã: Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chưa quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp vợ hoặc chồng đang chấp hành án phạt
tù, trốn truy nã Vì vậy, trường hợp vợ hoặc chồng xin ly hôn với chồng hoặc
vợ đang chấp hành án phạt tù, trốn truy nã thì không đủ cơ sở giải quyết cho
ly hôn Điều này đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đề nghị giải quyết cho ly hôn
Thứ năm, bất cập trong trường hợp Cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ Khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì mục đích của hôn nhân đã không đạt được cho nên có hay không là nạn nhân của bạo lực gia đình cũng cần chấp nhận giải quyết cho ly hôn Đây là bất cập về áp dụng căn cứ ly hôn cần có hướng dẫn thống nhất
2.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về pháp luật ly hôn
Pháp luật về Luật Hôn nhân gia đình đang ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, qua thực trạng xây dựng luật cũng như áp dụng luật nói chung, căn cứ
ly hôn nói riêng trong pháp luật Hôn nhân gia đình hiện hành còn chưa thực
sự đi vào đời sống xã hội, chưa thành những chuẩn mực pháp lý trong xử sự của các thành viên trong gia đình
Thứ nhất, cụ thể hóa quy định về hành vi bạo lực gia đình làm căn cứ cho ly hôn: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP cần bổ sung hướng dẫn áp dụng căn cứ ly hôn khi vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình, cụ thể như sau:
Trang 10“Trong trường hợp chồng hoặc vợ có hành vi bạo lực gia đình thì vợ hoặc chồng được Tòa án giải quyết cho ly hôn khi có căn cứ sau: Đối với hành vi bạo lực vật chất: Vợ, chồng thường xuyên đánh đập, ngược đãi, hành hạ làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất
về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe mà chưa đến mức xử lý về hình sự hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính Đối với bạo lực tinh thần: Vợ, chồng bị chửi bới, sỉ nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm và uy tín
Thứ hai, pháp luật Việt Nam cần công nhận ly thân và xem ly thân là một trong những căn cứ để cho ly hôn: Căn cứ ly hôn do ly thân: “Trong trường hợp vợ chồng đã sống ly thân từ trên 2 năm mà vẫn không thể quay về với nhau để chung sống hạnh phúc hoặc sống ly thân trên 2 năm theo quyết định của Tòa án thì Tòa án giải quyết cho ly hôn mà không phải xem xét, đánh giá thực trạng quan hệ vợ chồng và các bên không phải chứng minh tình trạng trầm trọng của hôn nhân”
Thứ ba, cần bổ sung quy định căn cứ ly hôn khi chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành án phạt tù, đang bị cơ quan tiến hành tố tụng truy nã: Cần bổ sung quy định căn cứ ly hôn khi chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành án phạt tù, đang bị cơ quan tiến hành tố tụng truy nã Cụ thể như sau:
“Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đang chấp hành án phạt tù, đang
bị cơ quan tiến hành tố tụng truy nã yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho
ly hôn”
Thứ tư, cần đưa ra quy định cụ thể về bên thứ ba có quyền yêu cầu Tòa
án giải quyết việc ly hôn: Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Hiện pháp luật chưa quy định cụ thể về việc cha mẹ là cha mẹ ruột của vợ hoặc chồng, hay là cả hai bên cha mẹ đều có quyền? Cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn hay không, pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể Từ đó, dẫn tới việc áp dụng pháp luật không thống nhất trong thực tiễn, đòi hỏi cần phải có quy định cụ thể, chi tiết hơn về chủ thể liên quan này