MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN 2 1 1 Hiến pháp 2 1 1 1 Khái niệm 2 1 1 2 Hiến pháp năm 2013 2 1 2 Quyền con người và quyền công dân 3. MỤC LỤCMỞ ĐẦU1NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN21.1. Hiến pháp21.1.1. Khái niệm21.1.2. Hiến pháp năm 201321.2. Quyền con người và quyền công dân31.2.1. Quyền con người31.2.2. Quyền công dân3CHƯƠNG II: CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THEO HIẾN PHÁP 2013 VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA42.1. Nội dung cơ chế bảo vệ quyền con người theo hiến pháp 201342.2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người ở nước ta72.2.1. Giải pháp tổ chức thực hiện hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng72.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quyền con người theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng8KẾT LUẬN10TÀI LIỆU THAM KHẢO11 MỞ ĐẦUQuyền cơ bản của con người là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc; quyền được tôn trọng nhân cách, lương tri và phẩm giá, được xã hội thừa nhận, tôn vinh và pháp luật bảo đảm về quyền sống của một con người. Ngày 291945, trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước toàn thể quốc dân, đồng bào và Nhân dân thế giới: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, đều nhất quán khẳng định sự quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền con người; luôn đề cao sự tôn vinh, tôn trọng quyền con người; đã, đang và sẽ làm hết sức mình để thực hiện quyền con người thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thông qua việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, làm cho “dân no, dân yên, dân tin”. Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Đây là cơ sở lý luận để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, do các quyền con người rất phong phú và những vi phạm quyền cũng rất đa dạng, được thực hiện bởi nhiều loại chủ thể (Nhà nước, các pháp nhân và cá nhân), chủ thể chủ yếu xâm hại đến quyền con người, quyền công dân lại là các cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức trong các cơ quan Nhà nước. Do vậy, tự thân nó đã chứa đựng khả năng chuyên quyền. Từ đó phát sinh nhu cầu thiết lập một hàng rào pháp lý để chống lại sự lạm quyền đến từ phía các chủ thể nắm giữa quyền lực Nhà nước. Với lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người ở nước ta” là một yêu cầu khách quan và cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN1.1. Hiến pháp1.1.1. Khái niệmHiến pháp là một hệ thống cao nhất của pháp luật quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thủ tục, quyền hạn, trách nhiệm của một chính quyền. Nhiều hiến pháp cũng bảo đảm các quyền nhất định của nhân dân. Trong bài viết này, ngoài Hiến pháp được hiểu như hiến pháp chính quyền còn có một số hình thức khác mang nghĩa rộng hơn như là hiến chương, luật lệ, nguyên tắc giữa các tổ chức chính trị.Các thực thể phi chính trị, dù hợp thể hay không, cũng có hiến pháp. Các thực thể này gồm các đoàn thể và các hội tình nguyện.1.1.2. Hiến pháp năm 2013Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 là bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Bản Hiến pháp được Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua vào sáng ngày 28 tháng 11, và được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký Lệnh công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị quyết quy định một số điểm thi hành Hiến pháp vào ngày 8 tháng 12 năm 2013.1Hiến pháp có tổng cộng có 11 Chương với 120 Điều.2 So với bản Hiến pháp trước, có 12 điều mới được đưa vào Hiến pháp mới, đó là: các điều về Nhân quyền (Điều 19, 34, 41–43), Ngân sách nhà nước (Điều 55), Chính sách bảo vệ môi trường (Điều 63), Chính quyền địa phương (Điều 111), Hội đồng bầu cử (Điều 117), Kiểm toán Nhà nước (Điều 118),...1.2. Quyền con người và quyền công dân1.2.1. Quyền con ngườiTư tưởng về quyền con người (human rights, droits de l’home), cũng có thể gọi là “quyền của con người” “rights of human person” hình thành cùng với sự xuất hiện của những nền văn minh cổ đại, quyền con người xuất phát từ các quyền thiêng liêng, tự nhiên, vốn có của con người, không do chủ thể nào ban phát. Quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền công dân. Ví dụ, về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân, mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại, về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch, nên chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của “gia đình nhân loại”, bất kể vị thế, hoàn cảnh, quốc tịch,... Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền. 1.2.2. Quyền công dân Theo từ điển tiếng Việt thì “quyền công dân” được hiểu là “quyền của người công dân được thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và các quyền kinh tế văn hóa xã hội”. Như vậy, theo chúng tôi, có thể hiểu “quyền công dân” là quyền con người, được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình, là tập hợp những quyền đượcHiến pháp và pháp luật của mỗi Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện. Theo quan niệm của Mác, quyền công dân là những quyền chính trị, những quyền cá nhân con người, với tư cách là thành viên “xã hội công dân”. Như vậy, khái niệm “quyền công dân” xuất hiện sau sự xuất hiện của khái niệm “quyền con người” và được gắn liền với thời điểm ra đời của nhà nước tư sản và duy trì, phát triển đến xã hội ngày nay.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN 2
1.1 Hiến pháp 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Hiến pháp năm 2013 2
1.2 Quyền con người và quyền công dân 3
1.2.1 Quyền con người 3
1.2.2 Quyền công dân 3
CHƯƠNG II: CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THEO HIẾN PHÁP 2013 VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA 4
2.1 Nội dung cơ chế bảo vệ quyền con người theo hiến pháp 2013 4
2.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người ở nước ta 7
2.2.1 Giải pháp tổ chức thực hiện hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng .7
2.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quyền con người theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng 8
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2MỞ ĐẦU
Quyền cơ bản của con người là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc; quyền được tôn trọng nhân cách, lương tri và phẩm giá, được xã hội thừa nhận, tôn vinh và pháp luật bảo đảm về quyền sống của một con người Ngày 2/9/1945, trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước toàn thể quốc dân, đồng bào và Nhân dân thế giới: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Đảng và Nhà nước
ta, trước sau như một, đều nhất quán khẳng định sự quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền con người; luôn đề cao sự tôn vinh, tôn trọng quyền con người; đã, đang và sẽ làm hết sức mình để thực hiện quyền con người thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thông qua việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, làm cho “dân no, dân yên, dân tin”
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và
vì Nhân dân Đây là cơ sở lý luận để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, do các quyền con người rất phong phú và những vi phạm quyền cũng rất đa dạng, được thực hiện bởi nhiều loại chủ thể (Nhà nước, các pháp nhân và cá nhân), chủ thể chủ yếu xâm hại đến quyền con người, quyền công dân lại là các cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức trong các cơ quan Nhà nước
Do vậy, tự thân nó đã chứa đựng khả năng chuyên quyền Từ đó phát sinh nhu cầu thiết lập một hàng rào pháp lý để chống lại sự lạm quyền đến từ phía các chủ thể nắm giữa quyền lực Nhà nước Với lý do trên, việc nghiên
cứu đề tài “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người ở nước ta” là một yêu cầu khách quan và cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và
thực tiễn
Trang 3NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON
NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN 1.1 Hiến pháp
1.1.1 Khái niệm
Hiến pháp là một hệ thống cao nhất của pháp luật quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thủ tục, quyền hạn, trách nhiệm của một chính quyền Nhiều hiến pháp cũng bảo đảm các quyền nhất định của nhân dân Trong bài viết này, ngoài Hiến pháp được hiểu như hiến pháp chính quyền còn có một số hình thức khác mang nghĩa rộng hơn như là hiến chương, luật
lệ, nguyên tắc giữa các tổ chức chính trị
Các thực thể phi chính trị, dù hợp thể hay không, cũng có hiến pháp Các thực thể này gồm các đoàn thể và các hội tình nguyện
1.1.2 Hiến pháp năm 2013
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 là bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực từ ngày
1 tháng 1 năm 2014 Bản Hiến pháp được Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua vào sáng ngày 28 tháng 11, và được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký Lệnh công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị quyết quy định một số điểm thi hành Hiến pháp vào ngày 8 tháng 12 năm 2013.[1]
Hiến pháp có tổng cộng có 11 Chương với 120 Điều.[2] So với bản Hiến pháp trước, có 12 điều mới được đưa vào Hiến pháp mới, đó là: các điều
về Nhân quyền (Điều 19, 34, 41–43), Ngân sách nhà nước (Điều 55), Chính sách bảo vệ môi trường (Điều 63), Chính quyền địa phương (Điều 111), Hội đồng bầu cử (Điều 117), Kiểm toán Nhà nước (Điều 118),
Trang 41.2 Quyền con người và quyền công dân
1.2.1 Quyền con người
Tư tưởng về quyền con người (human rights, droits de l’home), cũng có thể gọi là “quyền của con người” - “rights of human person” hình thành cùng với sự xuất hiện của những nền văn minh cổ đại, quyền con người xuất phát
từ các quyền thiêng liêng, tự nhiên, vốn có của con người, không do chủ thể nào ban phát Quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền công dân Ví dụ,
về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân, mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại, về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch, nên chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của “gia đình nhân loại”, bất kể vị thế, hoàn cảnh, quốc tịch, Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền
1.2.2 Quyền công dân
Theo từ điển tiếng Việt thì “quyền công dân” được hiểu là “quyền của người công dân được thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và các quyền kinh tế văn hóa - xã hội” Như vậy, theo chúng tôi, có thể hiểu “quyền công dân” là quyền con người, được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình, là tập hợp những quyền đượcHiến pháp và pháp luật của mỗi Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện
Theo quan niệm của Mác, quyền công dân là những quyền chính trị, những quyền cá nhân con người, với tư cách là thành viên “xã hội công dân” Như vậy, khái niệm “quyền công dân” xuất hiện sau sự xuất hiện của khái niệm “quyền con người” và được gắn liền với thời điểm ra đời của nhà nước
tư sản và duy trì, phát triển đến xã hội ngày nay
Trang 5CHƯƠNG II: CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THEO HIẾN PHÁP 2013 VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN
CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA 2.1 Nội dung cơ chế bảo vệ quyền con người theo hiến pháp 2013
Nhìn ở góc độ về khái niệm, “quyền con người” không loại trừ và không thay thế được khái niệm “quyền công dân” Hiến pháp năm 2013 đặc biệt quan tâm đặt vị trí của chương “Quyền con người và quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân”
Có thể nói đây cũng chính là sự kế thừa “vị trí” của Hiến pháp năm
1946 Tuy nhiên, do nhiệm vụ chính trị của các thời kỳ là khác nhau nên có điều khác biệt, nếu như Hiến pháp năm 1946 đặt nghĩa vụ của công dân lên trước thì Hiến pháp năm 2013 lại đặt quyền của công dân lên trước Một mặt điều này cho thấy quan điểm tôn trọng quyền con người, quyền công dân, một mặt cho thấy quyền và nghĩa vụ trong tất cả các thời kỳ là có mối quan hệ mật thiết với nhau, có sự kế thừa và phát triển của Hiến pháp sau so với Hiến pháp trước
Cả về lý thuyết và thực tế, rất khó tách bạch cơ chế bảo vệ các quyền con người với cơ chế bảo vệ các quyền công dân, bởi việc bảo vệ cả hai dạng quyền này đều do những thiết chế và sử dụng những quy trình, thủ tục giống nhau Chính vì vậy, trong mục này và những phần tiếp theo của bài viết, cụm
từ “cơ chế bảo vệ các quyền công dân hiến định” có thể hiểu theo nghĩa rộng
là “cơ chế bảo vệ các quyền con người, quyền công dân hiến định”
Ở Việt Nam, hiện chưa có một cơ quan chuyên trách về bảo vệ các quyền con người, được hiến định, mà việc này được xem là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị Trước Hiến pháp năm 2013, trách nhiệm bảo vệ các quyền con người, quyền công dân của các cơ quan nhà nước chưa được xác định rõ, thường chỉ gắn với cơ quan lập pháp (Quốc hội)[10] Hiến pháp năm 2013 đã tăng cường cơ chế bảo vệ các quyền (công dân) được hiến định
Trang 6thông qua việc ghi nhận cả ba nghĩa vụ của Nhà nước trong lĩnh vực nhân quyền, đó là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm (Điều 3, Điều 14(1) Cùng với đó, Hiến pháp năm 2013 đã ấn định nhiệm vụ mới là “bảo vệ quyền con người, quyền công dân” cho Chính phủ (Điều 96(6), Tòa án (Điều 102(3), và Viện kiểm sát (Điều 107(3) Đây là những quy định quan trọng có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước này trong việc bảo vệ, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân trong thực tế
Hiến pháp năm 2013 cũng lần đầu tiên quy định nguyên tắc giới hạn quyền (Điều 14(2) và đề cập đến cụm từ “cơ chế bảo vệ hiến pháp” (Điều 119(2) Đây là những cơ sở quan trọng nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan nhà nước dẫn tới những vi phạm nhân quyền; đồng thời cũng
là tiền đề cho việc bảo vệ nhân quyền ở cấp cao nhất, bởi xét đến cùng, bảo
vệ hiến pháp chính là bảo vệ các quyền được hiến định
Ở Việt Nam, cơ chế bảo vệ hiến pháp hiện nay cơ bản vẫn theo mô hình nghị viện, được thực hiện thông qua hoạt động giám sát tối cao; hoạt động xây dựng, sửa đổi và giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh của Quốc hội
và Ủy ban thường vụ Quốc hội Thực tiễn trên thế giới cho thấy, mô hình nghị viện có nhiều hạn chế bởi một cơ quan lập pháp sẽ khó bảo đảm tính độc lập, khách quan cũng như khả năng kiểm tra các đạo luật do mình ban hành Bên cạnh đó, do là cơ quan mang tính chính trị nên Quốc hội/Nghị viện thường không có trình tự, thủ tục phù hợp và khả năng phát hiện những vi phạm hiến pháp để phán xét về tính hợp hiến
Trên thực tế, ở Việt Nam chưa từng có trường hợp nào một văn bản pháp luật (dưới Hiến pháp) được tuyên bố về tính hợp hiến hay bất hợp hiến, cho dù đã có không ít trường hợp văn bản luật không phù hợp với Hiến pháp (ví dụ, Luật Công ty năm 1990) Thực tế này, cùng với việc các quy định của Hiến pháp chưa được áp dụng trực tiếp đòi hỏi phải xây dựng một mô hình
Trang 7bảo vệ hiến pháp có tính độc lập và chuyên trách hơn để có thể bảo vệ các quyền hiến định
Nhìn chung, cơ chế hiện hành bảo vệ quyền công dân hiến định ở Việt Nam chủ yếu được thể hiện qua hoạt động xét xử và giải quyết khiếu nại, tố cáo Trong những hoạt động này, vai trò bảo vệ quyền công dân hiến định của tòa án là rất quan trọng Thống kê của ngành tòa án những năm gần đây cho thấy, khối lượng công việc của tòa án là rất lớn và tỷ lệ công việc được giải quyết hàng năm thường đạt trên 90%[12] Đây là một kết quả tương đối tốt, nhưng vẫn còn xảy ra tình trạng án oan sai, án bị sửa, bị hủy, án không thi hành được hoặc có những vụ án kéo dài nhiều năm chưa giải quyết được Ngoài ra, tình trạng vi phạm quyền con người trong hoạt động tố tụng (như bức cung, dùng nhục hình, thậm chí dẫn đến tử vong) vẫn còn diễn ra Mặc dù những vi phạm này chủ yếu diễn ra trong giai đoạn điều tra, song thực tế cho thấy, ngành tòa án chưa thể hiện tính hiệu quả trong việc ngăn ngừa, xử lý những vi phạm đó thông qua hoạt động xét xử
Ngoài các chủ thể “mang tính nhà nước” nêu trên, trong cơ chế bảo vệ các quyền công dân hiến định không thể không kể đến vai trò của báo chí (truyền thông) và các tổ chức, đoàn thể xã hội Với các chức năng của mình (đặc biệt là chức năng thông tin của báo chí), các chủ thể này tham gia giám sát việc thực hiện các quyền (công dân) hiến định, từ đó giúp phát hiện, ngăn ngừa và xử lý một cách kịp thời những sự vi phạm đến quyền con người, quyền công dân Trong thời gian qua, vai trò giám sát và bảo vệ của các chủ thể này cho thấy những dấu hiệu tích cực như việc phát hiện, tố cáo các trường hợp vi phạm nhân quyền (các vụ án oan, sai, tham nhũng, gây ô nhiễm môi trường, …); tham vấn, tham gia xây dựng các chính sách, pháp luật của Nhà nước; thúc đẩy và phát triển mạng lưới giáo dục nhân quyền trong xã hội
… Tuy nhiên, hiệu quả bảo vệ nhân quyền của những chủ thể này vẫn tương
Trang 8đối hạn chế, do khuôn khổ pháp luật hiện hành còn thiếu hoặc chưa tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện hiệu quả vai trò của mình
Xét tổng quát, cơ chế bảo vệ các quyền công dân hiến định ở Việt Nam hiện nay còn thiếu và có nhiều hạn chế, vì thế chưa bảo vệ hiệu quả các quyền Trong lĩnh vực nhân quyền, bảo vệ các quyền con người vừa là một nghĩa vụ, đồng thời cũng là một yêu cầu khách quan để đảm bảo sự tồn tại của các chế độ, nhà nước Trong những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam luôn thể hiện những cam kết chính trị mạnh mẽ trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, mà một trong những ví dụ nổi bật là chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 Bối cảnh đó đang tạo ra những thuận lợi, song cũng có không ít thách thức trong việc hoàn thiện cơ chế bảo
vệ các quyền công dân hiến định ở nước ta
2.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người ở nước ta
Từ những phân tích trên, có thể nêu một số gợi mở cho việc hoàn thiện
cơ chế bảo vệ các quyền công dân hiến định ở Việt Nam như sau:
2.2.1 Giải pháp tổ chức thực hiện hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
Thứ nhất, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, về quyền con người Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời, đúng đắn quan điểm, định hướng của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIII và các quy định của Hiến pháp năm 2013 thành các đạo luật, văn bản pháp luật về quyền con người; bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết tạo cơ sở pháp lý bảo đảm tốt hơn quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; khắc phục tình trạng ban hành luật khung, luật ống về quyền con người khi nội dung đã rõ,
đã chín muồi; đồng thời, cần khắc phục tình trạng luật quy định quá cụ thể, bảo đảm tính ổn định, hiệu lực lâu dài của pháp luật về quyền con người Đồng thời, tổ chức thẩm định những hồ sơ dự án, dự thảo xây dựng các văn bản pháp luật khi bảo đảm đủ điều kiện, thủ tục theo quy định của pháp luật
Trang 9mới được tổ chức triển khai quy trình xây dựng dự án, dự thảo đó khắc phục tình trạng: chất lượng các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh chưa cao và tình trạng các dự án, dự thảo văn bản sau khi đã đưa vào chương trình nhưng phải xin lùi, rút điều chỉnh
Thứ hai, nâng cao kỹ thuật lập pháp; hiện đại hoá phương thức và phương tiện xây dựng pháp luật về quyền con người; ứng dụng thành tựu của khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp, tiến độ, chất lượng và hiệu quả của quy trình xây dựng pháp luật về quyền con người
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện và loại bỏ kịp thời các văn bản trái với các quy định về quyền con người trong Hiến pháp và luật Gắn kết chặt chẽ công tác này với công tác xây dựng pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật, về quyền con người Phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân
có khuyết điểm, vi phạm trong công tác xây dựng luật, pháp lệnh về quyền con người
Thứ tư, tạo cơ chế để thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản
lý, mọi tầng lớp nhân dân tham gia thiết thực, hiệu quả vào quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quyền con người
Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền con người của các nước trên thế giới
2.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quyền con người theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người
Trang 10Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật về quyền con người
Một là, xây dựng, ban hành quy định cụ thể tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật về quyền con người làm công cụ phục vụ nhiệm
vụ theo dõi thi hành pháp luật về quyền con người
Hai là, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và xác định trách nhiệm phối hợp của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, chính quyền địa phương trong tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người
Ba là, nghiên cứu xây dựng, ban hành Luật về tổ chức thi hành pháp luật, trong đó có thi hành pháp luật về quyền con người để thực hiện một cách thống nhất công tác tổ chức thi hành pháp luật, công tác theo dõi thi hành pháp luật nói chung và pháp luật về quyền con người nói riêng, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của những hoạt động này
Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thi hành pháp luật về QCN, quyền công dân
Một là, thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo để nắm bắt thông tin kịp thời; ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quyền con người
Hai là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thi hành pháp luật về quyền con người, để phát hiện thiếu sót, bất cập của chính sách, pháp luật về quyền con người khi đi vào cuộc sống, kiến nghị chỉnh sửa,
bổ sung, hoàn thiện kịp thời; đồng thời, phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về quyền con người của mọi tổ chức, cá nhân có khuyết điểm, vi phạm trong quá trình thực thi luật, pháp lệnh về quyền con người, không có ngoại lệ
Ba là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của các
cơ quan dân cử và của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các